Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 67. KINH CĀTUMĀ

(Cātumasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy — một thuở, Đức Thế Tôn trú tại thị trấn Cātumā, trong rừng Amala.

2. Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm vị tỳ kheo do Sāriputta và Moggallāna dẫn đầu đã đến Cātumā để gặp Đức Thế Tôn. Những tỳ kheo mới đến (khách tỳ kheo / āgantukā bhikkhū) ấy, đang chào hỏi những tỳ kheo đang trú xứ (thường trú tỳ kheo / nevāsikehi bhikkhūhi), đang sắp xếp chỗ nghỉ, đang thu xếp bình bát và y áo, nên trở nên ồn ào, náo nhiệt (cao thinh đại thinh / uccāsaddā mahāsaddā).

3. Rồi Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, những ai mà ồn ào, náo nhiệt thế kia, cứ như ngư phủ [đang] vớt cá vậy?”

“Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm vị tỳ kheo do Sāriputta và Moggallāna dẫn đầu đã đến Cātumā để gặp Đức Thế Tôn. Những tỳ kheo mới đến ấy, đang chào hỏi những tỳ kheo đang trú xứ, đang sắp xếp chỗ nghỉ, đang thu xếp bình bát và y áo, nên trở nên ồn ào, náo nhiệt.”

4. “Vậy thì, này Ānanda, nhân danh Ta, hãy gọi các tỳ kheo ấy lại: ‘Bậc Đạo Sư cho gọi các Tôn giả’”.

“Bạch Thế Tôn, vâng” — Tôn giả Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn, đi đến chỗ các tỳ kheo ấy; đến nơi, nói với các tỳ kheo ấy: “Bậc Đạo Sư cho gọi các Tôn giả”.

“Này hiền giả, vâng” — các tỳ kheo ấy vâng lời Tôn giả Ānanda, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi các tỳ kheo ấy đã ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn nói:

“Này các tỳ kheo, sao các ông lại ồn ào, náo nhiệt thế kia, cứ như ngư phủ [đang] vớt cá vậy?”

“Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm vị tỳ kheo do Sāriputta và Moggallāna dẫn đầu đã đến Cātumā để gặp Đức Thế Tôn. Những tỳ kheo mới đến ấy, đang chào hỏi những tỳ kheo đang trú xứ, đang sắp xếp chỗ nghỉ, đang thu xếp bình bát và y áo, nên trở nên ồn ào, náo nhiệt.”

5. “Các ông hãy đi đi, này các tỳ kheo, Ta đuổi các ông đi. Các ông không nên ở gần Ta nữa”.

“Bạch Thế Tôn, vâng” — các tỳ kheo ấy vâng lời Đức Thế Tôn, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải [Ngài], rồi thu dọn chỗ nghỉ, mang theo bình bát và y áo, ra đi.

6. Lúc bấy giờ, những người Sākyā ở Cātumā đang tụ họp tại giảng đường vì một công việc gì đó. Những người Sākyā ở Cātumā trông thấy các tỳ kheo ấy từ xa đi đến; thấy vậy, họ đi đến chỗ các tỳ kheo ấy; đến nơi, nói với các tỳ kheo ấy: “Nào, các Tôn giả đi đâu vậy?”

“Này hiền giả, Tăng đoàn tỳ kheo đã bị Đức Thế Tôn đuổi đi”.

“Vậy thì các Tôn giả hãy ngồi xuống một lát, may ra chúng tôi có thể làm cho Đức Thế Tôn hài lòng”.

“Này hiền giả, vâng” — các tỳ kheo ấy ưng thuận với những người Sākyā ở Cātumā.

