Skip to content

DN 16. KINH DÀI VỀ BÁT-NIẾT-BÀN

(Mahāparinibbānasutta)

parinibbāna (tắt hẳn hoàn toàn) phiên âm là bát-niết-bàn

Tôi đã nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto muốn tiến đánh dân Vajjī. Vua nói như sau: "Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī này, dù họ có uy quyền như vậy, có thế lực như vậy; ta sẽ tàn phá dân Vajjī, ta sẽ mang đến tai họa và sự diệt vong cho dân Vajjī."

Rồi vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto gọi vị đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra đến: "Này bà-la-môn, hãy đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta, hãy cúi đầu đảnh lễ chân Đức Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và trú ẩn thoải mái không: 'Bạch Thế Tôn, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto cúi đầu đảnh lễ chân Đức Thế Tôn, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và trú ẩn thoải mái không'. Và hãy nói như sau: 'Bạch Thế Tôn, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto muốn tiến đánh dân Vajjī. Vua nói như sau: "Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī này, dù họ có uy quyền như vậy, có thế lực như vậy; ta sẽ tàn phá dân Vajjī, ta sẽ mang đến tai họa và sự diệt vong cho dân Vajjī"'. Đức Thế Tôn trả lời cho ông như thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và báo lại cho ta. Vì những Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgata) không bao giờ nói lời sai thật."

1. Bà-la-môn Vassakāra (Vassakārabrāhmaṇa)

"Vâng, thưa ngài", đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra vâng lời vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto, cho thắng những cỗ xe tốt đẹp nhất, bước lên một cỗ xe tốt đẹp nhất, và cùng với những cỗ xe tốt đẹp nhất rời khỏi Rājagaha, đi về phía núi Gijjhakūṭa. Đi xe cho đến nơi đất còn đi xe được, ông xuống xe và đi bộ đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, ông trao đổi những lời chào hỏi thân hữu với Đức Thế Tôn.

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra nói với Đức Thế Tôn: "Thưa Tôn giả Gotama, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, và hỏi thăm Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, và trú ẩn thoải mái không. Thưa Tôn giả Gotama, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto muốn tiến đánh dân Vajjī. Vua nói như sau: 'Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjī này, dù họ có uy quyền như vậy, có thế lực như vậy; ta sẽ tàn phá dân Vajjī, ta sẽ mang đến tai họa và sự diệt vong cho dân Vajjī'."

2. Những Điều Không Dẫn Đến Suy Giảm Của Quốc Gia (Rājaaparihāniyadhamma)

Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đang đứng phía sau Đức Thế Tôn để quạt cho Ngài. Rồi Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, ông có nghe rằng 'dân Vajjī thường xuyên tụ họp, và tụ họp đông đảo' không?"

"Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: 'dân Vajjī thường xuyên tụ họp, và tụ họp đông đảo'."

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn thường xuyên tụ họp và tụ họp đông đảo, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng 'dân Vajjī tụ họp trong sự đoàn kết, giải tán trong sự đoàn kết, và làm những việc của dân Vajjī trong sự đoàn kết' không?"

"Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này: 'dân Vajjī tụ họp trong sự đoàn kết, giải tán trong sự đoàn kết, và làm những việc của dân Vajjī trong sự đoàn kết'."

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tụ họp trong sự đoàn kết, giải tán trong sự đoàn kết, và làm những việc của dân Vajjī trong sự đoàn kết, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng 'dân Vajjī không tuyên bố (chế định / paññapenti) thêm những gì chưa được tuyên bố, không hủy bỏ những gì đã được tuyên bố, và sống tuân theo những Điều dạy (pháp / dhamma) của dân Vajjī thời xưa đã được tuyên bố' không?"

"Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này..."

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī không tuyên bố những gì chưa được tuyên bố, không hủy bỏ những gì đã được tuyên bố, và sống tuân theo những Điều dạy của dân Vajjī thời xưa đã được tuyên bố, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng 'dân Vajjī tôn trọng, kính trọng, tôn vinh, cúng dường những người lớn tuổi của dân Vajjī, và nghĩ rằng lời của họ đáng được lắng nghe' không?"

"Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này..."

