Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 60. KINH CHẮC CHẮN

(Apaṇṇakasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng tỳ-kheo, Ngài đi đến một ngôi làng Bà-la-môn của xứ Kosala tên là Sālā.

2. Các gia chủ Bà-la-môn ở Sālā nghe tin:

“Sa-môn Gotama là con trai nhà Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng tỳ-kheo đã đến Sālā. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: ‘Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người hiểu rõ thế gian, bậc Vô thượng Điều ngự trượng phu, bậc Đạo sư của chư thiên và loài người, Phật, Thế Tôn’. Ngài đã tự mình hiểu toàn bộ (thắng tri / abhiññā) và trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikatvā) thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với quần chúng sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người rồi tuyên bố. Ngài giảng dạy Giáo pháp (pháp / dhamma) toàn thiện ở đoạn đầu, toàn thiện ở đoạn giữa, toàn thiện ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự, Ngài công bố cốt lõi đời sống thánh thiện hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh. Thật tốt đẹp thay khi được chiêm ngưỡng một bậc A-la-hán như vậy.”

3. Rồi các gia chủ Bà-la-môn ở Sālā đi đến nơi Thế Tôn ở; sau khi đến, một số người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người chào hỏi Thế Tôn; sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Một số người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người xưng tên và dòng họ trước mặt Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người giữ im lặng rồi ngồi xuống một bên. Khi các gia chủ Bà-la-môn ở Sālā đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói với họ điều này:

4. “Này các gia chủ, các vị có vị đạo sư nào ưng ý, nơi các vị đặt niềm tin (tín / saddhā) có cơ sở không?”

“Bạch Thế Tôn, chúng con không có vị đạo sư nào ưng ý, nơi chúng con đặt niềm tin có cơ sở.”

"Này các gia chủ, vì các vị chưa tìm được vị đạo sư ưng ý, các vị nên thọ trì và thực hành quy luật (pháp / dhammo) chắc chắn (bất bão / apaṇṇako) này. Này các gia chủ, quy luật chắc chắn khi được thọ trì một cách trọn vẹn sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc (lạc / sukha) lâu dài cho các vị. Này các gia chủ, thế nào là quy luật chắc chắn?

MN 60. KINH KHÔNG GÌ CHUYỂN HƯỚNG

(Apannaka Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn du hành giữa dân chúng Kosala với Ðại chúng Tỷ-kheo và đến tại Sala, một làng Bà- la-môn của dân chúng Kosala.

Các Bà-la-môn gia chủ ở Sala được nghe tiếng đồn như sau: “Sa-môn Gotama, giòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang du hành giữa dân chúng Kosala với Ðại chúng Tỷ-kheo, đã đến Sala”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời, loài Người. Khi đã chứng ngộ. Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy”.

Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Sala đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, một số người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người yên lặng ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Bà-la-môn gia chủ ở tại Sala đang ngồi xuống một bên:

– Này các Gia chủ, các Ông có vị Ðạo sư khả ý nào mà các Ông có lý do đặt được lòng tin không?

– Bạch Thế Tôn, chúng con không có vị Ðạo sư khả ý nào để chúng con có lý do đặt được lòng tin.

– Này các Gia chủ, nếu các Ông không có một vị Ðạo sư khả ý nào, thời hãy lấy pháp không gì chuyển hướng này mà thực hành. Này các Gia chủ, pháp không gì chuyển hướng này được khéo thọ trì, khéo thành tựu, sẽ đưa đến hạnh phúc an lạc lâu dài cho các Ông. Và này các Gia chủ, thế nào là pháp “không gì chuyển hướng”?

5. Này các gia chủ, có một số sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Không có bố thí, không có cúng dường, không có tế tự; không có quả báo của các hành động thiện và ác, không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có chúng sinh sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātika); không có các sa-môn và bà-la-môn đi đúng đường, thực hành đúng đắn ở đời, những người đã tự mình tuyên bố sau khi hiểu toàn bộ và trực tiếp chứng nghiệm đời này và đời sau’

6. Lại có một số sa-môn và bà-la-môn khác có lý thuyết đối lập trực tiếp với các sa-môn và bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: ‘Có bố thí, có cúng dường, có tế tự; có quả báo của các hành động thiện và ác; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có chúng sinh sinh ra tự nhiên; có các sa-môn và bà-la-môn đi đúng đường, thực hành đúng đắn ở đời, những người đã tự mình tuyên bố sau khi hiểu toàn bộ và trực tiếp chứng nghiệm đời này và đời sau.’

Này các gia chủ, các vị nghĩ thế nào: ‘Những sa-môn và bà-la-môn này có lý thuyết đối lập trực tiếp lẫn nhau không?’"

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

7. "Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Không có bố thí, không có cúng dường […lặp lại…] những người đã tự mình tuyên bố sau khi hiểu toàn bộ và trực tiếp chứng nghiệm đời này và đời sau’, điều này được dự đoán cho họ—họ sẽ từ bỏ ba những điều thiện là: hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều không thiện (bất thiện pháp / akusale dhamme) là hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn (phiền não / saṅkilesa) của những điều không thiện, và không thấy lợi ích của sự rời bỏ (viễn ly / nekkhamme), phần thanh tịnh của những điều thiện.

8. Trong khi thực sự có đời sau, thì vị ấy lại có quan điểm ‘không có đời sau’; đó là quan điểm sai (tà kiến / micchādiṭṭhi) của vị ấy. Trong khi thực sự có đời sau, vị ấy lại suy nghĩ ‘không có đời sau’; đó là suy nghĩ sai (tà tư duy / micchāsaṅkappo) của vị ấy. Trong khi thực sự có đời sau, vị ấy lại nói ‘không có đời sau’; đó là lời nói sai (tà ngữ / micchāvācā) của vị ấy. Trong khi thực sự có đời sau, vị ấy lại nói ‘không có đời sau’; vị ấy hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người biết rõ đời sau. Trong khi thực sự có đời sau, vị ấy lại thuyết phục người khác ‘không có đời sau’; đó là sự thuyết phục phi pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục phi pháp đó, vị ấy tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, đạo đức tốt đẹp trước đây của vị ấy bị loại bỏ, sự vô đạo đức xuất hiện—và đây là quan điểm sai, suy nghĩ sai, lời nói sai, sự đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục phi pháp, sự tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều không thiện ác độc này sinh ra với quan điểm sai làm Điều kiện (duyên / paccaya).

