Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 114. Nên Tu Tập và Không Nên Tu Tập

(Kinh Sevitabbāsevitabba - Kinh về Điều Nên và Không Nên Thực Hành)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại thành Xá-vệ (Sāvatthī), trong Vườn của ông Jeta, tại Tu viện của ông Anāthapindika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Ngài gọi các vị Tỳ kheo (monks-bhikkhus-nhà sư): “Này các Tỳ kheo.” - “Bạch Thế Tôn,” các vị ấy vâng đáp. Đức Thế Tôn dạy điều này:

2. “Này các Tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các ông một bài pháp về những gì nên tu tập và những gì không nên tu tập. Hãy lắng nghe và chú tâm vào những gì Ta sắp nói.” - “Vâng, bạch Thế Tôn,” các vị Tỳ kheo vâng đáp. Đức Thế Tôn dạy điều này:

(PHẦN TRÌNH BÀY THỨ NHẤT)

3. “Này các Tỳ kheo, [^1069] thân hành (bodily conduct - hành vi qua thân) có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và thân hành chỉ là một trong hai loại đó. [^1070] Khẩu hành (verbal conduct - hành vi qua lời nói) có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và khẩu hành chỉ là một trong hai loại đó. Ý hành (mental conduct - hành vi qua ý nghĩ) có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và ý hành chỉ là một trong hai loại đó. Khuynh hướng tâm ý (inclination of mind - sự nghiêng chiều, xu hướng của tâm) có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và khuynh hướng tâm ý chỉ là một trong hai loại đó. [46] Sự thủ đắc nhận thức (acquisition of perception - sự đạt được, hình thành nhận thức) có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và sự thủ đắc nhận thức chỉ là một trong hai loại đó. Sự thủ đắc tri kiến (acquisition of view - sự đạt được, hình thành quan điểm, cách nhìn) có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và sự thủ đắc tri kiến chỉ là một trong hai loại đó. Sự thủ đắc bản thể cá nhân (acquisition of individuality - sự đạt được, hình thành một đời sống cá nhân, một thân phận) có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và sự thủ đắc bản thể cá nhân chỉ là một trong hai loại đó.”

(PHẦN GIẢI THÍCH CHI TIẾT THỨ NHẤT)

4. Khi nghe vậy, Tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta) bạch Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết lời dạy của Thế Tôn, mà Ngài đã nói tóm tắt không giải thích chi tiết, là như thế này:

5. "‘Này các Tỳ kheo, thân hành có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và thân hành chỉ là một trong hai loại đó.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, thân hành nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện (unwholesome states - trạng thái tâm tiêu cực, có hại, dẫn đến khổ đau) tăng trưởng và các pháp thiện (wholesome states - trạng thái tâm tích cực, lợi ích, dẫn đến an vui) suy giảm, thì không nên tu tập. Nhưng thân hành nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên tu tập.

"Và loại thân hành nào khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó? Ở đây, có người sát sinh; người ấy là kẻ giết người, tay vấy máu, quen dùng đòn roi và bạo lực, không có lòng thương xót chúng sinh. Người ấy lấy của không cho; người ấy trộm cắp tài sản và của cải của người khác trong làng hay trong rừng. Người ấy tà dâm trong các dục lạc; người ấy giao cấu với những phụ nữ được mẹ, cha, cha mẹ, anh, chị, hoặc bà con bảo vệ, người đã có chồng, người được pháp luật bảo vệ, và ngay cả với những người đã được kết hoa đính ước. Thân hành như vậy [47] khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó.

"Và loại thân hành nào khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó? Ở đây, có người từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh; bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống với lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh. Từ bỏ lấy của không cho, người ấy tránh xa lấy của không cho; người ấy không trộm cắp tài sản và của cải của người khác trong làng hay trong rừng. Từ bỏ tà dâm trong các dục lạc, người ấy tránh xa tà dâm trong các dục lạc; người ấy không giao cấu với những phụ nữ được mẹ, cha, cha mẹ, anh, chị, hoặc bà con bảo vệ, người đã có chồng, người được pháp luật bảo vệ, hoặc với những người đã được kết hoa đính ước. Thân hành như vậy khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này các Tỳ kheo, thân hành có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và thân hành chỉ là một trong hai loại đó.’

6. "‘Này các Tỳ kheo, khẩu hành có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và khẩu hành chỉ là một trong hai loại đó.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, khẩu hành nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm, thì không nên tu tập. Nhưng khẩu hành nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên tu tập.