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tôn trọng, kính trọng, tôn vinh, cúng dường những người lớn tuổi của dân Vajjī, và nghĩ rằng lời của họ đáng được lắng nghe, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng 'dân Vajjī không bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ của các gia đình' không?"

"Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này..."

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī không bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ của các gia đình, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng 'dân Vajjī tôn trọng, kính trọng, tôn vinh, cúng dường các đền thờ của dân Vajjī ở bên trong và bên ngoài, và không để cho các lễ vật đúng Điều dạy đã được dâng cúng từ trước bị suy giảm' không?"

"Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này..."

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn tôn trọng, kính trọng, tôn vinh, cúng dường các đền thờ của dân Vajjī ở bên trong và bên ngoài, và không để cho các lễ vật đúng Điều dạy đã được dâng cúng từ trước bị suy giảm, thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này Ānanda, ông có nghe rằng 'dân Vajjī cung cấp sự bảo vệ, che chở và canh gác đúng Điều dạy cho các bậc A-la-hán (A-la-hán / arahant), với mong muốn rằng các bậc A-la-hán chưa đến sẽ đến vương quốc, và các bậc A-la-hán đã đến sẽ sống thoải mái trong vương quốc' không?"

"Bạch Thế Tôn, con có nghe điều này..."

"Này Ānanda, chừng nào dân Vajjī còn cung cấp sự bảo vệ, che chở và canh gác đúng Điều dạy cho các bậc A-la-hán, với mong muốn rằng các bậc A-la-hán chưa đến sẽ đến vương quốc, và các bậc A-la-hán đã đến sẽ sống thoải mái trong vương quốc. Thì này Ānanda, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm."

Rồi Đức Thế Tôn gọi đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra: "Này bà-la-môn, một thời ta trú ở Vesālī, tại đền Sārandada. Tại đó, ta đã dạy cho dân Vajjī bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này. Này bà-la-môn, chừng nào bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này còn tồn tại trong dân Vajjī, và dân Vajjī còn được thấy thực hành bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này, thì này bà-la-môn, dân Vajjī chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm."

Được nói như vậy, đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra nói với Đức Thế Tôn: "Thưa Tôn giả Gotama, dù dân Vajjī chỉ có một Điều dạy không dẫn đến suy giảm, họ cũng chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm. Huống hồ là có đủ bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm. Thưa Tôn giả Gotama, vua nước Magadha là Ajātasattu Vedehiputto không thể đánh bại dân Vajjī bằng chiến tranh, ngoại trừ bằng ngoại giao hoặc bằng cách chia rẽ nội bộ. Thưa Tôn giả Gotama, bây giờ chúng tôi xin phép ra về, chúng tôi có nhiều việc, nhiều bổn phận phải làm."

"Này bà-la-môn, hãy làm những gì ông cho là đúng lúc." Rồi đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời dạy của Đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và rời đi.

3. Những Điều Không Dẫn Đến Suy Giảm Của Tỳ Kheo (Bhikkhuaparihāniyadhamma)

Rồi Đức Thế Tôn, không lâu sau khi đại thần nước Magadha là bà-la-môn Vassakāra rời đi, đã gọi Tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, hãy đi và tập hợp tất cả các tỳ kheo đang sống quanh Rājagaha lại tại giảng đường."

"Vâng, bạch Thế Tôn", Tôn giả Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn, tập hợp tất cả các tỳ kheo đang sống quanh Rājagaha lại tại giảng đường, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn và đứng một bên. Đứng một bên, Tôn giả Ānanda nói với Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Tăng chúng tỳ kheo đã tập hợp, bây giờ xin Đức Thế Tôn làm những gì Ngài cho là đúng lúc."

Rồi Đức Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn. Ngồi xuống, Đức Thế Tôn gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm, hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ (tác ý / manasikāra) kỹ, ta sẽ nói."

