Skip to content

MN 43. KINH DÀI HỎI ĐÁP ​

(Mahāvedallasutta)Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi, ở Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika.

Khi ấy, Tôn giả Mahākoṭṭhika vào buổi chiều, sau khi xuất định, đã đi đến nơi Tôn giả Sāriputta ở; sau khi đến, vị ấy nói lời chào hỏi với Tôn giả Sāriputta. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và ôn lại những kỷ niệm, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahākoṭṭhika nói với Tôn giả Sāriputta điều này:

2. "Này hiền giả, người ta nói là 'thiếu trí tuệ, thiếu trí tuệ' (ác tuệ / duppañño). Này hiền giả, do đâu mà được gọi là thiếu trí tuệ?"

"Này hiền giả, vì 'không biết rõ (tuệ tri / pajānāti), không biết rõ', do đó được gọi là thiếu trí tuệ. Và không biết rõ điều gì? Không biết rõ: 'Đây là đau khổ (khổ / dukkha)', không biết rõ: 'Đây là sự hình thành (tập / samudaya) của đau khổ', không biết rõ: 'Đây là sự chấm dứt (diệt / nirodha) đau khổ', không biết rõ: 'Đây là con đường đưa đến chấm dứt đau khổ (đạo / dukkhanirodhagāminī paṭipadā)'. Này hiền giả, vì 'không biết rõ, không biết rõ', do đó được gọi là thiếu trí tuệ." nhận biết, phân biệt "Thật tốt đẹp, thưa hiền giả", Tôn giả Mahākoṭṭhika vui mừng đón nhận (hoan hỷ / abhinanditvā) và tán thán lời nói của Tôn giả Sāriputta, rồi hỏi Tôn giả Sāriputta một câu hỏi tiếp theo:

3. "Này hiền giả, người ta nói là 'có trí tuệ, có trí tuệ' (hữu tuệ / paññavā). Này hiền giả, do đâu mà được gọi là có trí tuệ?"

"Này hiền giả, vì 'biết rõ, biết rõ', do đó được gọi là có trí tuệ. Và biết rõ điều gì? biết rõ: 'Đây là đau khổ', biết rõ: 'Đây là sự hình thành của đau khổ', biết rõ: 'Đây là sự chấm dứt đau khổ', biết rõ: 'Đây là con đường đưa đến chấm dứt đau khổ'. Này hiền giả, vì 'biết rõ, biết rõ', do đó được gọi là có trí tuệ."

4. "Này hiền giả, người ta nói là 'Nhận Biết, Nhận Biết' (thức/viññāṇa). Này hiền giả, do đâu mà được gọi là Nhận Biết?"

"Này hiền giả, vì 'nhận biết [một điều] bằng sự phân biệt [với điều khác] (thức tri / vijānāti (vi=tách ra, phân biệt; jānāti=biết, hiểu)), nhận biết bằng sự phân biệt', do đó được gọi là Nhận Biết. Và nhận biết bằng phân biệt điều gì? Nhận biết bằng phân biệt cảm thọ dễ chịu (thọ lạc / sukha), nhận biết bằng phân biệt cảm thọ khó chịu (thọ khổ / dukkha), nhận biết bằng phân biệt cảm thọ không dễ chịu không khó chịu (bất lạc bất khổ / adukkhamasukha). Này hiền giả, vì 'nhận biết bằng phân biệt, nhận biết bằng phân biệt', do đó được gọi là Nhận Biết."

5. "Này hiền giả, trí tuệ (paññā) và Nhận Biết—những điều này hòa quyện (câu hữu / saṁsaṭṭhā) hay tách rời (bất câu hữu / visaṁsaṭṭhā)? Và có thể nào bóc tách (phân tích / vinibbhujitvā), bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng không?"

"Này hiền giả, trí tuệ và Nhận Biết—những điều này hòa quyện, không tách rời. Và không thể bóc tách, bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng. Này hiền giả, điều gì người ta biết rõ, điều đó người ta [cần] nhận biết bằng sự phân biệt; điều gì người ta nhận biết bằng sự phân biệt, điều đó người ta [cần] biết rõ. Do đó, những điều này hòa quyện, không tách rời. Và không thể bóc tách, bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng."

6. "Này hiền giả, trí tuệ và Nhận Biết—những điều này hòa quyện không tách rời, [thì] đâu là sự khác biệt?"

