Skip to content

Bhikkhu Sujato (vi) [link]

Thích Minh Châu [link]

DN 23. Kinh Pāyāsi

Kinh Pāyāsi

Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả Kassapa Kumāra đang du hành ở xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn lớn gồm năm trăm Tỷ kheo, khi ngài đến một thành trì của người Kosala tên là Setavyā. Ngài ở trong khu rừng gỗ Hồng Sắc Ấn Độ ở phía bắc Setavyā.

Lúc bấy giờ, tù trưởng Pāyāsi đang sống ở Setavyā. Đó là một thái ấp của hoàng gia do Vua Pasenadi của Kosala ban tặng, một nơi đông đúc chúng sinh, đầy cỏ, gỗ, nước và ngũ cốc, một công viên hoàng gia được ban cho một người Bà-la-môn.

1. Về Pāyāsi

Lúc bấy giờ, Pāyāsi có một tà kiến tai hại như sau: “Không có đời sau. Không có các chúng sinh hóa sinh (beings are reborn spontaneously / sinh ra một cách tự nhiên không cần cha mẹ). Không có quả báo của các việc làm thiện và ác.”

Các Bà-la-môn và gia chủ ở Setavyā nghe tin: “Dường như Sa-môn Kassapa Kumāra—một đệ tử của Sa-môn Gotama—đang trú tại khu rừng gỗ Hồng Sắc Ấn Độ ở phía bắc Setavyā. Ngài có danh tiếng tốt đẹp này: ‘Ngài là người thông thái, tài năng, trí tuệ, uyên bác, một nhà hùng biện xuất sắc, tài hoa, trưởng thành, một bậc A-la-hán.’ Thật tốt khi được gặp những bậc A-la-hán như vậy.” Sau đó, họ rời Setavyā, tập hợp thành từng đoàn và đi về phía bắc đến khu rừng.

Lúc bấy giờ, tù trưởng Pāyāsi đã lui về tầng trên của ngôi nhà sàn dài của mình để nghỉ trưa. Ông thấy các Bà-la-môn và gia chủ đi về phía bắc đến khu rừng, và nói với người quản gia của mình: “Này quản gia, tại sao các Bà-la-môn và gia chủ lại đi về phía bắc đến khu rừng?”

“Thưa ngài, Sa-môn Kassapa Kumāra—một đệ tử của Sa-môn Gotama—đang trú tại khu rừng gỗ Hồng Sắc Ấn Độ ở phía bắc Setavyā. Ngài có danh tiếng tốt đẹp này: ‘Ngài là người thông thái, tài năng, trí tuệ, uyên bác, một nhà hùng biện xuất sắc, tài hoa, trưởng thành, một bậc A-la-hán.’ Họ đang đến để gặp Tôn giả Kassapa Kumāra.”

“Vậy thì, hãy đến gặp các Bà-la-môn và gia chủ và nói với họ: ‘Thưa quý vị, tù trưởng Pāyāsi mời quý vị đợi một chút, vì ông cũng sẽ đi gặp Sa-môn Kassapa Kumāra.’ Trước khi Kassapa Kumāra thuyết phục những Bà-la-môn và gia chủ ngu ngốc và kém cỏi đó rằng có một thế giới bên kia, có những chúng sinh được tái sinh một cách tự nhiên, và có quả báo của các việc làm thiện và ác—vì tất cả những điều đó đều không có thật!”

“Vâng, thưa ngài,” người quản gia trả lời và làm theo lời ông.

Sau đó, Pāyāsi cùng với các Bà-la-môn và gia chủ đi đến gặp Tôn giả Kassapa Kumāra và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và trò chuyện lịch sự xong, ông ngồi xuống một bên. Trước khi ngồi xuống một bên, một số Bà-la-môn và gia chủ của Setavyā đã cúi đầu, một số chào hỏi và trò chuyện lịch sự, một số chắp tay hướng về Tôn giả Kassapa Kumāra, một số xưng tên và gia tộc, trong khi một số giữ im lặng.

23. KINH TỆ-TÚC

(Pàyàsi Sutta)

1. Như vầy tôi nghe.

Một thời tôn giả Kumàra Kassapa (Cưu-ma-la Ca-diếp) đang du hành trong nước Kosala (Câu-tát-la) cùng với Ðại chúng Tỷ kheo khoảng năm trăm vị, đi đến một đô thị của Kosala tên là Setavyà (Tư-ba-ê). Rồi tôn giả Kumàra Kassapa trú về phía Bắc thành này, trong rừng Simsapà (Thi-xá-bà). Lúc bấy giờ, vua Pàyàsi (Tệ-túc) cư trú tại Setavyà, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, lúa gạo phì nhiêu, một vương địa do vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala cấp, một ân tứ của vua, một tịnh ấp.

2. Lúc bấy giờ, vua Pàyàsi khởi lên ác, tà kiến như sau: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”. Các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà được nghe: “Sa môn Kumàra Kassapa, đệ tử Sa môn Gotama đang du hành trong nước Kosala cùng với Ðại chúng Tỷ kheo khoảng năm trăm vị, đã đến Setavyà, trú về phía Bắc thành này, trong rừng Simsapà. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây về tôn giả Kumàra Kassapa được khởi lên: “Tôn giả là bậc học rộng, tài cao, diệu trí, đa văn, lời nói thấu tâm, thiện xảo biện tài, bậc trưởng lão và bậc A la hán như vậy.” Rồi các vị Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà, từng đoàn, từng chúng, từng nhóm, đi về hướng Bắc, đến tại rừng Simsapà.

3. Lúc bầy giờ, vua Pàyàsi đi lên lầu thượng để nghỉ trưa. Vua Pàyàsi thấy các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà đi ra khỏi thành Setavyà, từng đoàn, từng chúng, từng nhóm đi về hướng Bắc, đến tại rừng Simsapà. Thấy vậy vua cho gọi quan hộ thành và hỏi:

− Này Khanh, vì sao các Bà-la-môn và Gia chủ ở Setavyà đi ra khỏi thành Setavyà, từng đoàn, từng chúng, từng nhóm, đi về hướng Bắc, đến tại rừng Simsapà như vậy?

− Có Sa môn Kumàra Kassapa, đệ tử Sa môn Gotama đang du hành trong nước Kosala cùng với Ðại chúng Tỷ kheo khoảng năm trăm vị, đã đến Setavyà, trú về phía Bắc thành này, trong rừng Simsapà. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây về tôn giả Kumàra Kassapa được khởi lên: “Tôn giả là bậc học rộng, tài cao, diệu trí, đa văn, lời nói thấu tâm, thiện xảo, biện tài” và các vị ấy đi đến yết kiến tôn giả Kumàra Kassapa.

− Này Khanh, hãy đi đến các Bà-la-môn và Gia chủ ấy và nói với họ như sau: “Vua Pàyàsi nói các Hiền giả hãy đợi. Vua Pàyàsi cũng sẽ đến yết kiến Sa môn Kumàra Kassapa”. Sa môn Kumàra Kassapa có thể cảm hóa các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà ngu muội và kém khả năng theo quan điểm: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”. Này Khanh, sự thật không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.

− Xin vâng, thưa Tôn chủ!

Vị quan hộ thành vâng lời vua Pàyàsi, đi đến các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà và nói:

− Chư Hiền giả hãy chờ đợi, vua Pàyàsi sẽ đến yết kiến Sa môn Kumàra Kassapa.

4. Rồi Vua Pàyàsi được các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà hộ tống cùng đi đến rừng Simsapà chỗ trú của tôn giả Kumàra Kassapa. Sau khi đến, vua bèn nói lời thân ái, chào đón, chúc tụng rồi ngồi xuống một bên. Các Bà -la-môn và Gia chủ ở Setavyà, có người đảnh lễ tôn giả Kumàra Kassapa rồi ngồi xuống một bên. Có người nói lời thân ái, chào đón chúc tụng tôn giả Kumàra Kassapa rồi ngồi xuống một bên. Có người chấp tay vái chào tôn giả Kumàra Kassapa rồi ngồi xuống một bên. Có người xưng tên họ rồi ngồi xuống một bên. Có người yên lặng ngồi xuống một bên.

2. Thuyết Đoạn Diệt

Ngồi sang một bên, tù trưởng Pāyāsi nói với Tôn giả Kassapa Kumāra: “Thưa ngài Kassapa, đây là học thuyết và quan điểm của tôi: ‘Không có đời sau. Không có chúng sinh nào được tái sinh một cách tự nhiên. Không có quả báo của các việc làm thiện và ác.’”

"Thưa tù trưởng, mong rằng tôi không bao giờ thấy hay nghe ai có học thuyết hay quan điểm như vậy! Làm sao mà có ai lại có thể nói một điều như thế?

2.1. Ví Dụ Về Mặt Trăng và Mặt Trời

Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý. Ông nghĩ sao, thưa tù trưởng? Mặt trăng và mặt trời ở thế giới này hay thế giới khác? Chúng là chư thiên hay con người?"

“Chúng ở thế giới khác, thưa ngài Kassapa, và chúng là chư thiên, không phải con người.”

“Chỉ bằng phương pháp này cũng đủ để chứng minh rằng có một đời sau, có những chúng sinh được tái sinh một cách tự nhiên, và có quả báo của các việc làm thiện và ác.”

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn nghĩ rằng không có đời sau, không có chúng sinh nào được tái sinh một cách tự nhiên, và không có quả báo của các việc làm thiện và ác.”

“Ông có phương pháp nào để chứng minh điều ông nói không?”

“Có, thưa ngài Kassapa.”

“Chính xác là như thế nào, thưa tù trưởng?”

“À, tôi có bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và người thân, những người sát sinh, trộm cắp và tà dâm. Họ nói lời dối trá, chia rẽ, thô lỗ hoặc vô nghĩa. Và họ tham lam, ác ý, với tà kiến. Một thời gian sau, họ bị bệnh, đau khổ, bệnh nặng. Khi tôi biết rằng họ sẽ không qua khỏi, tôi đến gặp họ và nói: ‘Thưa các vị, có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết và quan điểm này: “Những người sát sinh, trộm cắp và tà dâm; nói lời dối trá, chia rẽ, thô lỗ hoặc vô nghĩa; và tham lam, ác ý, và có tà kiến—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ được tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.” Các vị đã làm tất cả những điều này. Nếu những gì các Sa-môn và Bà-la-môn đó nói là sự thật, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, các vị sẽ được tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu điều đó xảy ra, thưa các vị, hãy quay lại và nói với tôi rằng có một đời sau, có những chúng sinh được tái sinh một cách tự nhiên, và có quả báo của các việc làm thiện và ác. Tôi tin tưởng và tin vào các vị. Bất cứ điều gì các vị thấy cũng sẽ giống như chính tôi đã thấy.’ Họ đồng ý với điều này. Nhưng họ không quay lại nói với tôi, cũng không gửi một người đưa tin nào. Đây là phương pháp mà tôi chứng minh rằng không có đời sau, không có chúng sinh nào được tái sinh một cách tự nhiên, và không có quả báo của các việc làm thiện và ác.”

5. Sau khi ngồi xuống một bên, vua Pàyàsi thưa với tôn giả Kumàra Kassapa:

− Tôn giả Kassapa, tôi có chủ thuyết và tri kiến như sau: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, tôi không thấy, không nghe quan điểm như vậy, tri kiến như vậy. Sao Tôn chủ lại nói: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”? Thưa Tôn chủ, tôi sẽ hỏi Tôn chủ một vài câu hỏi. Tôn chủ hãy tùy theo đó mà trả lời. Tôn chủ nghĩ thế nào? Mặt trời và mặt trăng này, chúng thuộc thế giới này hay thế giới khác? Chúng thuộc như Thiên hay loài Người?

− Tôn giả Kassapa, mặt trời và mặt trăng thuộc thế giới khác, không phải thế giới này, chúng thuộc chư Thiên, không thuộc loài Người.

− Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy, cần phải chấp nhận rằng: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”.

6. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loài hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?.

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, tôi có những người bạn tri kỷ, thân tộc cùng một huyết thống. Những người này sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận và tà kiến. Những người này, sau một thời gian bị trọng bịnh, bị đau khổ, bị chứng tật. Khi tôi biết những vị ấy không thể khỏi những bệnh ấy được, tôi liền đi đến họ và nói: “Một số Sa môn, Bà -la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau: “Những ai sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói láo, nói lời hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận và tà kiến, những người này sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Nay các Hiền giả sát sanh, lấy của không cho, tà dâm nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận và tà kiến. Nếu lời nói những vị Sa môn Bà -la-môn ấy chính xác, thời các Hiền giả sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục… Nếu các Hiền giả sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục, thời quý vị hãy đến ta và cho ta biết: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”. Các hiền giả là các thiện hữu thành tâm của ta, những gì Hiền giả thấy, thời sẽ là như vậy, như chính ta được thấy.” Các vị này bằng lòng làm như vậy và nói: “Lành thay!” Nhưng không có ai đến nói cho tôi biết, cũng không cho gửi sứ giả đến. Này Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy nên tôi có tri kiến: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”.

2.2. Ví Dụ Về Tên Cướp

“Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý. Ông nghĩ sao, thưa tù trưởng? Giả sử họ bắt được một tên cướp, một tên tội phạm và dẫn hắn đến trước mặt ông, nói rằng: ‘Thưa ngài, đây là một tên cướp, một tên tội phạm. Hãy trừng phạt hắn theo ý ngài.’ Rồi ông sẽ nói với họ: ‘Vậy thì, các ngươi, hãy trói chặt tay người này ra sau lưng bằng một sợi dây thừng chắc chắn. Cạo đầu hắn và dẫn hắn đi từ đường này sang đường khác, từ quảng trường này sang quảng trường khác, trong tiếng trống khắc nghiệt. Sau đó, đưa hắn ra cổng phía nam và ở đó, tại pháp trường phía nam thành phố, hãy chặt đầu hắn.’ Nói: ‘Tốt lắm,’ họ sẽ làm theo lời ông, cho hắn ngồi xuống tại pháp trường. Liệu tên cướp đó có thể yêu cầu các đao phủ chờ đợi, nói rằng: ‘Xin các vị đao phủ tốt bụng! Tôi có bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và người thân ở làng này hay thị trấn nọ. Hãy đợi cho đến khi tôi thăm họ xong, rồi tôi sẽ quay lại’? Hay họ sẽ cứ thế chặt đầu hắn trong khi hắn còn đang lảm nhảm?”

“Họ sẽ cứ thế chặt đầu hắn.”

“Vậy ngay cả một tên cướp là con người cũng không thể khiến các đao phủ là con người hoãn việc hành hình của mình. Huống chi là bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và người thân của ông, những người được tái sinh vào cõi thấp sau khi làm điều ác? Liệu họ có thể yêu cầu các lính canh địa ngục chờ đợi, nói rằng: ‘Xin các vị lính canh địa ngục tốt bụng! Hãy đợi cho đến khi tôi đến gặp tù trưởng Pāyāsi để nói với ông ấy rằng có một đời sau, có những chúng sinh được tái sinh một cách tự nhiên, và có quả báo của các việc làm thiện và ác’? Bằng phương pháp này, cũng đủ để chứng minh rằng có một đời sau, có những chúng sinh được tái sinh một cách tự nhiên, và có quả báo của các việc làm thiện và ác.”

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn nghĩ rằng không có đời sau.”

“Ông có phương pháp nào để chứng minh điều ông nói không?”

“Có, thưa ngài Kassapa.”

“Chính xác là như thế nào, thưa tù trưởng?”