"Và loại khẩu hành nào khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó? Ở đây, có người nói dối; khi được gọi ra tòa, hay ra hội đồng, [48] hay đến trước mặt bà con, hay đến phường hội, hay đến hoàng tộc, và được hỏi làm chứng rằng: ‘Này ông kia, hãy nói những gì ông biết,’ không biết, người ấy nói, ‘Tôi biết,’ hoặc biết, người ấy nói, ‘Tôi không biết’; không thấy, người ấy nói, ‘Tôi thấy,’ hoặc thấy, người ấy nói, ‘Tôi không thấy’; người ấy hoàn toàn ý thức nói dối vì lợi ích của mình, hay vì lợi ích của người khác, hay vì một lợi ích thế gian nhỏ nhặt nào đó. Người ấy nói lời chia rẽ (đâm thọc); người ấy nghe điều gì ở đây liền đi nói ở nơi khác để chia rẽ [những người đó] với những người này, hoặc nghe điều gì ở nơi khác liền đi nói với những người này để chia rẽ [những người này] với những người kia; như vậy người ấy là kẻ chia rẽ những người đang đoàn kết, tạo ra sự chia rẽ, thích thú sự bất hòa, vui mừng trong sự bất hòa, hoan hỷ trong sự bất hòa, là người nói những lời gây chia rẽ. Người ấy nói lời thô ác; người ấy nói những lời cộc cằn, cứng rắn, làm tổn thương người khác, xúc phạm người khác, gần với sự tức giận, không dẫn đến sự định tâm (concentration - sự tập trung tâm ý). Người ấy nói lời vô ích (phù phiếm); người ấy nói không đúng lúc, nói điều không thật, nói điều vô dụng, nói trái với Giáo Pháp (Dhamma) và Giới Luật (Vinaya); không đúng lúc người ấy nói những lời không đáng giá, vô lý, không chừng mực, và không lợi ích. Khẩu hành như vậy khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó.

"Và loại khẩu hành nào khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó? Ở đây, có người từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối; khi được gọi ra tòa, hay ra hội đồng, hay đến trước mặt bà con, hay đến phường hội, hay đến hoàng tộc, và được hỏi làm chứng rằng: ‘Này ông kia, hãy nói những gì ông biết,’ không biết, người ấy nói, ‘Tôi không biết,’ hoặc biết, người ấy nói, ‘Tôi biết’; không thấy, người ấy nói, ‘Tôi không thấy,’ hoặc thấy, người ấy nói, ‘Tôi thấy’; [49] người ấy không hoàn toàn ý thức nói dối vì lợi ích của mình, hay vì lợi ích của người khác, hay vì một lợi ích thế gian nhỏ nhặt nào đó. Từ bỏ nói lời chia rẽ, người ấy tránh xa nói lời chia rẽ; người ấy không nghe điều gì ở đây liền đi nói ở nơi khác để chia rẽ [những người đó] với những người này, cũng không nghe điều gì ở nơi khác liền đi nói với những người này để chia rẽ [những người này] với những người kia; như vậy người ấy là người hàn gắn những người bị chia rẽ, người vun đắp tình bằng hữu, thích thú sự hòa hợp, vui mừng trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, là người nói những lời thúc đẩy sự hòa hợp. Từ bỏ nói lời thô ác, người ấy tránh xa nói lời thô ác; người ấy nói những lời ôn hòa, dễ nghe, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người mong muốn, và làm hài lòng nhiều người. Từ bỏ nói lời vô ích, người ấy tránh xa nói lời vô ích; người ấy nói đúng lúc, nói điều thật, nói về điều tốt, nói về Giáo Pháp và Giới Luật; đúng lúc người ấy nói những lời đáng ghi nhớ, hợp lý, chừng mực, và lợi ích. Khẩu hành như vậy khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này các Tỳ kheo, khẩu hành có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và khẩu hành chỉ là một trong hai loại đó.’

7. "‘Ý hành có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và ý hành chỉ là một trong hai loại đó.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, ý hành nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm, thì không nên tu tập. Nhưng ý hành nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên tu tập.

"Và loại ý hành nào khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó? Ở đây, có người tham lam; người ấy tham muốn tài sản và của cải của người khác rằng: ‘Ôi, mong sao những gì thuộc về người khác lại là của mình!’ Hoặc người ấy có tâm sân hận và ý định thù ghét [50] rằng: ‘Mong rằng những chúng sinh này bị giết, bị tàn sát, mong rằng chúng bị tiêu diệt, diệt vong, hoặc bị hủy diệt!’ Ý hành như vậy khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó.

"Và loại ý hành nào khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó? Ở đây, có người không tham lam; người ấy không tham muốn tài sản và của cải của người khác rằng: ‘Ôi, mong sao những gì thuộc về người khác lại là của mình!’ Tâm người ấy không có sân hận và có ý định không thù ghét rằng: ‘Mong rằng những chúng sinh này không còn oan trái, không còn phiền não, không còn lo âu! Mong rằng họ sống hạnh phúc!’ Ý hành như vậy khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này các Tỳ kheo, ý hành có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và ý hành chỉ là một trong hai loại đó.’ [^1071]

8. "‘Khuynh hướng tâm ý có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và khuynh hướng tâm ý chỉ là một trong hai loại đó.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, khuynh hướng tâm ý nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm, thì không nên tu tập. Nhưng khuynh hướng tâm ý nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên tu tập.

"Và loại khuynh hướng tâm ý nào khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó? Ở đây, có người tham lam và sống với tâm thấm đẫm tham lam; người ấy có sân hận và sống với tâm thấm đẫm sân hận; người ấy hung ác và sống với tâm thấm đẫm sự hung ác. [^1072] Khuynh hướng tâm ý như vậy khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó.

"Và loại khuynh hướng tâm ý nào khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng [51] nơi người thực hành nó? Ở đây, có người không tham lam và sống với tâm không còn tham lam; người ấy không có sân hận và sống với tâm không còn sân hận; người ấy không hung ác và sống với tâm không còn sự hung ác. Khuynh hướng tâm ý như vậy khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này các Tỳ kheo, khuynh hướng tâm ý có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và khuynh hướng tâm ý chỉ là một trong hai loại đó.’

