Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 65. KINH BHADDĀLI

(Bhaddālisutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong rừng Jeta, tu viện của Anāthapiṇḍika. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo”.

“Thưa vâng, Thế Tôn”, các tỳ kheo ấy đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

2. “Này các tỳ kheo, Ta theo hạnh ăn một lần ngồi (nhất tọa thực - chỉ ăn trong 1 lần ngồi / ekāsanabhojanaṁ); này các tỳ kheo, khi ăn một lần ngồi, Ta nhận thấy sự ít bệnh tật, ít ốm đau, sự nhẹ nhàng, sức mạnh và sự trú ẩn thoải mái. Hãy đến đây, này các tỳ kheo, các ông cũng hãy ăn một lần ngồi; này các tỳ kheo, khi các ông ăn một lần ngồi, các ông cũng sẽ nhận thấy sự ít bệnh tật, ít ốm đau, sự nhẹ nhàng, sức mạnh và sự trú ẩn thoải mái”.

3. Khi được nói như vậy, tôn giả Bhaddāli nói điều này với Thế Tôn: “Thưa Thế Tôn, con không đủ nỗ lực để ăn một lần ngồi; thưa Thế Tôn, nếu con ăn một lần ngồi, con có thể bị bồn chồn, khó chịu”.

4. “Nếu vậy, này Bhaddāli, khi ông được mời đến đâu, hãy ăn một phần ở đó, rồi mang một phần đi ra ngoài mà ăn. Này Bhaddāli, nếu ăn theo cách như vậy, ông cũng sẽ duy trì được việc ăn một lần ngồi”.

“Thưa Thế Tôn, ngay cả như vậy con cũng không đủ nỗ lực để thực hiện; thưa Thế Tôn, ngay cả khi ăn như vậy, con có thể bị bồn chồn, khó chịu”. Khi Thế Tôn đang thiết lập quy định (thi thiết / paññāpiyamāne) giới học (giới / sikkhāpade) và các tỳ kheo thực hiện học tập theo các điều trong giới học (thọ trì học giới / sikkhaṁ samādiyamāne), tôn giả Bhaddāli lại bày tỏ sự không nỗ lực. Sau đó, tôn giả Bhaddāli trong suốt ba tháng ấy không xuất hiện trước mặt Thế Tôn, giống như một người không thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.

5. Lúc bấy giờ, nhiều tỳ kheo đang may y cho Thế Tôn, [nghĩ rằng]: “Khi y may xong, qua ba tháng mùa mưa, Thế Tôn sẽ khởi hành chuyến du hành”.

6. Khi ấy, tôn giả Bhaddāli đi đến chỗ các tỳ kheo ấy; sau khi đến, vị ấy nói lời chào hỏi thân hữu với các tỳ kheo ấy. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và thăm hỏi thân thiện, vị ấy ngồi xuống một bên. Khi tôn giả Bhaddāli đang ngồi một bên, các tỳ kheo ấy nói điều này: “Này hiền giả Bhaddāli, y này đang được may cho Thế Tôn. Khi y may xong, qua ba tháng mùa mưa, Thế Tôn sẽ khởi hành chuyến du hành. Này hiền giả Bhaddāli, hãy suy nghĩ (tác ý / manasi karohi) thật kỹ về lỗi lầm này, đừng để về sau mọi chuyện trở nên khó khăn hơn cho hiền giả”.

MN 65. KINH BHADDÀLI

(Bhaddàli Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú tại Savatthi, Jetavana, tịnh xá ông Anathapindika (Cấo Cô Ðộc).

Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. --“Bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Này các Tỷ-kheo, Ta ăn chỉ ngồi một lần (Ekasanabhojana). Này các Tỷ-kheo, do Ta ăn chỉ ngồi một lần, Ta cảm thấy ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, có sức và lạc trú. Này các Tỷ-kheo, hãy ăn chỉ ngồi một lần. Này các Tỷ-kheo, hãy ăn chỉ ngồi một lần, và các Ông sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, có sức và lạc trú.

Khi được nói vậy, Tôn giả Bhaddali bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, con không có thể ăn chỉ ngồi một lần. Bạch Thế Tôn, nếu con ăn chỉ ngồi một lần, thời con cảm thấy như là hối tiếc, như là hối hận.

– Vậy này Bhaddali, khi nào Ông được mời, hãy ăn tại chỗ một phần ăn, rồi đem về một phần ăn để ăn sau. Như vậy, này Bhaddali, Ông có thể ăn như vậy và sống qua ngày không?

– Như vậy, bạch Thế Tôn, con cũng không có thể ăn được. Bạch Thế Tôn, nếu con có ăn như vậy, con vẫn cảm thấy như là hối tiếc, như là hối hận.

Rồi Tôn giả Bhaddali, trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, tuyên bố sự bất lực (của mình). Rồi Tôn giả Bhaddali, trong ba tháng tròn, không diện kiến Thế Tôn vì không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.

Sau một thời gian, một số đông Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn (Civarakamma) và nói rằng: “Sau khi làm y xong, sau ba tháng này, Thế Tôn sẽ du hành”. Rồi Tôn giả Bhaddali đến tại chỗ các vị Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, nói lên với các Tỷ-kheo ấy những lời chào hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Những Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Bhaddali đang ngồi một bên:

– Này Hiền giả Bhaddali, tấm y này đang được làm cho Thế Tôn. Sau khi làm y xong, sau ba tháng này, Thế Tôn sẽ du hành. Này Hiền giả Bhaddali, hãy khéo tư niệm đến trường hợp đặc biệt này (Desakam). Chớ để về sau, lại càng khó khăn hơn cho Hiền giả.

– Thưa vâng, chư Hiền.

7. “Thưa vâng, các hiền giả”, tôn giả Bhaddāli đáp lời các tỳ kheo ấy, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Bhaddāli nói điều này với Thế Tôn: “Thưa Thế Tôn, lỗi lầm (tội / accayo) đã vượt qua con, như một kẻ ngu, như một kẻ u mê, như một kẻ không thiện, khi Thế Tôn thiết lập quy định về giới học và các tỳ kheo thực hiện học tập theo các điều trong giới học, con lại bày tỏ sự không nỗ lực. Thưa Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận lỗi lầm của con là một lỗi lầm, để con bảo vệ (thu thúc / saṁvarāyā) trong tương lai”.