9. Ở đây, này các gia chủ, người có trí cần thận trọng suy xét như sau: ‘Nếu không có đời sau, thì người này sau khi chết sẽ được an toàn; nhưng nếu có đời sau, thì người này sau khi chết sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Hơn nữa, dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy đúng, không có đời sau; thì ngay trong hiện tại, cá nhân người này vẫn bị những người có trí chê trách, đó là một người vô đạo đức, có quan điểm sai, theo thuyết hư vô.’ Nếu thực sự có đời sau, thì cá nhân người này bị thua thiệt cả hai mặt: ngay trong đời hiện tại thì bị những người có trí chê trách, sau khi chết sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, quy luật chắc chắn này bị vị ấy thọ trì sai lầm, chỉ bao trùm một phía và bỏ sót nền tảng những điều thiện.

(I. Thuyết hư vô)

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những lập thuyết như sau, có những quan điểm như sau: “Không có (kết quả của) bố thí, không có (kết quả của) lễ hy sinh, không có (kết quả của) tế tự, không có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trên đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thực hành, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã tự chứng ngộ với thắng trí”.

Nhưng này các Gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói đối nghịch với các vị Sa-môn, Bà-la-môn kia, những vị này nói như sau: “Có (kết quả của) bố thí, có (kết quả của) lễ hy sinh, có (kết quả của) tế tự, có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trên đời có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thực hành, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng trí”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào, có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy nói những lời đối nghịch với nhau?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không có (kết quả của) bố thí, không có (kết quả của) lễ hy sinh, không có (kết quả của) tế tự, không có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trên đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thành tựu, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng trí”. Ðối với những vị này sự kiện này sẽ chờ đợi xảy ra: Sau khi từ bỏ ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Vì những vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có đời sau, nếu có quan điểm nào nói rằng không có đời sau, thời đó là một tà kiến. Vì rằng có đời sau, nếu có ai suy tư rằng không có đời sau, thời đó là tà tư duy. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng không có đời sau, thời đó là tà ngữ. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng không có đời sau, thời tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có đời sau. Vì rằng có đời sau, nếu có ai thuyết phục người khác là không có đời sau, thời sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy các ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu không có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung, tự ngã cảm thấy an toàn. Nếu có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu muốn đời sau không có đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này, ngay trong hiện tại bị những người có trí quở trách: “Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ trương hư vô luận”. Còn nếu có đời sau, thời vị này cả hai mặt đều gặp bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạn xứ, địa ngục. Như vậy pháp “không gì chuyển hướng” này bị chấp trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía, và bỏ phía thiện pháp.

10. Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Có bố thí […lặp lại…] những người đã tự mình hiểu toàn bộ và trực tiếp chứng nghiệm đời này và đời sau rồi tuyên bố’, điều này có thể được dự đoán cho họ: họ sẽ từ bỏ ba điều không thiện : hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều thiện này là hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy thấy rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn của những điều không thiện, và thấy rõ lợi ích của sự rời bỏ, phần thanh tịnh của những điều thiện.

11. Khi đời sau thực sự tồn tại, vị ấy có quan điểm ‘có đời sau’; đó là Thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi) của vị ấy. Khi đời sau thực sự tồn tại, vị ấy suy nghĩ ‘có đời sau’; đó là Suy nghĩ Thiện (chánh tư duy / sammāsaṅkappo) của vị ấy. Khi đời sau thực sự tồn tại, vị ấy nói ‘có đời sau’; đó là Lời nói Thiện (chánh ngữ / sammāvācā) của vị ấy. Khi đời sau thực sự tồn tại, vị ấy nói ‘có đời sau’; vị ấy không hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người biết rõ đời sau. Khi đời sau thực sự tồn tại, vị ấy thuyết phục người khác ‘có đời sau’; đó là sự thuyết phục đúng Giáo pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục đúng Giáo pháp đó, vị ấy không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, sự vô đạo đức trước đây của vị ấy bị loại bỏ, đạo đức tốt đẹp xuất hiện—và đây là Thấy Thiện, Suy nghĩ Thiện, Lời nói Thiện, sự không đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục đúng Giáo pháp, sự không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều thiện này sinh ra với Thấy Thiện làm Điều kiện.

12. Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau: ‘Nếu có đời sau, thì người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Cho dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, không có đời sau; thì ngay trong đời hiện tại, người này vẫn được những người có trí tán thán—đó là một người có đạo đức, có Thấy Thiện, theo thuyết khẳng định.’ Nếu thực sự có đời sau, thì người này chiến thắng cả hai mặt—ngay trong đời hiện tại được những người có trí tán thán và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Như vậy, quy luật chắc chắn này được vị ấy thọ trì đúng đắn, bao trùm cả hai phía và bỏ sót nền tảng những điều không thiện.

Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có (kết quả của) bố thí, có (kết quả của) lễ hy sinh, có (kết quả của) tế tự, có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trên đời có những vị Sa- môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thành tựu, và những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng trí”. Ðối với những vị này, sự kiện này sẽ chờ xẩy ra: Sau khi từ bỏ ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Vì những vị Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có đời sau, nếu có quan điểm nào nói rằng có đời sau, thời đó là một chánh kiến. Vì rằng có đời sau, nếu có ai suy tư rằng có đời sau, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng có đời sau thời đó là chánh ngữ. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng có đời sau, thời không tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có đời sau. Vì rằng có đời sau, nếu có ai thuyết phục người khác là có đời sau, thời sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy không khen mình chê người. Như vậy, trước khi ác giới của vị ấy được từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn cho đời sau không có đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại được những người có trí tán thán: “Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương hữu luận”. Còn nếu có đời sau, thời vị này cả hai mặt đều gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người trí tán thán; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, “pháp không gì chuyển hướng” này được chấp trì, được thực hành đúng đắn bởi vị này chấp nhận cả hai phía, bỏ qua hai phía bất thiện pháp.