9. "‘Sự thủ đắc nhận thức có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và sự thủ đắc nhận thức chỉ là một trong hai loại đó.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, sự thủ đắc nhận thức nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm, thì không nên tu tập. Nhưng sự thủ đắc nhận thức nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên tu tập.

"Và loại sự thủ đắc nhận thức nào khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó? Ở đây, có người tham lam và sống với nhận thức thấm đẫm tham lam; người ấy có sân hận và sống với nhận thức thấm đẫm sân hận; người ấy hung ác và sống với nhận thức thấm đẫm sự hung ác. Sự thủ đắc nhận thức như vậy khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó.

"Và loại sự thủ đắc nhận thức nào khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó? Ở đây, có người không tham lam và sống với nhận thức không còn tham lam; người ấy không có sân hận và sống với nhận thức không còn sân hận; người ấy không hung ác và sống với nhận thức không còn sự hung ác. Sự thủ đắc nhận thức như vậy khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này các Tỳ kheo, sự thủ đắc nhận thức có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và sự thủ đắc nhận thức chỉ là một trong hai loại đó.’ [52]

10. "‘Sự thủ đắc tri kiến có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và sự thủ đắc tri kiến chỉ là một trong hai loại đó.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, sự thủ đắc tri kiến nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm, thì không nên tu tập. Nhưng sự thủ đắc tri kiến nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên tu tập.

"Và loại sự thủ đắc tri kiến nào khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó? Ở đây, có người giữ quan điểm như thế này: ‘Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế lễ; không có quả báo của các hành động thiện và ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có chúng sinh hóa sinh (reborn spontaneously - sinh ra không do thai sinh hay noãn sinh, ví dụ chư thiên, địa ngục); không có các vị Sa môn (recluses - người xuất gia tu hành) và Bà la môn (brahmins - tu sĩ Bà la môn giáo) chân chính, đức hạnh trên thế gian, những người đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí (abhiññā - sự hiểu biết trực tiếp và siêu việt) và tuyên bố về thế giới này và thế giới khác.’ Sự thủ đắc tri kiến như vậy khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó.

"Và loại sự thủ đắc tri kiến nào khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó? Ở đây, có người giữ quan điểm như thế này: ‘Có bố thí, có cúng dường, có tế lễ; có quả báo của các hành động thiện và ác; có đời này và đời sau; có mẹ và cha; có chúng sinh hóa sinh; có các vị Sa môn và Bà la môn chân chính, đức hạnh trên thế gian, những người đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí và tuyên bố về thế giới này và thế giới khác.’ Sự thủ đắc tri kiến như vậy khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này các Tỳ kheo, sự thủ đắc tri kiến có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và sự thủ đắc tri kiến chỉ là một trong hai loại đó.’

11. "‘Sự thủ đắc bản thể cá nhân có hai loại, Ta nói: [^1073] nên tu tập và không nên tu tập. Và sự thủ đắc bản thể cá nhân chỉ là một trong hai loại đó.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, [53] sự thủ đắc bản thể cá nhân nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm, thì không nên tu tập. Nhưng sự thủ đắc bản thể cá nhân nào mà khi thực hành khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên tu tập.

"Và loại sự thủ đắc bản thể cá nhân nào khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người thực hành nó? Khi một người tạo ra một sự thủ đắc bản thể cá nhân dẫn đến phiền não (subject to affliction - chịu sự chi phối của khổ đau, phiền não), các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm nơi người ấy, ngăn cản người ấy chấm dứt sự hiện hữu (put an end to being - chấm dứt vòng luân hồi sinh tử). [^1074]

"Và loại sự thủ đắc bản thể cá nhân nào khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người thực hành nó? Khi một người tạo ra một sự thủ đắc bản thể cá nhân không dẫn đến phiền não (free from affliction - không bị chi phối bởi khổ đau, phiền não), các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng nơi người ấy, giúp người ấy chấm dứt sự hiện hữu.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này các Tỳ kheo, sự thủ đắc bản thể cá nhân có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Và sự thủ đắc bản thể cá nhân chỉ là một trong hai loại đó.’

12. “Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết lời dạy của Thế Tôn, mà Ngài đã nói tóm tắt không giải thích chi tiết, là như thế này.”

(PHẦN CHẤP THUẬN VÀ TÓM TẮT LẦN THỨ NHẤT)

13. "Lành thay, lành thay, Xá Lợi Phất! Thật tốt khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết lời dạy của Ta, mà Ta đã nói tóm tắt không giải thích chi tiết, là như vậy.

14-20. [54, 55] (Trong các đoạn này, Đức Phật lặp lại nguyên văn các đoạn §§5-11, thay “Bạch Thế Tôn” bằng “Này Xá Lợi Phất” và “Đức Thế Tôn” bằng “Ta”.)

21. "Này Xá Lợi Phất, ý nghĩa chi tiết lời dạy của Ta, mà Ta đã nói tóm tắt, nên được hiểu là như vậy.