"Vâng, bạch Thế Tôn", các tỳ kheo vâng lời Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói như sau:

"Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn thường xuyên tụ họp và tụ họp đông đảo, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn tụ họp trong sự đoàn kết, giải tán trong sự đoàn kết, và làm những việc của Tăng chúng trong sự đoàn kết, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo không tuyên bố những gì chưa được tuyên bố, không hủy bỏ những gì đã được tuyên bố, và rèn luyện theo các điều học đã được tuyên bố, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn tôn trọng, kính trọng, tôn vinh, cúng dường các tỳ kheo trưởng lão, những người có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu, là những người cha của Tăng chúng, những người lãnh đạo Tăng chúng, và nghĩ rằng lời của họ đáng được lắng nghe, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo không rơi vào quyền lực của sự thèm khát (tham ái / taṇhā) đã sinh khởi, thứ đưa đến tái sinh (hữu lậu / ponobbhavika), thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn có mong muốn sống ở các chỗ trú ẩn trong rừng, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo tự mình thiết lập sự tự quan sát (chánh niệm / sati): 'Mong rằng các đồng tu tốt đẹp chưa đến sẽ đến, và các đồng tu tốt đẹp đã đến sẽ sống thoải mái', thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này còn tồn tại trong các tỳ kheo, và các tỳ kheo còn được thấy thực hành bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm khác, hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ kỹ, ta sẽ nói." "Vâng, bạch Thế Tôn", các tỳ kheo vâng lời Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói như sau:

"Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo không thích thú trong công việc, không vui thích trong công việc, không đắm chìm trong sự thích thú công việc... không thích thú trong trò chuyện... không thích thú trong ngủ nghỉ... không thích thú trong tụ tập... không có ác dục, không rơi vào quyền lực của những mong muốn xấu xa... không có bạn ác, không có đồng bọn ác, không giao du với kẻ ác... không dừng lại nửa chừng khi mới đạt được những thành tựu thấp kém, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, chừng nào bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm này còn tồn tại trong các tỳ kheo... các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm khác... Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo có đức tin... có tàm (xấu hổ với tội lỗi)... có quý (sợ hãi tội lỗi)... nghe nhiều... nỗ lực... có sự tự quan sát... có trí tuệ (tuệ / paññā), thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm khác... Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn phát triển Dấu hiệu sự tự quan sát (Niệm giác chi / satisambojjhaṅga) ... phát triển Dấu hiệu Phân Tích (Trạch pháp giác chi / dhammavicayasambojjhaṅga) ... phát triển Dấu hiệu Nỗ Lực (Tinh tấn giác chi / vīriyasambojjhaṅga) ... phát triển Dấu hiệu sự Hân Hoan (Hỷ giác chi / pītisambojjhaṅga) ... phát triển Dấu hiệu Cơ thể được Lắng dịu (Khinh an giác chi / passaddhisambojjhaṅga) ... phát triển Dấu hiệu Định (Định giác chi / samādhisambojjhaṅga) ... phát triển Dấu hiệu Tâm cân bằng (Xả giác chi / upekkhāsambojjhaṅga), thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông bảy Điều dạy không dẫn đến suy giảm khác... Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo còn phát triển nhận thức về sự vô thường (vô thường tưởng / aniccasaññā) ... phát triển nhận thức về sự không có ngã (vô ngã tưởng / anattasaññā) ... phát triển nhận thức về sự không trong sạch (bất tịnh tưởng / asubhasaññā) ... phát triển nhận thức về sự nguy hiểm (nguy hiểm tưởng / ādīnavasaññā) ... phát triển nhận thức về sự từ bỏ (đoạn tận tưởng / pahānasaññā) ... phát triển nhận thức về sự cạn hết đắm nhiễm (ly tham tưởng / virāgasaññā) ... phát triển nhận thức về sự chấm dứt (diệt tưởng / nirodhasaññā), thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm.

Này các tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ông sáu Điều dạy không dẫn đến suy giảm... Này các tỳ kheo, chừng nào các tỳ kheo thiết lập Tâm yêu thương (từ / mettā) trong hành động cơ thể đối với các đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng... thiết lập Tâm yêu thương trong lời nói... thiết lập Tâm yêu thương trong tâm (tâm / citta) đối với các đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng... chia sẻ không phân biệt những vật dụng nhận được đúng Điều dạy, nhận được hợp Điều dạy, thậm chí chỉ là những gì nằm trong bình bát, dùng chung với các đồng tu có đạo đức (giới / sīla)... giữ gìn những đạo đức không bị phá vỡ, không bị sứt mẻ, không bị tì vết, không bị vấy bẩn, mang lại tự do, được người trí khen ngợi, không bị bám víu, dẫn đến định (samādhi), sống hòa hợp về đạo đức với các đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng... giữ gìn quan điểm thánh thiện, dẫn đến sự giải thoát, dẫn người thực hành đến sự chấm dứt đau khổ (khổ / dukkha) hoàn toàn, sống hòa hợp về quan điểm với các đồng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng, thì này các tỳ kheo, các tỳ kheo chỉ có thể được mong đợi là sẽ phát triển, không bị suy giảm."