8. "Chắc chắn rồi, này Bhaddāli, lỗi lầm đã vượt qua ông, như một kẻ ngu, như một kẻ u mê, như một kẻ không thiện, khi Ta thiết lập quy định về giới học và các tỳ kheo thực hiện học tập theo các điều trong giới học, ông lại bày tỏ sự không nỗ lực.

9. Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này: ‘Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī, Thế Tôn sẽ biết về ta—tỳ kheo tên là Bhaddāli không thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư’. Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này.

Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này: ‘Nhiều tỳ kheo đang an cư mùa mưa tại Sāvatthī, họ cũng sẽ biết về ta—tỳ kheo tên là Bhaddāli không thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư’. Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này. Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này: ‘Nhiều tỳ kheo ni đang an cư mùa mưa tại Sāvatthī, họ cũng sẽ biết về ta…’. Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này. Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này: ‘Nhiều nam cư sĩ đang cư trú tại Sāvatthī, họ cũng sẽ biết về ta…’. Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này. Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này: ‘Nhiều nữ cư sĩ đang cư trú tại Sāvatthī, họ cũng sẽ biết về ta…’. Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này.

Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này: ‘Nhiều sa-môn, bà-la-môn thuộc các ngoại đạo khác nhau đang an cư mùa mưa tại Sāvatthī, họ cũng sẽ biết về ta—tỳ kheo tên là Bhaddāli, đệ tử của sa-môn Gotama, một tỳ kheo trưởng lão, không thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp’. Này Bhaddāli, ông đã không thấu hiểu được hoàn cảnh này".

10. “Thưa Thế Tôn, lỗi lầm đã vượt qua con, như một kẻ ngu, như một kẻ u mê, như một kẻ không thiện, khi Thế Tôn thiết lập quy định về giới học và các tỳ kheo thực hiện học tập theo các điều trong giới học, con lại bày tỏ sự không nỗ lực. Thưa Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận lỗi lầm của con là một lỗi lầm, để con bảo vệ trong tương lai”.

"Chắc chắn rồi, này Bhaddāli, lỗi lầm đã vượt qua ông, như một kẻ ngu, như một kẻ u mê, như một kẻ không thiện, khi Ta thiết lập quy định về giới học và các tỳ kheo thực hiện học tập theo các điều trong giới học, ông lại bày tỏ sự không nỗ lực.

Tôn giả Bhaddali vâng đáp các Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhaddali bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, con đã tuyên bố sự bất lực của con. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm này là một lỗi lầm để có thể phòng hộ trong tương lai.

– Này Bhaddali, thật sự một lỗi lầm đã chiếm đoạt Ông, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, Ông đã tuyên bố sự bất lực của Ông.

Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được điều này: "Thế Tôn trú tại Savatthi, Thế Tôn sẽ biết ta như sau: “Tỷ-kheo tên Bhaddali không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư”. Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được như vậy.

Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được điều này: "Một số đông Tỷ-kheo đến an cư vào mùa mưa ở Savatthi. Các vị ấy sẽ biết ta như sau: “Tỷ-kheo tên Bhaddali không có thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư”. Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được như vậy.

Này Bhaddali trong thời ấy, Ông không ý thức được điều này: "Một số đông Tỷ-kheo-ni đến an cư vào mùa mưa ở Savatthi. Các vị ấy sẽ biết ta như sau: "… (như trên)… một số đông nam cư sĩ trú ở Savatthi, sẽ biết ta như sau: … (như trên)… một số đông nữ cư sĩ trú ở Savatthi, sẽ biết ta như sau: “Tỷ-kheo tên Bhaddali không có thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư”. Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được như vậy.

Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được điều này: "Một số đông Sa-môn, Bà-la-môn ngoại đạo đến an cư vào mùa mưa ở Savatthi. Các vị ấy sẽ biết ta như sau: “Tỷ-kheo tên Bhaddali là đệ tử của Sa-môn Gotama, một bậc Thượng tọa, không có thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư”. Này Bhaddali, trong thời ấy, Ông không ý thức được như vậy.

– Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, con đã tuyên bố sự bất lực của con. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm này là một lỗi lầm để có thể phòng hộ trong tương lai.

– Này Bhaddali, thật sự một lỗi lầm đã chiếm đoạt Ông, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Ta chế định, Ông đã tuyên bố sự bất lực của Ông.

11. Này Bhaddāli, ông nghĩ thế nào, giả sử ở đây có một tỳ kheo là người giải thoát cả hai phần (câu phần giải thoát / ubhatobhāgavimutto), và Ta yêu cầu vị ấy như sau: ‘Này tỳ kheo, hãy làm cây cầu [mà xây] trên bùn cho Ta’, liệu vị ấy có né tránh [bỏ đi], hoặc hướng đi sang hướng khác [để né tránh], hoặc nói ‘không’ chăng?"

“Thưa Thế Tôn, không thể có chuyện đó”.

“Này Bhaddāli, ông nghĩ thế nào, giả sử ở đây có một tỳ kheo là người [đã được] giải thoát bằng trí tuệ (tuệ giải thoát / paññāvimutto) … người chứng nghiệm bằng thân (thân chứng / kāyasakkhi) … người [đã] đạt đến qua nhìn thấy (kiến chí / diṭṭhippatto) … người [được] giải thoát bằng đức tin (tín giải / saddhāvimutto) … người đi theo Pháp [trí hiểu biết] (pháp tùy hành / dhammānusārī) … người đi theo bằng đức tin (tín tùy hành / saddhānusārī), và Ta yêu cầu vị ấy như sau: ‘Này tỳ kheo, hãy làm cây cầu [mà xây] trên bùn cho Ta’, liệu vị ấy có né tránh [bỏ đi], hoặc hướng đi sang hướng khác [để né tránh], hoặc nói ‘không’ chăng?”

“Thưa Thế Tôn, không thể có chuyện đó”.

12. "Này Bhaddāli, ông nghĩ thế nào, vào thời điểm đó, ông có phải là người giải thoát cả hai phần, hay người [đã được] giải thoát bằng trí tuệ hay người chứng nghiệm bằng thân hay người [đã] đạt đến qua nhìn thấy hay người [được] giải thoát bằng đức tin hay người đi theo Pháp [trí hiểu biết] hay người đi theo bằng đức tin

“Thưa Thế Tôn, không phải vậy”.