13. Này các gia chủ, có một số sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Người tự làm, người sai bảo làm, người cắt xén, người sai bảo cắt xén, người nướng chín, người sai bảo nướng chín, người gây sầu khổ, người sai bảo gây sầu khổ, người làm mệt mỏi, người sai bảo làm mệt mỏi, người làm rung động, người sai bảo làm rung động, người giết hại sinh mệnh, người lấy của không cho, người đào ngạch khoét vách, người cướp bóc, người trộm cắp nhà vắng, người phục kích trên đường, người đi lại với vợ người, người nói dối; người làm [những việc ấy] không tạo ra lỗi lầm. Cho dù có người dùng bánh xe có lưỡi dao sắc bén biến tất cả sinh vật trên trái đất này thành một đống thịt vụn, một khối thịt vụn, thì từ nguyên nhân đó cũng không có lỗi lầm, không có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ nam sông Hằng giết hại, tàn sát, cắt xén, sai bảo cắt xén, nướng chín, sai bảo nướng chín; thì từ nguyên nhân đó cũng không có lỗi lầm, không có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ bắc sông Hằng bố thí, sai bảo bố thí, tế tự, sai bảo tế tự; thì từ nguyên nhân đó cũng không có phước báu, không có sự tích lũy phước báu. Do bố thí, do chế ngự, do kiềm chế, do nói lời chân thật, không có phước báu, không có sự tích lũy phước báu.’

14. Lại có một số sa-môn và bà-la-môn khác có lý thuyết đối lập trực tiếp với các sa-môn và bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: ‘Người tự làm, người sai bảo làm, người cắt xén, người sai bảo cắt xén, người nướng chín, người sai bảo nướng chín, người gây sầu khổ, người sai bảo gây sầu khổ, người làm mệt mỏi, người sai bảo làm mệt mỏi, người làm rung động, người sai bảo làm rung động, người giết hại sinh mệnh, người lấy của không cho, người đào ngạch khoét vách, người cướp bóc, người trộm cắp nhà vắng, người phục kích trên đường, người đi lại với vợ người, người nói dối; người làm [những việc ấy] có tạo ra lỗi lầm. Cho dù có người dùng bánh xe có lưỡi dao sắc bén biến tất cả sinh vật trên trái đất này thành một đống thịt vụn, một khối thịt vụn, thì từ nguyên nhân đó có lỗi lầm, có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ nam sông Hằng giết hại, tàn sát, cắt xén, sai bảo cắt xén, nướng chín, sai bảo nướng chín; thì từ nguyên nhân đó có lỗi lầm, có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ bắc sông Hằng bố thí, sai bảo bố thí, tế tự, sai bảo tế tự; thì từ nguyên nhân đó có phước báu, có sự tích lũy phước báu. Do bố thí, do chế ngự, do kiềm chế, do nói lời chân thật, có phước báu, có sự tích lũy phước báu.’

Này các gia chủ, các vị nghĩ thế nào, những sa-môn và bà-la-môn này có lý thuyết đối lập trực tiếp lẫn nhau không?"

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

(II. Thuyết vô tác dụng)

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây ra sợ hãi, hay khiến người gây ra sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt, cũng không vì vậy có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo”.

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói những lời đối nghịch với các Sa-môn, Bà-la-môn kia. Các vị này nói như sau: “Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây ác não hay khiến người gây ác não, tự mình gây sợ hãi, hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy có tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng thịt, thì do nhân duyên này có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu khiến người đốt nấu, thì do nhân duyên này có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng, bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, thì do nhân duyên này, có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo. Bố thí, điều phục, tự chế, nói thật, đều có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo”.

Vì sao vậy? này các Gia chủ, có phải những Sa-môn, Bà-la-môn này nói lời đối nghịch với nhau?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

15. "Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Người tự làm, người sai bảo làm, […lập lại…] thì từ nguyên nhân đó cũng không có lỗi lầm, không có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ nam sông Hằng giết hại, tàn sát […lặp lại…] do bố thí, do chế ngự, do kiềm chế, do nói lời chân thật, không có phước báu, không có sự tích lũy phước báu’, điều này được dự đoán cho họ—họ sẽ từ bỏ ba những điều thiện này là hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều không thiện này là hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn của những điều không thiện, và không thấy lợi ích của sự rời bỏ, phần thanh tịnh của những điều thiện.

16. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy lại có quan điểm ‘không có hành động tạo nghiệp’; đó là quan điểm sai của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy lại suy nghĩ ‘không có hành động tạo nghiệp’; đó là suy nghĩ sai của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy lại nói ‘không có hành động tạo nghiệp’; đó là lời nói sai của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy lại nói ‘không có hành động tạo nghiệp’; vị ấy hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người thuyết giảng về hành động tạo nghiệp. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy lại thuyết phục người khác ‘không có hành động tạo nghiệp’; đó là sự thuyết phục phi pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục phi pháp đó, vị ấy tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, đạo đức tốt đẹp trước đây của vị ấy bị loại bỏ, sự vô đạo đức xuất hiện—và đây là quan điểm sai, suy nghĩ sai, lời nói sai, sự đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục phi pháp, sự tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều không thiện ác độc này sinh ra với quan điểm sai làm Điều kiện.

17. Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau: ‘Nếu không có hành động tạo nghiệp, thì cá nhân người này sau khi thân hoại sẽ làm cho mình được an toàn; nhưng nếu có hành động tạo nghiệp, thì cá nhân người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Cho dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, không có hành động tạo nghiệp; thì ngay trong đời hiện tại, cá nhân người này vẫn bị những người có trí chê trách—đó là một người vô đạo đức, có quan điểm sai, theo thuyết vô tác.’ Nếu thực sự có hành động tạo nghiệp, thì cá nhân người này bị thua thiệt cả hai mặt—ngay trong đời hiện tại bị những người có trí chê trách và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, quy luật chắc chắn này bị vị ấy thọ trì sai lầm, chỉ bao trùm một phía và bỏ sót nền tảng những điều thiện.

18. Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Người tự làm, người sai bảo làm, […lập lại…] thì từ nguyên nhân ấy có tạo ra lỗi lầm. Cho dù có người dùng bánh xe có lưỡi dao sắc bén biến tất cả sinh vật trên trái đất này thành một đống thịt vụn, một khối thịt vụn, thì từ nguyên nhân đó có lỗi lầm, có sự tích lũy lỗi lầm. Cho dù có người đi dọc bờ nam sông Hằng giết hại, tàn sát […lập lại…]. Do bố thí, do chế ngự, do kiềm chế, do nói lời chân thật có phước báu, có sự tích lũy phước báu’, điều này được dự đoán cho họ—họ sẽ từ bỏ ba những điều không thiện này là hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều thiện này là hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy thấy rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn của những điều không thiện, và thấy rõ lợi ích của sự rời bỏ, phần thanh tịnh của những điều thiện.

19. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy có quan điểm ‘có hành động tạo nghiệp’; đó là Thấy Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy suy nghĩ ‘có hành động tạo nghiệp’; đó là Suy nghĩ Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy nói ‘có hành động tạo nghiệp’; đó là Lời nói Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy nói ‘có hành động tạo nghiệp’; vị ấy không hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người thuyết giảng về hành động tạo nghiệp. Trong khi thực sự có hành động tạo nghiệp, vị ấy thuyết phục người khác ‘có hành động tạo nghiệp’; đó là sự thuyết phục đúng Giáo pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục đúng Giáo pháp đó, vị ấy không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, sự vô đạo đức trước đây của vị ấy bị loại bỏ, đạo đức tốt đẹp xuất hiện—và đây là Thấy Thiện, Suy nghĩ Thiện, Lời nói Thiện, sự không đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục đúng Giáo pháp, sự không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều thiện này sinh ra với Thấy Thiện làm Điều kiện.

20. Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau: ‘Nếu có hành động tạo nghiệp, thì cá nhân người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Cho dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, không có hành động tạo nghiệp; thì ngay trong đời hiện tại, cá nhân người này vẫn được những người có trí tán thán—đó là một người có đạo đức, có Thấy Thiện, theo thuyết khẳng định hành động.’ Nếu thực sự có hành động tạo nghiệp, thì cá nhân người này chiến thắng cả hai mặt—ngay trong đời hiện tại được những người có trí tán thán và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Như vậy, quy luật chắc chắn này được vị ấy thọ trì đúng đắn, bao trùm cả hai phía và bỏ sót nền tảng những điều không thiện.

– Ở đây, này các Gia chủ, có những Sa-môn, Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm,… (như trên)… không đưa đến phước báo”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba thiện pháp thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Những Sa-môn, Bà-la-môn này không thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có tác dụng, nếu có quan điểm nào nói rằng không có tác dụng, thời đó là một tà kiến. Vì rằng có tác dụng, nếu ai có suy tư rằng không có tác dụng, thời đó là tà tư duy. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng không có tác dụng, thời đó là tà ngữ. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng không có tác dụng, thời tự mẫu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có tác dụng. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai thuyết phục người khác là không có tác dụng, thời sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự

thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy những ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, người có trí suy nghĩ như sau: Nếu không có tác dụng, thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, tự ngã cảm thấy an toàn. Nếu có tác dụng, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu muốn không có tác dụng đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này, ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách: “Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ trương không tác dụng”. Còn nếu có tác dụng, thời vị này cả hai mặt đều gặp sự bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy pháp “không gì chuyển hướng” này bị chấp trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía, và bỏ qua phía thiện pháp.

Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm… (như trên)… có đưa đến phước báo”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị này thật hành theo. Vì sao vậy ? Vì những Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có tác dụng, nếu có quan điểm nào nói rằng có tác dụng, thời đó là chánh kiến. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai suy tư rằng có tác dụng, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng có tác dụng, thời đó là chánh ngữ, vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng có tác dụng thời không tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có tác dụng. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai thuyết phục người khác là có tác dụng, thời sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy không khen mình chê người. Như vậy trước khi ác giới của vị ấy được từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu có tác dụng, thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn tác dụng không có đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại được những người có trí tán thán: “Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương có tác dụng”. Còn nếu có tác dụng, thời vị này cả hai mặt đều gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người trí tán thán; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, pháp “không gì chuyển hướng” này được chấp trì, được thực hành đúng đắn, bởi vị này chấp nhận cả hai phía, và bỏ qua phía bất thiện pháp.

21. Này các gia chủ, có một số sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện cho sự nhiễm bẩn của chúng sinh; không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện mà chúng sinh bị nhiễm bẩn. Không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sinh; không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện mà chúng sinh được thanh tịnh. Không có sức mạnh, không có nỗ lực, không có sức lực của con người, không có sự phấn đấu của con người; tất cả chúng sinh, tất cả sinh mạng, tất cả sinh vật, tất cả linh hồn đều không có quyền tự chủ, không có sức mạnh, không có nỗ lực, bị định mệnh và hoàn cảnh chi phối, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ (khổ / dukkha) trong sáu loại dòng dõi.’

22. Lại có một số sa-môn và bà-la-môn khác có lý thuyết đối lập trực tiếp với các sa-môn và bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: ‘Có gốc nguyên nhân, có Điều kiện cho sự nhiễm bẩn của chúng sinh; có gốc nguyên nhân, có Điều kiện mà chúng sinh bị nhiễm bẩn. Có gốc nguyên nhân, có Điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sinh; có gốc nguyên nhân, có Điều kiện mà chúng sinh được thanh tịnh. Có sức mạnh, có nỗ lực, có sức lực của con người, có sự phấn đấu của con người; không phải tất cả chúng sinh, tất cả sinh mạng, tất cả sinh vật, tất cả linh hồn đều không có quyền tự chủ, không có sức mạnh, không có nỗ lực, bị định mệnh và hoàn cảnh chi phối, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ trong sáu loại dòng dõi.’

Này các gia chủ, các vị nghĩ thế nào, những sa-môn và bà-la-môn này có lý thuyết đối lập trực tiếp lẫn nhau không?"

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

(III. Thuyết vô nhân duyên)

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài chúng sanh, tất cả loài hữu tình, tất cả sanh loại, tất cả sanh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Các chúng sanh ấy bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi sự tình cờ, bởi bản tánh của họ. Các chúng sanh ấy hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của họ”.

