MN 27. KINH NGẮN VÍ DỤ DẤU CHÂN VOI
(Cūḷahatthipadopamasutta)Bản tóm tắt→
1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại rừng Jeta, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika.
2. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Jāṇussoṇi đang rời khỏi Sāvatthi vào giữa ban ngày trên một cỗ xe ngựa toàn màu trắng. Bà-la-môn Jāṇussoṇi nhìn thấy du sĩ Pilotika đang đi đến từ đằng xa. Thấy du sĩ Pilotika, ông liền nói: "Này, Tôn giả Vacchāyana từ đâu đến vào giữa ban ngày thế này?"
"Thưa ngài, tôi vừa từ chỗ sa-môn Gotama đến đây."
"Tôn giả Vacchāyana nghĩ gì về sự nhạy bén của trí tuệ của sa-môn Gotama? Ngài ấy có phải là một bậc trí giả không?"
"Thưa ngài, tôi là ai, tôi là cái gì mà có thể biết được sự nhạy bén của trí tuệ của sa-môn Gotama? Chắc hẳn chỉ có người ngang tầm với ngài ấy mới có thể biết được sự nhạy bén của trí tuệ của sa-môn Gotama."
"Tôn giả Vacchāyana quả thực đang ca ngợi sa-môn Gotama bằng những lời ca ngợi cao tột."
"Thưa ngài, tôi là ai, tôi là cái gì mà dám ca ngợi sa-môn Gotama? Tôn giả Gotama đã được ca ngợi bởi những bậc đáng ca ngợi, ngài là bậc tối thắng giữa chư thiên và loài người."
"Nhưng Tôn giả Vacchāyana thấy được lợi ích gì mà lại có niềm tin tuyệt đối vào sa-môn Gotama như vậy?"
3. "Thưa ngài, ví như một người thợ săn voi lành nghề đi vào rừng voi. Người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang. Người ấy đi đến kết luận: 'Quả thật đây là một con voi đực lớn'.
Cũng vậy, thưa ngài, khi tôi nhìn thấy ở sa-môn Gotama bốn dấu chân, tôi liền đi đến kết luận: Thế Tôn là 'Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn (Chánh Đẳng Giác / sammāsambuddho), Giáo pháp (Pháp / dhammo) được Thế Tôn khéo giảng dạy (thiện thuyết / svākkhāto), tăng chúng đệ tử khéo thực hành (thực hành tốt đẹp / suppaṭipanno)'.
4. Bốn dấu chân nào? Ở đây, thưa ngài, tôi thấy một số học giả Sát-đế-lỵ sắc bén, quen thuộc với các cuộc tranh luận, giống như những nhà tranh luận sắc bén, họ đi khắp nơi dùng sự hiểu biết (trí tuệ / paññā) của mình để bẻ gãy các quan điểm khác. Họ nghe tin: 'Sa-môn Gotama sắp đến ngôi làng hay thị trấn kia'. Họ liền chuẩn bị câu hỏi: 'Chúng ta sẽ đến gặp sa-môn Gotama và hỏi câu hỏi này. Nếu được hỏi thế này, ông ấy sẽ trả lời thế này, và chúng ta sẽ bác bỏ lập luận của ông ấy như thế này. Nếu được hỏi thế này, ông ấy sẽ trả lời thế kia, và chúng ta cũng sẽ bác bỏ lập luận của ông ấy như thế kia'.
Họ nghe tin: 'Sa-môn Gotama đã đến ngôi làng hay thị trấn kia'. Họ liền đi đến chỗ sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama dùng những bài giảng về Chân lý để chỉ rõ, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỉ. Sau khi được sa-môn Gotama dùng những bài giảng về Chân lý chỉ rõ, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỉ, họ không hề hỏi sa-môn Gotama câu hỏi nào cả, thì làm sao có thể bác bỏ lập luận của ngài? Trái lại, họ trở thành đệ tử của chính sa-môn Gotama. Thưa ngài, khi tôi nhìn thấy dấu vết thứ nhất này ở sa-môn Gotama, tôi liền đi đến kết luận: Thế Tôn là 'Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành'.
5-6. Lại nữa, thưa ngài, tôi thấy ở đây một số học giả Bà-la-môn [...lặp lại...] một số học giả gia chủ [...lặp lại...]