(PHẦN TRÌNH BÀY THỨ HAI)

22. “Này Xá Lợi Phất, các hình sắc (forms - đối tượng nhìn thấy) nhận biết qua mắt có hai loại, Ta nói: [56] nên tu tập và không nên tu tập. [^1075] Các âm thanh (sounds - đối tượng nghe thấy) nhận biết qua tai có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Các mùi hương (odours - đối tượng ngửi thấy) nhận biết qua mũi có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Các vị (flavours - đối tượng nếm) nhận biết qua lưỡi có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Các cảm giác xúc chạm (tangibles - đối tượng cảm nhận qua thân) nhận biết qua thân có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập. Các đối tượng của ý (mind-objects - đối tượng suy nghĩ, nhận thức của tâm) nhận biết qua ý có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập.”

(PHẦN GIẢI THÍCH CHI TIẾT THỨ HAI)

23. Khi nghe vậy, Tôn giả Xá Lợi Phất bạch Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết lời dạy của Thế Tôn, mà Ngài đã nói tóm tắt không giải thích chi tiết, là như thế này:

24. "‘Này Xá Lợi Phất, các hình sắc nhận biết qua mắt có hai loại, Ta nói: [56] nên tu tập và không nên tu tập.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, những hình sắc nhận biết qua mắt nào mà khi tiếp xúc (tu tập ở đây mang nghĩa là tiếp xúc, sử dụng, hướng tâm đến) khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm, thì không nên tiếp xúc. Nhưng những hình sắc nhận biết qua mắt nào mà khi tiếp xúc khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên tiếp xúc.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này Xá Lợi Phất, các hình sắc nhận biết qua mắt có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập.’

25. "‘Các âm thanh nhận biết qua tai có hai loại, Ta nói’… (Giải thích tương tự như đoạn 24)

26. "‘Các mùi hương nhận biết qua mũi có hai loại, Ta nói’…[57] (Giải thích tương tự như đoạn 24)

27. "‘Các vị nhận biết qua lưỡi có hai loại, Ta nói’… (Giải thích tương tự như đoạn 24)

28. "‘Các cảm giác xúc chạm nhận biết qua thân có hai loại, Ta nói’… (Giải thích tương tự như đoạn 24)

29. "‘Các đối tượng của ý nhận biết qua ý có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, những đối tượng của ý nhận biết qua ý nào mà khi tiếp xúc khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm, thì không nên tiếp xúc. [58] Nhưng những đối tượng của ý nhận biết qua ý nào mà khi tiếp xúc khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên tiếp xúc.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Các đối tượng của ý nhận biết qua ý có hai loại, Ta nói: nên tu tập và không nên tu tập.’

30. “Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết lời dạy của Thế Tôn, mà Ngài đã nói tóm tắt không giải thích chi tiết, là như thế này.”

(PHẦN CHẤP THUẬN VÀ TÓM TẮT LẦN THỨ HAI)

31. "Lành thay, lành thay, Xá Lợi Phất! Thật tốt khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết lời dạy của Ta, mà Ta đã nói tóm tắt không giải thích chi tiết, là như vậy.

32-37. (Trong các đoạn này, Đức Phật lặp lại nguyên văn các đoạn §§24-29, với những thay đổi cần thiết về đại từ.)

38. "Này Xá Lợi Phất, ý nghĩa chi tiết lời dạy của Ta, mà Ta đã nói tóm tắt, nên được hiểu là như vậy.

(PHẦN TRÌNH BÀY THỨ BA)

39. “Này Xá Lợi Phất, y phục có hai loại, Ta nói: nên sử dụng (tu tập ở đây mang nghĩa sử dụng, thọ dụng) và không nên sử dụng. Vật thực khất thực có hai loại, Ta nói: nên sử dụng và không nên sử dụng. Chỗ ở có hai loại, Ta nói: nên sử dụng và không nên sử dụng. Làng mạc có hai loại, Ta nói: nên lui tới và không nên lui tới. Thị trấn có hai loại, Ta nói: nên lui tới và không nên lui tới. Thành phố có hai loại, Ta nói: nên lui tới và không nên lui tới. Vùng miền (quận) có hai loại, Ta nói: nên lui tới và không nên lui tới. Hạng người có hai loại, Ta nói: nên gần gũi (tu tập ở đây mang nghĩa thân cận, giao du) và không nên gần gũi.” [59]

40. Khi nghe vậy, Tôn giả Xá Lợi Phất bạch Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết lời dạy của Thế Tôn, mà Ngài đã nói tóm tắt không giải thích chi tiết, là như thế này:

41. "‘Này Xá Lợi Phất, y phục có hai loại, Ta nói: nên sử dụng và không nên sử dụng.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, loại y phục nào mà khi sử dụng khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm, thì không nên sử dụng. Nhưng loại y phục nào mà khi sử dụng khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên sử dụng.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Này Xá Lợi Phất, y phục có hai loại, Ta nói: nên sử dụng và không nên sử dụng.’