Này các Gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn đối nghịch với những Sa-môn, Bà-

la-môn ấy. Những vị này đã nói như sau: “Có nhân có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; không có nhân, không có duyên các loài hữu tình bị nhiễm ô. Có nhân, có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Có lực, có tinh tấn, có nhân lực, có sự cố gắng của người. Tất cả loài chúng sanh, tất cả loài hữu tình, tất cả sanh loại, tất cả sanh mạng đều không phải không tự tại, không có lực, không có tinh tấn. (Không phải) các chúng sanh ấy bị dẫn dắt, chi phối bởi định mệnh bởi sự tình cờ, bởi bản tánh của họ. (Không phải) họ hưởng thọ khổ lạc y theo sáu loại thác sanh của họ”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào? Có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn này nói lên những lời mâu thuẫn, đối nghịch nhau?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

23. "Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện cho sự nhiễm bẩn của chúng sinh; không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện mà chúng sinh bị nhiễm bẩn. Không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sinh; không có gốc nguyên nhân, không có Điều kiện mà chúng sinh được thanh tịnh. Không có sức mạnh, không có nỗ lực, không có sức lực của con người, không có sự phấn đấu của con người; tất cả chúng sinh, tất cả sinh mạng, tất cả sinh vật, tất cả linh hồn đều không có quyền tự chủ, không có sức mạnh, không có nỗ lực, bị định mệnh và hoàn cảnh chi phối, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ trong sáu loại dòng dõi’, điều này được dự đoán cho họ—họ sẽ từ bỏ ba những điều thiện này là hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều không thiện này là hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn của những điều không thiện, và không thấy lợi ích của sự rời bỏ, phần thanh tịnh của những điều thiện.

24. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy lại có quan điểm ‘không có gốc nguyên nhân’; đó là quan điểm sai của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy lại suy nghĩ ‘không có gốc nguyên nhân’; đó là suy nghĩ sai của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy lại nói ‘không có gốc nguyên nhân’; đó là lời nói sai của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy lại nói ‘không có gốc nguyên nhân’; vị ấy hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người thuyết giảng về gốc nguyên nhân. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy lại thuyết phục người khác ‘không có gốc nguyên nhân’; đó là sự thuyết phục phi pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục phi pháp đó, vị ấy tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, đạo đức tốt đẹp trước đây của vị ấy bị loại bỏ, sự vô đạo đức xuất hiện—và đây là quan điểm sai, suy nghĩ sai, lời nói sai, sự đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục phi pháp, sự tự đề cao mình và chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều không thiện ác độc này sinh ra với quan điểm sai làm Điều kiện.

25. Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau: ‘Nếu không có gốc nguyên nhân, thì cá nhân người này sau khi thân hoại sẽ làm cho mình được an toàn; nhưng nếu có gốc nguyên nhân, thì cá nhân người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Cho dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, không có gốc nguyên nhân; thì ngay trong đời hiện tại, cá nhân người này vẫn bị những người có trí chê trách—đó là một người vô đạo đức, có quan điểm sai, theo thuyết vô nhân.’ Nếu thực sự có gốc nguyên nhân, thì cá nhân người này bị thua thiệt cả hai mặt—ngay trong đời hiện tại bị những người có trí chê trách và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, quy luật chắc chắn này bị vị ấy thọ trì sai lầm, chỉ bao trùm một phía và bỏ sót nền tảng những điều thiện.

26. Ở đây, này các gia chủ, đối với những sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Có gốc nguyên nhân, có Điều kiện cho sự nhiễm bẩn của chúng sinh; có gốc nguyên nhân, có Điều kiện mà chúng sinh bị nhiễm bẩn. Có gốc nguyên nhân, có Điều kiện cho sự thanh tịnh của chúng sinh; có gốc nguyên nhân, có Điều kiện mà chúng sinh được thanh tịnh. Có sức mạnh, có nỗ lực, có sức lực của con người, có sự phấn đấu của con người; không phải tất cả chúng sinh, tất cả sinh mạng, tất cả sinh vật, tất cả linh hồn đều không có quyền tự chủ, không có sức mạnh, không có nỗ lực, bị định mệnh và hoàn cảnh chi phối, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ trong sáu loại dòng dõi’, điều này được dự đoán cho họ—họ sẽ từ bỏ ba những điều không thiện này là hành động không thiện, lời nói không thiện, suy nghĩ không thiện và họ sẽ thọ trì, thực hành ba những điều thiện này là hành động thiện, lời nói thiện, suy nghĩ thiện. Vì sao vậy? Vì những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy thấy rõ sự nguy hiểm, sự thấp hèn, sự nhiễm bẩn của những điều không thiện, và thấy rõ lợi ích của sự rời bỏ, phần thanh tịnh của những điều thiện.

27. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy có quan điểm ‘có gốc nguyên nhân’; đó là Thấy Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy suy nghĩ ‘có gốc nguyên nhân’; đó là Suy nghĩ Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy nói ‘có gốc nguyên nhân’; đó là Lời nói Thiện của vị ấy. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy nói ‘có gốc nguyên nhân’; vị ấy không hành động đối nghịch với các bậc A-la-hán là những người thuyết giảng về gốc nguyên nhân. Trong khi thực sự có gốc nguyên nhân, vị ấy thuyết phục người khác ‘có gốc nguyên nhân’; đó là sự thuyết phục đúng Giáo pháp của vị ấy. Và với sự thuyết phục đúng Giáo pháp đó, vị ấy không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, sự vô đạo đức trước đây của vị ấy bị loại bỏ, đạo đức tốt đẹp xuất hiện—và đây là Thấy Thiện, Suy nghĩ Thiện, Lời nói Thiện, sự không đối nghịch với các bậc thánh, sự thuyết phục đúng Giáo pháp, sự không tự đề cao mình và không chê bai người khác. Như vậy, nhiều những điều thiện này sinh ra với Thấy Thiện làm Điều kiện.

28. Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau: ‘Nếu có gốc nguyên nhân, thì cá nhân người này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Cho dù lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, không có gốc nguyên nhân; thì ngay trong đời hiện tại, cá nhân người này vẫn được những người có trí tán thán—đó là một người có đạo đức, có Thấy Thiện, theo thuyết khẳng định nguyên nhân.’ Nếu thực sự có gốc nguyên nhân, thì cá nhân người này chiến thắng cả hai mặt—ngay trong đời hiện tại được những người có trí tán thán và sau khi thân hoại mạng chung sẽ sinh vào cõi lành, thiên giới. Như vậy, quy luật chắc chắn này được vị ấy thọ trì đúng đắn, bao trùm cả hai phía và bỏ sót nền tảng những điều không thiện.