“À, tôi có bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và người thân, những người không sát sinh, trộm cắp và tà dâm. Họ không nói lời dối trá, chia rẽ, thô lỗ hoặc vô nghĩa. Và họ biết đủ, có lòng từ, với chánh kiến. Một thời gian sau, họ bị bệnh, đau khổ, bệnh nặng. Khi tôi biết rằng họ sẽ không qua khỏi, tôi đến gặp họ và nói: ‘Thưa các vị, có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết và quan điểm này: “Những người không sát sinh, trộm cắp và tà dâm; những người không nói lời dối trá, chia rẽ, thô lỗ hoặc vô nghĩa; và biết đủ, có lòng từ, với chánh kiến—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ được tái sinh vào cõi lành, một cõi trời.” Các vị đã làm tất cả những điều này. Nếu những gì các Sa-môn và Bà-la-môn đó nói là sự thật, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, các vị sẽ được tái sinh vào cõi lành, một cõi trời. Nếu điều đó xảy ra, thưa các vị, hãy quay lại và nói với tôi rằng có một đời sau. Tôi tin tưởng và tin vào các vị. Bất cứ điều gì các vị thấy cũng sẽ giống như chính tôi đã thấy.’ Họ đồng ý với điều này. Nhưng họ không quay lại nói với tôi, cũng không gửi một người đưa tin nào. Đây là phương pháp mà tôi chứng minh rằng không có đời sau.”

7. - Này Tôn chủ, nay tôi sẽ hỏi Tôn chủ, nếu có thể chấp nhận, Tôn chủ hãy trả lời. Tôn chủ nghĩ thế nào? Ở đời, có những người bắt được một người ăn trộm phạm lỗi và đem đến cho Ngài: “Thưa Tôn chủ, đây là người ăn trộm phạm tội. Hãy hình phạt anh ta như Ngài muốn.” Tôn chủ trả lời những người ấy: “Hãy trói người này thật chặt, dùng dây thật chắc trói hai tay ra đằng sau, cạo trọc đầu anh ta, cho đánh trống lớn tiếng và dẫn anh ta đi từ đường này hẻm nọ, xong đưa ra khỏi cổng thành hướng Nam mà chặt đầu tại pháp trường hướng Nam.” Những người ấy vâng lời, trói người ăn trộm thật chặt, dùng dây thật chắc trói hai tay ra đằng sau, cao trọc đầu anh ta, cho đánh trống lớn tiếng và dẫn anh ta đi từ đường này hẻm nọ, xong đưa anh ta ra khỏi cổng thành hướng Nam và tại pháp trường hướng Nam, bắt anh ta ngồi xuống. Nay người ăn trộm ấy có thể xin người đem chém mình: “Thưa quý vị, quý vị cho phép tôi được đi thăm thân bằng quyến thuộc ở tại làng này, hay xã này.” Hay những người ấy chặt ngay đầu người ăn trộm cầu xin như vậy?

− Tôn giả Kassapa, người ăn trộm ấy không được những người đem chém mình cho phép: “Thưa quý vị, quý vị cho phép tôi được đi thăm thân bằng quyến thuộc ở tại làng này, hay xã này.” Những người ấy chặt ngay đầu người ăn trộm cầu xin như vậy.

− Này Tôn giả, người ăn trộm thuộc loài Người, không được phép người xử trảm mình cũng là loài Người: “Thưa quý vị cho phép tôi được đi thăm thân bằng quyến thuộc ở làng này, hay ở xã này”, thời làm sao những người thân bằng quyến thuộc của Ngài, đã sát sanh, lấy của không cho, tà đâm, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham dục, sân hận và tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục lại được những người coi giữ địa ngục cho phép: “Thưa quý vị coi giữ địa ngục, quý vị hãy cho phép tôi về tâu với vua Pàyàsi: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

8. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, tôi có những thân bằng quyến thuộc gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến. Những người này, sau một thời gian bị trọng bịnh, bị đau khổ, bị chứng tật. Khi tôi biết những vị ấy không thể khỏi những bệnh ấy được, tôi liền đi đến họ và nói: “Một số Sa môn, Bà -la-môn có những quan điểm, những tri kiến như sau: “Những ai gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến, những người ấy khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới”. Chư Hiền giả gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến. Nếu lời nói của những Sa môn, Bà -la-môn ấy chính xác, thời các Hiền giả sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện tphú, Thiên giới. Nếu các hiền giả, sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, thời quý vị hãy đến ta và cho ta biết: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”. Các Hiền giả là thiện hữu thành tâm của ta, những gì Hiền giả thấy thời sẽ là như vậy, như chính ta được thấy”. Các vị này bằng lòng làm như vậy và nói: “Lành thay! Nhưng không có ai đến nói cho tôi biết, cũng không cho gửi các sứ giả đến. Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy, nên tôi có tri kiến: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”.

2.3. Ví Dụ Về Hố Phân

"Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ cho ông một ví dụ. Vì qua một ví dụ, một số người có trí tuệ có thể hiểu được ý nghĩa của những gì được nói. Giả sử có một người đàn ông bị chìm ngập đầu trong một hố phân. Rồi ông ra lệnh cho ai đó kéo anh ta ra khỏi hố phân, và họ sẽ đồng ý làm vậy. Rồi ông bảo họ cạo sạch phân trên người anh ta bằng những thanh tre cạo, và họ sẽ đồng ý làm vậy. Rồi ông bảo họ chà sạch cơ thể anh ta bằng đất sét nhạt ba lần, và họ sẽ làm vậy. Rồi ông bảo họ xoa dầu lên người anh ta, và rửa sạch anh ta bằng bột mịn ba lần, và họ sẽ làm vậy. Rồi ông bảo họ chải tóc và râu cho anh ta, và họ sẽ làm vậy. Rồi ông bảo họ cung cấp cho anh ta những vòng hoa, đồ trang điểm, và quần áo đắt tiền, và họ sẽ làm vậy. Rồi ông bảo họ đưa anh ta lên ngôi nhà sàn dài và cung cấp cho anh ta năm loại trần dục (sensual stimulation / những niềm vui đến từ năm giác quan), và họ sẽ làm vậy.

Ông nghĩ sao, thưa tù trưởng? Bây giờ người đàn ông đó đã được tắm rửa và xức dầu thơm, tóc và râu được chải chuốt, trang điểm bằng vòng hoa và vòng tay, mặc đồ trắng, được cung cấp và tận hưởng năm loại trần dục trên lầu trong ngôi nhà sàn hoàng gia. Liệu anh ta có muốn nhảy trở lại vào hố phân đó nữa không?"

“Không, thưa ngài Kassapa. Tại sao vậy? Bởi vì hố phân đó bẩn thỉu, hôi thối, ghê tởm và đáng kinh tởm, và nó được xem là như vậy.”

“Tương tự như vậy, thưa tù trưởng, đối với chư thiên, con người là bẩn thỉu, hôi thối, ghê tởm và đáng kinh tởm, và được xem là như vậy. Mùi của con người bay đến chư thiên cách xa cả trăm do-tuần. Huống chi là bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và người thân của ông, những người được tái sinh vào cõi cao hơn sau khi làm điều tốt? Liệu họ có quay lại để nói với ông rằng có một đời sau không? Bằng phương pháp này, cũng đủ để chứng minh rằng có một đời sau.”

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn nghĩ rằng không có đời sau.”

“Ông có thể chứng minh không?”

“Tôi có thể.”

“Chính xác là như thế nào, thưa tù trưởng?”

“À, tôi có bạn bè và đồng nghiệp, họ hàng và người thân, những người không sát sinh và vân vân. Một thời gian sau, họ bị bệnh, đau khổ, bệnh nặng. Khi tôi biết rằng họ sẽ không qua khỏi, tôi đến gặp họ và nói: ‘Thưa các vị, có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết và quan điểm này: “Những người không sát sinh và vân vân sẽ được tái sinh vào cõi lành, một cõi trời, trong sự đồng hành của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba.” Các vị đã làm tất cả những điều này. Nếu những gì các Sa-môn và Bà-la-môn đó nói là sự thật, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, các vị sẽ được tái sinh trong sự đồng hành của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba. Nếu điều đó xảy ra, thưa các vị, hãy quay lại và nói với tôi rằng có một đời sau. Tôi tin tưởng và tin vào các vị. Bất cứ điều gì các vị thấy cũng sẽ giống như chính tôi đã thấy.’ Họ đồng ý với điều này. Nhưng họ không quay lại nói với tôi, cũng không gửi một người đưa tin nào. Đây là cách tôi chứng minh rằng không có đời sau.”

9. - Này Tôn chủ, tôi sẽ cho Tôn chủ một ví dụ. Ở đời, một số người có trí nhờ ví dụ mà hiểu được nghĩa lời nói. Này Tôn chủ, ví như có người té đầu rơi vào hầm phân. Ngài nói với các người khác: “Hãy kéo người này ra khỏi hầm phân!” Những người ấy vâng theo và nói: “Lành thay!” và kéo người kia ra khỏi hầm phân ấy. Ngài nói với những người ấy: “Hãy lấy que tre gạt phân ra khỏi thân của người kia!” Những người này vâng theo và nói: “Lành thay!” và lấy que tre gạt phân ra khỏi thân người kia. Rồi ngài bảo các người ấy: “Hãy cho thoa bóp ba lần thân người kia với phấn hoa màu vàng.” Và những người ấy cho thoa bóp ba lần thân người kia với phấn thoa bóp màu vàng. Rồi Ngài bảo các người ấy: “Hãy lấy dầu thoa và tắm cho người kia ba lần và dùng bột mịn cunna thoa cho nó!” Và những người ấy lấy dầu thoa và tắm cho người kia ba lần và dùng bột mịn cunna thoa cho nó. Rồi Ngài bảo các người ấy: “Hãy sửa soạn râu tóc cho người kia!” Và những người ấy sửa soạn râu tóc cho kia. Rồi Ngài bảo các người ấy: “Hãy lấy vòng hoa quý, dầu thơm quý và vải quý trang điểm cho người kia!” Và những người ấy trang điểm vòng hoa quý, dầu thơm quý và vải quý cho người kia. Rồi Ngài bảo các người ấy : “Hãy đưa người kia đến tòa lâu đài và cho hưởng năm món dục lạc!” Và những người ấy đưa người kia đến tòa lâu đài và cho hưởng năm món dục lạc. Tôn chủ nghĩ thế nào? Người kia khéo tắm như vậy, khéo thoa dầu, khéo sửa soạn râu tóc, khéo trang điểm với vòng hoa và vải trắng, được đưa đến lâu đài và cho hưởng năm món dục lạc như vậy, thử hỏi người kia có chịu đâm đầu vào hầm phân ấy nữa không?

− Thưa không, Tôn giả Kassapa!

− Vì sao không?

− Tôn giả Kassapa, hầm phân là bất tịnh và được xem là bất tịnh, xú uế và được xem là xú uế, ghê tởm và được xem là ghê tởm, yếm ố và được xem là yếm ố.

− Này Tôn chủ, mùi hôi của loài Người khiến chư Thiên ghê tởm xa đến một trăm do tuần. Làm sao những người thân bằng quyến thuộc của Ngài, gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, những người ấy có thể về tin lại cho Tôn chủ: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”. Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy nên: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”.

10. - Dầu Tôn giả Kasspa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”.

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, tôi có những người thân bằng quyến thuộc gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến. Những người này sau một thời gian bị trọng bệnh, bị đau khổ, bị chứng tật. Khi tôi biết những vị ấy không thể khỏi những bệnh ấy được, tôi liền đi đến họ và nói: “Một số Sa môn, Bà -la-môn có những quan điểm như sau, có những tri kiến như sau: “Những ai gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến. Những người ấy khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới”. Chư Hiền giả gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và tà kiến. Nếu lời nói của những vị Sa môn, Bà -la-môn này chính xác thời các Hiền giả, sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, thời quý vị hãy đến ta và cho ta biết: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo”. Các Hiền giả là thiện hữu thành tâm của ta, những gì Hiền giả thấy sẽ là như vậy, như chính ta được thấy.” Các vị này bằng lòng làm như vậy và nói: “Lành thay!” Nhưng không ai đến nói cho tôi biết, cũng không cho gửi các sứ giả đến. Này Tôn giả Kassapa sự kiện là như vậy, nên tôi có tri kiến: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

2.4. Ví Dụ Về Chư Thiên Cõi Ba Mươi Ba

“Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý. Một trăm năm của con người tương đương với một ngày một đêm của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba. Ba mươi ngày như vậy tạo thành một tháng, và mười hai tháng tạo thành một năm. Chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba có tuổi thọ một nghìn năm như vậy. Bây giờ, đối với những người bạn của ông được tái sinh trong sự đồng hành của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba sau khi làm điều tốt. Nếu họ nghĩ: ‘Trước tiên, mình sẽ vui chơi trong hai hoặc ba ngày, được cung cấp và tận hưởng năm loại trần dục của cõi trời. Sau đó, mình sẽ quay lại gặp Pāyāsi và nói với ông ấy rằng có một đời sau.’ Liệu họ có quay lại để nói với ông rằng có một đời sau không?”

“Không, thưa ngài Kassapa. Vì lúc đó tôi đã chết từ lâu rồi. Nhưng thưa ngài Kassapa, ai đã nói với ngài rằng chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba tồn tại, hoặc rằng họ có tuổi thọ dài như vậy? Tôi không tin ngài.”

11. - Này Tôn chủ, tôi sẽ hỏi Ngài. Nếu Ngài xem có thể được Ngài hãy trả lời. Này Tôn chủ, tuổi loài người một trăm năm bằng một ngày một đêm chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Ba mươi đêm như vậy là một tháng, mười hai tháng như vậy là một năm, một ngàn năm ở Thiên giới như vậy là tuổi thọ của chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Những thân bằng quyến thuộc của Tôn chủ như vậy gìn giữ không sát sanh, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phù phiếm, không tham dục, không sân hận và không tà kiến. Các vị này sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới và làm thiện hữu với chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Nếu những vị này suy nghĩ: “Chúng ta hãy thọ hưởng một món dục lạc hai hay ba ngày đêm ở Thiên giới, rồi sau sẽ đến Tôn chủ Pàyàsi và tin cho biết: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.” Và những vị ấy có đến Ngài và tin cho biết: “Có đời sau, có loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo” không?

− Thưa không, Tôn giả Kassapa! Tôn giả Kassapa, vì chúng tôi sẽ chết đã lâu rồi. Nhưng ai cho Tôn giả Kassapa biết: “Có chư Thiên ở Tam thập tam thiên, Hay chư Thiên ở Tam thập tam thiên tuổi thọ là như vậy”. Chúng tôi không tin người ấy, khi người ấy nói: “Có chư Thiên ở Tam thập tam thiên! Hay chư Thiên ở Tam thập tam thiên, tuổi thọ là như vậy!”

2.5. Người Mù Bẩm Sinh

“Thưa tù trưởng, giả sử có một người mù bẩm sinh. Họ không thể thấy những cảnh sắc tối hay sáng, hoặc xanh, vàng, đỏ, hay đỏ thẫm. Họ không thể thấy mặt đất bằng phẳng hay gồ ghề, hay các vì sao, hay mặt trăng và mặt trời. Họ sẽ nói: ‘Không có thứ gì gọi là cảnh sắc tối và sáng, và không có ai thấy chúng. Không có thứ gì gọi là xanh, vàng, đỏ, đỏ thẫm, mặt đất bằng phẳng hay gồ ghề, các vì sao, mặt trăng và mặt trời, và không có ai thấy những thứ này. Tôi không biết nó hay thấy nó, do đó nó không tồn tại.’ Liệu họ có nói đúng không?”