42. "‘Vật thực khất thực có hai loại, Ta nói’… (Giải thích tương tự như đoạn 41)

43. "‘Chỗ ở có hai loại, Ta nói’… (Giải thích tương tự như đoạn 41)

44. "‘Làng mạc có hai loại, Ta nói’… (Giải thích tương tự như đoạn 41, thay “sử dụng” bằng “lui tới”)

45. "‘Thị trấn có hai loại, Ta nói’… (Giải thích tương tự như đoạn 44)

46. "‘Thành phố có hai loại, Ta nói’… (Giải thích tương tự như đoạn 44)

47. "‘Vùng miền (quận) có hai loại, Ta nói’… (Giải thích tương tự như đoạn 44)

48. "‘Hạng người có hai loại, Ta nói: nên gần gũi và không nên gần gũi.’ Đức Thế Tôn đã dạy như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì?

"Bạch Thế Tôn, [việc giao du với] hạng người nào mà khi gần gũi khiến các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện suy giảm, thì không nên gần gũi. Nhưng [việc giao du với] hạng người nào mà khi gần gũi khiến các pháp bất thiện suy giảm và các pháp thiện tăng trưởng, thì nên gần gũi.

"Vì vậy, chính là liên quan đến điều này mà Đức Thế Tôn đã dạy: ‘Hạng người có hai loại, Ta nói: nên gần gũi và không nên gần gũi.’

49. “Bạch Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa chi tiết lời dạy của Thế Tôn, mà Ngài đã nói tóm tắt không giải thích chi tiết, là như thế này.”

(PHẦN CHẤP THUẬN VÀ TÓM TẮT LẦN THỨ BA)

50. "Lành thay, lành thay, Xá Lợi Phất! Thật tốt khi ông hiểu ý nghĩa chi tiết lời dạy của Ta, mà Ta đã nói tóm tắt không giải thích chi tiết, là như vậy.

51-58. (Trong các đoạn này, Đức Phật lặp lại nguyên văn các đoạn §§41-48 với những thay đổi cần thiết về đại từ.) [60]

59. "Này Xá Lợi Phất, ý nghĩa chi tiết lời dạy của Ta, mà Ta đã nói tóm tắt, nên được hiểu là như vậy.

(KẾT LUẬN)

60. “Này Xá Lợi Phất, nếu tất cả giai cấp Sát đế lợi (quý tộc, vua chúa) hiểu được ý nghĩa chi tiết lời dạy của Ta, mà Ta đã nói tóm tắt, như vậy, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ. [^1076] Nếu tất cả giai cấp Bà la môn (tu sĩ, trí thức)… tất cả giai cấp Phệ xá (thương gia, nông dân)… tất cả giai cấp Thủ đà la (thợ thuyền, người làm công) hiểu được ý nghĩa lời dạy của Ta, mà Ta đã nói tóm tắt, như vậy, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ. Nếu thế giới cùng với chư Thiên, Ma vương, và Phạm thiên, thế hệ này cùng với các vị Sa môn và Bà la môn, các vua chúa và dân chúng, hiểu được ý nghĩa chi tiết lời dạy của Ta, mà Ta đã nói tóm tắt, như vậy, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho thế giới.” [61]

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã dạy. Tôn giả Xá Lợi Phất đã hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.

114. KINH NÊN HÀNH TRÌ, KHÔNG NÊN HÀNH TRÌ

114. KINH NÊN HÀNH TRÌ, KHÔNG NÊN HÀNH TRÌ (Sevitabba-asevitabba Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. – “Bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: – “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông pháp môn về nên hành trì, không nên hành trì. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ Ta sẽ giảng” – “Thưa vâng bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

(Lời giảng đầu tiên)

– Này các Tỷ-kheo, Ta nói thân hành có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa thân hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói khẩu hành cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa khẩu hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói ý hành cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa ý hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói tâm sanh cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa tâm sanh”. Này các Tỷ- kheo, Ta nói tưởng đắc cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa tưởng đắc”. Kiến đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa kiến đắc (ditthipatilabha)”. Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa ngã tánh đắc”.

(Giảng rộng)

Ðược nghe nói vậy Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau:

Thân hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn nếu một thân hành nào khi hành trì, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm, thân hành như vậy không nên hành trì. Bạch Thế Tôn, và một thân hành nào khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng, thân hành như vậy nên hành trì.

Bạch Thế Tôn, thân hành gì khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại, đả thương, tâm không từ bi đối với các loại hữu tình. Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh trong các dục vọng, giao cấu các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.

Bạch Thế Tôn, thân hành gì khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng?

Ở đây, bạch Thế Tôn, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Người ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho; bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy. Người ấy từ bỏ sống tà hạnh trong

các dục vọng, không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm các thiện pháp tăng trưởng.

Thân hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên.

Khẩu hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa khẩu hành”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn, một khẩu hành nào khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm, khẩu hành như vậy không nên hành trì. Bạch Thế Tôn và một khẩu hành nào khi hành trì bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng khẩu hành như vậy nên hành trì.

Bạch Thế Tôn, khẩu hành gì khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiệp pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này Người kia, hãy nói những gì Ông biết”. Dầu cho người ấy không biết, người ấy nói: “Tôi biết”; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”; hay dầu cho người ấy thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy lời nói của người ấy trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi dục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Khẩu hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.

Bạch Thế Tôn, khẩu hành gì khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì Ông biết”. Nếu biết, người ấy nói: "Tôi biết "; nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia; như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác; như vậy người ấy nói những lời nói nhu hòa, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người. Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm; người ấy nói đúng thời, nói những lời chơn thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Khẩu hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.