– Ở đây này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không có nhân, không có duyên… (như trên)… họ cảm thọ khổ lạc…”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba thiện pháp thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này sẽ thực hành theo. Vì sao vậy? Những Sa-môn, Bà-la-môn này không thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có nhân, nếu có quan điểm nào nói rằng không có nhân, thời đó là một tà kiến. Vì rằng có nhân, nếu có ai suy tư rằng không có nhân thời đó là tư duy. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng không có nhân, thời đó là tà ngữ. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng không có nhân, thời tự mâu thuẫn, đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có nhân. Vì rằng có nhân, nếu có ai thuyết phục người khác là không có nhân, thời sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy những ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, người có trí suy nghĩ như sau: Nếu không có nhân, thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, tự cảm thấy an toàn. Nếu có nhân thời vị này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu muốn không có nhân đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn, Bà- la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách. “Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ trương không nhân”. Còn nếu có nhân, thời vị này, cả hai mặt đều gặp sự bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, pháp “không có chuyển hướng” này bị chấp trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía, và bỏ qua phía thiện pháp.

Ở đây, này các Gia chủ, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có nhân, có duyên… (như trên)… họ cảm thọ hưởng lạc”. Ðối với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy? Vì những Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp.

Vì rằng có nhân, nếu có quan điểm nào nói rằng có nhân, thời đó là chánh kiến. Vì rằng có nhân, nếu có ai suy tư rằng có nhân, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng có nhân, thời đó là chánh ngữ. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng có nhân, thời không tự mẫu thuẫn, đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có nhân. Vì rằng có nhân, nếu có ai thuyết phục người khác là có nhân, thời sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy không khen mình chê người. Như vậy, trước khi ác giới của vị ấy được từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh

kiến.

Ở đây, này các Gia chủ, vị có trí suy nghĩ như sau: Nếu có nhân, thời vị này sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn không có nhân đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn; Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại, được những người có trí tán thán: “Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương có nhân”. Còn nếu có nhân thời vị này cả hai mặt đều gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người có trí tán thán, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Như vậy, pháp “không gì chuyển hướng” này được chấp trì, được thực hành đúng đắn, bởi vị này chấp nhận cả hai phía và bỏ qua phía bất thiện pháp.

29. Này các gia chủ, có một số sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Hoàn toàn không có cõi phi vật chất (vô sắc / āruppā).’

30. Lại có một số sa-môn và bà-la-môn khác có lý thuyết đối lập trực tiếp với các sa-môn và bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: ‘Hoàn toàn có cõi phi vật chất.’

Này các gia chủ, các vị nghĩ thế nào, những sa-môn và bà-la-môn này có lý thuyết đối lập trực tiếp lẫn nhau không?"

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

31. "Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau—đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Hoàn toàn không có cõi phi vật chất’, điều này ta chưa thấy; và đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Hoàn toàn có cõi phi vật chất’, điều này ta cũng chưa biết. Nếu ta không biết, không thấy mà lại quả quyết chấp nhận và tuyên bố—chỉ điều này là sự thật, mọi điều khác là sai lầm, thì điều đó không thích hợp với ta. Đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Hoàn toàn không có cõi phi vật chất’, nếu lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có khả năng này—ta sẽ chắc chắn tái sinh vào những cõi chư thiên có hình thể, do tâm tạo. Còn đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Hoàn toàn có cõi phi vật chất’, nếu lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có khả năng này—ta sẽ chắc chắn tái sinh vào những cõi chư thiên không có hình thể, do Nhận Thức (tưởng / saññā) tạo. Lại nữa, người ta thấy rõ vì có hình thể mà sinh ra việc cầm gậy, cầm kiếm, tranh cãi, xung đột, tranh luận, mắng mỏ nhau, vu khống và nói dối. ‘Nhưng những điều này hoàn toàn không có ở cõi phi vật chất.’ Sau khi suy xét như vậy, vị ấy thực hành để nhàm chán, để cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā), để sự hoại diệt (diệt / nirodha) các hình thể.

(IV. Thuyết Không có cõi vô sắc)

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc”.

Lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn, đối nghịch với các Sa-môn, Ba la môn ấy. Các vị này đã nói như sau: “Chắc chắn có cõi vô sắc”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào? Có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn này nói những lời mâu thuẫn, đối nghịch nhau ?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Ở đây, này các Gia chủ, một người có trí suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan niệm như sau: “Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc”, ta không có thấy như vậy. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối có cõi vô sắc”, ta không có biết như vậy. Và nếu ta không biết, không thấy mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: “Ðây là sự thật, ngoài ra đều là mê lầm,” thời như vậy không xứng đáng với ta. Những Sa-môn, Bà-la- môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc”, nếu lời nói của những Sa-môn, Ba la môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh tại chỗ các chư Thiên có sắc do ý sở thành. Còn nếu những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Tuyệt đối có cõi vô sắc”, nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh tại chỗ các chư Thiên vô sắc, do tưởng sở thành. Do duyên với cái gì có sắc, chấp gậy, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ đều được thấy. Nhưng sẽ không có những sự việc này trong cõi vô sắc”. Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự ly tham, sự diệt tận các sắc pháp.

32. Này các gia chủ, có một số sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Không có sự chấm dứt hoàn toàn (hữu diệt / bhavanirodho).’

33. Lại có một số sa-môn và bà-la-môn khác có lý thuyết đối lập trực tiếp với các sa-môn và bà-la-môn ấy. Họ nói như vầy: ‘Có sự chấm dứt hoàn toàn.’

Này các gia chủ, các vị nghĩ thế nào, những sa-môn và bà-la-môn này có lý thuyết đối lập trực tiếp lẫn nhau không?"

“Thưa có, bạch Thế Tôn.”