7. Rồi những người Sākyā ở Cātumā đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, những người Sākyā ở Cātumā nói với Đức Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn hoan hỷ với Tăng đoàn tỳ kheo; bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn chấp nhận Tăng đoàn tỳ kheo. Bạch Thế Tôn, như trước kia Đức Thế Tôn đã quan tâm (nhiếp thọ / anuggahīta) đến Tăng đoàn tỳ kheo thế nào, thì nay Đức Thế Tôn cũng hãy quan tâm đến Tăng đoàn tỳ kheo như vậy. Bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ kheo mới tu, vừa mới xuất gia, mới đến với Giáo pháp và Giới luật này. Nếu họ không được gặp Đức Thế Tôn, [tâm họ] có thể thay đổi, có thể biến hoại. Bạch Thế Tôn, ví như những hạt giống non mới nếu không được nước thì có thể thay đổi, có thể biến hoại; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ kheo mới tu, vừa mới xuất gia, mới đến với Giáo pháp và Giới luật này — nếu họ không được gặp Đức Thế Tôn, [tâm họ] có thể thay đổi, có thể biến hoại. Bạch Thế Tôn, ví như con bê non không thấy mẹ thì có thể thay đổi, có thể biến hoại; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ kheo mới tu, vừa mới xuất gia, mới đến với Giáo pháp và Giới luật này — nếu họ không được gặp Đức Thế Tôn, [tâm họ] có thể thay đổi, có thể biến hoại. Bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn hoan hỷ với Tăng đoàn tỳ kheo; bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn chấp nhận Tăng đoàn tỳ kheo. Bạch Thế Tôn, như trước kia Đức Thế Tôn đã quan tâm đến Tăng đoàn tỳ kheo thế nào, thì nay Đức Thế Tôn cũng hãy quan tâm đến Tăng đoàn tỳ kheo như vậy.”

8. Rồi Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được suy nghĩ trong tâm của Đức Thế Tôn — ví như một người lực lưỡng co cánh tay đang duỗi ra, hay duỗi cánh tay đang co lại, cũng vậy — biến mất khỏi cõi Phạm thiên, hiện ra trước Đức Thế Tôn. Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y lên một bên vai, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn, và nói với Đức Thế Tôn:

9. “Bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn hoan hỷ với Tăng đoàn tỳ kheo; bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn chấp nhận Tăng đoàn tỳ kheo. Bạch Thế Tôn, như trước kia Đức Thế Tôn đã quan tâm đến Tăng đoàn tỳ kheo thế nào, thì nay Đức Thế Tôn cũng hãy quan tâm đến Tăng đoàn tỳ kheo như vậy. Bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ kheo mới tu, vừa mới xuất gia, mới đến với Giáo pháp và Giới luật này. Nếu họ không được gặp Đức Thế Tôn, [tâm họ] có thể thay đổi, có thể biến hoại. Bạch Thế Tôn, ví như những hạt giống non mới nếu không được nước thì có thể thay đổi, có thể biến hoại; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ kheo mới tu, vừa mới xuất gia, mới đến với Giáo pháp và Giới luật này — nếu họ không được gặp Đức Thế Tôn, [tâm họ] có thể thay đổi, có thể biến hoại. Bạch Thế Tôn, ví như con bê non không thấy mẹ thì có thể thay đổi, có thể biến hoại; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ kheo mới tu, vừa mới xuất gia, mới đến với Giáo pháp và Giới luật này — nếu họ không được gặp Đức Thế Tôn, [tâm họ] có thể thay đổi, có thể biến hoại. Bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn hoan hỷ với Tăng đoàn tỳ kheo; bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn chấp nhận Tăng đoàn tỳ kheo. Bạch Thế Tôn, như trước kia Đức Thế Tôn đã quan tâm đến Tăng đoàn tỳ kheo thế nào, thì nay Đức Thế Tôn cũng hãy quan tâm đến Tăng đoàn tỳ kheo như vậy.”

10. Những người Sākyā ở Cātumā và Phạm thiên Sahampati đã làm cho Đức Thế Tôn hài lòng bằng ẩn dụ hạt giống và ẩn dụ con bê non.

11. Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna nói với các tỳ kheo: “Này các hiền giả, hãy đứng dậy, mang theo bình bát và y áo. Đức Thế Tôn đã được những người Sākyā ở Cātumā và Phạm thiên Sahampati làm hài lòng bằng ẩn dụ hạt giống và ẩn dụ con bê non rồi”.

12. “Này hiền giả, vâng” — các tỳ kheo ấy vâng lời Tôn giả Mahāmoggallāna, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, mang theo bình bát và y áo, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Tôn giả Sāriputta đã ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn nói:

“Này Sāriputta, khi Ta đuổi Tăng đoàn tỳ kheo đi, ông đã nghĩ thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, con đã nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn đã đuổi Tăng đoàn tỳ kheo đi. Nay Đức Thế Tôn sẽ ở yên, không bận rộn, sống an lạc ngay trong hiện tại; và chúng con cũng sẽ ở yên, không bận rộn, sống an lạc ngay trong hiện tại’”.