7. một số học giả sa-môn sắc bén, quen thuộc với các cuộc tranh luận, giống như những nhà tranh luận sắc bén, họ đi khắp nơi như thể đang dùng sự hiểu biết của mình để bẻ gãy các quan điểm. Họ nghe tin: 'Sa-môn Gotama sắp đến ngôi làng hay thị trấn kia'. Họ liền chuẩn bị câu hỏi: 'Chúng ta sẽ đến gặp sa-môn Gotama và hỏi câu hỏi này. Nếu được hỏi thế này, ông ấy sẽ trả lời thế này, và chúng ta sẽ bác bỏ lập luận của ông ấy như thế này. Nếu được hỏi thế này, ông ấy sẽ trả lời thế kia, và chúng ta cũng sẽ bác bỏ lập luận của ông ấy như thế kia'. Họ nghe tin: 'Sa-môn Gotama đã đến ngôi làng hay thị trấn kia'. Họ liền đi đến chỗ sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama dùng những bài giảng về Chân lý để chỉ rõ, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỉ. Sau khi được sa-môn Gotama dùng những bài giảng về Chân lý chỉ rõ, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỉ, họ không hề hỏi sa-môn Gotama câu hỏi nào cả, thì làm sao có thể bác bỏ lập luận của ngài? Trái lại, họ xin sa-môn Gotama cho phép từ bỏ gia đình, sống không nhà. Sa-môn Gotama cho họ xuất gia. Sau khi xuất gia ở đó, họ sống tách biệt, không sao nhãng, nhiệt tâm, quyết tâm, và chẳng bao lâu sau—mục đích vô thượng mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ gia đình sống không nhà hướng tới—họ đã tự mình trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikatvā) ngay trong hiện tại, đạt đến và an trú trong sự hoàn mãn của đời sống thánh thiện.
Họ nói như sau: 'Thưa các ngài, chúng ta suýt nữa thì tiêu vong, thưa các ngài, chúng ta suýt nữa thì hoại diệt; vì trước đây dù không phải là sa-môn, chúng ta lại tự nhận là sa-môn, dù không phải là Bà-la-môn, chúng ta lại tự nhận là Bà-la-môn, dù không phải là bậc A-la-hán, chúng ta lại tự nhận là bậc A-la-hán. Bây giờ chúng ta mới thực sự là sa-môn, bây giờ chúng ta mới thực sự là Bà-la-môn, bây giờ chúng ta mới thực sự là bậc A-la-hán'. Thưa ngài, khi tôi nhìn thấy dấu vết thứ tư này ở sa-môn Gotama, tôi liền đi đến kết luận: Thế Tôn là 'Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành'.
Thưa ngài, vì tôi nhìn thấy bốn dấu chân này ở sa-môn Gotama, nên tôi đã đi đến kết luận: Thế Tôn là 'Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành'."
8. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Jāṇussoṇi bước xuống khỏi cỗ xe ngựa toàn màu trắng, đắp áo choàng hở một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn và thốt lên lời cảm hứng ba lần:
"Kính lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn;
Kính lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn;
Kính lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn.
Mong sao có một lúc nào đó chúng tôi được gặp Tôn giả Gotama, mong sao có một cuộc trò chuyện nào đó diễn ra."
9. Sau đó, Bà-la-môn Jāṇussoṇi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông chào hỏi Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và lịch sự, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Jāṇussoṇi kể lại toàn bộ cuộc trò chuyện giữa ông và du sĩ Pilotika cho Thế Tôn nghe.
Khi được nói như vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Jāṇussoṇi: "Này Bà-la-môn, ví dụ về dấu chân voi như vậy chưa được hoàn thiện một cách chi tiết. Nhưng này Bà-la-môn, hãy nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ nói về cách ví dụ dấu chân voi được hoàn thiện một cách chi tiết."
"Vâng, thưa ngài," Bà-la-môn Jāṇussoṇi đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
10. "Này Bà-la-môn, ví như một người thợ săn voi đi vào rừng voi. Người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang. Nếu là một người thợ săn voi lành nghề, người ấy chưa vội đi đến kết luận: 'Quả thật đây là một con voi đực lớn'. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái lùn nhưng có bàn chân lớn, có thể đây là dấu chân của chúng.
