Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 62. KINH DÀI GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA

(Mahārāhulovādasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại tu viện Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika.

2. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, mang bát và y đi vào Sāvatthi để khất thực. Tôn giả Rāhula vào buổi sáng cũng đắp y, mang bát và y đi theo sát ngay sau lưng Thế Tôn.

3. Rồi Thế Tôn nhìn lại và gọi Tôn giả Rāhula: “Này Rāhula, bất cứ vật chất (sắc / rūpa) nào — dù thuộc quá khứ, tương lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, kém hay ưu, xa hay gần — tất cả vật chất cần được nhìn thấy đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi’.”

“Bạch Thế Tôn, chỉ có vật chất thôi sao? Bạch Thiện Thệ, chỉ có vật chất thôi sao?”

“Này Rāhula, cả vật chất, cả Cảm Thọ (thọ / vedanā), cả Nhận Thức (tưởng / saññā), cả hoạt động (hành / saṅkhārā) và cả Nhận Biết (thức / viññāṇa) nữa.”

4. Rồi Tôn giả Rāhula suy nghĩ: “Hôm nay ai lại đi vào làng khất thực sau khi đã được Thế Tôn trực tiếp khuyên dạy bằng lời khuyên dạy này?” Vị ấy liền quay trở lại, ngồi xuống dưới gốc của một cái cây, vắt chéo chân, giữ lưng thẳng và thiết lập sự tập trung chú ý (niệm / sati) ở phía trước.

5. Tôn giả Sāriputta nhìn thấy Tôn giả Rāhula đang ngồi dưới gốc của một cái cây, vắt chéo chân, giữ lưng thẳng và thiết lập sự tập trung chú ý ở phía trước. Thấy vậy, vị ấy nói với Tôn giả Rāhula: “Này Rāhula, hãy rèn luyện phương pháp chú tâm về hơi thở (niệm hơi thở / ānāpānassati). Này Rāhula, phương pháp chú tâm về hơi thở khi được rèn luyện và thực hành nhiều lần sẽ mang lại quả lớn, mang lại lợi ích lớn.”

6. Rồi Tôn giả Rāhula vào buổi chiều, sau khi xả thiền, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Rāhula bạch Thế Tôn điều này:

7. “Bạch Thế Tôn, phương pháp chú tâm về hơi thở được rèn luyện như thế nào, được thực hành nhiều lần như thế nào để mang lại quả lớn, mang lại lợi ích lớn?”

MN 62. ÐẠI KINH GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA

(Mahà Ràhulovàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá Anathapindika (Cấp Cô độc).

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để khất thực. Tôn giả Rahula vào buổi sáng cũng đắp y, cầm y bát, đi sau lưng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn, sau khi đưa mắt ngó xung quanh, bảo Tôn giả Rahula:

– Này Rahula, bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta”.

– Bạch Thế Tôn, có phải chỉ sắc mà thôi? Bạch Thiện Thệ, có phải chỉ sắc mà thôi?

– Cả sắc, này Rahula; cả thọ, này Rahula; cả tưởng, này Rahula, cả hành, này Rahula; và cả thức, này Rahula.

Rồi Tôn giả Rahula tự nghĩ: “Ai có thể hôm nay được Thế Tôn trực tiếp giảng dạy với bài giáo giới, còn có thể đi vào làng để khất thực?” Rồi Tôn giả từ chỗ ấy đi trở lui về, ngồi xuống một gốc cây, kiết già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt. Tôn giả Sariputta thấy Tôn giả Rahula đang ngồi dưới một gốc cây, kiết già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt. Sau khi thấy vậy, Ngài nói với Tôn giả Rahula:

– Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập nhập tức xuất tức niệm (niệm hơi thở vô, hơi thở ra). Này Rahula, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.

Rồi Tôn giả Rahula, vào buổi chiều, sau khi từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Rahula bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập như thế nào? Làm cho sung mãn, (pháp môn này) như thế nào là để được quả lớn, được lợi ích lớn?