“Này Sāriputta, khoan đã, này Sāriputta, khoan đã, [về việc] sống an lạc trong hiện tại”.

13. Rồi Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Mahāmoggallāna: “Này Moggallāna, khi Ta đuổi Tăng đoàn tỳ kheo đi, ông đã nghĩ thế nào?”

“Bạch Thế Tôn, con đã nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn đã đuổi Tăng đoàn tỳ kheo đi. Nay Đức Thế Tôn sẽ ở yên, không bận rộn, sống an lạc ngay trong hiện tại; còn con và Tôn giả Sāriputta sẽ chăm nom Tăng đoàn tỳ kheo’”.

“Lành thay, lành thay, này Moggallāna. Chính Ta, này Moggallāna, hay Sāriputta và Moggallāna, [đều có thể] chăm nom Tăng đoàn tỳ kheo”.

MN 67. KINH CÀTUMÀ

(Càtumà Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Catuma trong rừng cây Kha-lưu-lạc (Myrobalan).

Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Tỷ-kheo, do Sariputta (Xá-lợi-phất) và Moggallana (Mục-kiền-liên) cầm đầu cùng đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỷ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỷ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, nên các tiếng náo động ồn ào khởi lên. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau.

– "Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỷ-kheo, do Sariputta và Moggallama cầm đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn. Và các Tỷ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỷ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.

– "Vậy này Ananda, hãy nhân danh Ta bảo các Tỷ-kheo ấy: “Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo ấy như sau:

– Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?

– Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỷ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỷ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỷ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên.

– Hãy đi đi này các Tỷ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, dọn dẹp lại sàng tọa, cầm lấy y bát rồi ra đi.

Lúc bấy giờ, các Thích tử trú ở Catuma đang hội họp tại giảng đường vì một vài công cụ. Các Thích tử trú ở Catuma thấy các Tỷ-kheo ấy từ xa đi đến, sau khi thấy liền đến gặp các Tỷ-kheo, sau khi đến bèn nói như sau:

– Nay chư Tôn giả đi đâu?

– Chư Huynh, chúng Tỷ-kheo bị Thế Tôn đuổi đi.

– Chư Tôn giả hãy ngồi lại một lát. Chúng tôi có thể làm cho Thế Tôn vui lòng.

– Thưa vâng, chư Huynh.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp các Thích tử (bộ tộc Thích ca) trú ở Catuma. Rồi các Thích tử trú ở Catuma đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Thích tử trú ở Catuma bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy tiếp đón chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ví như trước kia, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ, cũng như vậy, mong nay Thế Tôn hãy giúp đỡ chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ở đây, có những vị tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Ví như, bạch Thế Tôn, các hạt giống cây nếu không được nước, chúng có thể đổi khác, chúng có thể biến dạng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những vị tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Ví như, bạch Thế Tôn, con bê nếu không được thấy con bò mẹ, chúng có thể đổi khác, chúng có thể biến dạng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những vị tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy tiếp đón chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ví như trước kia, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ; cũng như vậy, mong nay Thế Tôn hãy giúp đỡ chúng Tỷ-kheo.

Rồi Phạm thiên Sahampati (Ta bà Chủ) với tâm của mình biết được tâm Thế Tôn. Như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng như vậy, Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn. Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy tiếp đón chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ví như trước kia chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ; cũng như vậy, mong nay Thế Tôn hãy giúp đỡ chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ở đây, có những tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Ví như, bạch Thế Tôn, các hạt giống cây nếu không được nước, chúng có thể đổi khác, chúng có thể biến dạng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây, có những vị tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Ví như, bạch Thế Tôn, con bê, nếu không được thấy con bò mẹ, nó có thể đổi khác, nó có thể biến dạng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây, có những tân Tỷ-kheo, xuất gia chưa được bao lâu, vừa mới đến trong pháp luật này. Không được yết kiến Thế Tôn, họ có thể đổi khác, họ có thể biến dạng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy hoan hỷ với chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy tiếp đón chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, ví như trước kia, chúng Tỷ-kheo đã được Thế Tôn giúp đỡ; cũng như vậy, mong nay Thế Tôn hãy giúp đỡ chúng Tỷ-kheo.