“Này Bhaddāli, vào thời điểm đó, chẳng phải ông trống rỗng, rỗng tuếch và sai trái sao?”

13. "Thưa vâng, Thế Tôn.

Thưa Thế Tôn, lỗi lầm đã vượt qua con, như một kẻ ngu, như một kẻ u mê, như một kẻ không thiện, khi Thế Tôn thiết lập quy định về giới học và các tỳ kheo thực hiện học tập theo các điều trong giới học, con lại bày tỏ sự không nỗ lực. Thưa Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận lỗi lầm của con là một lỗi lầm, để con bảo vệ trong tương lai".

"Chắc chắn rồi, này Bhaddāli, lỗi lầm đã vượt qua ông, như một kẻ ngu, như một kẻ u mê, như một kẻ không thiện, khi Ta thiết lập quy định về giới học và các tỳ kheo thực hiện học tập theo các điều trong giới học, ông lại bày tỏ sự không nỗ lực. Này Bhaddāli, vì ông đã thấy lỗi lầm là lỗi lầm và sửa chữa đúng theo Quy luật (pháp / dhamma), nên Ta chấp nhận điều đó từ ông. Này Bhaddāli, trong luật của bậc thánh, đây là sự tiến bộ: người nào thấy lỗi lầm là lỗi lầm, sửa chữa đúng theo Quy luật, và đạt được sự bảo vệ trong tương lai.

14. Ở đây, này Bhaddāli, có tỳ kheo không thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư. Vị ấy nghĩ thế này: ‘Hay là ta hãy tìm đến một chỗ ở rời bỏ (viễn ly / vivitta), như khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, rừng rậm, bãi đất trống, đống rơm. Biết đâu ta có thể trực tiếp chứng nghiệm trạng thái vượt quá giới hạn con người, một sự thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh’. Vị ấy tìm đến một chỗ ở rời bỏ, như khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, rừng rậm, bãi đất trống, đống rơm. Khi vị ấy sống tách biệt như vậy, Bậc Đạo Sư khiển trách vị ấy, các bạn đồng tu có trí tuệ sau khi xem xét cũng khiển trách vị ấy, chư thiên khiển trách vị ấy, và chính bản thân vị ấy cũng khiển trách mình. Bị Bậc Đạo Sư khiển trách, bị các bạn đồng tu có trí tuệ sau khi xem xét khiển trách, bị chư thiên khiển trách, bị chính bản thân khiển trách, vị ấy không trực tiếp chứng nghiệm trạng thái vượt quá giới hạn con người, một sự thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người không thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.

15. Nhưng ở đây, này Bhaddāli, có tỳ kheo thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư. Vị ấy nghĩ thế này: ‘Hay là ta hãy tìm đến một chỗ ở rời bỏ, như khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, rừng rậm, bãi đất trống, đống rơm. Biết đâu ta có thể trực tiếp chứng nghiệm trạng thái vượt quá giới hạn con người, một sự thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh’. Vị ấy tìm đến một chỗ ở rời bỏ, như khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, rừng rậm, bãi đất trống, đống rơm. Khi vị ấy sống tách biệt như vậy, Bậc Đạo Sư không khiển trách vị ấy, các bạn đồng tu có trí tuệ sau khi xem xét không khiển trách vị ấy, chư thiên không khiển trách vị ấy, và chính bản thân vị ấy cũng không khiển trách mình. Không bị Bậc Đạo Sư khiển trách, không bị các bạn đồng tu có trí tuệ sau khi xem xét khiển trách, không bị chư thiên khiển trách, không bị chính bản thân khiển trách, vị ấy trực tiếp chứng nghiệm trạng thái vượt quá giới hạn con người, một sự thấy rõ bản chất đặc biệt xứng đáng với bậc thánh.

16. Vị ấy rời bỏ khỏi (ly / vivicceva) bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm và tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / vivekaja), đạt và an trú Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.

17. Lại nữa, này Bhaddāli, tỳ kheo lắng dịu (diệt / vūpasamā) chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, có sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định, đạt và an trú Thiền-na thứ hai. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.

Lại nữa, này Bhaddāli, tỳ kheo cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā) đối với hân hoan, trú trong tâm bình thản (xả / upekkhako), chú tâm và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác / sato ca sampajāno), cảm nhận hạnh phúc qua thân, điều mà các bậc thánh gọi là: ‘Người có tâm bình thản, chú tâm (chánh niệm giả / satimā), sống hạnh phúc’, đạt và an trú Thiền-na thứ ba. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.

Lại nữa, này Bhaddāli, tỳ kheo từ bỏ (đoạn trừ / pahānā) hạnh phúc và từ bỏ đau khổ (khổ / dukkhassa), các thư thái (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) trước đây đã tan biến (diệt / atthaṅgamā), đạt và an trú Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu (bất lạc bất khổ / adukkhamasukhaṁ), sự quan sát được thanh tịnh nhờ tâm bình thản (xả niệm thanh tịnh / upekkhāsatipārisuddhiṁ). Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.

18. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, nhiễm bẩn (phiền não / upakkilese) đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí nhớ về các đời sống trước. Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau, cụ thể là—một sự Tái sinh (sinh / jāti), hai sự Tái sinh […lặp lại…] cứ như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.

19. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, nhiễm bẩn đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí về sự chết và sự Tái sinh của chúng sinh. Với mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt quá giới hạn con người, vị ấy thấy các chúng sinh chết đi và Tái sinh, thấp kém hay cao trọng, xinh đẹp hay xấu xí, đi về cõi lành hay cõi dữ, vị ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti) các chúng sinh đi theo nghiệp của mình: ‘Thật vậy, những chúng sinh này có hành vi sai trái qua thân […lặp lại…] họ đã rơi vào cõi dữ, địa ngục; nhưng những chúng sinh này có hành vi tốt đẹp qua thân […lặp lại…] họ đã đi đến cõi lành, thế giới thiên giới’; cứ như vậy với mắt thần thanh tịnh, vượt quá giới hạn con người […lặp lại…] vị ấy biết rõ các chúng sinh đi theo nghiệp của mình. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư.

20. Khi tâm đã định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, nhiễm bẩn đã biến mất, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí về sự cạn kiệt (đoạn tận / khaya) các nguồn ác (lậu hoặc / āsavānaṁ). Vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là đau khổ’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành (tập / samudayo) của đau khổ’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt (diệt / nirodho) đau khổ’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ’; vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là các nguồn ác’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành của các nguồn ác’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt các nguồn ác’, vị ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt các nguồn ác’.