“Không, thưa ngài Kassapa. Có những thứ như cảnh sắc tối và sáng, và có người thấy chúng. Và những thứ khác đó cũng có thật, cũng như người thấy chúng. Vì vậy, không đúng khi nói rằng: ‘Tôi không biết nó hay thấy nó, do đó nó không tồn tại.’”

“Tương tự như vậy, thưa tù trưởng, khi ông nói với tôi rằng ông không tin tôi, ông dường như giống như người mù trong ví dụ. Ông không thể thấy thế giới khác theo cách ông nghĩ, bằng con mắt thịt này. Có những Sa-môn và Bà-la-môn sống trong vùng hoang dã, thường lui tới những nơi ở hẻo lánh trong vùng hoang dã và rừng rậm. Thiền định tinh cần, nhiệt tâm và quyết tâm, họ thanh lọc thiên nhãn (clairvoyance / con mắt của chư thiên, khả năng nhìn thấy những điều vượt xa mắt thường), sức mạnh của sự thấu thị. Với thấu thị đã được thanh lọc và siêu phàm, họ thấy thế giới này và thế giới khác, và các chúng sinh được tái sinh một cách tự nhiên. Đó là cách để thấy thế giới khác, không phải như cách ông nghĩ, bằng con mắt thịt. Bằng phương pháp này, cũng đủ để chứng minh rằng có một đời sau.”

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn nghĩ rằng không có đời sau.”

“Ông có thể chứng minh không?”

“Tôi có thể.”

“Chính xác là như thế nào, thưa tù trưởng?”

“À, tôi thấy các Sa-môn và Bà-la-môn có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), có phẩm hạnh tốt, những người muốn sống và không muốn chết, những người muốn hạnh phúc và tránh xa đau khổ. Tôi tự nghĩ: ‘Nếu những Sa-môn và Bà-la-môn đó biết rằng mọi thứ sẽ tốt hơn cho họ sau khi chết, họ đã uống thuốc độc, tự kết liễu đời mình, treo cổ, hoặc nhảy từ vách đá xuống. Họ chắc hẳn không biết rằng mọi thứ sẽ tốt hơn cho họ sau khi chết. Đó là lý do tại sao họ có giới đức, có phẩm hạnh tốt, muốn sống và không muốn chết, muốn hạnh phúc và tránh xa đau khổ.’ Đây là phương pháp mà tôi chứng minh rằng không có đời sau.”

− Này Tôn chủ, như có người sanh ra đã mù, không thấy được các sắc đen hay trắng, không thấy được các sắc xanh, hay sắc vàng, các sắc đỏ, hay các sắc nâu, không thấy được các sắc tế nhị hay thô cứng, không thấy được các sao hay mặt trăng. Người ấy nói: “Không có các sắc đen hay trắng, không có người thấy các sắc đen hay trắng; không có sắc xanh, không có người thấy sắc xanh; không có sắc vàng, không có người thấy các sắc vàng; không có sắc đỏ, không có người thấy các sắc đỏ; không có sắc nâu, không có người thấy các sắc nâu, không các sắc tế nhị, thô cứng, không có người thấy các sắc tế nhị, thô cứng; không có các sao, không có người thấy các sao; không có mặt trăng, mặt trời, không có người thấy mặt trăng mặt trời. Tôi không biết vật này, tôi không thấy vật này, nên vật này không có. Này Tôn chủ, nói như vậy có phải nói một cách hợp lý không?

− Thưa không, Tôn giả Kassapa. Có các sắc đen hay trắng, có người thấy các sắc đen hay trắng; có các sắc xanh, có người thấy các sắc xanh; có các sắc vàng, có người thấy các sắc vàng; có các sắc đỏ, có người thấy các sắc đỏ; có các sắc nâu, có người thấy các sắc nâu; có các vật tế nhị hay thô cứng, có người thấy các vật tế nhị hay thô cứng; có các vì sao, có người thấy các vì sao; có mặt trăng, mặt trời, có người thấy mặt trăng, mặt trời. “Tôi không biết vật này, tôi không thấy vật này, do vậy vật này không có.” Tôn giả Kassapa, ai nói như vậy là nói không hợp lý!

− Cũng vậy này Tôn chủ, Ngài nói cũng giống người sinh ra đã mù khi Ngài nói với tôi: “Ai bảo Tôn giả Kassapa biết rằng: “Có chư Thiên ở Tam thập tam thiên,” hay “Chư thiên ở Tam thập Tam thiên tuổi thọ là như vậy!” Chúng tôi không tin Tôn giả Kassapa, khi Tôn giả nói: “Có chư Thiên ở Tam thập tam thiên,” hay “Chư thiên ở Tam thập tam thiên tuổi thọ là như vậy”.

Này Tôn chủ, đời sau không như Ngài nghĩ có thể thấy bằng con mắt thịt. Này Tôn chủ, có những Sa môn, Bà -la-môn, sống những chỗ hẻo lánh trong rừng, ít có tiếng ồn, ít có tiếng động. Tại những chỗ ấy, các vị này sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, làm cho thiên nhãn trong sạch. Rồi với thiên nhãn thanh tịnh thắng xa loài Người, các vị này thấy đời này, đời sau, và thấy các loại hóa sanh. Này Tôn chủ, đời sau phải được thấy như vậy. Không phải như Ngài nghĩ với con mắt thịt. Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy, nên tôi có tri kiến: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

12. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, ở đây tôi thấy có những Sa môn, Bà -la-môn giữ giới, thiện tánh, ham sống, ngại chết, ham sướng, ngại khổ. Tôn giả Kassapa, rồi tôi nghĩ: “Nếu những Sa môn, Bà -la-môn này giữ giới, có thiện tánh, được biết: “Sau khi chúng ta chết rồi, đời chúng ta sẽ được tốt đẹp hơn.” Rồi những Sa môn, Bà -la-môn giữ giới, có thiện tánh ấy, hoặc uống thuốc độc, hoặc lấy kiếm đâm, hoặc tự giết mình bằng cách treo cổ, hay tự lao mình xuống hố sâu. Vì những Sa môn, Bà -la-môn giữ giới có thiện tánh ấy không được biết: “Sau khi chúng ta chết rồi, đời chúng ta sẽ được tốt đẹp hơn.” Do vậy các Sa môn, Bà -la-môn giữ giới, có thiện tánh ấy ham sống, ngại chết, ham sướng, ngại khổ. Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy, nên tôi chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

2.6. Ví Dụ Về Người Phụ Nữ Mang Thai

"Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ cho ông một ví dụ. Vì qua một ví dụ, một số người có trí tuệ có thể hiểu được ý nghĩa của những gì được nói.

Ngày xửa ngày xưa, một Bà-la-môn nọ có hai người vợ. Một người có một đứa con trai mười hoặc mười hai tuổi, trong khi người kia đang mang thai và sắp sinh. Sau đó, người Bà-la-môn qua đời.

Vì vậy, người con trai nói với người vợ kế của mẹ mình: ‘Thưa bà, tất cả tiền bạc, ngũ cốc, bạc và vàng đều là của tôi, và bà không được gì cả. Hãy chuyển cho tôi tài sản thừa kế của cha tôi.’

Nhưng người phụ nữ Bà-la-môn nói: ‘Chờ đã, con yêu, cho đến khi ta sinh. Nếu là con trai, một phần sẽ là của nó. Nếu là con gái, nó sẽ là phần thưởng của con.’

Nhưng lần thứ hai, và lần thứ ba, người con trai khăng khăng rằng toàn bộ tài sản thừa kế phải là của mình.

Vì vậy, người phụ nữ Bà-la-môn lấy một con dao, vào phòng ngủ của mình, và rạch bụng mình, nghĩ rằng: ‘Cho đến khi ta sinh—dù là con trai hay con gái!’ Bà đã hủy hoại mạng sống của chính mình và của thai nhi, cũng như bất kỳ tài sản nào.

Vì ngu ngốc và kém cỏi, bà đã tìm kiếm tài sản thừa kế một cách không như lý tác ý (apply the mind irrationally / suy tư không với trí tuệ) và đã rơi vào cảnh tàn lụi và tai họa. Tương tự như vậy, thưa tù trưởng, vì ngu ngốc và kém cỏi, ông đang tìm kiếm thế giới khác một cách không như lý tác ý và sẽ rơi vào cảnh tàn lụi và tai họa, giống như người phụ nữ Bà-la-môn đó. Các Sa-môn và Bà-la-môn tốt không ép buộc những gì chưa chín phải chín; thay vào đó, họ đợi cho nó chín. Vì cuộc sống của các Sa-môn và Bà-la-môn thông thái là có lợi. Chừng nào họ còn tồn tại, các Sa-môn và Bà-la-môn tốt tạo ra nhiều công đức, và hành động vì lợi ích và hạnh phúc của mọi người, vì lòng trắc ẩn đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Bằng phương pháp này, cũng đủ để chứng minh rằng có một đời sau."

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn nghĩ rằng không có đời sau.”

“Ông có thể chứng minh không?”

“Tôi có thể.”

“Chính xác là như thế nào, thưa tù trưởng?”

“Giả sử họ bắt được một tên cướp, một tên tội phạm và dẫn hắn đến trước mặt tôi, nói rằng: ‘Thưa ngài, đây là một tên cướp, một tên tội phạm. Hãy trừng phạt hắn theo ý ngài.’ Tôi nói với họ: ‘Vậy thì, thưa các vị, hãy đặt người này vào một cái nồi khi hắn còn sống. Đậy kín miệng nồi, buộc lại bằng da ẩm, và trét kín bằng một lớp đất sét ẩm dày. Sau đó, đặt nó lên bếp và đốt lửa.’ Họ đồng ý và làm theo lời tôi. Khi chúng tôi biết rằng người đàn ông đó đã qua đời, chúng tôi nhấc nồi xuống và đập vỡ nó, mở miệng nồi, và từ từ nhìn vào bên trong, nghĩ rằng: ‘Hy vọng chúng ta sẽ thấy linh hồn của hắn thoát ra.’ Nhưng chúng tôi không thấy linh hồn của hắn thoát ra. Đây là cách tôi chứng minh rằng không có đời sau.”

13. - Này Tôn chủ, tôi sẽ cho Tôn chủ một ví dụ. Ở đời, một số người có trí nhờ ví dụ mà hiểu được nghĩa lời nói. Này Tôn chủ, ngày xưa có một người Bà -la-môn có hai người vợ. Từ một người vợ, ông ta có đứa con trai, mười hai tuổi; còn người vợ kia có mang thai, sắp đến kỳ sinh nở. Rồi người Bà -lamôn ấy mệnh chung. Ðứa con trai ấy nói với tiểu phu nhân kia: “Này Tiểu mẫu, phàm có tài sản gì, hoặc lúa, hoặc bạc, hoặc vàng, tất cả đều là của tôi. Tiểu mẫu nay không có gì hết. Tiểu mẫu hãy giao cho tôi gia tài của cha tôi.” Khi nghe nói vậy, Bà -la-môn nữ kia nói với đứa con trai ấy: “Tiểu tử hãy chờ ta sanh con. Nếu ta sanh con trai, thì một phần gia tài thuộc về nó. Nếu sanh con gái, thời nó sẽ hầu hạ con.”

Lần thứ hai, đứa con trai ấy nói với Tiểu phu nhân kia: “Này Tiểu mẫu, phàm có tài sản gì, hoặc lúa, hoặc bạc, hoặc vàng, tất cả đều là của tôi. Tiểu mẫu nay không có gì hết. Tiểu mẫu hãy giao cho tôi gia tài của cha tôi.” Lần thứ hai, Bà -la-môn nữ kia nói với đứa trai ấy: “Tiểu tử hãy chờ ta sanh con. Nếu ta sanh con trai thì một phần gia tài thuộc về nó. Nếu ta sanh con gái, thời nó sẽ hầu hạ con.”

Lần thứ ba, đứa con trai ấy nói với Tiểu phu nhân kia: “Này Tiểu mẫu, phàm có tài sản gì, hoặc lúa, hoặc bạc, hoặc vàng, tất cả đều là của tôi. Tiểu mẫu không có gì hết. Tiểu mẫu hãy giao cho tôi gia tài của cha tôi”. Ròi người Ba la môn nữ ấy lấy một con dao, vào trong nội phòng và rạch bụng ra. “Ta muốn biết đó là con trai hay con gái.” Như vậy người đàn bà ấy hại đời sống của mình, hại luôn cái thai và hại luôn tài sản của mình vì đã đi tìm của thừa tự một cách ngu suẩn và si mê, nên gặp phải nguy hiểm và tai nạn. Cũng vậy, vì ngu suẩn và si mê, Ngài gặp phải ngu suẩn và tai nạn khi Ngài đi tìm đời sau một cách vô trí, cũng giống Bà -la-môn nữ kia, vì ngu suẩn và si mê, đã đi tìm thừa tự một cách vô trí. Này Tôn chủ, các vị Sa môn, Bà -la-môn giữ giới, có thiên tánh không bắt buộc cái gì chưa chín phải chín. Vì có trí, các vị ấy chờ chín muồi đến. Này Tôn chủ, các vị Sa môn, Bà -la-môn giữ giới có thiện tánh cần thiết đến mạng sống. Này Tôn chủ, nếu các Sa môn, Bà -la-môn giữ giới, có thiện tánh sống lâu ở trên đời này bao nhiêu, các vị ấy làm được nhiều công đức bấy nhiêu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy nên: “Có đời sau, có các loài hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

14. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loài hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Này Tôn giả Kassapa, ở đây có những người bắt được một người ăn trộm phạm tội và đem đến cho tôi và nói: “Tôn chủ, đây là người ăn trộm phạm tội. Hãy hình phạt anh ta như Ngài muốn. “Tôi nói với họ: “Các Hiền giả, hãy bỏ sống người này trong một cái chum, bịt miệng chum lại, dùng da ướt bao lại, dùng đất sét ướt quện lại trét trên miệng chum, nhắc chum ấy trên cái lò và nổi lửa đốt. Các người ấy đáp: “Xin vâng!”, rồi họ bỏ sống người ấy trong cái chum, bịt miệng chum lại, dùng da ướt bao lại, dùng đất sét ướt quện lại trét trên miệng chum lại, nhắc chum ấy trên cái lò và nổi lửa đốt. Khi chúng tôi biết người ấy đã chết, liền nhắc chum ấy xuống, cởi các dây buộc, mở miệng chum ra vội vàng nhìn kỹ: “Chúng ta mong được thấy linh hồn (người chết) đi ra”. Nhưng chúng tôi không thấy linh hồn người chết đi ra. Tôn giả Kassap, sự kiện là như vậy nên tôi tin rằng. “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”.

2.7. Ví Dụ Về Giấc Mơ

“Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ hỏi lại ông về điều này, và ông có thể trả lời tùy ý. Ông có nhớ đã từng ngủ trưa và thấy những công viên, khu rừng, đồng cỏ và hồ sen thú vị trong một giấc mơ không?”

“Tôi có, thưa ngài.”

“Lúc đó ông có được canh gác bởi những người gù, người lùn, người tí hon và những người trẻ tuổi không?”

“Tôi có.”

“Nhưng họ có thấy linh hồn của ông ra vào không?”

“Không, họ không thấy.”

“Vậy nếu họ thậm chí không thể thấy linh hồn của ông ra vào khi ông còn sống, làm sao ông có thể thấy linh hồn của một người đã chết? Bằng phương pháp này, cũng đủ để chứng minh rằng có một đời sau, có những chúng sinh được tái sinh một cách tự nhiên, và có quả báo của các việc làm thiện và ác.”

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn nghĩ rằng không có đời sau.”

“Ông có thể chứng minh không?”