Các Thích tử ở Catuma và Phạm thiên Sahampati đã có thể làm Thế Tôn vui lòng với ví dụ hột giống và ví dụ con bê con. Rồi Tôn giả Mahamoggallana bảo các Tỷ-kheo:

– Chư Hiền, hãy đứng dậy! Hãy cầm lấy y và bình bát! Thế Tôn đã được các Thích tử trú ở Catuma và Phạm thiên Sahampati làm cho vui lòng với ví dụ hột giống và ví dụ con bê con.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahamoggallana, từ chỗ ngồi đứng dậy, cầm lấy y bát, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sariputta đang ngồi một bên:

– Này Sariputta, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỷ-kheo bị Ta đuổi?

– Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỷ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: "Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Chúng con nay cũng được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc.

– Này Sariputta, hãy chờ đợi! Này Sariputta, hãy chờ đợi! Này Sariputta, chớ có để tư tưởng như vậy khởi lên Ông nữa.

Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Mahamoggallana:

– Này Moggallana, Ông đã nghĩ gì khi chúng Tỷ-kheo bị Ta đuổi?

– Bạch Thế Tôn, khi chúng Tỷ-kheo bị Thế Tôn đuổi, con nghĩ như sau: "Nay Thế Tôn sẽ được ít bận rộn, sẽ được an trú trong hiện tại lạc. Và từ nay con và Tôn giả Sariputta sẽ lãnh đạo chúng Tỷ-kheo.

– Lành thay, lành thay, Moggallana. Này Moggallana, chỉ có Ta hay Sariputta và Moggallana mới có thể lãnh đạo chúng Tỷ-kheo được.

Rồi Thế Tôn cho gọi các Tỷ-kheo:

14. Rồi Đức Thế Tôn nói với các tỳ kheo:

"Này các tỳ kheo, có bốn nỗi sợ hãi này mà người bước xuống nước (udakorohante) có thể thấy trước. Bốn nỗi nào? Sợ hãi sóng (ūmibhayaṁ), sợ hãi cá sấu (kumbhīlabhayaṁ), sợ hãi xoáy nước (āvaṭṭabhayaṁ), sợ hãi cá mập (susukābhayaṁ) — này các tỳ kheo, đây là bốn nỗi sợ hãi mà người bước xuống nước có thể thấy trước.

15. Cũng vậy, này các tỳ kheo, có bốn nỗi sợ hãi này mà một số người, sau khi vì niềm tin, rời nhà sống không nhà trong Giáo pháp và Giới luật này, có thể thấy trước. Bốn nỗi nào? Sợ hãi sóng, sợ hãi cá sấu, sợ hãi xoáy nước, sợ hãi cá mập.

16. Và này các tỳ kheo, thế nào là sợ hãi sóng? Ở đây, này các tỳ kheo, một con nhà lành, vì niềm tin, rời nhà sống không nhà, [nghĩ rằng]: ‘Ta đang bị chìm đắm trong sự tái sinh (sinh / jātiyā), trong già–chết (lão tử / jarā-maraṇa), trong sầu não, than khóc, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng; Ta đang chìm đắm trong đau khổ, đang bị đau khổ áp bức; may ra sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này có thể được nhận ra’. Khi vị ấy đã xuất gia như vậy, những người cùng tu (đồng phạm hạnh / sabrahmacārī) khuyên bảo, giáo huấn: ‘Ngươi nên bước tới như vầy, nên bước lui như vầy, nên nhìn tới như vầy, nên nhìn quanh như vầy, nên co [tay chân] như vầy, nên duỗi [tay chân] như vầy, nên mang y bát như vầy’. Vị ấy nghĩ như vầy: ‘Xưa kia chúng ta còn sống trong nhà, chúng ta đã khuyên bảo và giáo huấn người khác. Nhưng những người này thì chẳng khác gì con của chúng ta, chẳng khác gì cháu của chúng ta, chúng lại tưởng [rằng] ta cần được khuyên bảo và giáo huấn’. Vị ấy từ bỏ sự tu tập, quay lại đời sống thấp kém (hoàn tục / hīnāyāvattati). Này các tỳ kheo, đây gọi là người sợ sợ hãi sóng, đã từ bỏ sự tu tập, quay lại đời sống thấp kém. Này các tỳ kheo, ‘sợ hãi sóng’ là cách gọi sự giận dữ và phẫn uất (phẫn nộ / kodhupāyāsa).