21. Khi vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của bản năng (dục lậu / kāmāsavā), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsavā), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsavā). Khi đã được giải thoát, có sự nhận biết rằng: ‘Đã được giải thoát’.

Vị ấy biết rõ: ‘Sự Tái sinh đã cạn kiệt, cốt lõi đời sống thánh thiện (phạm hạnh / brahmacariya) đã được sống trọn, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa’. Nguyên nhân của điều đó là gì? Này Bhaddāli, điều đó là như vậy đối với người thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư".

Này Bhaddali, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có Tỷ-kheo câu phần giải thoát. Ta nói với vị ấy như sau: “Này Tỷ-kheo, hãy đến và tự làm cầu cho Ta qua khỏi đám bùn”. Vị ấy tự đến làm cầu, hay tránh né thân chỗ khác, hay nói: “Không”?

– Không phải vậy, bạch Thế Tôn.

– Này Bhaddali, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có vị Tỷ-kheo tuệ giải thoát… thân chứng… kiến chí… tín thắng giải… tùy pháp hành… tùy tín hành. Ta nói với vị ấy như sau: “Này Tỷ-kheo, hãy đến và tự làm cầu cho Ta qua khỏi đám bùn”. Vị ấy tự đến làm cầu, hay tránh né thân chỗ khác, hay nói: “Không”?

– Không phải vậy, bạch Thế Tôn.

– Này Bhaddali, Ông nghĩ thế nào? Này Bhaddali, trong thời gian ấy Ông có phải là câu phần giải thoát, hay huệ giải thoát hay thân chứng, hay kiến chí, hay tín thắng giải, hay tùy pháp hành, hay tùy tín hành?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này Bhaddali, có phải trong thời gian ấy, Ông trống không, rỗng không, phạm lỗi?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, con đã tuyên bố sự bất lực của con. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm này là một lỗi lầm, để có thể phòng hộ trong tương lai.

– Này Bhaddali, thật sự một lỗi lầm đã chiếm đoạt Ông, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Ta chế định, Ông đã tuyên bố sự bất lực của Ông. Này Bhaddali, nếu Ông sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, và như pháp phát lộ, chúng ta sẽ chấp nhận cho Ông. Vì rằng này Bhaddali, như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc Thánh, nghĩa là bất cứ ai, sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, phải như pháp phát lộ và phòng hộ trong tương lai.

Ở đây, này Bhaddali, có Tỷ-kheo không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc Ðạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh”. Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Ðạo Sư quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, chư Thiên quở trách, tự mình quở trách mình. Vị này bị bậc Ðạo Sư quở trách, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, bị chư Thiên quở trách, bị tự mình quở trách mình, nên không chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bahaddali, là vì vị ấy không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.

Nhưng ở đây, này Bhaddali, có Tỷ-kheo thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh”. Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Ðạo Sư không quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát không quở trách, chư Thiên không quở trách, tự mình không quở trách mình. Vị này không bị bậc Ðạo Sư quở trách, không bị các đồng Phạm hạnh sau khi quán sát quở trách, không bị chư Thiên quở trách, không bị mình quở trách mình, nên chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.

Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. Và lại nữa, này Bhaddali, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. Và lại nữa này Bhaddali, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðại Sư. Và lại nữa, này Bhaddali, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời,…, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. Vị ấy với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, dẫn tâm hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh là người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh… đều do hạnh nghiệp của họ? Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc Ðạo Sư.

Vị ấy với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”, … biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến diệt khổ”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”… …biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.

Nhờ biết như vậy, như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, vị ấy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.

Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Bhaddali bạch Thế Tôn:

22. Khi được nói như vậy, tôn giả Bhaddāli nói điều này với Thế Tôn: “Thưa Thế Tôn, đâu là nguyên nhân và điều kiện (duyên / paccayo) khiến ở đây các tỳ kheo liên tục dồn ép tra vấn một số tỳ kheo? Và đâu là nguyên nhân và điều kiện khiến ở đây các tỳ kheo không liên tục dồn ép tra vấn một số tỳ kheo [khác]?”

23. "Này Bhaddāli, ở đây có tỳ kheo thường hay phạm lỗi, phạm nhiều lỗi. Khi bị các tỳ kheo nói đến, vị ấy lảng tránh từ chuyện này sang chuyện khác, đánh lạc hướng câu chuyện ra ngoài, bộc lộ sự tức giận, ác ý và thái độ bất mãn, không cư xử đúng mực, không hạ mình, không hành xử để giải quyết vấn đề, không nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều gì khiến Tăng chúng hài lòng’. Ở đó, này Bhaddāli, các tỳ kheo nghĩ thế này: ‘Này các hiền giả, tỳ kheo này thường hay phạm lỗi, phạm nhiều lỗi. Khi bị các tỳ kheo nói đến, vị ấy lảng tránh từ chuyện này sang chuyện khác, đánh lạc hướng câu chuyện ra ngoài, bộc lộ sự tức giận, ác ý và thái độ bất mãn, không cư xử đúng mực, không hạ mình, không hành xử để giải quyết vấn đề, không nói rằng: “Tôi sẽ làm điều gì khiến Tăng chúng hài lòng”. Thật tốt thay nếu các tôn giả tra xét tỳ kheo này theo cách sao cho vụ việc này không được lắng dịu nhanh chóng’. Này Bhaddāli, đối với tỳ kheo như vậy, các tỳ kheo tra xét theo cách sao cho vụ việc không được lắng dịu nhanh chóng.