Khẩu hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: "Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự

tương đối giữa khẩu hành". Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Ý hành, này các Tỷ-kheo, Tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa khẩu hành”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn, một ý hành nào khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, khẩu hành như vậy không nên hành trì. Bạch Thế Tôn, và một ý hành nào khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, ý hành như vậy nên hành trì.

Ý hành gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn có người có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!” Lại có người sân tâm, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu hình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt hay bị làm hại, hay mong chúng không còn tồn tại”. Ý hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.

Ý hành gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây có người không có tham ái, không tham lam tài vật của kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác không trở thành của mình!” Lại có người không có sân tâm, không khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: “Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân”. Ý hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.

Ý hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì và như vậy là sự tương đối giữa ý hành”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Tâm sanh, này các Tỷ-kheo, tôi nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn, nếu một tâm sanh nào khi hành trì, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, tâm sanh như vậy không nên hành trì. Và một tâm sanh nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, tâm sanh như vậy nên hành trì.

Tâm sanh gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người có tham dục, sống với tâm câu hữu với tham dục; người ấy sân hận và sống với tâm câu hữu với sân hận; người ấy có hại tâm và sống với tâm câu hữu với hại tâm. Tâm sanh như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm.

Tâm sanh gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không có tham dục; sống với tâm không câu hữu với tham dục; người ấy không có sân hận và sống với tâm không câu hữu với sân hận; người ấy không có hại tâm và sống với tâm không câu hữu với hại tâm. Tâm sanh như vậy, bạch Thế Tôn, nếu hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng.

Tâm sanh, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa tâm sanh”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Tưởng đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Một tưởng đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, tưởng đắc như vậy không nên hành trì. Và một tưởng đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, tưởng đắc như vậy nên hành trì.

Tưởng đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người có tham dục sống với tưởng câu hữu với sân hận, người ấy có hại tâm và sống với tưởng câu hữu với hại tâm. Tưởng đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiệp pháp thối giảm.

Tưởng đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì, bất thiện pháp thối giảm, thiệp pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không có tham dục, sống với tưởng không câu hữu với tham dục, người ấy không có sân hận và sống với tưởng không câu hữu với sân hận, người ấy không có hại tâm và sống với tưởng không câu hữu với hại tâm. Tưởng đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng.

Tưởng đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa tưởng đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Kiến đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì và không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa kiến đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Một kiến đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, kiến đắc như vậy không nên hành trì. Và một kiến đắc nào khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, kiến đắc như vậy nên hành trì.

Kiến đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng; thiện pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn có người có (tà) kiến như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn, chánh hướng, chánh hạnh đã tự mình với thượng trí chứng tri, chứng đạt và an trú đời này, đời khác và truyền dạy lại”. Kiến đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.

Kiến đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người có (chánh) kiến như sau: “Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, ở đời có những vị Sa- môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh đã tự mình với thượng trí chứng tri, chứng đắc và an trú đời này, đời khác và truyền dạy lại”. Kiến đắc như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.

Kiến đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự sai trái về kiến đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa ngã tánh”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Ngã tánh đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, ngã tánh đắc như vậy không nên hành trì. Ngã tánh đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, ngã tánh đắc như vậy nên hành trì.

Ngã tánh đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm? Ngã tánh đắc có hại, bạch Thế Tôn, vì sự không rốt ráo khi được sanh khởi, các bất thiện pháp phải tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.

Ngã tánh đắc gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ngã tánh đắc vô hại, bạch Thế Tôn, vì sự rốt ráo khi được sanh khởi, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.

Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự sai khác về ngã tánh đắc”. Thế Tôn đã nói như vậy, và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên. Bạch Thế Tôn, lời nói mà được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

(Ðức Thế Tôn khen và tóm tắt)

– Lành thay, lành thay, này Sariputta! Lành thay, này Sariputta! Lời nói này được Ta nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

Thân hành, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Ta đã nói như vậy và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Thân hành nào, này Sariputtta, khi hành trì thời bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm, thân hành như vậy không nên hành trì. Và thân hành nào, này Sariputtta, khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiệp pháp tăng trưởng, thân hành như vậy nên hành trì.

Thân hành gì, này Sariputta, khi hành trì bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm? Ở đây, này Sariputta, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loại hữu tình. Người này lấy của không cho; bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh trong các dục vọng, giao cấu các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, này Sariputta, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.

Thân hành gì, này Sariputta, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, này Sariputtta, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Người ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho; bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy. Người ấy từ bỏ sống theo tà hạnh trong các dục vọng, không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, này Sariputta, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.

Thân hành, này các Tỷ-kheo, ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Ta đã nói như vậy và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Khẩu hành, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa khẩu hành”. Ta đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Này Sariputta, khẩu hành nào khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, khẩu hành như vậy không nên hành trì. Và khẩu hành nào, này Sariputta, khi hành trì, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, khẩu hành như vậy nên hành trì.

Khẩu hành gì, này Sariputta, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm? Ở đây, này Sariputta, có người vọng ngữ đến chỗ tập hội…

Ý hành,… Tâm sanh,… Tưởng đắc,… Kiến đắc,… Ngã tánh đắc,…

Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: "Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự

tương đối giữa ngã tánh đắc", Ta đã nói như vậy, và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên.