(...)

Tại đó, khi trú ở Rājagaha trên núi Gijjhakūṭa, Đức Thế Tôn thường xuyên giảng dạy Điều dạy này cho các tỳ kheo:

"Đây là đạo đức, đây là định, đây là trí tuệ. Định được tu tập cùng với đạo đức mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với định mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ hoàn toàn thoát khỏi (giải thoát / vimuccati) các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), đó là: nguồn ác của ham muốn giác quan (dục lậu / kāmāsava), nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsava), nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsava)."

Rồi Đức Thế Tôn, sau khi trú ở Rājagaha bao lâu tùy thích, đã gọi Tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Ambalaṭṭhikā." "Vâng, bạch Thế Tôn", Tôn giả Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn. Rồi Đức Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Ambalaṭṭhikā. Tại đó, Đức Thế Tôn trú ở Ambalaṭṭhikā, trong nhà nghỉ của vua. Tại đó, Đức Thế Tôn cũng thường xuyên giảng dạy Điều dạy này cho các tỳ kheo: "Đây là đạo đức, đây là định, đây là trí tuệ... Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ hoàn toàn thoát khỏi các nguồn ác..."

Rồi Đức Thế Tôn, sau khi trú ở Ambalaṭṭhikā bao lâu tùy thích, đã gọi Tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nāḷandā." "Vâng, bạch Thế Tôn", Tôn giả Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn. Rồi Đức Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Nāḷandā. Tại đó, Đức Thế Tôn trú ở Nāḷandā, trong rừng xoài Pāvārika.

4. Tiếng Rống Của Sư Tử Sāriputta (Sāriputtasīhanāda)

Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, con có niềm tin nơi Đức Thế Tôn như thế này: Trong quá khứ không có, trong tương lai sẽ không có, và trong hiện tại không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có sự hiểu biết vượt trội hơn Đức Thế Tôn về sự giác ngộ."

"Này Sāriputta, lời nói này của ông to lớn, dũng mãnh, như một tiếng rống của sư tử đã được rống lên một cách chắc chắn... Này Sāriputta, có phải ông đã dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của tất cả các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn (Chánh đẳng giác / sammāsambuddha) trong quá khứ, và biết rằng: 'Các Đức Thế Tôn ấy có đạo đức như thế này, có Điều dạy như thế này, có trí tuệ như thế này, có cách sống như thế này, có sự giải thoát như thế này' không?" "Dạ không, bạch Thế Tôn."

"Này Sāriputta, có phải ông đã dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của tất cả các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong tương lai...?" "Dạ không, bạch Thế Tôn."

"Này Sāriputta, có phải ông đã dùng tâm của mình để thấu hiểu tâm của ta, một bậc A-la-hán, một Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong hiện tại...?" "Dạ không, bạch Thế Tôn."

"Này Sāriputta, nếu ông không có khả năng thấu hiểu tâm của các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong quá khứ, tương lai và hiện tại, thì tại sao ông lại thốt ra lời nói to lớn, dũng mãnh, như một tiếng rống của sư tử chắc chắn như vậy...?"