8. "Này Rāhula, bất cứ cái gì thuộc bên trong, thuộc về cá nhân, cứng, rắn chắc và bị bám giữ, cụ thể là: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột già, ruột non, thức ăn trong dạ dày, phân, hoặc bất cứ cái gì khác thuộc bên trong, thuộc về cá nhân, cứng, rắn chắc và bị bám giữ — này Rāhula, đây được gọi là tính đất (địa đại / pathavīdhātu) bên trong. Bất kể là tính đất bên trong hay tính đất bên ngoài, chúng chỉ đơn thuần là tính đất. Điều đó cần được nhìn thấy đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Sau khi nhìn thấy điều này đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn, vị ấy chán ngán (yếm ly / nibbindati) đối với tính đất, vị ấy làm phai nhạt (ly tham / virājeti) tâm đối với tính đất.

9. Này Rāhula, thế nào là tính nước (thủy đại / āpodhātu)? Tính nước có thể ở bên trong, có thể ở bên ngoài. Này Rāhula, thế nào là tính nước bên trong? Bất cứ cái gì thuộc bên trong, thuộc về cá nhân, là nước, có tính lỏng và bị bám giữ, cụ thể là: mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu, hoặc bất cứ cái gì khác thuộc bên trong, thuộc về cá nhân, là nước, có tính lỏng và bị bám giữ — này Rāhula, đây được gọi là tính nước bên trong. Bất kể là tính nước bên trong hay tính nước bên ngoài, chúng chỉ đơn thuần là tính nước. Điều đó cần được nhìn thấy đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Sau khi nhìn thấy điều này đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn, vị ấy chán ngán đối với tính nước, vị ấy làm phai nhạt tâm đối với tính nước.

10. Này Rāhula, thế nào là tính lửa (hỏa đại / tejodhātu)? Tính lửa có thể ở bên trong, có thể ở bên ngoài. Này Rāhula, thế nào là tính lửa bên trong? Bất cứ cái gì thuộc bên trong, thuộc về cá nhân, là lửa, có tính nhiệt và bị bám giữ, cụ thể là: cái làm cho ấm lên, cái làm cho già yếu, cái làm cho bốc hỏa và cái làm cho những gì được ăn, uống, nhai, nếm được tiêu hóa hoàn toàn, hoặc bất cứ cái gì khác thuộc bên trong, thuộc về cá nhân, là lửa, có tính nhiệt và bị bám giữ — này Rāhula, đây được gọi là tính lửa bên trong. Bất kể là tính lửa bên trong hay tính lửa bên ngoài, chúng chỉ đơn thuần là tính lửa. Điều đó cần được nhìn thấy đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Sau khi nhìn thấy điều này đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn, vị ấy chán ngán đối với tính lửa, vị ấy làm phai nhạt tâm đối với tính lửa.

11. Này Rāhula, thế nào là tính gió (phong đại / vāyodhātu)? Tính gió có thể ở bên trong, có thể ở bên ngoài. Này Rāhula, thế nào là tính gió bên trong? Bất cứ cái gì thuộc bên trong, thuộc về cá nhân, là gió, có tính chuyển động và bị bám giữ, cụ thể là: gió đi lên, gió đi xuống, gió trong ổ bụng, gió trong ruột, gió chạy khắp các chi, hơi thở vào, hơi thở ra, hoặc bất cứ cái gì khác thuộc bên trong, thuộc về cá nhân, là gió, có tính chuyển động và bị bám giữ — này Rāhula, đây được gọi là tính gió bên trong. Bất kể là tính gió bên trong hay tính gió bên ngoài, chúng chỉ đơn thuần là tính gió. Điều đó cần được nhìn thấy đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Sau khi nhìn thấy điều này đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn, vị ấy chán ngán đối với tính gió, vị ấy làm phai nhạt tâm đối với tính gió.