“Tôi có thể.”

“Chính xác là như thế nào, thưa tù trưởng?”

“Giả sử họ bắt được một tên cướp, một tên tội phạm và dẫn hắn đến trước mặt tôi, nói rằng: ‘Thưa ngài, đây là một tên cướp, một tên tội phạm. Hãy trừng phạt hắn theo ý ngài.’ Tôi nói với họ: ‘Vậy thì, thưa các vị, hãy cân người này bằng cân khi hắn còn sống. Sau đó, siết cổ hắn bằng dây cung, và khi hắn chết, hãy cân lại.’ Họ đồng ý và làm theo lời tôi. Chừng nào họ còn sống, họ nhẹ hơn, mềm hơn, linh hoạt hơn. Nhưng khi họ chết họ trở nên nặng hơn, cứng hơn, kém linh hoạt hơn. Đây là cách tôi chứng minh rằng không có đời sau.”

15. - Này Tôn chủ, tôi sẽ hỏi Ngài, nếu Ngài xem có thể được, Ngài hãy trả lời. Này Tôn chủ, khi Ngài nghỉ trưa, Ngài có chấp nhận Ngài có thấy những cảnh mộng hoan lạc ở vườn, ở rừng, ở đồng bằng, ở ao hồ không?

− Tôn giả Kassapa, tôi xác nhận khi đi nghĩ trưa, tôi có thấy những cảnh mộng hoan lạc ở vườn, ở rừng, ở đồng bằng, ở ao hồ.

− Trong khi ấy, có phải Ngài được một số người hầu hạ một bên, những người gù lưng, thấp lùn, thiếu phụ và con gái?

− Vâng, Tôn giả Kassapa, trong khi ấy, tôi được một số người hầu hạ một bên, những người gù lưng, thấp lùn, thiếu phụ và con gái.

− Và họ thấy linh hồn của Ngài đi ra hay đi vào không?

− Tôn giả Kassapa, thưa không.

− Này Tôn chủ, họ không thấy linh hồn của Tôn chủ đi ra hay đi vào, thời làm sao Ngài có thể thấy linh hồn một người chết đi vào hay đi ra được? Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy nên tôi chấp nhận: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

16. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, ở đời, có những người bắt được một người ăn trộm phạm tội và đem đến cho tôi: “Thưa Tôn chủ, đây là người ăn trộm phạm tội. Hãy hình phạt anh ta như Ngài muốn.” Tôi nói với họ: “Các khanh hãy đem cân sống anh ta đi, rồi lấy dây cung thắt cổ cho anh ta chết, xong đem cân lại.” Những người này vâng lời tôi và đáp: “Xin vâng!”, rồi họ đem cân sống người ăn trộm ấy, lấy dây cung thắt cổ anh ta cho đến chết xong cân lại. Khi anh ta sống thì anh ta nhẹ, mềm mại, nhu nhuyến. Khi anh ta chết, thì anh ta nặng hơn, cứng hơn và không nhu nhuyến. Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy, nên tôi chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

2.8. Ví Dụ Về Quả Cầu Sắt Nóng

“Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ cho ông một ví dụ. Vì qua một ví dụ, một số người có trí tuệ có thể hiểu được ý nghĩa của những gì được nói. Giả sử một người nung một quả cầu sắt cả ngày cho đến khi nó cháy, rực lửa và phát sáng, và sau đó họ cân nó bằng cân. Sau một thời gian, khi nó đã nguội và tắt, họ sẽ cân lại. Khi nào quả cầu sắt đó sẽ nhẹ hơn, mềm hơn và dễ uốn hơn—khi nó đang cháy hay khi nó nguội?”

“Chừng nào quả cầu sắt còn đầy nhiệt và không khí—cháy, rực lửa, và phát sáng—nó nhẹ hơn, mềm hơn và dễ uốn hơn. Nhưng khi nó thiếu nhiệt và không khí—nguội và tắt—nó nặng hơn, cứng hơn và kém dễ uốn hơn.”

“Tương tự như vậy, chừng nào cơ thể này còn đầy đủ sinh lực, hơi ấm và ý thức, nó nhẹ hơn, mềm hơn và linh hoạt hơn. Nhưng khi nó thiếu sinh lực, hơi ấm và ý thức, nó nặng hơn, cứng hơn và kém linh hoạt hơn. Bằng phương pháp này, cũng đủ để chứng minh rằng có một đời sau.”

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn nghĩ rằng không có đời sau.”

“Ông có thể chứng minh không?”

“Tôi có thể.”

“Chính xác là như thế nào, thưa tù trưởng?”

“Giả sử họ bắt được một tên cướp, một tên tội phạm và dẫn hắn đến trước mặt tôi, nói rằng: ‘Thưa ngài, đây là một tên cướp, một tên tội phạm. Hãy trừng phạt hắn theo ý ngài.’ Tôi nói với họ: ‘Vậy thì, thưa các vị, hãy lấy mạng người này mà không làm tổn thương lớp da ngoài, da trong, thịt, gân, xương hoặc tủy của hắn. Hy vọng chúng ta sẽ thấy linh hồn của hắn thoát ra.’ Họ đồng ý và làm theo lời tôi. Khi hắn gần chết, tôi bảo họ đặt hắn nằm ngửa với hy vọng thấy linh hồn của hắn thoát ra. Họ làm vậy. Nhưng chúng tôi không thấy linh hồn của hắn thoát ra. Tôi bảo họ đặt hắn nằm sấp, đặt hắn nằm nghiêng, đặt hắn nằm nghiêng bên kia; dựng hắn đứng thẳng, dựng hắn lộn ngược; đánh hắn bằng nắm đấm, đá, gậy và kiếm; và lắc mạnh hắn với hy vọng thấy linh hồn của hắn thoát ra. Họ làm tất cả những điều này. Nhưng chúng tôi không thấy linh hồn của hắn thoát ra. Đối với hắn, mắt vẫn còn đó, và những cảnh sắc đó cũng vậy. Nhưng hắn không trải nghiệm được trường cảm giác đó. Tai vẫn còn đó, và những âm thanh đó cũng vậy. Nhưng hắn không trải nghiệm được trường cảm giác đó. Mũi vẫn còn đó, và những mùi đó cũng vậy. Nhưng hắn không trải nghiệm được trường cảm giác đó. Lưỡi vẫn còn đó, và những vị đó cũng vậy. Nhưng hắn không trải nghiệm được trường cảm giác đó. Thân thể vẫn còn đó, và những xúc chạm đó cũng vậy. Nhưng hắn không trải nghiệm được trường cảm giác đó. Đây là cách tôi chứng minh rằng không có đời sau.”

17. - Này Tôn chủ, tôi sẽ cho Ngài một ví dụ. Nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói. Này Tôn chủ, ví như người cân một hòn sắt được đốt nóng trọn ngày, cháy đỏ, hừng lửa, đỏ rực, và một thời khác cũng đem cân hòn sắt ấy nhưng nay đã nguội lạnh. Khi nào thì hòn sắt ấy nhẹ hơn, mềm mại hơn, hay nhu nhuyến hơn? Khi hòn sắt ấy đang cháy đỏ, hừng lửa, đỏ rực hay khi đã nguội lạnh?

− Tôn giả Kassapa, khi hòn sắt ấy cháy đỏ, hừng lửa, đỏ rực, khi ấy hòn sắt nhẹ hơn, mềm mại hơn và nhu nhuyến hơn. Khi hòn sắt ấy không cháy đỏ, không hừng lửa, nguội lạnh rồi, khi đó hòn sắt nặng hơn, cứng hơn và không nhu nhuyến.

− Này Tôn chủ, khi thân này có tuổi thọ, có sức nặng, có thức thì nó nhẹ hơn, mềm mại hơn và nhu nhuyến hơn. Khi các thân này không có tuổi thọ, không có sức nóng và không có thức thời nó nặng hơn, cứng hơn và không nhu nhuyến. Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy, nên tôi chấp nhập: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

18. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, có những người bắt được một người ăn trộm phạm tội và đem đến cho tôi: “Thưa Tôn chủ, đây là người ăn trộm phạm tội. Hãy hình phạt anh ta như Ngài muốn.” Tôi nói với họ như sau: “Các khanh, hãy giết người này bằng cách lột da ngoài, da trong, thịt, gân, xương, và xương tủy của anh ta”. Những người này vâng lời tôi và đáp: “Xin vâng, Tôn chủ!” rồi họ bèn giết người ấy bằng cách lột da ngoài, da trong, thịt, gân, xương, và xương tủy. Khi người áy chết một phần nửa, tôi bảo họ: “Hãy lật ngược người này nằm ngữa, và xem linh hồn của anh ta có đi ra không?” Họ lật ngược người này nằm ngửa, và chúng tôi không thấy linh hồn người ấy đi ra. Tôi lại bảo họ: “Hãy lật người này nằm cong lại… nằm phía một bên… nằm phía bên kia… đặt người đó đứng thẳng… đặt người ấy đứng lộn đầu xuống… đánh người ấy với tay… đánh người ấy với cục đất… đánh người ấy với gậy… đánh người ấy với gươm… đánh anh ta phía bên này… đánh anh ta phía bên kia… đánh anh ta cùng khắp tất cả và xem linh hồn của anh ta có đi ra không? “Họ đánh anh ta phía bên này, đánh anh ta phía bên kia, đánh anh ta cùng khắp tất cả và chúng tôi không thấy linh hồn người ấy đi ra. Anh ta có mắt và sắc pháp các mặt, nhưng căn không cảm thọ được. Anh ta có tai và các tiếng có mặt, nhưng căn không cảm thọ được. Anh ta có mũi và các hương mặt, nhưng căn không cảm thọ được. Anh ta có lưỡi và các vị có mặt, nhưng căn không cảm thọ được. Anh ta có thân và các xúc có mặt, nhưng căn không cảm thọ được. Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy, nên tôi chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”.

2.9. Ví Dụ Về Người Thổi Kèn

"Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ cho ông một ví dụ. Vì qua một ví dụ, một số người có trí tuệ có thể hiểu được ý nghĩa của những gì được nói.

Ngày xửa ngày xưa, một người thổi kèn nọ lấy cây kèn của mình và đi đến một vùng biên địa, nơi ông đến một ngôi làng nọ. Đứng giữa làng, ông thổi kèn ba lần, rồi đặt nó xuống đất và ngồi sang một bên.

Sau đó, người dân vùng biên địa nghĩ: ‘Cái gì đang tạo ra âm thanh này, thật kích thích, gợi cảm, say đắm, mê hoặc và quyến rũ?’ Họ tụ tập quanh người thổi kèn và nói: ‘Thưa ông, cái gì đang tạo ra âm thanh này, thật kích thích, gợi cảm, say đắm, mê hoặc và quyến rũ?’

‘Âm thanh được tạo ra bởi cái này, được gọi là cây kèn.’

Họ đặt cây kèn đó nằm ngửa, nói: ‘Nói đi, cây kèn tốt! Nói đi, cây kèn tốt!’ Nhưng cây kèn vẫn không phát ra âm thanh.

Sau đó, họ đặt cây kèn nằm sấp, họ đặt nó nằm nghiêng, họ đặt nó nằm nghiêng bên kia; họ dựng nó đứng thẳng, họ dựng nó lộn ngược; họ đánh nó bằng nắm đấm, đá, gậy và kiếm; và họ lắc mạnh nó, nói: ‘Nói đi, cây kèn tốt! Nói đi, cây kèn tốt!’ Nhưng cây kèn vẫn không phát ra âm thanh.

Vì vậy, người thổi kèn nghĩ: ‘Những người dân biên địa này thật ngu ngốc! Làm sao họ có thể tìm kiếm âm thanh của một cây kèn một cách không như lý tác ý như vậy?’ Và khi họ nhìn, ông nhặt cây kèn lên, thổi ba lần, và mang nó đi.

Sau đó, người dân vùng biên địa nghĩ: ‘Vậy ra, dường như, khi cái được gọi là cây kèn đi kèm với một người, nỗ lực và gió, nó sẽ tạo ra âm thanh. Nhưng khi những thứ này không có, nó không tạo ra âm thanh.’

Tương tự như vậy, chừng nào cơ thể này còn đầy đủ sinh lực, hơi ấm và ý thức, nó đi tới đi lui, đứng, ngồi và nằm. Nó thấy cảnh sắc bằng mắt, nghe âm thanh bằng tai, ngửi mùi bằng mũi, nếm vị bằng lưỡi, cảm nhận xúc chạm bằng thân, và biết ý niệm bằng tâm. Nhưng khi nó thiếu sinh lực, hơi ấm và ý thức, nó không làm được những điều này. Bằng phương pháp này, cũng đủ để chứng minh rằng có một đời sau."

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn nghĩ rằng không có đời sau.”

“Ông có thể chứng minh không?”

“Tôi có thể.”

“Chính xác là như thế nào, thưa tù trưởng?”

“Giả sử họ bắt được một tên cướp, một tên tội phạm và dẫn hắn đến trước mặt tôi, nói rằng: ‘Thưa ngài, đây là một tên cướp, một tên tội phạm. Hãy trừng phạt hắn theo ý ngài.’ Tôi nói với họ: ‘Vậy thì, thưa các vị, hãy cắt lớp da ngoài của người này. Hy vọng chúng ta có thể thấy linh hồn của hắn.’ Họ cắt lớp da ngoài của hắn, nhưng chúng tôi không thấy linh hồn nào. Tôi nói với họ: ‘Vậy thì, thưa các vị, hãy cắt lớp da trong, thịt, gân, xương hoặc tủy của hắn. Hy vọng chúng ta sẽ thấy linh hồn của hắn.’ Họ làm vậy, nhưng chúng tôi không thấy linh hồn nào. Đây là cách tôi chứng minh rằng không có đời sau.”

19. - Này Tôn chủ, tôi sẽ cho Ngài một ví dụ. Nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa của lời nói. Này Tôn chủ, thuở xưa có một người thổi tù và, cầm tù và bằng vỏ ốc và đi đến biên giới. Người ấy đi đến một làng kia, sau khi đến xong, đứng giữa làng, thổi ống tù và ba lần, đặt ống tù và xuống đất và ngồi xuống một bên. Này Tôn chủ, những người dân ở biên giới ấy suy nghĩ: “Tiếng ấy là tiếng của ai mà lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, hấp dẫn như vậy, rung cảm như vậy.” Họ tụ họp lại và hỏi người thổi tù và: “Này bạn, tiếng ấy là tiếng của ai mà lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, hấp dẫn như vậy, rung cảm như vậy?” “- Này các bạn, đây là cái tù và, và tiếng của tù và ấy khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, hấp dẫn như vậy, rung cảm như vậy.” Họ bèn đặt chiếc tù và nằm ngửa và nói: “Hãy nói đi, bạn tù và! Hãy nói đi, bạn tù và!” Nhưng chiếc tù và ấy không nói tiếng gì hết. Họ đặt chiếc tù và ấy nằm cong lại, nằm phía bên này, nằm phía bên kia… đặt đứng thẳng… đặt ngược đầu xuống… lấy tay đánh… lấy cục đấy đánh… lấy gậy đánh… lấy gươm đánh… đánh phía bên này… đánh phía bên kia… đánh cùng khắp tất cả và nói: “Này bạn tù và, hãy nói đi! Này bạn tù và, hãy nói đi!” Nhưng chiếc tù và ấy không nói gì cả. Này Tôn chủ, rồi người thổi tù và suy nghĩ như sau: “Thật là ngu si, những người dân ở biên giới này! Sao lại đi tìm tiếng tù và một cách vô ý thức như vậy!” Trong khi họ đang tìm kiếm như vậy, người thổi tù và cầm chiếc tù và lên, thổi lên ba lần rồi cầm chiếc tù và ra đi. Này Tôn chủ, những người ở biên giới suy nghĩ như sau: “Này các bạn, chiếc tù và này, khi nào có người phụ trợ, có sự nỗ lực phụ trợ và có gió thổi phụ trợ, thì chiếc tù và phát ra tiếng. Khi nào chiếc tù và này không có người phụ trợ, không có sự nỗ lực phụ trợ và không có gió thổi phụ trợ thì chiếc tù và này không phát ra tiếng.” Cũng vậy, này Tôn chủ! Khi nào thân này có tuổi thọ phụ trợ, có hơi nóng phụ trợ và có thức phụ trợ, thời thân ấy đi tới, đi lui, đứng lên, ngồi xuống, nằm xuống, thời mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý biết pháp. Nhưng khi thân này không có tuổi thọ phụ trợ, không có hợi nóng phụ trợ, và không có thức phụ trợ, thời thân ấy không đi tới, không đi lui, không đứng lại, không ngồi xuống, không nằm xuống, thời mắt không thấy sắc, tai không nghe tiếng, mũi không ngửi hương, lưỡi không nếm vị, thân không cảm xúc, ý không biết pháp. Này Tôn chủ, sự kiện là như vậy, nên tôi chấp nhận: “Có đời sau, có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác có quả báo.”

20. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, ở đây tôi vẫn chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, có sự kiện gì để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Tôn giả Kassapa, vâng, có sự kiện để chứng minh rằng: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

− Này Tôn chủ, như thế nào?

− Tôn giả Kassapa, nay có những người bắt được một tên ăn trộm phạm tội và đem đến cho tôi: “Thưa Tôn chủ, đây là người ăn trộm phạm tội. Hãy hình phạt anh ta như Ngài muốn.” Tôi nói với họ như sau: “Các khanh hãy lột da anh ta, để chúng ta có thể thấy linh hồn của anh ta.” Chúng lột da của người ấy, nhưng chúng tôi không thấy linh hồn của anh ta. Rồi tôi bảo họ: “Các khanh hãy lột da trong của người ấy… cắt thịt… cắt gân… cắt xương… đẻo cho đến xương tủy để chúng ta có thể thấy linh hồn của anh ta.” Họ đẽo cho đến xương tủy của người ấy, nhưng chúng tôi không thấy linh hồn của anh ta. Này Tôn giả Kassapa, sự kiện là như vậy nên tôi chấp nhận: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.”

2.10. Ví Dụ Về Đạo Sĩ Tóc Bện Thờ Lửa

"Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ cho ông một ví dụ. Vì qua một ví dụ, một số người có trí tuệ có thể hiểu được ý nghĩa của những gì được nói.

Ngày xửa ngày xưa, một đạo sĩ tóc bện thờ lửa nọ định cư trong một túp lều lá ở một vùng hoang dã. Sau đó, một đoàn lữ hành đi ra từ một quốc gia nọ. Nó ở lại một đêm không xa am của đạo sĩ đó, và sau đó tiếp tục đi. Đạo sĩ nghĩ: ‘Tại sao mình không đến khu cắm trại của đoàn lữ hành đó? Hy vọng mình sẽ tìm thấy thứ gì đó hữu ích ở đó.’

Vì vậy, ông đi, và ông thấy một cậu bé nhỏ bị bỏ rơi ở đó. Khi thấy điều này, ông nghĩ: ‘Thật không đúng khi mình nhìn một con người chết đi. Tại sao mình không mang cậu bé này về am của mình, chăm sóc, nuôi dưỡng, và nuôi nấng nó?’ Và đó là những gì ông đã làm.

Khi cậu bé được mười hoặc mười hai tuổi, đạo sĩ có một số công việc phải làm ở trong xứ. Vì vậy, ông nói với cậu bé: ‘Con yêu, ta muốn đi vào xứ. Hãy phụng sự ngọn lửa thiêng. Đừng để nó tắt. Nhưng nếu con để nó tắt, đây là cái rìu, củi, và bó que mồi lửa. Hãy nhóm lửa và phụng sự nó.’ Và sau khi hướng dẫn cậu bé, đạo sĩ đã đi vào xứ.

Nhưng cậu bé quá mải mê chơi đùa, ngọn lửa đã tắt. Cậu nghĩ: ‘Cha bảo mình phụng sự ngọn lửa thiêng. Tại sao mình không nhóm lại và phụng sự nó?’

Vì vậy, cậu chặt bó que mồi lửa bằng rìu, nghĩ rằng: ‘Hy vọng mình sẽ có lửa!’ Nhưng cậu vẫn không có lửa.

Cậu chẻ bó que mồi lửa thành hai, ba, bốn, năm, mười, hoặc một trăm phần. Cậu chặt chúng thành những mảnh vụn, giã chúng trong cối, và quét chúng đi trong một cơn gió mạnh, nghĩ rằng: ‘Hy vọng mình sẽ có lửa!’ Nhưng cậu vẫn không có lửa.

Sau đó, đạo sĩ tóc bện, sau khi hoàn thành công việc của mình trong xứ, trở về am của mình, và nói với cậu bé: ‘Ta tin rằng, con yêu, ngọn lửa không bị tắt chứ?’ Và cậu bé kể cho ông nghe những gì đã xảy ra. Sau đó, đạo sĩ nghĩ: ‘Cậu bé này thật ngu ngốc, thật kém cỏi! Làm sao nó có thể tìm kiếm lửa một cách không như lý tác ý như vậy?’

Vì vậy, trong khi cậu bé nhìn, ông lấy một bó que mồi lửa, nhóm lửa, và nói: ‘Con yêu, đây là cách để nhóm lửa. Không phải theo cách ngu ngốc và kém cỏi mà con đã tìm kiếm nó một cách không như lý tác ý.’ Tương tự như vậy, thưa tù trưởng, vì ngu ngốc và kém cỏi, ông tìm kiếm thế giới khác một cách không như lý tác ý. Hãy từ bỏ tà kiến tai hại này, thưa tù trưởng, hãy từ bỏ nó! Đừng tạo ra sự tổn hại và đau khổ lâu dài cho chính mình!"

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn không thể từ bỏ tà kiến tai hại đó. Vua Pasenadi của Kosala biết quan điểm của tôi, và các vị vua nước ngoài cũng vậy. Nếu tôi từ bỏ tà kiến tai hại này, mọi người sẽ nói: ‘Tù trưởng Pāyāsi thật ngu ngốc, thật kém cỏi, đến nỗi lại bám vào một sai lầm!’ Tôi sẽ tiếp tục với quan điểm này vì tức giận, khinh miệt và thù hằn!”

21. - Này Tôn chủ, tôi sẽ cho một ví dụ. Ở đời một số người có trí thức, nhờ ví dụ hiểu được ý nghĩa câu nói. Này Tôn chủ, thuở xưa có người bện tóc thờ lửa, sống trong một ngôi nhà lá, tại một khu rừng. Này Tôn chủ, một số dân chúng di cư đến đấy. Vị lãnh đạo của chúng, sau một đêm ở xung quanh cái cốc của người bện tóc thờ lửa bèn bỏ đi. Này Tôn chủ, người bện tóc thờ lửa suy nghĩ: “Nếu ta đến chỗ ở của người lãnh đạo, ta có thể kiếm được một vài đồ vật hữu dụng ở đó.” Rồi người bện tóc thở lửa, dậy sớm đến chỗ ở của người lãnh đạo, và thấy một đứa hài nhi bị quăng nằm ngửa ở đó. Thấy vậy vị ấy nghĩ: “Thật không phải chút nào nếu ta để một hài nhi phải chết trong khi ta đang tìm kiếm. Ta hãy đem hài nhi này về cốc của ta, nuôi nó, săn sóc nó, cấp dưỡng nó”. Rồi người bện tóc thờ lửa ấy đem đứa hài nhi ấy về cốc nuôi nó, săn sóc nó, cấp dưỡng nó. Khi đứa trẻ đến tuổi mười hay mười hai, người bện tóc thờ lửa có công việc phải đi xuống đồng bằng. Người bện tóc thờ lửa bảo đứa trẻ ấy: Này con, ta muốn đi xuống đồng bằng, hãy chăm sóc ngọn lửa, đừng để nó tắt. Nếu lửa có tắt, đây là cái búa nhỏ, đây là củi, đây là đồ quay để nhóm lửa, hãy nhen lửa lại và chăm sóc ngọn lửa”. Người bện tóc thở lửa ấy, sau khi căn dặn đứa trẻ, bèn đi xuống đồng bằng. Ðứa trẻ mãi ham vui đùa khiến lửa tắt. Ðứa trẻ suy nghĩ: “Cha ta có bảo ta: “Hãy chăm sóc ngọn lửa, đừng để nó tắt. Nếu con để tắt lửa, đây là cái búa nhỏ, đây là củi, đây là đồ quay để nhóm lửa lại.” Vậy ta hãy nhen lửa lên và chăm sóc ngọn lửa.” Rồi đứa trẻ ấy lấy búa chẻ đồ quây lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ tìm thấy lửa.” Nhưng lửa không có. Nó đem chẻ đồ quây lửa làm hai, làm ba, làm bốn,làm năm, làm mười, làm trăm, chẻ nhỏ vụn ra, lấy chày mà giã, và sau khi đã giã nhỏ, lại đem ra sàng trước gió lớn với ý nghĩ: “Ta sẽ tìm thấy lửa.” Nhưng lửa không có. Người bện tóc sau khi làm xong công việc ở đồng bằng, liền về cốc của mình và hỏi đứa bé: “Này con, sao con để tắt lửa thế này,?” - “Thưa cha, con mãi ham chơi nên để lửa tắt. Rồi con suy nghĩ: “Cha đã bảo ta: “Hãy chăm sóc ngọn lửa, đừng để tắt nó. Nếu con để tắt lửa, đây là cái búa nhỏ, đây là củi, đây là đồ quây để nhen lửa. Hãy nhen lửa lại và chăm sóc ngọn lửa”. Vậy ta hãy nhen lửa lên và chăm sóc ngọn lửa”. Thưa cha, rồi con lấy búa nhỏ chẻ đồ quây lửa với ý nghĩ: “Ta sẽ tìm ra lửa.” Nhưng con tìm không được lửa. Con đem chẻ đồ quây lửa, làm hai, làm ba, lám bốn, làm năm, làm mười, làm trăm, chẻ nhỏ vụn ra, lấy chày mà giã, và sau khi giã nhỏ, lại đem ra sàng trước gió lớn với ý nghĩ: “Ta sẽ tìm ra lửa,” nhưng con không tìm được lửa”. Rồi người bện tóc thờ lửa ấy suy nghĩ: “Ðứa trẻ này thật ngu si và kém thông minh. Sao lại đi tìm lửa một cách thiếu suy tư như thế này?” Trong khi đứa trẻ đứng nhìn, người ấy cầm đồ quây lửa, nhen lửa lên và nói với đứa trẻ: “Này con, nhen lửa phải làm như vậy đó, chớ không phải như con ngu si và kém thông minh, tìm lửa một cách thiếu suy tư.” Cũng vậy này Tôn chủ, Ngài ngu si, kém thông minh, đi tìm đời sau một cách kém suy tư. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác kiến ấy! Chớ có tự dấn thân vào sự bất an và đau khổ trường kỳ.

22. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, Tôi cũng không thể từ bỏ ác tà kiến này. Vua Pasenadi nước Kosala và vua các nước ngoài đã biết tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi có quan điểm, có tri kiến như thế này: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.” Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ ác tà kiến ấy người ta sẽ phê bình tôi như sau: “Tôn chủ Pàyà thật là ngu si, kém thông minh, chấp kiến một cách sai lạc.” Vì tức giận, nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì lừa gạt nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì tự trọng nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy.

2.11. Ví Dụ Về Hai Người Dẫn Đoàn Lữ Hành

"Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ cho ông một ví dụ. Vì qua một ví dụ, một số người có trí tuệ có thể hiểu được ý nghĩa của những gì được nói.

Ngày xửa ngày xưa, một đoàn lữ hành lớn gồm một nghìn cỗ xe đi từ một quốc gia ở phía đông đến phía tây. Bất cứ nơi nào họ đi qua, họ nhanh chóng sử dụng hết cỏ, gỗ, nước và cây xanh. Bây giờ, đoàn lữ hành đó có hai người dẫn đầu, mỗi người phụ trách năm trăm cỗ xe. Họ nghĩ: ‘Đây là một đoàn lữ hành lớn gồm một nghìn cỗ xe. Bất cứ nơi nào chúng ta đi qua, chúng ta nhanh chóng sử dụng hết cỏ, gỗ, nước và cây xanh. Tại sao chúng ta không chia đoàn lữ hành thành hai nửa?’ Và đó là những gì họ đã làm.

Một người dẫn đoàn lữ hành, sau khi chuẩn bị nhiều cỏ, gỗ và nước, đã bắt đầu đoàn lữ hành. Sau hai hoặc ba ngày hành trình, ông thấy một người đàn ông da đen với đôi mắt đỏ đi ngược chiều trên một chiếc xe lừa với bánh xe dính bùn. Ông ta trang bị một bao tên và đội vòng hoa sen vàng, quần áo và tóc đều ướt. Thấy ông ta, ông nói: ‘Thưa ngài, ngài từ đâu đến?’

‘Từ quốc gia này và quốc gia nọ.’

‘Và ngài đang đi đâu?’

‘Đến quốc gia tên là như vậy và như vậy.’

‘Nhưng có nhiều mưa ở sa mạc phía trước không?’

‘Thật vậy, thưa ngài. Các con đường được tưới nước, và có nhiều cỏ, gỗ và nước. Hãy vứt bỏ cỏ, gỗ và nước của ngài đi. Các cỗ xe của ngài sẽ di chuyển nhanh chóng khi tải nhẹ, vì vậy đừng làm mệt đội kéo của ngài.’

Vì vậy, người dẫn đoàn lữ hành nói với những người đánh xe của mình: ‘Người đàn ông này nói rằng có nhiều mưa ở sa mạc phía trước. Ông ta khuyên chúng ta nên vứt bỏ cỏ, gỗ và nước. Các cỗ xe sẽ di chuyển nhanh chóng khi tải nhẹ, và sẽ không làm mệt đội kéo của chúng ta. Vì vậy, chúng ta hãy vứt bỏ cỏ, gỗ, và nước và bắt đầu lại đoàn lữ hành với những cỗ xe tải nhẹ.’

‘Vâng, thưa ngài,’ những người đánh xe trả lời, và đó là những gì họ đã làm.

Nhưng ở khu cắm trại đầu tiên của đoàn lữ hành, họ không thấy cỏ, gỗ hoặc nước. Và ở khu cắm trại thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy họ không thấy cỏ, gỗ hoặc nước. Và tất cả đều rơi vào cảnh tàn lụi và tai họa. Và những người và con vật trong đoàn lữ hành đó đều bị con phi nhân đó ăn thịt. Chỉ còn lại xương của họ.

Bây giờ, khi người dẫn đoàn lữ hành thứ hai biết rằng đoàn lữ hành đầu tiên đã đi được một quãng đường dài, ông đã chuẩn bị nhiều cỏ, gỗ và nước và bắt đầu đoàn lữ hành. Sau hai hoặc ba ngày hành trình, ông thấy một người đàn ông da đen với đôi mắt đỏ đi ngược chiều trên một chiếc xe lừa với bánh xe dính bùn. Ông ta trang bị một bao tên và đội vòng hoa sen vàng, quần áo và tóc đều ướt. Thấy ông ta, ông nói: ‘Thưa ngài, ngài từ đâu đến?’