Người ấy đi theo dấu vết đó. Khi đi theo, người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang, và có vết cọ xát ở trên cao. Nếu là một người thợ săn voi lành nghề, người ấy vẫn chưa vội đi đến kết luận: 'Quả thật đây là một con voi đực lớn'. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái cao lớn với răng nhô ra, có thể đây là dấu chân của chúng.
Người ấy đi theo dấu vết đó. Khi đi theo, người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang, có vết cọ xát ở trên cao, và có vết ngà cào xước ở trên cao. Nếu là một người thợ săn voi lành nghề, người ấy vẫn chưa vội đi đến kết luận: 'Quả thật đây là một con voi đực lớn'. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái cao lớn có ngà, có thể đây là dấu chân của chúng.
Người ấy đi theo dấu vết đó. Khi đi theo, người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang, có vết cọ xát ở trên cao, có vết ngà cào xước ở trên cao, và có những cành cây bị bẻ gãy ở trên cao. Và người ấy nhìn thấy chính con voi đực đó đang đi, đang đứng, đang ngồi, hoặc đang nằm dưới gốc cây hay ngoài trời. Lúc đó người ấy mới đi đến kết luận: 'Đây chính là con voi đực lớn đó'.
11. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgato) xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người hiểu biết thế gian, người huấn luyện vô thượng cho những ai cần được huấn luyện, bậc đạo sư của chư thiên và loài người, bậc Giác Ngộ, Thế Tôn. Ngài tự mình trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố cho thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cho quần chúng gồm sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Ngài giảng dạy Giáo pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; ngài hiển lộ đời sống thánh thiện hoàn toàn trọn vẹn và trong sạch.
12. Một gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe được Giáo pháp ấy. Sau khi nghe Giáo pháp ấy, người đó phát sinh niềm tin vào Người Đến Như Vậy. Có được niềm tin đó, người ấy suy xét: 'Đời sống gia đình thật chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở như bầu trời. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể thực hành đời sống thánh thiện hoàn toàn trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch, sáng bóng như vỏ ốc. Hay là ta hãy cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không nhà'. Vào một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hoặc từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ vòng quyến thuộc nhỏ hoặc từ bỏ vòng quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không nhà.
13. Sau khi xuất gia như vậy, sống trong sự rèn luyện và học tập theo các điều học của các tỳ kheo, người ấy từ bỏ việc sát sinh, tránh xa việc sát sinh, bỏ gậy gộc, bỏ vũ khí, có lòng tàm quý, có lòng từ bi, sống thương xót đến lợi ích của mọi sinh vật và loài hữu tình.
Người ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, chỉ mong đợi những gì được cho. Người ấy sống với bản thân thanh sạch, không trộm cắp.
Người ấy từ bỏ đời sống không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống tách biệt, tránh xa việc giao cấu là thói tục của dân làng.
Người ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, vững chắc, đáng tin, không lừa dối đời.
Người ấy từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ, nghe ở đây không đem kể lại ở kia để gây chia rẽ những người này, hoặc nghe ở kia không đem kể lại ở đây để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy hàn gắn những người bị chia rẽ hoặc khuyến khích những người đang hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.
Người ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác. Người ấy nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người yêu thích, làm hài lòng nhiều người.
Người ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói về Giáo pháp, nói về luật, nói những lời đáng được ghi nhớ, hợp thời, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích.
Người ấy tránh xa việc làm tổn hại các loại hạt giống và cây cỏ, ăn một bữa, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn sái giờ, tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các buổi trình diễn, tránh xa việc mang vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, trang sức và làm đẹp, tránh xa việc sử dụng giường cao và giường lớn, tránh xa việc nhận vàng và bạc, tránh xa việc nhận hạt ngũ cốc sống, tránh xa việc nhận thịt sống, tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ, tránh xa việc nhận nô tỳ và nô bộc, tránh xa việc nhận dê và cừu, tránh xa việc nhận gà và lợn, tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, tránh xa việc nhận ruộng đất, tránh xa việc làm người đưa tin hay đi chạy việc, tránh xa việc mua bán, tránh xa việc gian lận bằng cân, gian lận bằng tiền kim loại, gian lận bằng đấu đo, tránh xa việc hối lộ, lừa đảo, lừa gạt, quanh co, tránh xa việc cắt xẻo, giết hại, trói buộc, đánh cướp, cướp bóc và dùng bạo lực.