24. Nhưng ở đây, này Bhaddāli, có tỳ kheo thường hay phạm lỗi, phạm nhiều lỗi. Khi bị các tỳ kheo nói đến, vị ấy không lảng tránh từ chuyện này sang chuyện khác, không đánh lạc hướng câu chuyện ra ngoài, không bộc lộ sự tức giận, ác ý và thái độ bất mãn, cư xử đúng mực, hạ mình, hành xử để giải quyết vấn đề, nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều gì khiến Tăng chúng hài lòng’. Ở đó, này Bhaddāli, các tỳ kheo nghĩ thế này: ‘Này các hiền giả, tỳ kheo này thường hay phạm lỗi, phạm nhiều lỗi. Khi bị các tỳ kheo nói đến, vị ấy không lảng tránh từ chuyện này sang chuyện khác, không đánh lạc hướng câu chuyện ra ngoài, không bộc lộ sự tức giận, ác ý và thái độ bất mãn, cư xử đúng mực, hạ mình, hành xử để giải quyết vấn đề, nói rằng: “Tôi sẽ làm điều gì khiến Tăng chúng hài lòng”. Thật tốt thay nếu các tôn giả tra xét tỳ kheo này theo cách sao cho vụ việc này được lắng dịu nhanh chóng’. Này Bhaddāli, đối với tỳ kheo như vậy, các tỳ kheo tra xét theo cách sao cho vụ việc được lắng dịu nhanh chóng.

25. Ở đây, này Bhaddāli, có tỳ kheo thỉnh thoảng phạm lỗi, không phạm nhiều lỗi. Khi bị các tỳ kheo nói đến, vị ấy lảng tránh từ chuyện này sang chuyện khác, đánh lạc hướng câu chuyện ra ngoài, bộc lộ sự tức giận, ác ý và thái độ bất mãn, không cư xử đúng mực, không hạ mình, không hành xử để giải quyết vấn đề, không nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều gì khiến Tăng chúng hài lòng’. Ở đó, này Bhaddāli, các tỳ kheo nghĩ thế này: ‘Này các hiền giả, tỳ kheo này thỉnh thoảng phạm lỗi, không phạm nhiều lỗi. Khi bị các tỳ kheo nói đến, vị ấy lảng tránh từ chuyện này sang chuyện khác, đánh lạc hướng câu chuyện ra ngoài, bộc lộ sự tức giận, ác ý và thái độ bất mãn, không cư xử đúng mực, không hạ mình, không hành xử để giải quyết vấn đề, không nói rằng: “Tôi sẽ làm điều gì khiến Tăng chúng hài lòng”. Thật tốt thay nếu các tôn giả tra xét tỳ kheo này theo cách sao cho vụ việc này không được lắng dịu nhanh chóng’. Này Bhaddāli, đối với tỳ kheo như vậy, các tỳ kheo tra xét theo cách sao cho vụ việc không được lắng dịu nhanh chóng.

26. Nhưng ở đây, này Bhaddāli, có tỳ kheo thỉnh thoảng phạm lỗi, không phạm nhiều lỗi. Khi bị các tỳ kheo nói đến, vị ấy không lảng tránh từ chuyện này sang chuyện khác, không đánh lạc hướng câu chuyện ra ngoài, không bộc lộ sự tức giận, ác ý và thái độ bất mãn, cư xử đúng mực, hạ mình, hành xử để giải quyết vấn đề, nói rằng: ‘Tôi sẽ làm điều gì khiến Tăng chúng hài lòng’. Ở đó, này Bhaddāli, các tỳ kheo nghĩ thế này: ‘Này các hiền giả, tỳ kheo này thỉnh thoảng phạm lỗi, không phạm nhiều lỗi. Khi bị các tỳ kheo nói đến, vị ấy không lảng tránh từ chuyện này sang chuyện khác, không đánh lạc hướng câu chuyện ra ngoài, không bộc lộ sự tức giận, ác ý và thái độ bất mãn, cư xử đúng mực, hạ mình, hành xử để giải quyết vấn đề, nói rằng: “Tôi sẽ làm điều gì khiến Tăng chúng hài lòng”. Thật tốt thay nếu các tôn giả tra xét tỳ kheo này theo cách sao cho vụ việc này được lắng dịu nhanh chóng’. Này Bhaddāli, đối với tỳ kheo như vậy, các tỳ kheo tra xét theo cách sao cho vụ việc được lắng dịu nhanh chóng.

27. Ở đây, này Bhaddāli, có tỳ kheo chỉ duy trì được nhờ một chút niềm tin, một chút tình thương. Ở đó, này Bhaddāli, các tỳ kheo nghĩ thế này: ‘Này các hiền giả, tỳ kheo này chỉ duy trì được nhờ một chút niềm tin, một chút tình thương. Nếu chúng ta liên tục dồn ép tra vấn tỳ kheo này—e rằng vị ấy sẽ đánh mất đi cả chút niềm tin và chút tình thương đó’.

28. Này Bhaddāli, giống như một người chỉ có một con mắt, bạn bè, người thân và họ hàng của người ấy sẽ bảo vệ con mắt duy nhất đó, nghĩ rằng: ‘Đừng để anh ta mất đi cả con mắt duy nhất này’; cũng vậy, này Bhaddāli, ở đây có tỳ kheo chỉ duy trì được nhờ một chút niềm tin, một chút tình thương. Ở đó, này Bhaddāli, các tỳ kheo nghĩ thế này: ‘Này các hiền giả, tỳ kheo này chỉ duy trì được nhờ một chút niềm tin, một chút tình thương. Nếu chúng ta liên tục dồn ép tra vấn tỳ kheo này—e rằng vị ấy sẽ đánh mất đi cả chút niềm tin và chút tình thương đó’. Này Bhaddāli, đây là gốc nguyên nhân, đây là điều kiện khiến ở đây các tỳ kheo liên tục dồn ép tra vấn một số tỳ kheo. Và này Bhaddāli, đây là gốc nguyên nhân, đây là điều kiện khiến ở đây các tỳ kheo không liên tục dồn ép tra vấn một số tỳ kheo như vậy".

– Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây (chúng Tăng) luôn luôn kết tội Tỷ-kheo? Bạch Thế Tôn, lại do nhân gì, do duyên gì ở đây, (chúng Tăng) không luôn luôn kết tội Tỷ-kheo như vậy?

– Này Bhaddali, ở đây, có Tỷ-kheo thường hay phạm giới tội, phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, tránh né câu hỏi bằng một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, hiện khởi phẫn nộ, sân hận, và bất mãn, không xử sự chơn chánh, không có lắng dịu, không có chấm dứt giới tội, không có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Ở đây, này Bhaddali, các Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Tỷ-kheo này thường hay phạm giới tội, phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, tránh né câu hỏi bằng một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, không xử sự chơn chánh, không có lắng dịu, không có chấm dứt giới tội, không có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Tốt lành thay, nếu chư Tôn giả, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo này, chớ có giải tội ấy một cách mau chóng”. Như vậy, này Bhaddali, các Tỷ-kheo, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ- kheo ấy, không giải tội ấy một cách mau chóng.