Này Sariputta, lời nói này được Ta nói một cách vắn tắt, cần phải hiểu một cách rộng rãi như vậy.

(Lời giảng thứ hai)

Sắc do mắt nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Tiếng do tai nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Hương do mũi nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì không nên hành trì”. Vị do lưỡi nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Xúc do thân nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Pháp do ý nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.

(Giảng rộng)

Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau:

"Sắc do mắt nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?

Sắc nào do mắt nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, sắc do mắt nhận thức như vậy không nên hành trì. Sắc nào do mắt nhận thức, bạch Thế Tôn khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, sắc ấy do mắt nhận thức như vậy nên hành trì. "Sắc do mắt nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên.

"Tiếng do tai nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?

Tiếng nào do tai nhận thức bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, tiếng do tai nhận thức như vậy không nên hành trì. Tiếng nào do tai nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, tiếng do tai nhận thức như vậy nên hành trì. "Tiếng do tai nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên.

"Hương do mũi nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?

Hương nào do mũi nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, hương do mũi nhận thức như vậy không nên hành trì. Hương nào do mũi nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì, các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, hương do mũi nhận thức như vậy nên hành trì: "Hương do mũi nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên.

"Vị do lưỡi nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?

Vị nào do lưỡi nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, vị do lưỡi nhận thức như vậy không nên hành trì. Vị nào do lưỡi nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, vị do lưỡi nhận thức như vậy nên hành trì. "Vị do lưỡi nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên.

"Xúc do thân nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?

Xúc nào do thân nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, xúc do thân nhận thức như vậy không nên hành trì. Xúc nào do thân nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, xúc do thân nhận thức như vậy nên hành trì. "Xúc do thân nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên.

"Pháp do ý nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên?

Pháp nào do ý nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, pháp do ý nhận thức như vậy không nên hành trì. Pháp nào do ý nhận thức, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, pháp do ý nhận thức như vậy nên hành trì. Pháp do ý nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy và do duyên như vậy lời nói ấy được nói lên.

Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

(Ðức Thế Tôn khen và tóm tắt)

– Lành thay, lành thay, này Sariputta! Lành thay, này Sariputta! Lời nói này được Ta nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa rộng rãi, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.

Sắc do mắt nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Lời nói như vậy được Ta nói lên. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên?..

Tiếng do tai nhận thức,… Hương do mũi nhận thức,… Vị do lưỡi nhận thức,… Xúc do thân nhận thức,… Pháp do ý nhận thức, …

Pháp do ý nhận thức, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Lời nói như vậy được Ta nói lên và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Này Sariputta, lời nói này được Ta nói lên một cách vắn tắt, ý nghĩa lời nói ấy được hiểu một cách rộng rãi như vậy.

(Lời giảng thứ ba)

Y, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ðồ ăn khất thực, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Sàng tọa, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Làng, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thị trấn, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ðô thị, này Sariputta,

Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Quốc độ, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Người (Puggala), này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.

(Giảng rộng)

Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi, con được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau:

"Y, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Y nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì, các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, y như vậy không nên hành trì. Y nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, y như vậy nên hành trì. "Y, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thế Tôn đã nói lên như vậy. Và do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

“Ðồ ăn khất thực, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên”.

“Sàng tọa, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên”.

“Làng, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên”.

“Thị trấn, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên”.

“Ðô thị, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên”.

“Quốc độ, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên”.

“Người, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên”.

Bạch Thế Tôn, lời nói này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải thích rộng rãi, con đã hiểu một cách rộng rãi như vậy.

(Ðức Thế Tôn khen và tóm tắt)

– Lành thay, lành thay, này Sariputta! Lành thay, này Sariputta! Lời nói này được Ta nói lên vắn tắt, không giải thích rộng rãi, Ông đã hiểu một cách rộng rãi như vậy.

Y, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ta đã nói lên như vậy. Và do duyên gì, lời nói ấy được nói lên? Y nào, này Sariputta, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, y như vậy không nên hành trì. Y nào, này Sariputta, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, y như vậy nên hành trì. Y, này Sariputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ta đã nói lên như vậy. Do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Ðồ ăn khất thực, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Sàng tọa, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Làng, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Thị trấn, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Ðô thị, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Quốc độ, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Người, này Sariputta, Ta nói có hai loại… do duyên như vậy, lời nói ấy được nói lên.

Này Sariputta, lời nói này được Ta nói vắn tắt, ý nghĩa (lời nói ấy) cần được hiểu một cách rộng rãi như vậy.