"Này hiền giả, trí tuệ và Nhận Biết—những điều này hòa quyện không tách rời, [thì] trí tuệ cần được luyện tập, Nhận Biết cần được hiểu biết trọn vẹn (liễu tri / pariññeyya). Đây là sự khác biệt giữa chúng."

7. "Này hiền giả, người ta nói là 'Cảm Thọ, Cảm Thọ' (thọ / vedanā). Này hiền giả, do đâu mà được gọi là Cảm Thọ?"

"Này hiền giả, vì 'cảm nhận (thọ tri / vedeti), cảm nhận', do đó được gọi là Cảm Thọ. Và cảm nhận điều gì? cảm nhận cảm thọ dễ chịu, cảm nhận cảm thọ khó chịu, cảm nhận cảm thọ không dễ chịu không khó chịu. Này hiền giả, vì 'cảm nhận, cảm nhận', do đó được gọi là Cảm Thọ."

8. "Này hiền giả, người ta nói là 'Nhận Thức, Nhận Thức' (tưởng / saññā). Này hiền giả, do đâu mà được gọi là Nhận Thức?"

"Này hiền giả, vì 'nhận biết bằng liên hệ tổng thể (tưởng tri / sañjānāti (sañ=cùng nhau; jānāti=biết, hiểu / gộp các đặc điểm của một 'điều gì đó' lại để NHẬN RA nó là gì và GỌI TÊN nó)), nhận biết bằng liên hệ tổng thể', do đó được gọi là Nhận Thức. Và nhận biết bằng liên hệ tổng thể điều gì? nhận biết bằng liên hệ tổng thể màu xanh, nhận biết bằng liên hệ tổng thể màu vàng, nhận biết bằng liên hệ tổng thể màu đỏ, nhận biết bằng liên hệ tổng thể màu trắng. Này hiền giả, vì 'nhận biết bằng liên hệ tổng thể, nhận biết bằng liên hệ tổng thể', do đó được gọi là Nhận Thức."

9. "Này hiền giả, Cảm Thọ, Nhận Thức và Nhận Biết (thọ, tưởng, thức) —những điều này hòa quyện hay tách rời? Và có thể nào bóc tách, bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng không?"

"Này hiền giả, Cảm Thọ, Nhận Thức và Nhận Biết—những điều này hòa quyện, không tách rời. Và không thể bóc tách, bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng. Này hiền giả, điều gì người ta cảm nhận, điều đó người ta [cần] nhận biết bằng liên hệ tổng thể; điều gì người ta nhận biết bằng liên hệ tổng thể, điều đó người ta [cần] nhận biết bằng phân biệt. Do đó, những điều này hòa quyện, không tách rời. Và không thể bóc tách, bóc tách những điều này để chỉ ra sự khác biệt của chúng."

10. "Này hiền giả, bằng sự nhận biết ở trí não (ý thức / manoviññāṇa) [đã] hoàn toàn trong sạch, thoát khỏi (xuất ly / nissaṭṭhena) năm giác quan (ngũ căn / pañcahi indriyehi), thì có thể nhận biết được điều gì?"

"Này hiền giả, sự nhận biết ở trí não hoàn toàn trong sạch, thoát khỏi năm giác quan, có thể biết tầng thiền Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana) với suy nghĩ 'không gian là vô tận', có thể biết tầng thiền Nhận Biết là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana) với suy nghĩ 'Nhận Biết là vô tận', có thể biết tầng thiền Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana) với suy nghĩ 'không có vật gì'."

11. "Này hiền giả, muốn biết một điều thì dùng gì để người ta biết rõ (tuệ tri)?"

"Này hiền giả, người ta dùng con mắt trí tuệ để biết rõ một điều."

12. "Này hiền giả, trí tuệ có mục đích gì?"

"Này hiền giả, trí tuệ có mục đích là để hiểu hết toàn bộ (thắng tri / abhiññā), để hiểu biết trọn vẹn (liễu tri / pariññā), để từ bỏ (đoạn trừ / pahāna)."

13. "Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ (duyên / paccayā) cho sự phát sinh của Thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhi)?"