14. Người ấy bằng lòng với y áo để bảo vệ cơ thể, bằng lòng với thức ăn khất thực để bảo vệ bụng. Đi đến bất cứ nơi đâu, người ấy cũng mang theo [những thứ ấy] mà đi. Giống như một con chim có cánh, bay đến bất cứ nơi đâu cũng bay với gánh nặng là đôi cánh của mình; cũng vậy, tỳ kheo bằng lòng với y áo để bảo vệ cơ thể, bằng lòng với thức ăn khất thực để bảo vệ bụng. Đi đến bất cứ nơi đâu, người ấy cũng mang theo [những thứ ấy] mà đi. Được trang bị nền tảng Giới (giới uẩn / sīlakkhandhena) của bậc thánh này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không tì vết ở bên trong.
15. Khi nhìn thấy hình ảnh bằng mắt, người ấy không nắm giữ hình dáng chung, không nắm giữ các chi tiết. Vì nếu để giác quan mắt không được bảo vệ, thì lòng tham (tham / abhijjhā) và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ chảy vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan mắt, đạt được sự bảo vệ các giác quan (hộ trì các căn / saṁvara) đối với mắt. Khi nghe âm thanh bằng tai [...lặp lại...] ngửi mùi bằng mũi... nếm vị bằng lưỡi... chạm xúc giác bằng thân... nhận biết Điều bằng trí não, người ấy không nắm giữ hình dáng chung, không nắm giữ các chi tiết. Vì nếu để giác quan trí não không được bảo vệ, thì lòng tham và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ chảy vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan trí não, đạt được sự bảo vệ các giác quan đối với trí não. Được trang bị sự bảo vệ các giác quan của bậc thánh này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không bị vấy bẩn ở bên trong.
16. Người ấy nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajānakārī) khi đi tới đi lui, nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh, nhận biết rõ ràng khi co tay duỗi tay, nhận biết rõ ràng khi mang y tăng-già-lê, bình bát và y áo, nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm, nhận biết rõ ràng khi đại tiện tiểu tiện, nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và im lặng.
17. Được trang bị nền tảng Giới của bậc thánh này, được trang bị sự bằng lòng của bậc thánh này, được trang bị sự bảo vệ các giác quan của bậc thánh này, và được trang bị sự tập trung chú ý (chánh niệm / sati) và nhận biết rõ ràng của bậc thánh này, người ấy tìm đến một chỗ ở vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, bãi tha ma, rừng sâu, ngoài trời, hay đống rơm.
18. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, người ấy ngồi vắt chéo chân, giữ lưng thẳng, thiết lập sự tập trung chú ý ở phía trước. Người ấy từ bỏ lòng tham ở đời, sống với tâm thoát khỏi lòng tham, gột rửa tâm khỏi lòng tham. Từ bỏ ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda), người ấy sống với tâm không có ác ý, thương xót đến lợi ích của mọi sinh vật và loài hữu tình, gột rửa tâm khỏi ác ý hãm hại. Từ bỏ sự uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha), người ấy sống thoát khỏi sự uể oải, buồn ngủ, nhận thức ánh sáng, tập trung chú ý và nhận biết rõ ràng, gột rửa tâm khỏi sự uể oải, buồn ngủ. Từ bỏ sự bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca), người ấy sống không bồn chồn, với tâm tĩnh lặng ở bên trong, gột rửa tâm khỏi sự bồn chồn, hối hận. Từ bỏ sự nghi ngờ (nghi / vicikicchā), người ấy sống vượt qua sự nghi ngờ, không còn phân vân về những điều thiện, gột rửa tâm khỏi sự nghi ngờ.
19. Sau khi từ bỏ năm điều làm mờ yếu (triền cái / nīvaraṇe) này, những thứ làm ô nhiễm tâm và làm yếu ớt sự hiểu biết, người ấy rời bỏ khỏi các bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện, đạt được và an trú trong Thiền-na (Thiền / jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý (tầm / vitakka) và nỗ lực duy trì sự chú ý (tứ / vicāra), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Nhưng vị đệ tử bậc thánh vẫn chưa vội đi đến kết luận: Thế Tôn là 'Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành'.
20. Lại nữa, này Bà-la-môn, với sự lắng dịu của việc chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, tỳ kheo đạt được sự lắng trong nội tại, tâm hợp thành một, không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định, đạt được và an trú trong Thiền-na thứ hai. Điều này cũng được gọi là, này Bà-la-môn [...lặp lại...] thực hành tốt đẹp'.