17. Và này các tỳ kheo, thế nào là sợ hãi cá sấu? Ở đây, này các tỳ kheo, một con nhà lành, vì niềm tin, rời nhà sống không nhà, [nghĩ rằng]: ‘Ta đang bị chìm đắm trong sự tái sinh, trong già–chết, trong sầu não, than khóc, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng; Ta đang chìm đắm trong đau khổ, đang bị đau khổ áp bức; may ra sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này có thể được nhận ra’. Khi vị ấy đã xuất gia như vậy, những người cùng tu khuyên bảo, giáo huấn: ‘Cái này ngươi được phép ăn, cái này ngươi không được phép ăn; cái này ngươi được phép dùng, cái này ngươi không được phép dùng; cái này ngươi được phép nếm, cái này ngươi không được phép nếm; cái này ngươi được phép uống, cái này ngươi không được phép uống; cái hợp pháp ngươi được phép ăn, cái không hợp pháp ngươi không được phép ăn; cái hợp pháp ngươi được phép dùng, cái không hợp pháp ngươi không được phép dùng; cái hợp pháp ngươi được phép nếm, cái không hợp pháp ngươi không được phép nếm; cái hợp pháp ngươi được phép uống, cái không hợp pháp ngươi không được phép uống; đúng thời ngươi được phép ăn, phi thời ngươi không được phép ăn; đúng thời ngươi được phép dùng, phi thời ngươi không được phép dùng; đúng thời ngươi được phép nếm, phi thời ngươi không được phép nếm; đúng thời ngươi được phép uống, phi thời ngươi không được phép uống’. Vị ấy nghĩ như vầy: ‘Xưa kia chúng ta còn sống trong nhà, muốn gì thì ăn cái ấy, không muốn thì không ăn; muốn gì thì dùng cái ấy, không muốn thì không dùng; muốn gì thì nếm cái ấy, không muốn thì không nếm; muốn gì thì uống cái ấy, không muốn thì không uống; hợp pháp cũng ăn, không hợp pháp cũng ăn; hợp pháp cũng dùng, không hợp pháp cũng dùng; hợp pháp cũng nếm, không hợp pháp cũng nếm; hợp pháp cũng uống, không hợp pháp cũng uống; đúng thời cũng ăn, phi thời cũng ăn; đúng thời cũng dùng, phi thời cũng dùng; đúng thời cũng nếm, phi thời cũng nếm; đúng thời cũng uống, phi thời cũng uống. Và những gia chủ có niềm tin đáng kính, ban ngày phi thời, dâng [cho chúng ta] những món ăn, thức uống thượng hạng — ở đây họ lại làm như che miệng chúng ta vậy’. Vị ấy từ bỏ sự tu tập, quay lại đời sống thấp kém. Này các tỳ kheo, đây gọi là người sợ sợ hãi cá sấu, đã từ bỏ sự tu tập, quay lại đời sống thấp kém. Này các tỳ kheo, ‘sợ hãi cá sấu’ là cách gọi sự ăn uống quá độ (odarikatta).