12. Này Rāhula, thế nào là tính không gian (không đại / ākāsadhātu)? Tính không gian có thể ở bên trong, có thể ở bên ngoài. Này Rāhula, thế nào là tính không gian bên trong? Bất cứ cái gì thuộc bên trong, thuộc về cá nhân, là không gian, có tính trống rỗng và bị bám giữ, cụ thể là: lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, nơi nuốt những gì được ăn, uống, nhai, nếm, nơi chứa những gì được ăn, uống, nhai, nếm và nơi bài tiết phần dưới của những gì được ăn, uống, nhai, nếm, hoặc bất cứ cái gì khác thuộc bên trong, thuộc về cá nhân, là không gian, có tính trống rỗng, là khoảng trống, có tính khoảng trống, không bị đụng chạm, được bao bọc bởi thịt và máu và bị bám giữ — này Rāhula, đây được gọi là tính không gian bên trong. Bất kể là tính không gian bên trong hay tính không gian bên ngoài, chúng chỉ đơn thuần là tính không gian. Điều đó cần được nhìn thấy đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Sau khi nhìn thấy điều này đúng như thật bằng trí tuệ đúng đắn, vị ấy chán ngán đối với tính không gian, vị ấy làm phai nhạt tâm đối với tính không gian.

– Này Rahula, cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, kiên cứng, thô phù, bị chấp thủ; như vậy, này Rahula, được gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Ðịa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự là ngã của ta”. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.

Và này Rahula, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Và này Rahula, thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, niêm dịch, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như vậy, này Rahula, được gọi là thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới đều thuộc về thủy giới. Thủy giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta”. Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới.

Và này Rahula, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Và này Rahula, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ; như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy, cái gì khiến cho những vật được ăn, uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác, thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ; này Rahula, như vậy được gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới, và những gì thuộc ngoại hỏa giới đều thuộc về hỏa giới. Hỏa giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta”. Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới.

Và này Rahula, thế nào là phong giới. Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Và này Rahula, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các đốt, các khớp, hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ; này Rahula, như vậy được gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Phong giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta”. Sau khi như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới.

Và này Rahula, thế nào là hư không giới? Có nội hư không giới, có ngoại hư không giới. Và này Rahula, thế nào là nội hư không giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ, như lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, do cái gì người ta nuốt, những gì được nhai, được uống, được ăn và được nếm, và tại chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn và được uống được giữ lại, và ngang qua chỗ mà những gì được nhai, được uống, được ăn và được tống xuất xuống phần dưới để ra ngoài, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc hư không, thuộc hư không tánh, bị chấp thủ; này Rahula, như vậy được gọi là nội hư không giới. Những gì thuộc nội hư không giới và những gì thuộc ngoại hư không giới đều thuộc về hư không giới. Hư không giới ấy phải được quán sát như thật với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta,” Sau khi như thật quán sát hư không giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hư không giới, tâm từ bỏ hư không giới.

13. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập [để] giống như đất. Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập giống như đất, những Xúc (xúc / phassā) vừa ý và không vừa ý sinh ra sẽ không xâm chiếm và bám rễ trong tâm. Này Rāhula, giống như người ta quăng đồ sạch lên đất, quăng đồ dơ lên đất, quăng phân, quăng nước tiểu, quăng nước bọt, quăng mủ, quăng máu lên đất, nhưng đất không vì thế mà bực bội, xấu hổ hay ghê tởm; cũng vậy này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập [để] giống như đất. Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập giống như đất, những Xúc vừa ý và không vừa ý sinh ra sẽ không xâm chiếm và bám rễ trong tâm.

14. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập [để] giống như nước. Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập giống như nước, những Xúc vừa ý và không vừa ý sinh ra sẽ không xâm chiếm và bám rễ trong tâm. Này Rāhula, giống như người ta rửa đồ sạch trong nước, rửa đồ dơ trong nước, rửa phân, rửa nước tiểu, rửa nước bọt, rửa mủ, rửa máu trong nước, nhưng nước không vì thế mà bực bội, xấu hổ hay ghê tởm; cũng vậy này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập [để] giống như nước. Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập giống như nước, những Xúc vừa ý và không vừa ý sinh ra sẽ không xâm chiếm và bám rễ trong tâm.

15. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập [để] giống như lửa. Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập giống như lửa, những Xúc vừa ý và không vừa ý sinh ra sẽ không xâm chiếm và bám rễ trong tâm. Này Rāhula, giống như lửa đốt đồ sạch, đốt đồ dơ, đốt phân, đốt nước tiểu, đốt nước bọt, đốt mủ, đốt máu, nhưng lửa không vì thế mà bực bội, xấu hổ hay ghê tởm; cũng vậy này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập [để] giống như lửa. Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập giống như lửa, những Xúc vừa ý và không vừa ý sinh ra sẽ không xâm chiếm và bám rễ trong tâm.

16. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập [để] giống như gió. Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập giống như gió, những Xúc vừa ý và không vừa ý sinh ra sẽ không xâm chiếm và bám rễ trong tâm. Này Rāhula, giống như gió thổi qua đồ sạch, thổi qua đồ dơ, thổi qua phân, thổi qua nước tiểu, thổi qua nước bọt, thổi qua mủ, thổi qua máu, nhưng gió không vì thế mà bực bội, xấu hổ hay ghê tởm; cũng vậy này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập [để] giống như gió. Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập giống như gió, những Xúc vừa ý và không vừa ý sinh ra sẽ không xâm chiếm và bám rễ trong tâm.

17. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập [để] giống như không gian. Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập giống như không gian, những Xúc vừa ý và không vừa ý sinh ra sẽ không xâm chiếm và bám rễ trong tâm. Này Rāhula, giống như không gian không thiết lập ở bất cứ đâu; cũng vậy này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập [để] giống như không gian. Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập giống như không gian, những Xúc vừa ý và không vừa ý sinh ra sẽ không xâm chiếm và bám rễ trong tâm.

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như đất. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như trên đất người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ không tịnh, quăng phân uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không dao động, hay không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập như đất. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như nước. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như nước, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ không tịnh, rửa sạch phân uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch mủ, rửa sạch máu; tuy vậy nước không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tụ tập như nước, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như lửa. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như lửa, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ không tịnh, đốt phân uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như lửa, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như gió. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như gió, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, như gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ không tịnh, thổi phân uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu, tuy vậy gió không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như gió, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như hư không không bị trú tại một chỗ nào; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

18. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập yêu thương (từ / mettā). Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập yêu thương, bất cứ ác ý hãm hại (sân hận / byāpādo) nào cũng sẽ được từ bỏ.

19. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập che chở (bi / karuṇā). Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập che chở, bất cứ sự hãm hại (hại / vihesā) nào cũng sẽ được từ bỏ.

20. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập cùng vui (hỷ / muditā). Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập cùng vui, bất cứ sự bất mãn (bất mãn / arati) nào cũng sẽ được từ bỏ.

21. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập tâm bình thản (xả / upekkhā). Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập tâm bình thản, bất cứ sự chống đối (sân / paṭigho) nào cũng sẽ được từ bỏ.

22. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập về sự không đẹp đẽ (bất tịnh / asubha). Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập về sự không đẹp đẽ, bất cứ sự đắm nhiễm (tham / rāgo) nào cũng sẽ được từ bỏ.

23. Này Rāhula, hãy rèn luyện sự tu tập về nhận thức không bền vững (vô thường tưởng / aniccasaññā). Này Rāhula, khi con rèn luyện sự tu tập về nhận thức không bền vững, bất cứ sự ngạo mạn về cái tôi (ngã mạn / asmimāno) nào cũng sẽ được từ bỏ.

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng từ. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về lòng từ, cái gì thuộc sân tâm sẽ được trừ diệt . Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về lòng bi. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về lòng bi, cái gì thuộc hại tâm sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về hỷ. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về hỷ, cái gì thuộc bất lạc sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về xả. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về xả, cái gì thuộc hận tâm sẽ được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về bất tịnh. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về bất tịnh, cái gì thuộc tham ái được trừ diệt. Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về vô thường. Này Rahula, do tu tập sự tu tập về vô thường, cái gì thuộc ngã mạn được trừ diệt.