‘Từ quốc gia này và quốc gia nọ.’

‘Và ngài đang đi đâu?’

‘Đến quốc gia tên là như vậy và như vậy.’

‘Nhưng có nhiều mưa ở sa mạc phía trước không?’

‘Thật vậy, thưa ngài. Các con đường được tưới nước, và có nhiều cỏ, gỗ và nước. Hãy vứt bỏ cỏ, gỗ và nước của ngài đi. Các cỗ xe của ngài sẽ di chuyển nhanh chóng khi tải nhẹ, vì vậy đừng làm mệt đội kéo của ngài.’

Vì vậy, người dẫn đoàn lữ hành nói với những người đánh xe của mình: ‘Người đàn ông này nói rằng có nhiều mưa ở sa mạc phía trước. Ông ta khuyên chúng ta nên vứt bỏ cỏ, gỗ và nước. Các cỗ xe sẽ di chuyển nhanh chóng khi tải nhẹ, và sẽ không làm mệt đội kéo của chúng ta. Nhưng người này không phải là bạn bè cũng không phải họ hàng của chúng ta. Làm sao chúng ta có thể tiến hành vì tin tưởng vào ông ta? Chúng ta không nên vứt bỏ bất kỳ cỏ, gỗ hoặc nước nào, mà hãy tiếp tục với hàng hóa của chúng ta được chất như trước. Chúng ta sẽ không vứt bỏ bất kỳ hàng cũ nào.’

‘Vâng, thưa ngài,’ những người đánh xe trả lời, và họ bắt đầu lại đoàn lữ hành với hàng hóa được chất như trước.

Và ở khu cắm trại đầu tiên của đoàn lữ hành, họ không thấy cỏ, gỗ hoặc nước. Và ở khu cắm trại thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy họ không thấy cỏ, gỗ hoặc nước. Và họ thấy đoàn lữ hành kia đã bị tàn lụi. Và họ thấy xương của những người và con vật đã bị con phi nhân đó ăn thịt.

Vì vậy, người dẫn đoàn lữ hành nói với những người đánh xe của mình: ‘Đoàn lữ hành này đã bị tàn lụi, như xảy ra khi được dẫn dắt bởi một người dẫn đoàn lữ hành ngu ngốc. Vậy thì, thưa các vị, hãy vứt bỏ bất kỳ hàng hóa nào của chúng ta có giá trị thấp, và lấy những gì có giá trị từ đoàn lữ hành này.’

‘Vâng, thưa ngài,’ những người đánh xe trả lời, và đó là những gì họ đã làm. Họ đã vượt qua sa mạc một cách an toàn, như xảy ra khi được dẫn dắt bởi một người dẫn đoàn lữ hành thông thái.

Tương tự như vậy, thưa tù trưởng, vì ngu ngốc và kém cỏi, ông sẽ bị tàn lụi khi tìm kiếm thế giới khác một cách không như lý tác ý, giống như người dẫn đoàn lữ hành đầu tiên. Và những người nghĩ rằng ông đáng để lắng nghe và tin tưởng cũng sẽ bị tàn lụi, giống như những người đánh xe. Hãy từ bỏ tà kiến tai hại này, thưa tù trưởng, hãy từ bỏ nó! Đừng tạo ra sự tổn hại và đau khổ lâu dài cho chính mình!"

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn không thể từ bỏ tà kiến tai hại đó. Vua Pasenadi của Kosala biết quan điểm của tôi, và các vị vua nước ngoài cũng vậy. Tôi sẽ tiếp tục với quan điểm này vì tức giận, khinh miệt và thù hằn!”

23. - Vậy này Tôn chủ, tôi sẽ cho Ngài một ví dụ. Ở đời một số người có trí, nhờ ví dụ mà hiểu ý nghĩa lời nói. Này Tôn chủ, thuở xưa, một đoàn lữ hành lớn gồm một ngàn cỗ xe đi từ phương Ðông quốc độ qua phương Tây quốc độ. Ði đến chỗ nào, đoàn lữ hành ấy cũng tiêu thụ rất mau cỏ, củi, nước và cây lá xanh tươi. Ðoàn lữ hành ấy có hai vị lãnh đạo, một vị lãnh đạo năm trăm cỗ xe, một vị lãnh đạo năm trăm cỗ xe. Hai vị lãnh đạo đoàn lữ hành suy nghĩ như sau: “Ðoàn lữ hành lớn này gồm có một ngàn cỗ xe. Chỗ nào chúng ta đi tới thì đoàn tiêu thụ rất mau cỏ, củi, nước và cây lá xanh tươi. Vậy chúng ta hãy chia đoàn lữ hành này thành hai, mỗi đoàn có năm trăm cỗ xe.” Rồi hai vị lãnh đạo ấy chia đoàn lữ hành thành hai, một đoàn có năm trăm cỗ xe, một đoàn có năm trăm cỗ xe. Rồi một vị lãnh đạo thâu lượm rất nhiều cỏ, củi, nước và cho đoàn lữ hành chuyển bánh. Sau khi đi hai, ba ngày, vị lãnh đạo ấy thấy một người da đen, mắt đỏ, mang theo ống tên, đeo vòng hoa súng, áo quần ướt, tóc ướt, đánh một cỗ xe do lừa kéo, bánh xe dính đầy bùn và đi từ phía trước đi lại. Thấy vậy, người lãnh đạo hỏi:

“- Bạn từ phương nào đến?

“- Từ nơi quốc độ kia đến.

“- Bạn sẽ đi đâu?

“- Sẽ đi đến địa phương tên này.

“- Bạn có thấy, trong khu rừng trước mặt, có mưa to gần đây không?

“- Thưa bạn, trong khu rừng trước mặt có mưa to, đường xá đầy sũng những nước, có nhiều cỏ, nhiều củi và nhiều nước. Hãy quăng bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, để cỗ xe được nhẹ và đi cho mau. Chớ có làm cho đoàn xe mệt nhọc.”

Khi ấy người lãnh đạo nói với những người đánh xe:

“- Này các Bạn, người này nói như sau: Trong khu rừng trước mặt có mưa to, đường sá đầy sũng nước, có nhiều cỏ, nhiều củi và nhiều nước. Hãy quăng bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, để cỗ xe được nhẹ và đi cho mau. Chớ có làm cho đoàn xe mệt nhọc.” Vậy các bạn hãy quăng cỏ, củi và nước cũ đi, để đoàn xe đi với những cỗ xe nhẹ hơn.

“- Thưa Bạn, vâng!”

Những người đánh xe vâng theo lời vị lãnh đạo đoàn lữ hành, quăng cỏ, củi và nước cũ đi và dẫn đoàn xe đi với những cỗ xe nhẹ hơn. Nhưng khi đi đến trạm nghỉ thứ nhất, họ không thấy cỏ, củi hay nước, trạm thứ hai cũng vậy… trạm thứ ba cũng vậy… trạm thứ tư cũng vậy… trạm thứ năm cũng vậy… trạm thứ sáu cũng vậy… trạm thứ bảy cũng vậy, họ không thấy cỏ, củi hay nước. Tất cả đều gặp sự bất hạnh và tai nạn. Tất cả người và vật trong lữ đoàn ấy, đều bị Dạ xoa, phi nhân ăn thịt, chỉ còn xương để lại.

Khi người lãnh đạo đoàn thứ hai được biết: “Nay đoàn kia đi đã khá xa”, bèn cho thâu lượm nhiểu cỏ, củi và nước và cho đoàn khởi hành. Sau khi đi hai, ba ngày, vị lãnh đạo ấy thấy một người da đen, mắt đỏ, mang theo ống tên, đeo vòng hoa súng, áo quần ướt, tóc ướt, đánh một cỗ xe do lừa kéo, bánh xa dính đầy bùn và đi từ phía trước đi lại. Thấy vậy người lãnh đạo hỏi:

“- Bạn từ phương nào đến?

“- Từ nơi quốc độ kia đến.

“- Bạn sẽ đi đâu?

“- Sẽ đi đến địa phương tên này.

“- Bạn có thấy trong khu rừng trước mặt, có mưa to gần đây không? “- Thưa Bạn, trong khu rừng trước mặt, có mưa to, đường sá đầy sũng những nước, có nhiều cỏ, nhiều củi và nhiều nước. Hãy quăng bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, để cỗ xe được nhẹ và đi cho mau. Chớ có làm cho đoàn xe mệt nhọc.

Khi ấy người lãnh đạo nói với những người đánh xe:

“- Này các Bạn, người này nói như sau: Trong khu rừng trước mặt có mưa to, đường sá đầy sũng nước, có nhiều cỏ, nhiều củi và nhiều nước. Hãy bỏ cỏ, củi và nước cũ đi, để cổ xe được nhẹ và đi cho mau. Chớ làm cho đoàn xe mệt nhọc.” Nhưng này các Bạn, người ấy không phải là bạn của chúng ta, cũng không phải là bà con ruột thịt, làm sao chúng ta có thể tin người ấy được? Chớ quăng bỏ các thứ cỏ, củi và nước đã dự trữ từ trước. Hãy cho đoàn lữ hành tiến tới với các hàng hóa đã được mang theo, chúng ta không quăng bỏ đi các vật đang dự trữ từ trước.

“- Thưa Bạn, vâng.”

Những người đánh xe ấy, vâng theo lời người lãnh đạo, cho đoàn lữ hành tiến tới với những hàng hóa đã mang theo. Ðến trạm nghĩ thứ nhất những người này không thấy cỏ, củi hay nước, đến trạm thứ hai cũng vậy… trạm thứ ba cũng vậy… trạm thứ tư cũng vậy… trạm thứ năm cũng vậy… trạm thứ sáu cũng vậy… trạm thứ bảy cũng vậy… chúng không thấy cỏ, củi hay nước, nhưng chúng thấy đoàn lữ hành trước bị lâm vào tai nạn. Những người và thú vật trong đoàn lữ hành kia, chúng thấy các bộ xương do con Dạ xoa phi nhân ấy ăn thịt.

Rồi người lãnh đạo nói với các người đánh xe:

“- Này các Bạn, đoàn lữ hành ấy bị lâm nạn vì bị người lãnh đạo ngu si như vậy hướng dẫn. Vậy này các bạn, hãy bỏ đi những vật hạng ít giá trị của đoàn lữ hành này, hãy đem theo những vật hạng đắt giá của đoàn lữ hành kia!

“- Thưa Bạn, vâng!”

Những người đánh xe ấy vâng theo người lãnh đạo quăng bỏ đi những vật hạng ít giá trị của đoàn lữ hành của mình, đem đi theo những vật hạng đắt giá của đoàn lữ hành kia và đi qua bãi sa mạc ấy một cách an toàn, vì được hướng dẫn bởi một vị lãnh đạo sáng suốt. Cũng vậy này Tôn chủ, người ngu si không có trí sẽ gặp nạn vì đã đi tìm kiếm đời sau một cách thiếu suy tư, giống như người lãnh đạo đoàn lữ hành kia. Những ai tự nghĩ có thể tin bất cứ điều gì được nghe sẽ gặp hoạn nạn như những người đánh xe kia. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Này Tôn chủ, bãy từ bỏ ác tà kiến này. Chớ để chúng đưa Ngài vào đau khổ bất hạnh lâu dài!”

24. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, tôi cũng không thể từ bỏ ác tà kiến này. Vua Pasenadi nước Kosala là vua các nước ngoài đã biết tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi có quan điểm, có tri kiến như thế này: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo.” Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ ác kiến ấy người ta sẽ phê bình tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi thật là ngu si, kém thông minh, chấp kiến một cách sai lạc.” Vì tức giận nên tôi phải chấp chặt tà kiến sai lạc.” Vì tức giận nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì tự trọng nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy.

2.12. Ví Dụ Về Người Gánh Phân

"Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ cho ông một ví dụ. Vì qua một ví dụ, một số người có trí tuệ có thể hiểu được ý nghĩa của những gì được nói.

Ngày xửa ngày xưa, một người chăn heo nọ đi từ làng mình đến một làng khác. Ở đó, ông thấy một đống phân khô lớn bị bỏ lại. Ông nghĩ: ‘Đống phân khô này có thể dùng làm thức ăn cho đàn heo của mình. Tại sao mình không mang nó đi?’ Vì vậy, ông trải áo choàng của mình ra, xúc phân khô lên đó, buộc lại thành một bó, đội lên đầu, và đi. Trên đường đi, một cơn bão lớn bất ngờ đổ xuống. Bị dính phân rò rỉ, chảy ròng ròng đến tận móng tay, ông vẫn tiếp tục gánh bó phân.

Khi mọi người thấy ông, họ nói: ‘Ông điên rồi sao, thưa ông? Ông mất trí rồi sao? Làm sao ông có thể, bị dính phân rò rỉ, chảy ròng ròng đến tận móng tay, mà vẫn tiếp tục gánh bó phân đó?’

‘Các người mới là những người điên, thưa các vị! Các người mới là những người mất trí! Vì cái này sẽ dùng làm thức ăn cho đàn heo của tôi.’

Tương tự như vậy, thưa tù trưởng, ông dường như giống như người gánh phân trong ví dụ. Hãy từ bỏ tà kiến tai hại này, thưa tù trưởng, hãy từ bỏ nó! Đừng tạo ra sự tổn hại và đau khổ lâu dài cho chính mình!"

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn không thể từ bỏ tà kiến tai hại đó. Vua Pasenadi của Kosala biết quan điểm của tôi, và các vị vua nước ngoài cũng vậy. Tôi sẽ tiếp tục với quan điểm này vì tức giận, khinh miệt và thù hằn!”

25. - Này Tôn chủ, vậy tôi sẽ kể một ví dụ. Ở đời nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói. Thuở xưa có một người nuôi heo đi từ làng của mình đến một làng khác. Ở tại đấy, ông ta thấy một đống phân khô bị quăng bỏ. Thấy vậy, nó tự nghĩ: “Ðống phân khô khá nhiều bị quăng bỏ đi có thể làm đồ ăn cho các con heo của ta. Vậy ta hãy mang đống phân khô này đi.” Rồi ông ta trải áo choàng của nó mang đống phân khô lại, cột thành một gói đặt trên đầu rồi đi. Ði giữa đường, một cơn mưa lớn trái mùa xẩy ra. Ông mang bọc phân ấy đi, với phân thấm ướt tiết ra và chảy thành giọt, làm ông lem lấm phân cho đến đầu móng tay. Mọi người thấy ông liền nói: “Ông có thật sự điên, thật sự khùng chăng? Làm sao ông lại mang bọc phân ấy đi, với nước phân thấm ướt tiết ra và chảy thành giọt, làm người lem lấm phân cho đến đầu móng tay.” - Chính các Người mới thật sự điên, chính các Người mới thật sự khùng. Chính nhờ như thế này, các con heo của tôi mới có đồ ăn.” Cũng vậy này Tôn chủ, Ngài nói chẳng khác gì ví dụ người mang phân này. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác kiến ấy. Chớ để chúng đưa Ngài vào đau khổ, bất hạnh lâu dài.

26. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, tôi cũng không thể từ bỏ ác tà kiến này. Vua Pasenadi nước Kosala và vua các nước ngoài đã biết tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi có quan điểm, có tri kiến như thế này: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”. Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ ác tà kiến ấy người ta sẽ phê bình tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi thật là ngu si, kém thông minh, chấp kiến một cách sai lạc.” Vì tức giận nên tôi phải chấp chặt tà kíê ấy. Vì lừa gạt nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì tự trọng nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy.