"Bạch Thế Tôn, con không có khả năng thấu hiểu tâm của các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong quá khứ, tương lai và hiện tại, nhưng con đã hiểu được dòng chảy của Chân lý. Bạch Thế Tôn, giống như một thành phố biên giới của nhà vua, có nền móng vững chắc, có tường thành và tháp canh kiên cố, chỉ có một cổng duy nhất. Tại đó có một người gác cổng thông minh, tài giỏi, sáng suốt, ngăn chặn người lạ và chỉ cho người quen vào. Khi đi tuần tra dọc theo con đường vòng quanh thành phố, người ấy không thấy một khe hở hay lỗ hổng nào trên tường thành, thậm chí không đủ cho một con mèo chui qua. Người ấy nghĩ: 'Bất kỳ sinh vật lớn nào đi vào hay đi ra khỏi thành phố này, tất cả đều phải đi qua cổng này'.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con đã hiểu được dòng chảy của Chân lý: 'Tất cả các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong quá khứ, tất cả các Đức Thế Tôn ấy đều đã từ bỏ (đoạn trừ / pahānā) năm điều làm mờ yếu (triền cái / nīvaraṇāni) làm ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ, có tâm được thiết lập vững chắc trong bốn nơi Tự Quan Sát (tứ niệm xứ / satipaṭṭhānā), đã phát triển đúng như thật bảy Dấu hiệu Của Giác Ngộ (giác chi / bojjhaṅgā), và đã giác ngộ vô thượng Chánh đẳng giác. Tất cả các bậc A-la-hán, các Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn trong tương lai... cũng sẽ như vậy. Và Đức Thế Tôn hiện tại, một bậc A-la-hán, một Bậc Tự Giác Ngộ Hoàn Toàn, cũng đã từ bỏ năm điều làm mờ yếu làm ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ, có tâm được thiết lập vững chắc trong bốn nơi Tự Quan Sát, đã phát triển đúng như thật bảy Dấu hiệu Của Giác Ngộ, và đã giác ngộ vô thượng Chánh đẳng giác'."

Tại đó, Đức Thế Tôn trú ở Nāḷandā, trong rừng xoài Pāvārika, cũng thường xuyên giảng dạy Chân lý này cho các tỳ kheo: "Đây là đạo đức, đây là định, đây là trí tuệ... Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ hoàn toàn thoát khỏi các nguồn ác..."

5. Sự Nguy Hiểm Của Việc Thiếu Đạo Đức (Dussīlaādīnava)

Rồi Đức Thế Tôn, sau khi trú ở Nāḷandā bao lâu tùy thích, đã gọi Tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Pāṭaligāma." "Vâng, bạch Thế Tôn", Tôn giả Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn. Rồi Đức Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Pāṭaligāma.

Các nam cư sĩ ở Pāṭaligāma nghe tin: "Đức Thế Tôn đã đến Pāṭaligāma." Họ đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ thưa: "Bạch Thế Tôn, xin Ngài nhận lời đến nhà nghỉ của chúng con." Đức Thế Tôn nhận lời bằng sự im lặng.

(...)

Rồi Đức Thế Tôn gọi các nam cư sĩ ở Pāṭaligāma:

"Này các gia chủ, có năm sự nguy hiểm này đối với người thiếu đạo đức, người thất bại về đạo đức. Năm sự nguy hiểm đó là gì?

Ở đây, này các gia chủ, người thiếu đạo đức, thất bại về đạo đức, do u mê mà bị tổn thất tài sản lớn. Đây là sự nguy hiểm thứ nhất.

Lại nữa, người thiếu đạo đức... tiếng xấu đồn xa. Đây là sự nguy hiểm thứ hai.

Lại nữa, người thiếu đạo đức... khi đi đến bất kỳ hội chúng nào—dù là hội chúng sát-đế-lỵ, bà-la-môn, gia chủ hay sa-môn—đều đi đến với sự thiếu tự tin và bối rối. Đây là sự nguy hiểm thứ ba.

Lại nữa, người thiếu đạo đức... chết trong sự mê muội. Đây là sự nguy hiểm thứ tư.

Lại nữa, người thiếu đạo đức... sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Đây là sự nguy hiểm thứ năm.

Này các gia chủ, đây là năm sự nguy hiểm đối với người thiếu đạo đức, người thất bại về đạo đức.

6. Lợi Ích Của Người Có Đạo Đức (Sīlavantaānisaṁsa)

Này các gia chủ, có năm lợi ích này đối với người có đạo đức, người thành tựu đạo đức. Năm lợi ích đó là gì?

Ở đây, này các gia chủ, người có đạo đức, thành tựu đạo đức, do không u mê mà thu được khối tài sản lớn. Đây là lợi ích thứ nhất.