18. Và này các tỳ kheo, thế nào là sợ hãi xoáy nước? Ở đây, này các tỳ kheo, một con nhà lành, vì niềm tin, rời nhà sống không nhà, [nghĩ rằng]: ‘Ta đang bị chìm đắm trong sự tái sinh, trong già–chết, trong sầu não, than khóc, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng; Ta đang chìm đắm trong đau khổ, đang bị đau khổ áp bức; may ra sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này có thể được nhận ra’. Vị ấy đã xuất gia như vậy, buổi sáng đắp y, mang theo bình bát và y áo, đi vào làng hay thị trấn để khất thực. Với thân không được che chở, với lời nói không được che chở, với sự chú tâm (niệm / satiyā) không được thiết lập, với các giác quan không được bảo vệ, vị ấy ở đó trông thấy một gia chủ hay con trai gia chủ, đang say đắm, đầy đủ, thọ hưởng năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / pañcahi kāmaguṇehi). Vị ấy nghĩ như vầy: ‘Xưa kia chúng ta còn sống trong nhà, [chúng ta] đã say đắm, đầy đủ, thọ hưởng năm sợi dây trói buộc của bản năng. Trong gia đình ta lại có của cải. Có thể vừa thọ hưởng của cải, vừa làm các phước thiện’. Vị ấy từ bỏ sự tu tập, quay lại đời sống thấp kém. Này các tỳ kheo, đây gọi là người sợ sợ hãi xoáy nước, đã từ bỏ sự tu tập, quay lại đời sống thấp kém. Này các tỳ kheo, ‘sợ hãi xoáy nước’ là cách gọi năm sợi dây trói buộc của bản năng.

19. Và này các tỳ kheo, thế nào là sợ hãi cá mập? Ở đây, này các tỳ kheo, một con nhà lành, vì niềm tin, rời nhà sống không nhà, [nghĩ rằng]: ‘Ta đang bị chìm đắm trong sự tái sinh, trong già–chết, trong sầu não, than khóc, đau khổ, ưu phiền, tuyệt vọng; Ta đang chìm đắm trong đau khổ, đang bị đau khổ áp bức; may ra sự chấm dứt của toàn bộ khối đau khổ này có thể được nhận ra’. Vị ấy đã xuất gia như vậy, buổi sáng đắp y, mang theo bình bát và y áo, đi vào làng hay thị trấn để khất thực. Với thân không được che chở, với lời nói không được che chở, với sự chú tâm không được thiết lập, với các giác quan không được bảo vệ, vị ấy ở đó trông thấy một người nữ (nữ nhân / mātugāmaṁ) ăn mặc hở hang, y phục xốc xếch. Sau khi trông thấy người nữ ăn mặc hở hang, y phục xốc xếch, sự đắm nhiễm (tham / rāgo) lay động tâm của vị ấy. Với tâm bị sự đắm nhiễm lay động, vị ấy từ bỏ sự tu tập, quay lại đời sống thấp kém. Này các tỳ kheo, đây gọi là người sợ sợ hãi cá mập, đã từ bỏ sự tu tập, quay lại đời sống thấp kém. Này các tỳ kheo, ‘sợ hãi cá mập’ là cách gọi người nữ.

20. Này các tỳ kheo, đây là bốn nỗi sợ hãi mà một số người, sau khi vì niềm tin, rời nhà sống không nhà trong Giáo pháp và Giới luật này, có thể thấy trước".

Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ kheo ấy hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời dạy của Đức Thế Tôn.

Kinh Cātumā, bài thứ bảy, đã kết thúc.

– Này các Tỷ-kheo, có bốn điều đáng sợ hãi chờ đợi những ai lội xuống nước. Thế nào là bốn? Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy, sợ hãi về cá dữ. Này các Tỷ-kheo, bốn điều đáng sợ hãi này chờ đợi những ai lội xuống nước. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn điều đáng sợ hãi này, ở đây, chờ đợi những người xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình trong Pháp Luật này. Thế nào là bốn? Sợ hãi về sóng, sợ hãi về cá sấu, sợ hãi về nước xoáy, sợ hãi về cá dữ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về sóng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện gia nam tử vì lòng tin, xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyến giáo: “Ông cần phải đi ra như vậy, Ông cần phải đi về như vậy; Ông cần phải ngó tới như vậy, Ông cần phải ngó quanh như vậy; Ông cần phải co tay như vậy, Ông cần phải duỗi tay như vậy; Ông cần phải mang y sanghati (tăng-già-lê), mang y bát như vậy”. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia, chúng ta chưa xuất gia, chính chúng ta giảng dạy, khuyến giáo người khác. Những người này giống như con chúng ta, giống như cháu chúng ta, lại nghĩ rằng cần phải giảng dạy chúng ta, cần phải khuyến giáo chúng ta”. Vị ấy từ bỏ học tập, và trở về hoàn tục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này từ bỏ sự học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về sóng. Này các Tỷ-kheo, sợ hãi về sóng là đồng nghĩa với phẫn não.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về cá sấu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này được các vị đồng Phạm hạnh giảng dạy, khuyến