2.13. Ví Dụ Về Những Người Đánh Bạc

"Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ cho ông một ví dụ. Vì qua một ví dụ, một số người có trí tuệ có thể hiểu được ý nghĩa của những gì được nói.

Ngày xửa ngày xưa, hai người đánh bạc đang chơi xúc xắc hạt. Một người đánh bạc, mỗi khi gieo phải nước cờ xấu, lại nuốt hạt thua.

Người đánh bạc thứ hai thấy vậy, và nói: ‘Chà, bạn tôi, bạn đã thắng tất cả! Hãy đưa cho tôi xúc xắc hạt, tôi sẽ gieo chúng.’

‘Được, bạn tôi,’ người đánh bạc trả lời, và đưa cho anh ta.

Sau đó, người đánh bạc ngâm xúc xắc hạt vào thuốc độc và nói với người kia: ‘Đến đây, bạn tôi, chúng ta hãy chơi xúc xắc hạt.’

‘Được, bạn tôi,’ người đánh bạc kia trả lời.

Và lần thứ hai, những người đánh bạc chơi xúc xắc hạt. Và lần thứ hai, mỗi khi gieo phải nước cờ xấu, người đánh bạc đó lại nuốt hạt thua.

Người đánh bạc thứ hai thấy vậy, và nói:

‘Người đàn ông nuốt xúc xắc mà không nhận ra
chúng được tẩm thuốc độc cháy bỏng.
Nuốt đi, đồ gian lận chết tiệt, nuốt đi!
Chẳng bao lâu nữa ngươi sẽ biết quả đắng!’

Tương tự như vậy, thưa tù trưởng, ông dường như giống như người đánh bạc trong ví dụ. Hãy từ bỏ tà kiến tai hại này, thưa tù trưởng, hãy từ bỏ nó! Đừng tạo ra sự tổn hại và đau khổ lâu dài cho chính mình!"

“Mặc dù ngài Kassapa nói vậy, tôi vẫn không thể từ bỏ tà kiến tai hại đó. Vua Pasenadi của Kosala biết quan điểm của tôi, và các vị vua nước ngoài cũng vậy. Tôi sẽ tiếp tục với quan điểm này vì tức giận, khinh miệt và thù hằn!”

27. - Này Tôn chủ, vậy tôi sẽ kê một ví dụ. Ở đời nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói. Thuở xưa, có hai người đánh bạc đổ con xúc xắc. Một con bạc mỗi lần thua liền ngậm con xúc xắc thất bại. Con bạc thứ hai thấy con bạc ấy mỗi lần thua liền ngậm con xúc xắc thất bại. Thấy vậy người này bàn với người kia: “Này Bạn, Bạn đã thắng rõ ràng. Bạn hãy đưa cho tôi các con xúc xắc để đi làm lễ tế.” - “ Thưa Bạn, vâng!”, con bạc ấy liền đưa các con xúc xắc cho con bạc kia. Người này bèn lấy thuốc độc thoa vào các con xúc xắc và nói với người kia: “Này Bạn, hãy chơi đổ các con xúc xắc.” “Thưa Bạn, vâng!”, con bạc ấy vâng theo lời của con bạc kia. Lần thứ hai, hai con bạc ấy đổ con xúc xắc, lần thứ hai, con bạc này mỗi lần thua liền ngậm con xúc xắc thất bại. Con bạc thứ hai thấy con bạc kia, lần thứ hai, mỗi lần thua ngậm con xúc xắc thất bại. Thấy vậy, người ấy nói với con bạc kia:

Con người không được biết.
Con xúc xắc được ngậm,
Ðã được bôi thoa nhiều,
Với thuốc độc đốt cháy.
Hãy ngậm đi, ngậm đi,
Con bạc ác độc kia!
Ngậm xong nhà Ngươi phải
Ðau đớn vô cùng tận.

Cũng vậy này Tôn chủ. Ngài nói chẳng khác gì ví dụ người đánh bạc. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Chớ để chúng đưa Ngài vào đau khổ, bất hạnh lâu dài.

28. - Dầu Tôn giả Kassapa có nói như vậy, tôi cũng không thể từ bỏ ác tà kiến này. Vua Pasenadi nước Kosala và vua các nước ngoài đã biết tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi có quan điểm, có tri kiến như thế này: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo!” Tôn giả Kassapa, nếu tôi từ bỏ ác tà kiến ấy, người ta sẽ phê bình tôi như sau: “Tôn chủ Pàyàsi thật ngu si, kém thông minh, chấp kiến một cách sai lạc”. Vì tức giận nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì lường gạt nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy. Vì tự trọng nên tôi phải chấp chặt tà kiến ấy!

2.14. Ví Dụ Về Người Mang Cây Gai Dầu

"Vậy thì, thưa tù trưởng, tôi sẽ cho ông một ví dụ. Vì qua một ví dụ, một số người có trí tuệ có thể hiểu được ý nghĩa của những gì được nói.

Ngày xửa ngày xưa, cư dân của một quốc gia nọ di cư. Sau đó, một người bạn nói với người bạn khác: ‘Đến đây, bạn tôi, chúng ta hãy đến quốc gia đó. Hy vọng chúng ta sẽ kiếm được một ít của cải ở đó!’

‘Được, bạn tôi,’ người kia trả lời.

Họ đến quốc gia đó, và đến một ngôi làng hoang vắng nọ. Ở đó họ thấy một đống cây gai dầu bị bỏ lại. Thấy nó, một người bạn nói với người kia: ‘Đây là một đống cây gai dầu bị bỏ lại. Vậy thì, bạn tôi, bạn hãy làm một bó gai dầu, và tôi cũng sẽ làm một bó. Chúng ta hãy cùng nhau lấy một bó gai dầu và đi tiếp.’

‘Được, bạn tôi,’ anh ta nói. Mang theo những bó gai dầu của mình, họ đi đến một ngôi làng hoang vắng khác.

Ở đó họ thấy nhiều sợi gai dầu bị bỏ lại. Thấy nó, một người bạn nói với người kia: ‘Đống sợi gai dầu bị bỏ lại này chính là thứ chúng ta muốn từ cây gai dầu! Vậy thì, bạn tôi, chúng ta hãy bỏ những bó gai dầu của mình, và cả hai cùng lấy một bó sợi gai dầu và đi tiếp.’

‘Tôi đã mang bó gai dầu này một quãng đường dài, và nó được buộc rất kỹ. Nó đủ tốt cho tôi, bạn hiểu chứ.’ Vì vậy, một người bạn đã bỏ bó gai dầu của mình và nhặt một bó sợi gai dầu.

Họ đến một ngôi làng hoang vắng khác. Ở đó họ thấy nhiều vải gai dầu bị bỏ lại. Thấy nó, một người bạn nói với người kia: ‘Đống vải gai dầu bị bỏ lại này chính là thứ chúng ta muốn từ cây gai dầu và sợi gai dầu! Vậy thì, bạn tôi, chúng ta hãy bỏ những bó của mình, và cả hai cùng lấy một bó vải gai dầu và đi tiếp.’

‘Tôi đã mang bó gai dầu này một quãng đường dài, và nó được buộc rất kỹ. Nó đủ tốt cho tôi, bạn hiểu chứ.’ Vì vậy, một người bạn đã bỏ bó sợi gai dầu của mình và nhặt một bó vải gai dầu.

Họ đến một ngôi làng hoang vắng khác. Ở đó họ thấy một đống cây lanh, và lần lượt là sợi lanh, vải lanh, lụa, sợi lụa, vải lụa, sắt, đồng, thiếc, chì, bạc và vàng bị bỏ lại. Thấy nó, một người bạn nói với người kia: ‘Đống vàng này chính là thứ chúng ta muốn từ tất cả những thứ khác đó! Vậy thì, bạn tôi, chúng ta hãy bỏ những bó của mình, và cả hai cùng lấy một bó vàng và đi tiếp.’

‘Tôi đã mang bó gai dầu này một quãng đường dài, và nó được buộc rất kỹ. Nó đủ tốt cho tôi, bạn hiểu chứ.’ Vì vậy, một người bạn đã bỏ bó bạc của mình và nhặt một bó vàng.

Sau đó, họ trở về làng của mình. Khi một người bạn trở về với một bó cây gai dầu, họ không làm hài lòng cha mẹ, vợ con, hay bạn bè và đồng nghiệp của mình. Và họ không có được niềm vui và hạnh phúc từ đó. Nhưng khi người bạn kia trở về với một bó vàng, họ làm hài lòng cha mẹ, vợ con, và bạn bè và đồng nghiệp của mình. Và họ có được nhiều niềm vui và hạnh phúc từ đó.

Tương tự như vậy, thưa tù trưởng, ông dường như giống như người mang cây gai dầu trong ví dụ. Hãy từ bỏ tà kiến tai hại này, thưa tù trưởng, hãy từ bỏ nó! Đừng tạo ra sự tổn hại và đau khổ lâu dài cho chính mình!"

29. - Này Tôn chủ, vậy tôi sẽ kể một ví dụ. Ở đời nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói. Thuở xưa, một quốc gia dời đi chỗ khác. Một người nói với các bạn thuộc hạ của mình: “Này các Bạn, chúng ta hãy đi đến quốc gia kia, rất có thể chúng ta tìm được tiền bạc của cải.” Thưa Bạn, vâng!”, các thuộc hạ vâng lời người bạn kia. Họ đi đến quốc gia kia, và đến một đường làng. Họ thấy một đống gai, quăng bỏ. Thấy vậy, một người bạn nói với các người kia: “Ðây là một đống gai quăng bỏ. Bạn hãy nhóm lại thành một bó. Tôi cũng nhóm lại thành một bó gai. Chúng ta hãy đem bó gai ấy đi.” - “Thưa Bạn, vâng!”, người bạn này vâng theo người bạn kia và cột bó gai lại. Họ mang hai bó gai, và đi đến một làng khác. Họ thấy một đống dây gai quăng bỏ. Thấy vậy một người bạn nói với người kia: “Ðống dây gai quăng bỏ này thật đúng với điều chúng ta muốn làm với bó dây gai ấy. Vậy ban hãy nhóm lại thành một bó dây gai. Tôi cũng nhóm lại thành một bó dây gai. Chúng ta hãy đem hai bó dây gai ấy đi.” - “Này Bạn, tôi đem đống dây gai này từ xa lại, và đống day gai được bó buộc kỹ lưỡng. Ðối với tôi, như vậy là vừa đủ, bạn hãy tự biết (mà làm).” Và người bạn trước quăng bó dây gai và lấy đống dây gai.

Rồi họ đến một con đường khác. Ở đấy họ thấy nhiều vải gai được quăng bỏ. Thấy vậy, một người bạn nói với người kia: “Nhiều vải gai được quăng bỏ này thật đúng với điều chúng ta muốn làm với cây gai hoặc với dây gai. Vậy Bạn hãy quăng bỏ bao cây gai, và tôi sẽ quăng bỏ bao dây gai. Hai chúng ta sẽ mang bao vải gai này mà đi.” - “Này Bạn, tôi đem đóng dây gai này từ xa lại và đống gai được buộc bó kỹ lưỡng. Ðối với tôi, như vậy là vừa đủ. Bạn hãy tự biết (mà làm).” Và người bạn trước quăng bỏ dây gai và lấy bó gải gai.

Rồi họ đến một con đường khác. Ở đây họ thấy nhiều sồ ma được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều dây sồ ma được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều vải sồ ma được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều cây bông được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều vải bông được quăng bỏ… Sau khi thấy… nhiều sắt được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều đồng được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều thiếc được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều chì được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều bạc được quăng bỏ. Sau khi thấy… nhiều vàng được quăng bỏ. Thấy vậy một người bạn nói với người bạn kia: “Nhiều vàng được quăng bỏ này thật đúng với điều chúng ta muốn làm với cây gai hay với dây gai, hay với vải sồ ma, hay với cây bông, hay với vải bông, hay với sắt, hay với đồng, hay với thiếc, hay với chì, hay với bạc. Vậy bạn hãy quăng bỏ bao cây gai, và tôi sẽ quăng bỏ bao bạc. Hai chúng ta sẽ mang bao vàng mà đi.” - “Này ban, tôi đem bao cây gai này từ xa lại, và đống gai được bó buộc ký lưỡng. Ðối với tôi, như vậy là vừa đủ. Bạn hãy tự biết (mà làm).” Và người bạn trước quăng bao bạc và lấy bao vàng.

Cả hai về đến làng của mình. Người bạn đem bao cây gai về, cha mẹ người ấy không được vui vẻ, vợ con người ấy không được vui, bạn bè người ấy không được vui vẻ, và do vậy anh ta không được hạnh phúc, hoan hỷ. Còn người bạn đem bao vàng về, cha mẹ người ấy được vui vẻ, vợ con người ấy được vui vẻ, bạn bè người ấy được vui vẻ và do vậy người ấy được hạnh phúc hoan hỷ.

Cũng vậy Tôn chủ, Ngài nói không khác gì ví dụ người mang bao cây gai. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Này Tôn chủ, hãy từ bỏ ác tà kiến ấy. Chớ để chúng đưa Ngài vào đau khổ, bất hạnh lâu dài.

3. Quy Y

"Tôi đã rất vui mừng và hài lòng với ví dụ đầu tiên của ngài, thưa ngài Kassapa! Tuy nhiên, tôi muốn nghe các giải pháp khác nhau của ngài cho vấn đề này, vì vậy tôi đã nghĩ rằng mình sẽ phản đối ngài theo cách này. Tuyệt vời, thưa ngài Kassapa! Tuyệt vời! Như thể ngài đang dựng lại những gì bị lật đổ, hoặc tiết lộ những gì bị che giấu, hoặc chỉ đường cho người lạc lối, hoặc thắp một ngọn đèn trong bóng tối để những người có mắt sáng có thể thấy những gì ở đó, ngài Kassapa đã làm sáng tỏ giáo pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn Tỷ kheo. Từ hôm nay trở đi, xin ngài Kassapa hãy ghi nhớ con là một cư sĩ tại gia đã quy y trọn đời.

Thưa ngài Kassapa, con muốn thực hiện một cuộc tế lễ lớn. Xin hãy chỉ dạy cho con để nó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho con."

30. - Với ví dụ đầu tiên của Tôn giả Kassapa tôi đã hoan hỷ, thỏa mãn, nhưng tôi muốn nghe những câu hỏi đáp thông minh ấy vì tôi xem Tôn giả Kassapa như người đáng được đối lập. Thật kỳ diệu thay, Tôn giả Kassapa! Thật hy hữu thay, Tôn giả Kassapa! Tôn giả Kassapa, như một người giơ ra vật gì bị che kín, hay như người hướng dẫn cho kẻ bị lạc đường, hay như người đem đèn vào trong bóng tối cho người có mắt được thấy sắc, cũng vậy Chánh pháp được Tôn giả Kassapa dùng nhiều phương tiện trình bày. Tôn giả Kassapa, nay con quy y Thế Tôn Gotama, quy ý Pháp, quy y chúng Tỷ kheo Tăng, Tôn giả Kassapa, hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến trọn đời xin nhận Ngài làm chỗ y chỉ. Tôn giả Kassapa, con muốn tổ chức một đại lễ tế đàn. Tôn giả Kassapa hãy giảng dạy cho con để con được hưởng hạnh phúc an lạc lâu dài.

4. Về Tế Lễ

"Thưa tù trưởng, hãy xem loại tế lễ mà trong đó bò, dê và cừu, gà và lợn, và các loại sinh vật khác bị giết thịt. Và những người nhận lễ vật có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm và tà định. Loại tế lễ đó không có nhiều quả báo hay lợi ích, không rực rỡ hay phong phú.