Nhưng ở đây, này Bhaddali, lại có Tỷ-kheo, thường hay phạm giới tội, phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, không tránh né câu hỏi bằng một câu hỏi khác, không hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, không hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, xử sự chơn chánh, có tự lắng dịu, có chấm dứt giới tội, có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Ở đây, này Bhaddali, các Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Tỷ-kheo này thường hay phạm giới tội, phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, không tránh né câu hỏi bằng một câu hỏi khác, không hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, không hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, xử sự chơn chánh, có tự lắng dịu, có chấm dứt giới tội, có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Tốt lành thay, nếu chư Tôn giả, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo này, hãy giải tội ấy một cách mau chóng”. Như vậy, này Bhaddali, các Tỷ-kheo sau khi điều tra nhiều lần Tỷ- kheo ấy, giải tội ấy một cách mau chóng.

Ở đây, này Bhaddali, có Tỷ-kheo không thường phạm giới tội, không phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ- kheo nói, tránh né câu hỏi này bằng một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, không xử sự chơn chánh, không có tự lắng dịu, không có chấm dứt giới tội, không có nói “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Ở đây, này Bhaddali, các Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Tỷ-kheo này không thường phạm giới tội, không phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, tránh né câu hỏi này bằng một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, không xử sự chơn chánh, không có tự lắng dịu, không có chấm dứt giới tội, không có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Tốt lành thay, nếu chư Tôn giả, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo này, chớ có giải tội một cách mau chóng”. Như vậy, này Bhaddali, các Tỷ- kheo sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo ấy, không giải tội ấy một cách mau chóng.

Nhưng ở đây, này Bhaddali, lại có Tỷ-kheo không thường phạm giới tội, không phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, không tránh né câu hỏi này bằng một câu hỏi khác, không hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, không hiện khởi phẫn nộ sân hận và bất mãn, xử sự chơn chánh, có tự lắng dịu, có chấm dứt giới tội, có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Ở đây, này Bahaddali, các Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Chư Hiền, Tỷ-kheo này không thường phạm giới tội, không phạm nhiều giới tội, khi bị các Tỷ-kheo nói, không tránh né câu hỏi này bằng một câu hỏi khác, không hướng câu chuyện ra ngoài vấn đề, không hiện khởi phẫn nộ, sân hận và bất mãn, xử sự chơn chánh, có tự lắng dịu, có chấm dứt giới tội, có nói: “Tôi phải làm gì để chúng Tăng hoan hỷ?” Tốt lành thay, nếu chư Tôn giả, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo này, hãy giải tội này một cách mau chóng”. Như vậy này Bhaddali, các Tỷ-kheo, sau khi điều tra nhiều lần Tỷ-kheo ấy, giải tội ấy một cách mau chóng.

Ở đây, này Bhaddali, có Tỷ-kheo còn sống (trong Tăng chúng) với một ít lòng tin, với một ít lòng thương. Ở đây, này Bhaddali, các Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Chư Hiền, Tỷ-kheo này còn sống (trong Tăng chúng) với một ít lòng tin, với một ít lòng thương. Nếu chúng ta thường hay kết tội Tỷ-kheo này, thời chút ít lòng tin, chút ít lòng thương của vị ấy sẽ đi đến đoạn diệt. Vậy chúng ta hãy đừng để cho chút ít lòng tin, chút ít lòng thương của vị ấy đoạn diệt”. Ví như, này Bhaddali, một người chỉ có một mắt, các thân hữu bà con huyết thống bảo vệ con mắt còn lại ấy và suy nghĩ như sau: “Chớ để cho con mắt còn lại này bị đoạn diệt”. Cũng vậy, này Bhaddali, ở đây Tỷ-kheo còn sống (trong Tăng chúng) với một ít lòng tin, với một ít lòng thương. Ở đây, này Bhaddali, các Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Chư Hiền, Tỷ-kheo này còn sống (trong Tăng chúng) với một ít lòng tin, với một ít lòng thương. Nếu chúng ta thường hay kết tội Tỷ-kheo này, thời chút ít lòng tin, chút ít lòng thương của vị ấy sẽ đi đến đoạn diệt. Vậy chúng ta hãy đừng để cho chút ít lòng tin, chút ít lòng thương của vị ấy bị đoạn diệt”.

Này Bhaddali, do nhân này, do duyên này, ở đây (chúng Tăng) luôn luôn kết tội Tỷ-kheo. Do nhân này, do duyên này, ở đây, (chúng Tăng) không luôn luôn kết tội vị Tỷ-kheo.

29. “Thưa Thế Tôn, đâu là nguyên nhân và điều kiện khiến trước đây có ít giới học hơn nhưng lại có nhiều tỳ kheo đạt được sự giác ngộ? Và thưa Thế Tôn, đâu là nguyên nhân và điều kiện khiến hiện nay có nhiều giới học hơn nhưng lại có ít tỳ kheo đạt được sự giác ngộ?”

30. "Này Bhaddāli, sự việc là như vậy khi chúng sinh suy giảm, khi diệu pháp biến mất, thì có nhiều giới học hơn và ít tỳ kheo đạt được sự giác ngộ hơn. Này Bhaddāli, Bậc Đạo Sư không thiết lập quy định về giới học cho các đệ tử chừng nào những mầm của nguồn ác (lậu hoặc pháp / āsavaṭṭhānīyā dhammā) chưa xuất hiện trong Tăng chúng. Nhưng này Bhaddāli, khi những mầm của nguồn ác xuất hiện trong Tăng chúng, thì Bậc Đạo Sư mới thiết lập quy định về giới học cho các đệ tử, chính là để ngăn chặn những mầm của nguồn ác đó.

31. Này Bhaddāli, những mầm của nguồn ác chưa xuất hiện trong Tăng chúng chừng nào Tăng chúng chưa đạt đến sự lớn mạnh. Nhưng này Bhaddāli, khi Tăng chúng đến số lượng lớn, thì những mầm của nguồn ác xuất hiện trong Tăng chúng. Khi đó Bậc Đạo Sư mới thiết lập quy định về giới học cho các đệ tử, chính là để ngăn chặn những mầm của nguồn ác đó. Này Bhaddāli, những mầm của nguồn ác chưa xuất hiện trong Tăng chúng chừng nào Tăng chúng chưa đạt đến đỉnh cao của lợi lộc, chưa đạt đến đỉnh cao của danh tiếng, chưa đạt đến sự học hỏi sâu rộng, chưa đạt đến sự lâu năm. Nhưng này Bhaddāli, khi Tăng chúng đạt đến sự lâu năm, thì những mầm của nguồn ác xuất hiện trong Tăng chúng, khi đó Bậc Đạo Sư mới thiết lập quy định về giới học cho các đệ tử, chính là để ngăn chặn những mầm của nguồn ác đó.