34. "Ở đây, này các gia chủ, người có trí thận trọng suy xét như sau—đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Không có sự chấm dứt hoàn toàn’, điều này ta chưa thấy; và đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Có sự chấm dứt hoàn toàn’, điều này ta cũng chưa biết. Nếu ta không biết, không thấy mà lại quả quyết chấp nhận và tuyên bố—chỉ điều này là sự thật, mọi điều khác là sai lầm, thì điều đó không thích hợp với ta. Đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Không có sự chấm dứt hoàn toàn’, nếu lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có khả năng này—ta sẽ chắc chắn tái sinh vào những cõi chư thiên không có hình thể, do Nhận Thức tạo. Còn đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Có sự chấm dứt hoàn toàn’, nếu lời của những tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có khả năng này—ta sẽ nhập Niết-bàn ngay trong đời hiện tại. Đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Không có sự chấm dứt hoàn toàn’, quan điểm của họ gần với sự tham luyến, gần với sự trói buộc, gần với sự vui thú chạy theo (hỷ lạc / abhinandanā), gần với sự dính mắc, gần với sự bám giữ (thủ / upādāna). Còn đối với những tôn giả sa-môn và bà-la-môn có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Có sự chấm dứt hoàn toàn’, quan điểm của họ gần với sự không tham luyến, gần với sự không trói buộc, gần với sự không vui thú chạy theo, gần với sự không dính mắc, gần với sự không bám giữ. Sau khi suy xét như vậy, vị ấy thực hành để nhàm chán, để cạn hết đắm nhiễm, để sự hoại diệt các sự tồn tại.

(V. Thuyết Không có Ðoạn diệt)

Này các Gia chủ, có một số Sa-môn. Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có một sự hữu diệt (Bhavanirodha) toàn diện”.

Này các Gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn đối nghịch với các Sa-môn, Bà-la- môn. Các vị này đã nói như sau: “Có thể có một sự hữu diệt toàn diện”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào? Có phải những Sa-môn, Bà-la-môn này nói những lời mâu thuẫn đối nghịch nhau?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Ở đây, này các Gia chủ, một người có trí suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có sự hữu diệt toàn diện”, ta không có thấy như vậy. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có thể có một sự hữu diệt

toàn diện", ta không có biết như vậy. Và nếu ta không biết, không thấy mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: “Ðây là sự thật, ngoài ra đều là mê lầm”, thời như vậy không xứng đáng với ta. Những Sa- môn, Bà-la-môn nào, có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có một sự hữu diệt toàn diện”, nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh chỗ các chư Thiên vô sắc do tưởng sở thành. Còn nếu những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có thể có một sự hữu diệt toàn diện”, nếu lời nói của những Sa- môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ nhập Niết-bàn ngay trong hiện tại. Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Không thể có một sự hữu diệt toàn diện”, thời quan điểm này của các vị ấy gần với tham ái, gần với kiết sử, gần với ái lạc, gần với chấp trước, gần với chấp thủ. Còn những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Có thể có sự hữu diệt toàn diện”, thời quan điểm này của những vị ấy là gần với ly tham, gần với không kiết phược, gần với không ái lạc, gần với không chấp trước, gần với không chấp thủ". Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự vô tham, sự diệt tận đối với các hữu.

35. Này các gia chủ, có bốn hạng người này đang tồn tại, đang hiện hữu ở đời. Bốn hạng người nào? Ở đây, này các gia chủ, có hạng người hành hạ bản thân (tự hành khổ / attantapo), chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân. Ở đây, này các gia chủ, có hạng người hành hạ người khác (hành khổ tha / parantapo), chuyên tâm vào việc hành hạ người khác. Ở đây, này các gia chủ, có hạng người vừa hành hạ bản thân chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, vừa hành hạ người khác chuyên tâm vào việc hành hạ người khác. Ở đây, này các gia chủ, có hạng người không hành hạ bản thân không chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, không hành hạ người khác không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; vị ấy không hành hạ bản thân, không hành hạ người khác, ngay trong đời hiện tại không còn đói khát, đã dập tắt, đã trở nên mát mẻ, trải nghiệm hạnh phúc, sống với tự ngã đã trở nên thiêng liêng.

36. Này các gia chủ, thế nào là hạng người hành hạ bản thân, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân? Ở đây, này các gia chủ, có người sống lõa thể, phóng uế bừa bãi, liếm tay cho sạch […lặp lại…] như vậy vị ấy sống chuyên tâm vào nhiều hình thức thiêu đốt và hành hạ thân thể. Này các gia chủ, đây gọi là hạng người hành hạ bản thân, chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân.

37. Này các gia chủ, thế nào là hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác? Ở đây, này các gia chủ, có người làm nghề mổ cừu, mổ lợn […lặp lại…] hay bất kỳ ai làm những nghề nghiệp tàn ác khác. Này các gia chủ, đây gọi là hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.

38. Này các gia chủ, thế nào là hạng người vừa hành hạ bản thân chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, vừa hành hạ người khác chuyên tâm vào việc hành hạ người khác? Ở đây, này các gia chủ, có người là vua chúa đã được làm lễ quán đảnh […lặp lại…] những người phục vụ của họ bị đe dọa bởi hình phạt, bị đe dọa bởi sợ hãi, với khuôn mặt đẫm nước mắt, khóc lóc mà làm các công việc. Này các gia chủ, đây gọi là hạng người vừa hành hạ bản thân chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, vừa hành hạ người khác chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.

39. Này các gia chủ, thế nào là hạng người không hành hạ bản thân không chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, không hành hạ người khác không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; vị ấy không hành hạ bản thân, không hành hạ người khác, ngay trong đời hiện tại không còn đói khát, đã dập tắt, đã trở nên mát mẻ, trải nghiệm hạnh phúc, sống với tự ngã đã trở nên thiêng liêng?

(Bốn hạng người)

Này các Gia chủ, có bốn hạng người này có mặt ở trong đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Gia chủ, có người tự hành khổ mình chuyên tâm tự hành khổ mình. Ở đây, này các Gia chủ, có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này các Gia chủ, có người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này các Gia chủ, có người vừa tự không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Vị này không hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại, không có tham dục, không có khao khát, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.

Và này các Gia chủ, thế nào là người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình ? Ở đây, này các Gia chủ, có người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng một chỗ, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn dành riêng, không nhận mời đi ăn, không nhận từ nơi miệng nồi, không nhận từ nơi miệng chảo, không nhận tại ngưỡng cửa, không nhận giữa những cây gậy, không nhận giữa những cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang giao cấu người đàn ông, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận tại chỗ có chó đứng, không nhận tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, hay chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, hay chỉ nhận ăn hai miếng… hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy nhà, hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát,… nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa,… bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ hoang, ăn lúa tắc, ăn lúa hoang, ăn da vụn, ăn rong nước, ăn bột tấm, ăn váng gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ hay ăn phân bò. Vị ấy ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tirita làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện bằng từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cừu. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người chuyên sống theo hạnh nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, từ bỏ chỗ ngồi, là người ngồi chõ hỏ, chuyên sống theo hạnh ngồi chõ hỏ, một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy dưới nhiều hình thức, vị ấy sống tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình.