"Này hiền giả, có hai Điều kiện hỗ trợ cho sự phát sinh của Thấy Thiện lời nói từ người khác và [tìm] hiểu nguyên nhân gốc rễ (như lý tác ý / yoniso manasikāro). Này hiền giả, đây là hai Điều kiện hỗ trợ cho sự phát sinh của Thấy Thiện."

14. "Này hiền giả, Thấy Thiện được hỗ trợ bởi bao nhiêu yếu tố thì mang lại kết quả là tâm được giải thoát (tâm giải thoát / cetovimutti) và lợi ích của tâm được giải thoát; mang lại kết quả là sự giải thoát bằng trí tuệ (tuệ giải thoát/paññāvimutti) và lợi ích của sự giải thoát bằng trí tuệ?"

"Này hiền giả, Thấy Thiện được hỗ trợ bởi năm yếu tố thì mang lại kết quả là tâm được giải thoát và lợi ích của tâm được giải thoát; mang lại kết quả là sự giải thoát bằng trí tuệ và lợi ích của sự giải thoát bằng trí tuệ. Ở đây, này hiền giả, Thấy Thiện được hỗ trợ bởi lối sống đạo đức (giới / sīla), được hỗ trợ bởi việc học hỏi, được hỗ trợ bởi sự thảo luận, được hỗ trợ bởi sự tĩnh lặng, được hỗ trợ bởi sự quan sát (quán / vipassanā). Này hiền giả, được hỗ trợ bởi năm yếu tố này, Thấy Thiện mang lại kết quả là tâm được giải thoát và lợi ích của tâm được giải thoát, mang lại kết quả là sự giải thoát bằng trí tuệ và lợi ích của sự giải thoát bằng trí tuệ."

15. "Này hiền giả, có bao nhiêu cõi tồn tại (hữu / bhavā)?"

"Này hiền giả, có ba cõi tồn tại này—tồn tại cõi dục (dục hữu / kāmabhavo), tồn tại cõi vật chất (sắc hữu / rūpabhavo), tồn tại cõi phi vật chất (vô sắc hữu / arūpabhavo)."

16. "Này hiền giả, làm thế nào lại có sự Tái sinh (sinh / punabbhavābhinibbatti) trong tương lai?"

"Này hiền giả, đối với những chúng sinh bị che mờ bởi không hiểu biết (vô minh / avijjā), bị trói buộc bởi mong muốn (tham ái / taṇhā), có sự chạy theo vui thú (dục hỷ / abhinandanā) chỗ này chỗ kia—như vậy là có sự Tái sinh trong tương lai."

17. "Này hiền giả, làm thế nào lại không có sự Tái sinh trong tương lai?"

"Này hiền giả, do sự phai nhạt của không hiểu biết, do sự phát sinh của hiểu biết (minh / vijjā), do sự chấm dứt (diệt / nirodhā) của mong muốn—như vậy là không có sự Tái sinh trong tương lai."

18. "Này hiền giả, thế nào là Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất?"

"Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo rời bỏ khỏi (ly / vivicca) bản năng (dục / kāma), rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusala dhamma), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ nhất, trạng thái có sự chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ—này hiền giả, đây được gọi là Thiền-na thứ nhất."

19. "Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất có bao nhiêu yếu tố?"

"Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất có năm yếu tố. Ở đây, này hiền giả, đối với tỳ kheo đã nhập vào Thiền-na thứ nhất, có sự chủ động hướng sự chú ý (tầm / vitakka), có sự nỗ lực duy trì sự chú ý (tứ / vicāra), có hân hoan, có hạnh phúc, và có tâm hợp thành một (nhất tâm / cittekaggatā). Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất có năm yếu tố như vậy."

20. "Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất đã từ bỏ (đoạn trừ / pahīna) bao nhiêu yếu tố và được trang bị bao nhiêu yếu tố?"

"Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất đã từ bỏ năm yếu tố và được trang bị năm yếu tố. Ở đây, này hiền giả, đối với tỳ kheo đã nhập vào Thiền-na thứ nhất, muốn thỏa mãn bản năng (dục tham / kāmacchando) đã được từ bỏ, ác ý hãm hại (sân hận / byāpādo) đã được từ bỏ, uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddhaṁ) đã được từ bỏ, bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkuccaṁ) đã được từ bỏ, nghi ngờ (nghi / vicikicchā) đã được từ bỏ; và có sự chủ động hướng sự chú ý, có sự nỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoan, có hạnh phúc, và có tâm hợp thành một. Này hiền giả, Thiền-na thứ nhất đã từ bỏ năm yếu tố và được trang bị năm yếu tố như vậy."