21. Lại nữa, này Bà-la-môn, với sự cạn hết đắm nhiễm đối với hân hoan, tỳ kheo an trú trong Tâm quân bình (xả / upekkhā), tập trung chú ý và nhận biết rõ ràng, trải nghiệm hạnh phúc qua cơ thể, trạng thái mà các bậc thánh gọi là 'người có Tâm quân bình, tập trung chú ý, sống hạnh phúc', vị ấy đạt được và an trú trong Thiền-na thứ ba. Điều này cũng được gọi là, này Bà-la-môn [...lặp lại...] thực hành tốt đẹp'.
22. Lại nữa, này Bà-la-môn, với sự hoàn toàn từ bỏ hạnh phúc và hoàn toàn từ bỏ đau khổ, cùng với sự tan biến của thanh thản và ưu phiền từ trước, tỳ kheo đạt được và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu, có sự thanh tịnh của tập trung chú ý nhờ Tâm quân bình. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Nhưng vị đệ tử bậc thánh vẫn chưa vội đi đến kết luận: Thế Tôn là 'Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành'.
23. Khi tâm đã định tĩnh, trong sạch, thuần khiết, không cấu uế, thoát khỏi ô nhiễm, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, người ấy hướng tâm đến sự hiểu biết về việc nhớ lại các đời sống quá khứ. Người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là—một đời, hai đời [...lặp lại...] như vậy người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các chi tiết và bối cảnh. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Nhưng vị đệ tử bậc thánh vẫn chưa vội đi đến kết luận: Thế Tôn là 'Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành'.
24. Khi tâm đã định tĩnh, trong sạch, thuần khiết, không cấu uế, thoát khỏi ô nhiễm, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, người ấy hướng tâm đến sự hiểu biết về sự chết và tái sinh của chúng sinh. Với mắt thần thanh tịnh vượt quá khả năng của con người [...lặp lại...] người ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) chúng sinh tái sinh tùy theo hành động của họ. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Nhưng vị đệ tử bậc thánh vẫn chưa vội đi đến kết luận: Thế Tôn là 'Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành'.
25. Khi tâm đã định tĩnh, trong sạch, thuần khiết, không cấu uế, thoát khỏi ô nhiễm, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, người ấy hướng tâm đến sự hiểu biết về sự cạn kiệt các nguồn ác (lậu hoặc / āsava). Người ấy thấy rõ đúng như thật: 'Đây là đau khổ', thấy rõ đúng như thật: 'Đây là sự hình thành của đau khổ', thấy rõ đúng như thật: 'Đây là sự chấm dứt đau khổ', thấy rõ đúng như thật: 'Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ'. Người ấy thấy rõ đúng như thật: 'Đây là các nguồn ác', thấy rõ đúng như thật: 'Đây là sự hình thành của các nguồn ác', thấy rõ đúng như thật: 'Đây là sự chấm dứt các nguồn ác', thấy rõ đúng như thật: 'Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt các nguồn ác'. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Vị đệ tử bậc thánh chưa đi đến kết luận cuối cùng, nhưng đang đi đến kết luận: Thế Tôn là 'Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành'.
26. Khi người ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của bản năng (dục lậu / kāmāsavā), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsavā), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsavā). Khi đã được giải thoát, có sự hiểu biết rằng 'đã được giải thoát'.
Người ấy thấy rõ: 'Sự Tái sinh (sinh / jāti) đã cạn kiệt, đời sống thánh thiện đã hoàn tất, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa'. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Này Bà-la-môn, đến mức độ này, vị đệ tử bậc thánh mới đi đến kết luận: Thế Tôn là 'Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành'. Này Bà-la-môn, đến mức độ này, ví dụ về dấu chân voi mới được hoàn thiện một cách chi tiết."
27. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Jāṇussoṇi nói với Thế Tôn: "Tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, giống như người dựng đứng lại những gì bị lật úp, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc lối, hay cầm ngọn đèn sáng mang vào bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy các hình ảnh; cũng vậy, Giáo pháp đã được Tôn giả Gotama làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Giáo pháp, và quy y Tăng chúng. Xin Tôn giả Gotama nhận con làm nam cư sĩ, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời."
Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi Ngắn thứ bảy đã kết thúc.