32. Này Bhaddāli, khi xưa, lúc đó các ông chỉ là một nhóm nhỏ khi Ta giảng bài pháp ví dụ về con ngựa non thuần chủng. Này Bhaddāli, ông có nhớ điều đó không?"

“Thưa Thế Tôn, không ạ”.

“Này Bhaddāli, ông nghĩ nguyên nhân của điều đó là gì?”

“Thưa Thế Tôn, chắc chắn là vì trong một thời gian dài con đã không thực hành trọn vẹn sự rèn luyện trong giáo pháp của Bậc Đạo Sư”.

“Này Bhaddāli, đó không phải là gốc nguyên nhân duy nhất, không phải là điều kiện duy nhất. Mà này Bhaddāli, từ lâu Ta đã thấu hiểu tâm trí ông bằng tâm trí Ta: ‘Kẻ rỗng tuếch này khi Ta đang giảng Giáo pháp (pháp / dhamma) không hề chú tâm, không suy nghĩ kỹ, không tập trung toàn bộ tâm trí, không lắng tai nghe Giáo pháp’. Dù vậy, này Bhaddāli, Ta sẽ giảng cho ông bài pháp ví dụ về con ngựa non thuần chủng. Hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ thật kỹ; Ta sẽ nói”.

“Thưa vâng, Thế Tôn”, tôn giả Bhaddāli đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:

– Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, lúc xưa các học giới tuy ít hơn, nhưng các Tỷ-kheo đã ngộ nhập chánh trí nhiều hơn. Bạch Thế Tôn, lại do nhân gì, do duyên gì, ngày nay các học giới nhiều hơn, nhưng các Tỷ-kheo ngộ nhập chánh trí ít hơn?

– Này Bhaddali, khi các loài hữu tình bị thối thất, khi diệu pháp bị diệt mất, thời các học giới có nhiều hơn và các vị Tỷ-kheo ngộ nhập chánh trí ít hơn. Này Bhaddali, khi nào một số hữu lậu pháp (Asavatthaniya dhamma) chưa hiện khởi trong Tăng chúng, khi ấy bậc Ðạo Sư vẫn không chế định một học giới cho các đệ tử. Và này Bhaddali, ở đây, chỉ khi nào một số hữu lậu pháp hiện khởi trong Tăng chúng, chỉ khi ấy bậc Ðạo Sư mới chế định một học giới cho các đệ tử để đối trị lại các pháp hữu lậu ấy. Này Bhaddali, ở đây, khi nào Tăng chúng chưa lớn mạnh, khi ấy một số hữu lậu pháp chưa hiện khởi trong Tăng chúng. Và này Bhaddali, chỉ khi nào Tăng chúng đã được lớn mạnh, thời ở đây một số hữu lậu pháp hiện khởi trong Tăng chúng, khi ấy bậc Ðạo Sư mới chế định học giới cho các đệ tử để đối trị lại các pháp hữu lậu ấy. Này Bhaddali, ở đây, khi nào Tăng chúng chưa đạt được quyền lợi tối thượng… chưa đạt được danh xưng tối thượng… chưa đạt được đa văn… chưa đạt được địa vị kỳ cựu, khi ấy một số hữu lậu pháp chưa hiện khởi trong Tăng chúng. Và này Bhaddali, ở đây, chỉ khi nào Tăng chúng đã đạt được địa vị kỳ cựu, thời ở đây một số hữu lậu pháp hiện khởi trong Tăng chúng, khi ấy bậc Ðạo Sư mới chế định học giới cho các đệ tử để đối trị lại các pháp hữu lậu ấy.

Này Bhaddali, các Ông còn số ít, khi Ta giảng cho các Ông pháp môn ví dụ lương chủng mã. Này Bhaddali, Ông có nhớ không?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Ở đây, này Bhaddali, do nhân gì, Ông xem sự việc xảy ra như vậy?

– Bạch Thế Tôn, vì con trong một thời gian dài, đã không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.

– Này Bhaddali, không phải chỉ có nhân như vậy, chỉ có duyên như vậy. Vì rằng, trong một thời gian khá dài, này Bhaddali, Ta biết tâm Ông với tâm của Ta (Ta biết rằng): Khi Ta thuyết pháp, kẻ ngu si này không có để tâm, không có tác ý, không dùng nhứt thiết tâm để tư niệm, không có nghe pháp với (hai) tai sẵn sàng. Và này Bhaddali, Ta sẽ giảng cho Ông pháp môn ví dụ lương chủng mã. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Bhaddali, vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:

33. "Này Bhaddāli, giống như một người huấn luyện ngựa khéo léo, sau khi có được một con ngựa thuần chủng tốt, việc đầu tiên là bắt nó làm quen với việc đeo hàm thiếc. Khi bị bắt làm quen với việc đeo hàm thiếc, nó có những sự vùng vằng, chống cự, giãy giụa đủ kiểu, vì nó đang bị bắt làm một việc chưa từng làm trước đây. Nhờ được huấn luyện liên tục, huấn luyện dần dần, nó trở nên ngoan ngoãn ở giai đoạn đó.

Này Bhaddāli, khi con ngựa thuần chủng tốt nhờ được huấn luyện liên tục, huấn luyện dần dần đã trở nên ngoan ngoãn ở giai đoạn đó, người huấn luyện ngựa tiếp tục bắt nó làm quen với việc mang ách. Khi bị bắt làm quen với việc mang ách, nó có những sự vùng vằng, chống cự, giãy giụa đủ kiểu, vì nó đang bị bắt làm một việc chưa từng làm trước đây. Nhờ được huấn luyện liên tục, huấn luyện dần dần, nó trở nên ngoan ngoãn ở giai đoạn đó.