21. "Này hiền giả, có năm giác quan (ngũ căn / pañcindriyāni) này với các phạm vi khác nhau, các đối tượng khác nhau, không trải nghiệm phạm vi và đối tượng của nhau, đó là—giác quan mắt (nhãn căn / cakkhundriyaṁ), giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, giác quan thân. Này hiền giả, đối với năm giác quan có phạm vi khác nhau, đối tượng khác nhau, không trải nghiệm phạm vi và đối tượng của nhau này, cái gì là nơi nương tựa, và cái gì trải nghiệm phạm vi và đối tượng của chúng?"

"Này hiền giả, có năm giác quan này với các phạm vi khác nhau, các đối tượng khác nhau, không trải nghiệm phạm vi và đối tượng của nhau, đó là—giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, giác quan thân. Này hiền giả, đối với năm giác quan có phạm vi khác nhau, đối tượng khác nhau, không trải nghiệm phạm vi và đối tượng của nhau này, trí não (ý / mano) là nơi nương tựa, và trí não trải nghiệm phạm vi và đối tượng của chúng."

22. "Này hiền giả, có năm giác quan này, đó là—giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, giác quan thân. Này hiền giả, năm giác quan này dựa vào (duyên / paṭicca) cái gì để tồn tại?"

"Này hiền giả, có năm giác quan này, đó là—giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, giác quan thân. Này hiền giả, năm giác quan này dựa vào mạng sống (thọ mạng / āyu) để tồn tại."

"Này hiền giả, mạng sống dựa vào cái gì để tồn tại?"

"Mạng sống dựa vào hơi ấm (noãn / usmaṁ) để tồn tại."

"Này hiền giả, hơi ấm dựa vào cái gì để tồn tại?"

"hơi ấm dựa vào mạng sống để tồn tại."

"Ngay bây giờ, này hiền giả, chúng tôi hiểu lời nói của Tôn giả Sāriputta như thế này: 'mạng sống dựa vào hơi ấm để tồn tại'. Và ngay bây giờ, này hiền giả, chúng tôi hiểu lời nói của Tôn giả Sāriputta như thế này: 'hơi ấm dựa vào mạng sống để tồn tại'. Này hiền giả, ý nghĩa của lời nói này nên được nhìn nhận như thế nào?"

"Vậy thì này hiền giả, tôi sẽ đưa ra cho hiền giả một ví dụ; vì nhờ ví dụ mà một số người có trí ở đây hiểu được ý nghĩa của lời nói. Này hiền giả, giống như một ngọn đèn dầu đang cháy, dựa vào ngọn lửa mà ánh sáng xuất hiện, dựa vào ánh sáng mà ngọn lửa xuất hiện; cũng vậy, này hiền giả, mạng sống dựa vào hơi ấm để tồn tại, hơi ấm dựa vào mạng sống để tồn tại."

23. "Này hiền giả, các hoạt động duy trì mạng sống (pháp thọ hành /āyusaṅkhārā) có phải chính là những điều cảm nhận (thọ pháp/vedaniyā dhammā), hay các hoạt động duy trì mạng sống là khác và những điều cảm nhận được là khác?"

"Này hiền giả, các hoạt động duy trì mạng sống không phải là những điều cảm nhận được. Này hiền giả, nếu các hoạt động duy trì mạng sống là những điều cảm nhận được, thì sẽ không thể thấy sự xuất ra của một tỳ kheo đã nhập vào định chấm dứt nhận thức và cảm thọ (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha). Nhưng này hiền giả, vì hoạt động duy trì mạng sống và những Điều cảm nhận được là khác, do đó mới có thể thấy sự xuất ra của một tỳ kheo đã nhập vào định chấm dứt nhận thức và cảm thọ."

24. "Này hiền giả, khi bao nhiêu điều rời bỏ thân này, thì thân này bị vứt bỏ, quăng đi, nằm đó như một khúc gỗ vô tri?"

"Này hiền giả, khi ba Điều rời bỏ thân này: mạng sống, hơi ấm và Nhận Biết; thì thân này bị vứt bỏ, quăng đi, nằm đó như một khúc gỗ vô tri."