Giả sử một người nông dân vào rừng mang theo hạt giống và cày. Và trên cánh đồng cằn cỗi đó, trên mảnh đất cằn cỗi đó, với những gốc cây chưa được dọn sạch, ông ta gieo những hạt giống bị vỡ, hỏng, bị thời tiết làm hỏng, không thể nảy mầm và được giữ gìn kém. Và trời không cung cấp đủ mưa khi cần. Liệu những hạt giống đó có lớn lên, tăng trưởng và trưởng thành, và người nông dân có thu được nhiều quả không?"

“Không, thưa ngài Kassapa.”

"Tương tự như vậy, thưa tù trưởng, hãy xem loại tế lễ mà trong đó bò, dê và cừu, gà và lợn, và các loại sinh vật khác bị giết thịt. Và những người nhận lễ vật có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm và tà định. Loại tế lễ đó không có nhiều quả báo hay lợi ích, không rực rỡ hay phong phú.

Nhưng hãy xem loại tế lễ mà trong đó bò, dê và cừu, gà và lợn, và các loại sinh vật khác không bị giết thịt. Và những người nhận lễ vật có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Loại tế lễ đó rất có quả báo và lợi ích, rực rỡ và phong phú.

Giả sử một người nông dân vào rừng mang theo hạt giống và cày. Và trên cánh đồng màu mỡ đó, trên mảnh đất màu mỡ đó, với những gốc cây được dọn sạch sẽ, ông ta gieo những hạt giống còn nguyên vẹn, không bị hỏng, không bị thời tiết làm hỏng, có thể nảy mầm và được giữ gìn tốt. Và trời cung cấp nhiều mưa khi cần. Liệu những hạt giống đó có lớn lên, tăng trưởng và trưởng thành, và người nông dân có thu được nhiều quả không?"

“Có, thưa ngài Kassapa.”

“Tương tự như vậy, thưa tù trưởng, hãy xem loại tế lễ mà trong đó bò, dê và cừu, gà và lợn, và các loại sinh vật khác không bị giết thịt. Và những người nhận lễ vật có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Loại tế lễ đó rất có quả báo và lợi ích, rực rỡ và phong phú.”

31. - Này Tôn chủ, tại tế đàn có trâu bò bị giết, hay các loại sinh vật khác bị giết, và những ai tham dự tế đàn ấy là những vị có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, này Tôn chủ, tế đàn ấy không đem lại quả báo lớn, lợi ích lớn, danh tiếng lớn, không được quảng bá rộng lớn. Này Tôn chủ, cũng như người làm ruộng đi vào rừng đem theo hột giống và cày. Và trên một khoảng đất không cày bừa, không có màu mỡ, giữa những gốc cây chưa được đào lên, người ấy gieo những hột giống xuống, những hột giống ấy bị hư sứt, bị thúi mục, bị gió và sức nóng phá hại, trái mùa, không có điều kiện thuận tiện, và thần mưa không cho mưa đúng thời. Vậy các hột giống ấy có thể lớn lên, trưởng thành lên và sum sê hoa lá lên hoặc người làm ruộng ấy gặt hái được nhiều kết quả không?

− Tôn giả Kassapa, không thể được.

− Cũng vậy, này Tôn giả, tại tế đàn nào có trâu bò bị giết hay các loại dê bị giết, hay gà và heo bị giết, hay các loại sinh vật khác bị giết, và những ai tham dự tế đàn ấy là những vị có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Này Tôn chủ, tế đàn ấy không đem lại quả báo lớn, lợi ích lớn, danh tiếng lớn, không được quảng bá rộng lớn. Này Tôn chủ, tại tế đàn nào không có trâu bò bị giết, không có các loại dê bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loại sanh vật khác bị giết, và những ai tham dự tế đàn ấy là những vị có Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định; này Tôn chủ, tế đàn ấy đem lại quả báo lớn, lợi ích lớn, danh tiếng lớn, được quảng bá rộng lớn. Này Tôn chủ, cũng như một người làm ruộng đi vào rừng đem theo hột giống và cày. Và trên một khoảng đất có cày bừa, có màu mỡ, giữa những gốc cây đã được đào lên, người ấy gieo những hột giống xuống, những hột giống ấy không bị hư sứt, không bị thúi mục, không bị gió và sức nóng phá hại, thuận mùa, có điều kiện thuận lợi và thần mưa cho mưa đúng thời. Vậy các hột giống ấy có thể lớn lên, trưởng thành lên, sum sê hoa lá, hoặc người làm ruộng ấy gặt hái được nhiều kết quả không?

− Tôn giả Kassapa, thật được như vậy.

− Cũng vậy, này Tôn chủ, tại tế đàn nào mà không có trâu bò bị giết, không có các loại dê bị giết, không có gà heo bị giết, không có các loại sanh vật khác bị giết, và những ai tham dự tế đàn ấy là những vị có Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định; này Tôn chủ, tế đàn ấy đem lại quả báo lớn, lợi ích lớn, danh tiếng lớn, được quảng bá rộng lớn.

5. Về Đệ Tử Uttara

Sau đó, tù trưởng Pāyāsi đã thiết lập một buổi cúng dường cho các Sa-môn và Bà-la-môn, cho người nghèo, người lang thang, người cầu xin và người ăn xin. Tại buổi cúng dường đó, những thức ăn như cháo loãng với dưa muối được dâng cúng, và những bộ quần áo thô có tua rua. Bây giờ, một đệ tử tên là Uttara là người tổ chức buổi cúng dường đó.

Khi buổi cúng dường kết thúc, anh ta đã nói về nó như thế này: “Qua buổi cúng dường này, mong rằng tôi sẽ được ở cùng với tù trưởng Pāyāsi trong thế giới này, nhưng không phải ở thế giới tiếp theo.”

Pāyāsi nghe được điều này, nên ông triệu tập Uttara và nói: “Có thật không, Uttara thân mến, rằng con đã nói về buổi cúng dường theo cách đó?”

“Vâng, thưa ngài.”

“Nhưng tại sao? Chẳng phải chúng ta, những người tìm kiếm công đức, mong đợi một kết quả nào đó từ buổi cúng dường sao?”

“Tại buổi cúng dường của ngài, những thức ăn như cháo loãng với dưa muối được dâng cúng, mà ngài thậm chí không muốn chạm chân vào, huống chi là ăn. Và cả những bộ quần áo thô có tua rua, mà ngài cũng không muốn chạm chân vào, huống chi là mặc. Thưa ngài, ngài là người thân yêu và quý mến đối với con. Nhưng làm sao con có thể dung hòa một người thân yêu như vậy với một thứ khó chịu như vậy?”

“Vậy thì, Uttara thân mến, hãy thiết lập một buổi cúng dường với cùng loại thức ăn mà ta ăn, và cùng loại quần áo mà ta mặc.”

“Vâng, thưa ngài,” Uttara trả lời, và đã làm như vậy.

Vì vậy, tù trưởng Pāyāsi đã cúng dường một cách cẩu thả, không suy xét, không tự tay mình làm, và cho đi những thứ thừa thãi. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, ông được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, trong một cung điện trống bằng gỗ sirisa. Nhưng đệ tử Uttara, người tổ chức buổi cúng dường, đã cúng dường một cách cẩn thận, suy xét, tự tay mình làm, không cho đi những thứ thừa thãi. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba.

32. Rồi Tôn chủ Pàyàsi tổ chức bố thí cho các vị Sa môn, Bà -la-môn, cho những người nghèo, những người vô gia cư, những người ăn mày. Trong cuộc bố thí này, các món ăn như thế này được đem cho như cháo, đồ ăn phế thải, vải thô với những viền bằng hình tròn. Trong cuộc bố thí này, có vị thanh niên tên Uttàra bị bỏ qua. Sau khi cuộc bố thí đã xong, vị nầy nói ngạo như sau: “Với cuộc bố thí này, ta được gặp Tôn chủ Pàyàsi trong đời này, nhưng không gặp trong đời sau.” Tôn chủ Pàyàssi nghe thanh niên Uttàra sau khi cuộc bố thí đã xong, có nói ngạo: “Với cuộc bố thí này, ta được gặp Tôn chủ Pàyàsi trong đời này, nhưng không gặp trong đời sau,” liền cho mời thanh niên Uttàra và nói:

− Này Thân hữu Uttàra, có thật chăng, sau khi cuộc bố thí đã xong, Ngươi có nói ngạo: “Với cuộc bố thí này, ta gặp được Tôn chủ Pàyàsi trong đời này, nhưng không gặp trong đời sau”?

− Thật có vậy, này Tôn chủ!

− Này Thân hữu Uttàra, tại sao, sau cuộc bố thí Ngươi lại nói ngạo như vậy: “Với cuộc bố thí này, ta được gặp Tôn chủ Pàyàsi trong đời này, nhừng không gặp trong đời sau.”? Này Thân hữu Uttàra, có phải chúng ta đi tìm công đức đều trông mong kết quả của cuộc bố thí?

− Này Tôn chủ, trong cuộc bố thí của Ngài, các món ăn như thế này được đem cho như cháo, đồ ăn phế thải, các món ăn này được Ngài không muốn lấy bàn chân của Ngài đụng đến, huống nữa là ăn; vải thô với những nền bằng hình tròn, các thứ vải này Ngài không muốn lấy bàn chân của Ngài đụng đến, huống nữa là mặc. Tôn chủ, Ngài là người thân và kính mến của chúng tôi. Như thế nào, chúng tôi có thể phối hợp cái gì thân yêu và kính mến với cái gì không thân yêu?

− Vậy này Thân hữu Uttàra, hãy phân phát các món ăn giống như các món tôi ăn, hãy phân phát các vải mặc, giống như các thứ vải mà tôi mặc. − Xin vâng, Tôn chủ!

Thanh niên Uttàra vâng theo lời Tôn chủ Pàyàsi, đem phân phát những món ăn giống như các món tôn chủ Pàyàsi ăn, đem phân phát các thứ vải, giống như các thứ vải tôn chủ Pàyàsi mặc.

Tôn chủ Pàyàsi vì đã bố thí không được cho hoàn vị, vì đã bố thí không tự tay mình làm, vì đã bố thí không có suy tư, vì đã bố thí các đồ vật phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh nhập chúng với Bốn Ðại Thiên vương, trong cung điện trống không của Serisaka. Còn thanh niên Uttàra bị bỏ qua trong cuộc bố thí này, vì đã bố thí một cách hoàn bị, vì đã bố thí tự tay mình làm, vì đã bố thí có suy tư, vì đã bố thí các đồ không phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên.

6. Thiên Nhân Pāyāsi

Lúc bấy giờ, Tôn giả Gavampati thường đến cung điện sirisa trống đó để thiền định ban ngày. Sau đó, thiên nhân Pāyāsi đến gặp ngài, cúi đầu, và đứng sang một bên. Gavampati nói với ông: “Ngài là ai, thưa tôn giả?”

“Thưa ngài, tôi là tù trưởng Pāyāsi.”

“Chẳng phải ông đã có quan điểm rằng không có đời sau, không có chúng sinh nào được tái sinh một cách tự nhiên, và không có quả báo của các việc làm thiện và ác sao?”

“Đúng vậy, thưa ngài, tôi đã có quan điểm như vậy. Nhưng Tôn giả Kassapa Kumāra đã thuyết phục tôi từ bỏ tà kiến tai hại đó.”

“Nhưng đệ tử tên là Uttara, người đã tổ chức buổi cúng dường đó cho ông—anh ta đã được tái sinh ở đâu?”

"Thưa ngài, Uttara đã cúng dường một cách cẩn thận, suy xét, tự tay mình làm, không cho đi những thứ thừa thãi. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba. Nhưng tôi đã cúng dường một cách cẩu thả, không suy xét, không tự tay mình làm, cho đi những thứ thừa thãi. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, tôi được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, trong một cung điện sirisa trống.

Vì vậy, thưa ngài, khi ngài trở về cõi người, xin hãy thông báo điều này: ‘Hãy cúng dường một cách cẩn thận, suy xét, tự tay mình làm, không cho đi những thứ thừa thãi. Tù trưởng Pāyāsi đã cúng dường một cách cẩu thả, không suy xét, không tự tay mình làm, cho đi những thứ thừa thãi. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, ông được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương, trong một cung điện sirisa trống. Nhưng đệ tử Uttara, người tổ chức buổi cúng dường, đã cúng dường một cách cẩn thận, suy xét, tự tay mình làm, không cho đi những thứ thừa thãi. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, anh ta được tái sinh cùng với chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba.’"

Vì vậy, khi Tôn giả Gavampati trở về cõi người, ngài đã thông báo điều đó.

33. Lúc bấy giờ tôn giả Gavampati (Ngưu Chủ) thường hay đi nghỉ trưa trong cung điện trống không của Serisaka. Nay Thiên tử Pàyàssi đi đón tôn giả Gavampati, đảnh lễ ngài, và đứng một bên. Tôn giả Gavampati nói với Thiên tử Pàyàsi đang đứng một bên:

− Bạch Tôn giả, con là tôn chủ Pàyàsi.

− Này Hiền giả, có phải Ngươi có tà kiến như sau: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiện ác không có quả báo”?

− Bạch Tôn giả, con có tà kiến như vậy: “Không có đời sau, không có các loại hóa sanh, hành vi thiên ác không có quả báo”, nhưng nhờ tôn giả Kumàra Kassapa, con tự thoát ly ra khỏi ác tà kiến ấy.

− Này Hiền giả, còn thanh niên Uttàra bị bỏ qua trong cuộc bố thí này, được thác sanh ở đâu?

− Bạch Tôn giả, thanh niên Uttàra bị bỏ qua trong cuộc bố thì này, vì đã bố thí một cách hoàn bị, vì đã bố thí tự tay mình làm, vì đã bố thí có suy tư, vì đã bố thí các đồ không phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Còn con, vì đã bố thí không tự tay mình làm, vì đã bố thí không có suy tư, vì đã bố thí các đồ phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh nhập chúng với Bốn Ðại Thiên vương, trong cung điện trống không của Serasaka. Do vậy, bạch Tôn giả Gavampati, hãy đi đến thế giới loài Người và nói như sau: “Hãy bố thí một cách hoàn bị, hãy bố thí với tự tay mình làm, hãy bố thí một cách có suy tư, hãy bố thí với đồ không phế thải. Tôn chủ Pàyàsi, vì bố thí không hoàn bị, vì bố thí không tự tay mình làm, vì bố thí không có suy tư, vì bố thí các đồ phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh nhập chúng với Bốn Ðại Thiên vương trong cung điện trống không của Serisaka. Còn thanh niên Uttàra, bị bỏ qua trong cuộc bố thí này, vĩ đã bố thí một cách hoàn bị, vì đã bố thí tự tay mình làm, vì bố thí một cách có suy tư, vì bố thí các đồ không phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên”.

34. Rồi Tôn giả Gavampati đi vào trong thế giới loài Người và nói như sau: “Hãy bố thí một cách hoàn bị. Hãy bố thí với tự tay mình làm. Hãy bố thí một cách có suy tư. Hãy bố thí các đồ không phế thải. Tôn chủ Pàyàsi, vì bố thí không hoàn bị, vì bố thí không tự tay mình làm, vì bố thí không có suy tư, vì bố thí đồ phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh nhập chúng với Bốn Ðại Thiên vương, trong cung điện trống không của Serisaka. Còn thanh niên Uttàra, bị bỏ qua trong một cuộc bố thí này, vì đã bố thí một cách có hoàn bị, vì đã bố thí với tự tay mình làm, vì đã bố thí một cách suy tư, vì đã bố thí với các đồ không phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên”.

-ooOoo-