giáo: “Ông nên nhai cái này, Ông không nên nhai cái này; Ông nên ăn cái này, Ông không nên ăn cái này; Ông nên nếm cái này, Ông không nên nếm cái này; Ông nên uống cái này, Ông không nên uống cái này. Cái gì được phép, Ông nên nhai; cái gì không được phép, Ông không nên nhai. Cái gì được phép, Ông nên ăn; cái gì không được phép, Ông không nên ăn. Cái gì được phép, Ông nên nếm; cái gì không được phép, Ông không nên nếm. Cái gì được phép, Ông nên uống; cái gì không được phép, Ông không nên uống. Ðúng thời, Ông nên nhai, không đúng thời, Ông không nên nhai. Ðúng thời, Ông nên ăn; không đúng thời, Ông không nên ăn. Ðúng thời, ông nên nếm; không đúng thời, Ông không nên nếm. Ðúng thời, Ông nên uống; không đúng thời, Ông không nên uống”.

Vị ấy suy nghĩ như sau: “Trước kia chúng ta chưa xuất gia, cái gì chúng ta muốn, chúng ta nhai, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nhai; cái gì chúng ta muốn, chúng ta ăn; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không ăn; cái gì chúng ta muốn, chúng ta nếm, cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không nếm; cái gì chúng ta muốn, chúng ta uống; cái gì chúng ta không muốn, chúng ta không uống. Cái gì được phép, chúng ta nhai; cái gì không được phép, chúng ta cũng nhai. Cái gì được phép, chúng ta ăn; cái gì không được phép, chúng ta cũng ăn. Cái gì được phép, chúng ta nếm; cái gì không được phép, chúng ta cũng nếm. Cái gì được phép, chúng ta uống; cái gì không được phép, chúng ta cũng uống. Cái gì đúng thời, chúng ta nhai; cái gì phi thời, chúng ta cũng nhai. Cái gì đúng thời, chúng ta ăn; cái gì phi thời chúng ta cũng ăn. Cái gì đúng thời, chúng ta nếm; cái gì phi thời chúng ta cũng nếm. Cái gì đúng thời, chúng ta uống; cái gì phi thời chúng ta cũng uống. Khi các gia chủ có tín tâm cúng dường chúng ta những món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, hình như các món ăn ấy đang bị chận đứng lại trên miệng”. Vị ấy từ bỏ học tập, và trở về hoàn tục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này từ bỏ học tập, và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về cá sấu. Sợ hãi về cá sấu, này các Tỷ- kheo, là đồng nghĩa với tham ăn.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về nước xoáy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự. Ở đây, vị này thấy gia chủ hay con người gia chủ hưởng thụ một cách đầy đủ, năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Chúng ta xưa kia chưa xuất gia đã hưởng thọ một cách đầy đủ năm dục trưởng dưỡng và cảm thấy hoan hỷ trong ấy. Vì nhà ta có tài sản, ta có thể vừa hưởng thọ tài sản, vừa làm công đức”, vị ấy từ bỏ học tập và trở về hoàn tục. Như vậy, này các Tỷ- kheo, vị này từ bỏ học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về nước xoáy. Này các Tỷ-kheo, sợ hãi về nước xoáy là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sợ hãi về cá dữ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này”. Khi được xuất gia như vậy, vị này buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời nói, niệm không an trú, các căn không chế ngự. Vị này thấy ở đây các phụ nữ y phục không đoan chánh, hay y phục mặc lộ liễu. Khi thấy các phụ nữ y phục không đoan chính hay y phục lộ liễu, dục tình phá hoại tâm của vị ấy. Vị này, tâm bị dục tình phá hoại, từ bỏ học tập, trở về hoàn tục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này từ bỏ học tập và trở về hoàn tục, được gọi là người bị sợ hãi bởi sự sợ hãi về cá dữ. Này các Tỷ-kheo, sự sợ hãi về cá dữ là đồng nghĩa với phụ nữ.

Này các Tỷ-kheo, những điều này là bốn điều đáng sợ hãi ở đây, chờ đợi những người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-