25. "Này hiền giả, đối với người đã chết, đã qua đời, và tỳ kheo đã nhập vào định chấm dứt nhận thức và cảm thọ—giữa họ có sự khác biệt gì?"

"Này hiền giả, đối với người đã chết, đã qua đời, các hoạt động của thân đã chấm dứt, đã lắng dịu; các hoạt động của ngôn ngữ đã chấm dứt, đã lắng dịu; các hoạt động của tâm đã chấm dứt, đã lắng dịu; mạng sống đã cạn kiệt, hơi ấm đã tiêu tan, các giác quan đã bị phá vỡ. Còn đối với tỳ kheo đã nhập vào định chấm dứt nhận thức và cảm thọ, các hoạt động của thân đã chấm dứt, đã lắng dịu; các hoạt động của ngôn ngữ đã chấm dứt, đã lắng dịu; các hoạt động của tâm đã chấm dứt, đã lắng dịu; nhưng mạng sống chưa cạn kiệt, hơi ấm chưa tiêu tan, các giác quan vô cùng trong trẻo. Này hiền giả, đối với người đã chết, đã qua đời, và tỳ kheo đã nhập vào định chấm dứt nhận thức và cảm thọ—đây là sự khác biệt giữa họ."

26. "Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để đạt được tâm được giải thoát không dễ chịu không khó chịu?"

"Này hiền giả, có bốn Điều kiện hỗ trợ để đạt được tâm được giải thoát không dễ chịu không khó chịu. Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo với sự từ bỏ hạnh phúc và sự từ bỏ đau khổ, cùng với sự biến mất (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) từ trước, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu, có sự thanh tịnh của Tâm quân bình (xả / upekkhā) và tập trung chú ý (niệm / sati). Này hiền giả, đây là bốn Điều kiện hỗ trợ để đạt được tâm được giải thoát không dễ chịu không khó chịu."

27. "Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để đạt được giải thoát qua tâm không tướng (vô tướng tâm giải thoát/ animittā cetovimutti)?" ['tướng': không riêng 'hình dáng' của mắt, tướng là các đối tượng của 5 giác quan]

"Này hiền giả, có hai Điều kiện hỗ trợ để đạt được giải thoát qua tâm không tướng—không suy nghĩ, chú ý (tác ý / manasikāro) đến tướng (tướng / nimitta) và suy nghĩ đến tính không tướng (vô tướng giới/animittā dhātu). Này hiền giả, đây là hai Điều kiện hỗ trợ để đạt được giải thoát qua tâm không tướng."

"Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để duy trì giải thoát qua tâm không tướng?"

28. "Này hiền giả, có ba Điều kiện hỗ trợ để duy trì giải thoát qua tâm không tướng—không suy nghĩ, chú ý đến tướng, suy nghĩ, chú ý đến tính không tướng và ý định từ trước. Này hiền giả, đây là ba Điều kiện hỗ trợ để duy trì giải thoát qua tâm không tướng."

29. "Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để xuất ra khỏi giải thoát qua tâm không tướng?"

"Này hiền giả, có hai Điều kiện hỗ trợ để xuất ra khỏi giải thoát qua tâm không tướng—suy nghĩ đến tướng, và không suy nghĩ đến tính không tướng. Này hiền giả, đây là hai Điều kiện hỗ trợ để xuất ra khỏi giải thoát qua tâm không tướng."

"Này hiền giả, giả thoát qua tâm vô lượng (vô lượng tâm giải thoát/ appamāṇā cetovimutti), giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì (vô sở hữu tâm giải thoát / ākiñcaññā cetovimutti), giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng (không tâm giải thoát/ suññatā cetovimutti), và giải thoát qua tâm không tướng ((vô tướng tâm giải thoát/ animittā cetovimutti)—những điều này khác nghĩa và khác cách diễn đạt hay chúng có cùng nghĩa và khác về cách diễn đạt?"

30. "Này hiền giả, giả thoát qua tâm vô lượng, giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì, giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng, và giải thoát qua tâm không tướng—này hiền giả, có một cách giải thích mà theo đó những điều này có khác nghĩa và khác cách diễn đạt; và này hiền giả, có một cách giải thích mà theo đó những điều có cùng nghĩa, khác về cách diễn đạt.