Này Bhaddāli, khi con ngựa thuần chủng tốt nhờ được huấn luyện liên tục, huấn luyện dần dần đã trở nên ngoan ngoãn ở giai đoạn đó, người huấn luyện ngựa tiếp tục huấn luyện nó đi theo hàng lối, chạy vòng tròn, phi nước kiệu, chạy nước rút, phi nước đại, các phẩm chất của ngựa hoàng gia, dòng dõi hoàng gia, tốc độ tối đa, sức mạnh tối đa, sự êm ái tối đa. Khi bị huấn luyện về tốc độ tối đa, sức mạnh tối đa, sự êm ái tối đa, nó có những sự vùng vằng, chống cự, giãy giụa đủ kiểu, vì nó đang bị bắt làm một việc chưa từng làm trước đây. Nhờ được huấn luyện liên tục, huấn luyện dần dần, nó trở nên ngoan ngoãn ở giai đoạn đó.

Này Bhaddāli, khi con ngựa thuần chủng tốt nhờ được huấn luyện liên tục, huấn luyện dần dần đã trở nên ngoan ngoãn ở giai đoạn đó, người huấn luyện ngựa tiếp tục cung cấp cho nó sự chải chuốt và nước uống. Này Bhaddāli, con ngựa thuần chủng tốt hội đủ mười yếu tố này thì xứng đáng với nhà vua, là tài sản của nhà vua, được xem là một biểu tượng của nhà vua.

34. Cũng vậy, này Bhaddāli, tỳ kheo hội đủ mười Điều thì xứng đáng được cung kính, xứng đáng được đón tiếp, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng ở đời. Mười Điều nào? Ở đây, này Bhaddāli, tỳ kheo hội đủ Thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhiyā) của bậc đã hoàn tất tu học (vô học / asekhāya), hội đủ Suy nghĩ Thiện (chánh tư duy / sammāsaṅkappena) của bậc đã hoàn tất tu học, hội đủ Lời nói Thiện (chánh ngữ / sammāvācāya) của bậc đã hoàn tất tu học, hội đủ Hành động Thiện (chánh nghiệp / sammākammantena) của bậc đã hoàn tất tu học, hội đủ Đời sống Thiện (chánh mạng / sammāājīvena) của bậc đã hoàn tất tu học, hội đủ Nỗ lực Thiện (chánh tinh tấn / sammāvāyāmena) của bậc đã hoàn tất tu học, hội đủ Chú ý quan sát Thiện (chánh niệm / sammāsatiyā) của bậc đã hoàn tất tu học, hội đủ Định thiện (chánh định / sammāsamādhinā) của bậc đã hoàn tất tu học, hội đủ Trí tuệ Thiện (chánh trí / sammāñāṇena) của bậc đã hoàn tất tu học, hội đủ Giải thoát Thiện (chánh giải thoát / sammāvimuttiyā) của bậc đã hoàn tất tu học—này Bhaddāli, tỳ kheo hội đủ mười Điều này thì xứng đáng được cung kính, xứng đáng được đón tiếp, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng ở đời".

Thế Tôn đã nói những điều này. Tôn giả Bhaddāli hài lòng, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kinh Bhaddāli thứ năm kết thúc.

– Này Bhaddali, ví như một người điều mã sư thiện xảo, có nhận được một con lương mã hiền thiện, trước hết phải huấn luyện con ngựa ấy cho quen với dây cương. Trong khi huấn luyện nó cho quen với dây cương, nếu nó có vùng vẫy, nhảy chồm, nhảy ngược, chống cự, vì chưa quen sự huấn luyện trước kia chưa làm. Con ngựa ấy do sự huấn luyện thường tiếp tục, được thuần thục về phương diện ấy.

Này Bhaddali, khi con lương mã hiền thiện do huấn luyện thường xuyên, do sự huấn luyện tiếp tục đã được thuần thục về phương diện ấy, thời người điều mã sư lại huấn luyện thêm con ngựa ấy cho quen với yên ngựa. Trong khi huấn luyện nó cho quen với yên ngựa, nếu nó có vùng vẫy, nhảy chồm, nhảy ngược, chống cự vì chưa quen sự huấn luyện trước đây chưa làm. Con ngựa ấy do sự huấn luyện thường xuyên, do sự huấn luyện tiếp tục, được thuần thục về phương diện ấy.

Này Bhaddali, khi con lương mã hiền thiện do huấn luyện thường xuyên, do huấn luyện tiếp tục, đã được thuần thục về phương diện ấy, thời người điều mã sư lại huấn luyện thêm con ngựa ấy cho quen với sự diễn hành, đi vòng quanh, đi đầu móng chân, chạy phi, hí, các trò chơi vương giả, vương lực, tối thượng tốc lực, tối thượng nhanh nhẹn, tối thượng thiện hành. Trong khi huấn luyện cho nó quen với tối thượng tốc lực, tối thượng nhanh nhẹn, tối thượng thiện hành, nếu nó có vùng vẫy nhảy chồm, nhảy ngược, chống cự vì chưa quen sự huấn luyện trước đây chưa làm. Con ngựa ấy do sự huấn luyện thường xuyên, do sự huấn luyện tiếp tục, được thuần thục về phương diện ấy.

Này Bhaddali, khi con lương mã hiền thiện, do huấn luyện thường xuyên, do huấn luyện tiếp tục, đã được thuần phục về phương diện ấy, thời người điều mã sư lại giúp thêm con ngựa ấy về phần sắc đẹp và trang sức. Này Bhaddali, con lương mã, hiền thiện được thành tựu mười đặc tánh này trở thành xứng đáng cho bậc vua chúa, trở thành báu vật của vua, được liệt vào một ấn tướng của vua.

Cũng vậy, này Bhaddali, một Tỷ-kheo thành tựu được mười pháp trở thành đáng được kính trọng, đáng được tôn kính, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là mười? Ở đây, này Bhaddali, Tỷ-kheo thành tựu vô học chánh tri kiến, thành tựu vô học chánh tư duy, thành tựu vô học chánh ngữ, thành tựu vô học chánh nghiệp, thành tựu vô học chánh mạng, thành tựu vô học chánh tinh tấn, thành tựu vô học chánh niệm, thành tựu vô học chánh định, thành tựu vô học chánh trí, thành tựu vô học chánh giải thoát. Này Bhaddali, Tỷ-kheo thành tựu mười pháp này trở thành đáng được kính trọng, đáng được tôn kính, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Bhaddali hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-