Và này các Gia chủ, thế nào là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, này các Gia chủ, có người là người đồ tể giết trâu bò, là người đồ tể giết heo, là người giết vịt, săn thú, là thợ săn, thợ đánh cá, ăn trộm, người xử tử các người ăn trộm, cai ngục và những người làm các nghề ác độc khác. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.

Và này các Gia chủ, thế nào là người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người ? Ở đây, này các Gia chủ, có người làm vua, thuộc giai cấp Sát-đế-lị, hay một Bà-la-môn triệu phú. Vị này cho xây dựng một giảng đường mới về phía Ðông thành phố, cạo bỏ râu tóc, đắp áo da thô, toàn thân bôi thục tô và dầu, gãi lưng với một sừng nai, đi vào giảng đường với người vợ chính và một Bà-la-môn tế tự. Rồi vị ấy nằm xuống dưới đất trống trơn chỉ có lát cỏ. Vị vua sống với sữa từ vú một con bò cái, có con bò con cùng một mầu sắc; bà vợ chính sống với sữa từ vú thứ hai; và vị Bà-la-môn tế tự sống với sữa từ vú thứ ba. Sữa từ vú thứ tư dùng để tế lửa. Còn con nghé con thì sống với đồ còn lại. Vị vua nói như sau: "Hãy giết một số bò đực để tế lễ, hãy giết một số nghé đực để tế lễ, hãy giết một số nghé cái để tế lễ, hãy giết một số dê để tế lễ, hãy giết một số cừu để tế lễ, hãy chặt một số cây để làm cột tế lễ, hãy thâu lượm một số cỏ dabbha để làm chỗ tế lễ. Và những người nô tỳ, những người phục vụ, những người làm công, những người này vì sợ đòn gậy, vì sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy nước mắt, khóc lóc làm các công việc. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là hạng người vừa tự hạnh khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.

Và này các Gia chủ, thế nào là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người; ngay trong hiện tại không có tham dục, không có khao khát, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, thân trú vào Phạm thể?

40-54. Ở đây, này các gia chủ, Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgato) xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác […lặp lại…] vị ấy sau khi từ bỏ (đoạn trừ / pahāya) năm điều làm mờ yếu tâm trí (ngũ triền cái / nīvaraṇe) này, những thứ làm ô nhiễm tâm và làm yếu ớt trí tuệ, vị ấy rời bỏ khỏi (ly / vivicceva) các bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện, đạt được và an trú trong Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm và tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ. Do sự lắng dịu (diệt / vūpasamā) của chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (vô tầm vô tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), đạt được và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định […lặp lại…] đạt được và an trú trong Thiền-na thứ ba […lặp lại…] đạt được và an trú trong Thiền-na thứ tư.

55. Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không có cấu uế, không còn nhiễm bẩn, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến sự bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ nhớ lại các đời sống quá khứ. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, như là—một đời, hai đời […lặp lại…] như vậy vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết.

Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không có cấu uế, không còn nhiễm bẩn, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến sự bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sự chết và sự tái sinh của chúng sinh. Với mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt qua giới hạn của con người, vị ấy thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh, thấp hèn và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, sinh vào cõi lành hay cõi dữ […lặp lại…] vị ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti) các chúng sinh đi theo hành động tạo nghiệp của họ.

Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không có cấu uế, không còn nhiễm bẩn, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến sự bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sự cạn kiệt (đoạn tận / khaya) của các nguồn ác (lậu hoặc / āsavānaṁ). Vị ấy biết rõ như thật ‘đây là đau khổ’ […lặp lại…] vị ấy biết rõ như thật ‘đây là con đường đưa đến sự hết sạch các nguồn ác’. Khi vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát (xuất ly / vimuccati) khỏi nguồn ác của bản năng, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của sự tồn tại, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của sự không hiểu biết (vô minh / avijjā). Khi đã được giải thoát, có sự nhận biết (thức tri / ñāṇaṁ) rằng ‘đã được giải thoát’.

Vị ấy biết rõ: ‘sự Tái sinh (sinh / jāti) đã cạn kiệt, cốt lõi đời sống thánh thiện đã hoàn tất, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’

56. Này các gia chủ, đây gọi là hạng người không hành hạ bản thân không chuyên tâm vào việc hành hạ bản thân, không hành hạ người khác không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; vị ấy không hành hạ bản thân, không hành hạ người khác, ngay trong đời hiện tại không còn đói khát, đã dập tắt, đã trở nên mát mẻ, trải nghiệm hạnh phúc, sống với tự ngã đã trở nên thiêng liêng."

57. Khi được nói như vậy, các gia chủ Bà-la-môn ở Sālā nói với Thế Tôn điều này: “Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama, thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama. Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc lối, hay đem ngọn đèn vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được các hình sắc; cũng vậy, Giáo pháp đã được Tôn giả Gotama làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Giáo pháp và quy y đại chúng tỳ-kheo. Xin Tôn giả Gotama nhận chúng con làm cư sĩ, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.”

Kết thúc Kinh Chắc Chắn, kinh thứ mười.

Kết thúc Phẩm Gia Chủ, phẩm thứ nhất.

Ở đây, này các Gia chủ, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.

Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.

Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.

Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ- kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.

Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.

Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.

Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Vị ấy sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với tứ.

Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.

Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy vị ấy nhớ đến những đời sống quá khứ, cũng với các nét đại cương và các chi tiết.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: "Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ tập”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ diệt”, tuệ tri như thật: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt” tuệ tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.

Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”.

Như vậy, này các Gia chủ, được gọi là hạng người không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người; ngay trong hiện tại, không có tham dục, không có khao khát, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.

Khi được nói vậy, các Bà-la-môn, gia chủ trú ở Sala bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Chúng con xin quy y Tôn giả

Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama chấp nhận cho chúng con làm những người cư sĩ. Từ nay cho đến mạng chung, chúng con xin trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-