31. Này hiền giả, cách giải thích nào mà những điều này khác nghĩa và khác cách diễn đạt?

Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo an trú, lan tỏa một phương với tâm đi cùng Tâm yêu thương (từ / mettā), cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, hướng lên, hướng xuống, bề ngang, khắp mọi nơi, vì tất cả như vì chính mình, vị ấy an trú, lan tỏa toàn bộ thế giới với tâm đi cùng Tâm yêu thương, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Với tâm đi cùng Tâm thông cảm (bi / karuṇā) [...lặp lại...] với tâm đi cùng Tâm cùng vui (hỷ / muditā) [...lặp lại...] vị ấy an trú, lan tỏa một phương với tâm đi cùng Tâm quân bình, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, hướng lên, hướng xuống, bề ngang, khắp mọi nơi, vì tất cả như vì chính mình, vị ấy an trú, lan tỏa toàn bộ thế giới với tâm đi cùng Tâm quân bình, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Này hiền giả, đây được gọi là giả thoát qua tâm vô lượng.

32. Này hiền giả, thế nào là giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì? Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo vượt qua hoàn toàn xứ Nhận biết là Vô Tận (thức vô biên xứ), đạt đến và an trú trong xứ Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ) với suy nghĩ 'không có vật gì'. Này hiền giả, đây được gọi là giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì.

33. Này hiền giả, thế nào là giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng? Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, vị ấy suy xét như sau: 'Trống rỗng là cái này, không có tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã'. Này hiền giả, đây được gọi là giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng.

34. Này hiền giả, thế nào là giải thoát qua tâm không tướng? Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo do không suy nghĩ đến mọi tướng, đạt đến và an trú trong định của tâm không tướng. Này hiền giả, đây được gọi là giải thoát qua tâm không tướng.

Này hiền giả, đây là cách giải thích nào mà những điều này khác nghĩa và khác cách diễn đạt.

35. Này hiền giả, cách giải thích mà theo đó những điều có cùng nghĩa, khác về cách diễn đạt

Này hiền giả, đắm nhiễm (tham / rāgo) là thứ tạo ra giới hạn (tác lượng / pamāṇakaraṇo), ám ảnh khó chịu (sân / doso) là thứ tạo ra giới hạn, sự u mê (si / moho) là thứ tạo ra giới hạn. Đối với tỳ kheo người đã sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsava), những thứ này đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cưa cụt, làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại (vô sanh / anuppādadhammā) trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các giả thoát qua tâm vô lượng, tâm giải thoát bất động được xem là tối thượng. Và giải thoát qua tâm bất động (akuppā cetovimutti) đó trống rỗng đắm nhiễm, trống rỗng ám ảnh khó chịu, trống rỗng sự u mê.

36. Này hiền giả, đắm nhiễm là thứ tạo ra sự vướng bận (tác vô sở hữu / kiñcano), ám ảnh khó chịu là thứ tạo ra sự vướng bận, sự u mê là thứ tạo ra sự vướng bận. Đối với tỳ kheo người đã sạch nguồn ác, những thứ này đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cưa cụt, làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các tâm được giải thoát không có vật gì, giải thoát qua tâm bất động được xem là tối thượng. Và giải thoát qua tâm bất động đó trống rỗng đắm nhiễm, trống rỗng ám ảnh khó chịu, trống rỗng sự u mê.

37. Này hiền giả, đắm nhiễm là thứ tạo ra tướng (tác tướng / nimittakaraṇo), ám ảnh khó chịu là thứ tạo ra tướng, sự u mê là thứ tạo ra tướng. Đối với tỳ kheo người đã sạch nguồn ác, những thứ này đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cưa cụt, làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các giải thoát qua tâm không tướng, giải thoát qua tâm bất động được xem là tối thượng. Và giải thoát qua tâm bất động đó trống rỗng đắm nhiễm, trống rỗng ám ảnh khó chịu, trống rỗng sự u mê.

Này hiền giả, đây là cách giải thích mà theo đó những điều này có cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về cách diễn đạt."

Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Tôn giả Mahākoṭṭhika hài lòng, vui mừng đón nhận lời nói của Tôn giả Sāriputta.

Kinh Đại Phương Quảng thứ ba kết thúc.