24. Này Rāhula, hãy rèn luyện phương pháp chú tâm về hơi thở. Này Rāhula, phương pháp chú tâm về hơi thở khi được rèn luyện và thực hành nhiều lần sẽ mang lại quả lớn, mang lại lợi ích lớn. Này Rāhula, phương pháp chú tâm về hơi thở được rèn luyện như thế nào, được thực hành nhiều lần như thế nào để mang lại quả lớn, mang lại lợi ích lớn?

25. Ở đây, này Rāhula, tỳ kheo đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, ngồi xuống vắt chéo chân, giữ lưng thẳng và thiết lập sự tập trung chú ý ở phía trước. Vị ấy tập trung chú ý thở vào, tập trung chú ý thở ra.

26. Thở vào dài, vị ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti): ‘Tôi đang thở vào dài’; hoặc thở ra dài, vị ấy biết rõ: ‘Tôi đang thở ra dài’. Thở vào ngắn, vị ấy biết rõ: ‘Tôi đang thở vào ngắn’; hoặc thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: ‘Tôi đang thở ra ngắn’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, cảm nhận toàn bộ thân’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, cảm nhận toàn bộ thân’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, làm lắng dịu hoạt động của thân (thân hành / kāyasaṅkhāra)’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, làm lắng dịu hoạt động của thân’.

27. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, cảm nhận cùng vui (hỷ / pīti)’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, cảm nhận cùng vui’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, cảm nhận hạnh phúc (lạc / sukha)’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, cảm nhận hạnh phúc’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, cảm nhận hoạt động của tâm (tâm hành / cittasaṅkhāra)’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, cảm nhận hoạt động của tâm’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, làm lắng dịu hoạt động của tâm’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, làm lắng dịu hoạt động của tâm’.

28. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, cảm nhận tâm (tâm / citta)’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, cảm nhận tâm’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, làm cho tâm hân hoan’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, làm cho tâm hân hoan’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, định tĩnh tâm’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, định tĩnh tâm’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, giải phóng tâm’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, giải phóng tâm’.

29. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, quan sát sự không bền vững (quán vô thường / aniccānupassī)’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, quan sát sự không bền vững’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, quan sát sự cạn hết đắm nhiễm (quán ly tham / virāgānupassī)’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, quan sát sự cạn hết đắm nhiễm’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, quan sát sự hết sạch (quán diệt / nirodhānupassī)’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, quan sát sự hết sạch’. Vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở vào, quan sát sự buông bỏ (quán xả ly / paṭinissaggānupassī)’; vị ấy rèn luyện: ‘Tôi sẽ thở ra, quan sát sự buông bỏ’.

30. Này Rāhula, phương pháp chú tâm về hơi thở được rèn luyện như vậy, được thực hành nhiều lần như vậy sẽ mang lại quả lớn, mang lại lợi ích lớn. Này Rāhula, khi phương pháp chú tâm về hơi thở được rèn luyện như vậy, được thực hành nhiều lần như vậy, ngay cả những hơi thở cuối cùng cũng được biết rõ khi chúng chấm dứt (diệt / nirujjhati), không phải là không được biết rõ."

Thế Tôn đã nói những lời này. Tôn giả Rāhula vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kết thúc Kinh Giáo Giới La-hầu-la Đại Kinh, bài kinh thứ hai.

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập về niệm hơi thở vô hơi thở ra. Này Rahula, do tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn, nên được quả lớn, được lợi ích lớn. Và này Rahula, thế nào là tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra, làm cho sung mãn nên được quả lớn, được lợi ích lớn?

Ở đây, này Rahula, vị Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy biết “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành (Cittasankhara), tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. “Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

“Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán ly tham, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, này Rahula, làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. Này Rahula, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra như vậy, làm cho sung mãn như vậy, thời khi những hơi thở vô, hơi thở ra tối hậu chấm dứt, chứng được giác tri, không phải không được giác tri.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Rahula hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-