(Kết luận)

Này Sariputta, nếu tất cả những vị Sát đế lỵ, đối với lời nói này được Ta nói vắn tắt, có thể hiểu ý nghĩa lời nói ấy một cách rộng rãi như vậy, tất cả những vị ấy sẽ được hưởng hạnh phúc, an lạc lâu dài. Này Sariputta, nếu tất cả những vị Bà-la-môn … nếu tất cả những vị Vessa… Này Sariputta, nếu tất cả những vị Thủ đà (Sudda), đối với lời nói này được Ta nói vắn tắt, có thể hiểu ý nghĩa lời nói ấy một cách rộng rãi như vậy, tất cả những vị ấy sẽ được hưởng hạnh phúc an lạc lâu dài.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sariputta hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Monk: Nhà sư Phật giáo đã thọ giới cụ túc, thường dịch là “khất sĩ” vì sống nhờ vào sự cúng dường của thí chủ.
  • Thân hành / Kāya-samācāra / Bodily conduct: Hành động, cách cư xử biểu hiện qua thân thể.
  • Khẩu hành / Vacī-samācāra / Verbal conduct: Hành động, cách cư xử biểu hiện qua lời nói.
  • Ý hành / Mano-samācāra / Mental conduct: Hành động, cách cư xử biểu hiện qua ý nghĩ, tư tưởng.
  • Khuynh hướng tâm ý / (Possibly Citta-samuṭṭhāna or similar) / Inclination of mind: Xu thế, chiều hướng tự nhiên của tâm, thường liên quan đến các trạng thái tâm thiện hoặc bất thiện tiềm ẩn.
  • Sự thủ đắc nhận thức / Saññā-paṭilābha / Acquisition of perception: Việc hình thành, có được một loại nhận thức, cách tri giác nào đó về thế giới.
  • Sự thủ đắc tri kiến / Diṭṭhi-paṭilābha / Acquisition of view: Việc hình thành, có được một quan điểm, một hệ thống niềm tin hay cách nhìn nhận về thực tại.
  • Sự thủ đắc bản thể cá nhân / Attabhāva-paṭilābha / Acquisition of individuality: Việc hình thành, có được một đời sống cá nhân, một sự hiện hữu riêng biệt trong vòng luân hồi, thường gắn liền với năm uẩn.
  • Pháp bất thiện / Akusala dhamma / Unwholesome states: Các trạng thái tâm tiêu cực, có hại, gây khổ đau cho mình và người khác, ví dụ tham, sân, si, và các hành động phát sinh từ chúng.
  • Pháp thiện / Kusala dhamma / Wholesome states: Các trạng thái tâm tích cực, lợi ích, mang lại an vui cho mình và người khác, ví dụ không tham, không sân, không si (hoặc trí tuệ), và các hành động phát sinh từ chúng.
  • Định tâm / Samādhi / Concentration: Sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, một trạng thái tâm vững vàng, không dao động.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý về thực tại.
  • Giới Luật / Vinaya / Discipline: Các quy tắc ứng xử và đạo đức dành cho tu sĩ và cư sĩ Phật giáo.
  • Chúng sinh hóa sinh / Opapātika / Spontaneously reborn beings: Chúng sinh sinh ra một cách đột ngột, không qua bào thai (thai sinh) hay trứng (noãn sinh), như chư thiên, ngạ quỷ, chúng sinh địa ngục.
  • Sa môn / Samaṇa / Recluse: Người xuất gia, từ bỏ đời sống thế tục để tu tập tâm linh, tìm cầu giải thoát.
  • Bà la môn / Brāhmaṇa / Brahmin: Thành viên của giai cấp tu sĩ và trí thức trong xã hội Ấn Độ cổ đại; trong ngữ cảnh Phật giáo, thường chỉ những người tu tập theo truyền thống Vệ Đà hoặc những người có phẩm hạnh cao quý.
  • Thắng trí / Abhiññā / Direct knowledge: Sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt, thấu suốt thực tại, vượt qua kiến thức thông thường, thường bao gồm các năng lực tâm linh đặc biệt.
  • Phiền não / Kilesa / Affliction/Defilement: Các trạng thái tâm tiêu cực làm ô nhiễm tâm trí và dẫn đến khổ đau, như tham, sân, si, ngã mạn, nghi ngờ, tà kiến.
  • Chấm dứt sự hiện hữu / Bhavanirodha / End of being: Sự chấm dứt vòng luân hồi sinh tử, đạt đến Niết Bàn.
  • Hình sắc / Rūpa / Forms: Đối tượng của mắt, những gì được nhìn thấy.
  • Âm thanh / Sadda / Sounds: Đối tượng của tai, những gì được nghe thấy.
  • Mùi hương / Gandha / Odours: Đối tượng của mũi, những gì được ngửi thấy.
  • Vị / Rasa / Flavours: Đối tượng của lưỡi, những gì được nếm.
  • Cảm giác xúc chạm / Phoṭṭhabba / Tangibles: Đối tượng của thân, những gì được cảm nhận qua sự tiếp xúc.
  • Đối tượng của ý / Dhammā / Mind-objects: Đối tượng của tâm ý, bao gồm các ý nghĩ, cảm xúc, ký ức, khái niệm, và các trạng thái tâm khác.
  • Chư Thiên / Deva / Gods: Các chúng sinh sống ở các cõi trời, có phước báo và tuổi thọ dài hơn con người nhưng vẫn trong vòng luân hồi.
  • Ma vương / Māra / Māra: Hiện thân của sự cám dỗ, trở ngại trên con đường tu tập, có thể hiểu là ma vương theo nghĩa đen hoặc các phiền não, cái chết, ngũ uẩn.
  • Phạm thiên / Brahmā / Brahmā: Các chúng sinh cao cấp sống ở các cõi trời sắc giới và vô sắc giới, có thiền định sâu sắc nhưng vẫn trong vòng luân hồi.