Lại nữa, người có đạo đức... tiếng tốt đồn xa. Đây là lợi ích thứ hai.

Lại nữa, người có đạo đức... khi đi đến bất kỳ hội chúng nào... đều đi đến với sự tự tin và không bối rối. Đây là lợi ích thứ ba.

Lại nữa, người có đạo đức... chết không mê muội. Đây là lợi ích thứ tư.

Lại nữa, người có đạo đức... sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi lành, cõi trời. Đây là lợi ích thứ năm.

Này các gia chủ, đây là năm lợi ích đối với người có đạo đức, người thành tựu đạo đức."

7. Xây Dựng Thành Phố Pāṭaliputta (Pāṭaliputtanagaramāpana)

Lúc bấy giờ, các đại thần nước Magadha là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng một thành phố tại Pāṭaligāma để ngăn chặn dân Vajjī. Lúc bấy giờ, có hàng ngàn chư thiên đang chiếm giữ các khu đất tại Pāṭaligāma. Ở khu vực nào chư thiên có uy lực lớn chiếm giữ, thì họ hướng tâm của các vị vua và đại thần có quyền lực lớn đến xây dựng dinh thự ở đó. Ở khu vực nào chư thiên bậc trung chiếm giữ... Ở khu vực nào chư thiên bậc thấp chiếm giữ...

Đức Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, vượt qua tầm nhìn của con người, đã thấy hàng ngàn chư thiên đang chiếm giữ các khu đất tại Pāṭaligāma. Ngài thức dậy vào lúc rạng sáng và gọi Tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, ai đang xây dựng thành phố tại Pāṭaligāma?" "Bạch Thế Tôn, các đại thần nước Magadha là Sunidha và Vassakāra đang xây dựng thành phố tại Pāṭaligāma để ngăn chặn dân Vajjī."

"Này Ānanda, giống như họ đã bàn bạc với chư thiên cõi Đao Lợi; cũng vậy, Sunidha và Vassakāra đang xây dựng thành phố... Này Ānanda, chừng nào còn có khu vực của bậc Thánh, chừng nào còn có tuyến đường thương mại, thì đây sẽ là thành phố hàng đầu, Pāṭaliputta, nơi mở các kiện hàng. Này Ānanda, Pāṭaliputta sẽ có ba mối nguy hiểm: từ lửa, từ nước, hoặc từ sự chia rẽ nội bộ."

(...)

Lúc bấy giờ, sông Hằng đang đầy nước tràn bờ, quạ có thể uống được. Một số người tìm thuyền, một số tìm bè, một số kết bè để muốn qua bờ bên kia. Rồi Đức Thế Tôn—giống như một người đàn ông khỏe mạnh duỗi cánh tay đang gập lại, hoặc gập cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy—Ngài biến mất ở bờ bên này của sông Hằng và xuất hiện ở bờ bên kia cùng với đại chúng tỳ kheo.

Đức Thế Tôn thấy những người kia đang tìm thuyền, tìm bè, kết bè để qua bờ bên kia. Hiểu được ý nghĩa của điều này, vào lúc đó, Đức Thế Tôn đã thốt lên lời cảm hứng này:

"Những ai vượt qua biển cả, hồ nước,
Bằng cách làm cầu, bỏ lại những vùng đầm lầy;
Trong khi người đời đang kết bè,
Những người có trí tuệ đã vượt qua."

(Kết thúc Tụng phẩm thứ nhất).

8. Câu chuyện về các Thánh Đế (Ariyasaccakathā)

Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Koṭigāma."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Koṭigāma. Tại đó, Thế Tôn trú ở Koṭigāma.

Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

"Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt bốn Thánh đế (Ariyasacca) mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Bốn Thánh đế nào? Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Thánh đế về đau khổ (Khổ / Dukkha) mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Thánh đế về sự hình thành (Tập / Samudaya) của đau khổ mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Thánh đế về sự chấm dứt (Diệt / Nirodha) đau khổ mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Thánh đế về con đường (Đạo / Paṭipadā) đưa đến sự chấm dứt đau khổ mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, khi Thánh đế về đau khổ đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; Thánh đế về sự hình thành của đau khổ đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; Thánh đế về sự chấm dứt đau khổ đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; Thánh đế về con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ đã được hiểu biết, đã được thấu đạt, thì sự thèm khát (tham ái / taṇhā) cõi tồn tại (hữu / bhava) bị nhổ rễ, dây trói buộc vào cõi tồn tại (hữu kiết sử / bhavanetti) bị cạn kiệt, nay không còn tái sinh nữa."

Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

"Không thấy thật Thánh đế,
Nhiều kiếp phải trôi lăn.
Thấy, dây trói buộc tồn tại ;
Rễ khổ đứt, không tái sinh."

Tại đó, khi trú ở Koṭigāma, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ kheo bài pháp này:

"Đây là đạo đức (giới / sīla), đây là định (samādhi), đây là trí tuệ (paññā). Định được tu tập cùng với đạo đức sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với Định sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), đó là—nguồn ác của ham muốn giác quan (dục lậu / kāmāsava), nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsava), nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsava)."

9. Hướng đến Giác ngộ không còn thối chuyển (Anāvattidhammasambodhiparāyaṇa)

Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở Koṭigāma cho đến khi vừa ý, đã gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nādikā."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Nādikā. Tại đó, Thế Tôn trú ở Nādikā, trong Ngôi nhà Gạch.

Rồi tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, tỳ kheo tên là Sāḷha đã qua đời ở Nādikā, cảnh giới của vị ấy là gì, đời sau của vị ấy ra sao? Bạch Thế Tôn, tỳ kheo ni tên là Nandā đã qua đời ở Nādikā, cảnh giới của vị ấy là gì, đời sau của vị ấy ra sao? Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ tên là Sudatta đã qua đời ở Nādikā, cảnh giới của vị ấy là gì, đời sau của vị ấy ra sao? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ tên là Sujātā đã qua đời ở Nādikā, cảnh giới của vị ấy là gì, đời sau của vị ấy ra sao? Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ tên là Kukkuṭa... Kāḷimba... Nikaṭa... Kaṭissaha... Tuṭṭha... Santuṭṭha... Bhadda... Subhadda đã qua đời ở Nādikā, cảnh giới của vị ấy là gì, đời sau của vị ấy ra sao?"

"Này Ānanda, tỳ kheo Sāḷha, do sự cạn kiệt các nguồn ác (āsava), đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn nguồn ác.

Này Ānanda, tỳ kheo ni Nandā, do sự cạn kiệt năm xiềng xích bề dưới (ngũ hạ phần kiết sử / orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ), đã hóa sinh (opapātika), tại đó đến hoàn toàn chấm dứt (bát niết bàn / parinibbāyī), không còn chịu quy luật quay trở lại (bất thối chuyển / anāvattidhamma) từ thế giới ấy.

Này Ānanda, nam cư sĩ Sudatta, do sự cạn kiệt ba xiềng xích và làm nhẹ bớt lòng tham, sân, si, là bậc Nhất lai (sakadāgāmī), chỉ quay lại cõi đời này một lần nữa rồi sẽ làm sự chấm dứt đau khổ (dukkha).

Này Ānanda, nữ cư sĩ Sujātā, do sự cạn kiệt ba xiềng xích, là bậc Nhập lưu (sotāpannā), không còn rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến giác ngộ (sambodhiparāyaṇā).

Này Ānanda, nam cư sĩ Kukkuṭa... Kāḷimba... Nikaṭa... Kaṭissaha... Tuṭṭha... Santuṭṭha... Bhadda... Subhadda, do sự cạn kiệt năm xiềng xích bề dưới, đã hóa sinh, tại đó đến hoàn toàn chấm dứt, không còn chịu quy luật quay trở lại từ thế giới ấy.

Này Ānanda, hơn năm mươi nam cư sĩ qua đời ở Nādikā, do sự cạn kiệt năm xiềng xích bề dưới, đã hóa sinh, tại đó đến hoàn toàn chấm dứt, không còn chịu quy luật quay trở lại từ thế giới ấy.

Này Ānanda, hơn chín mươi nam cư sĩ qua đời ở Nādikā, do sự cạn kiệt ba xiềng xích và làm nhẹ bớt lòng tham, sân, si, là bậc Nhất lai, chỉ quay lại cõi đời này một lần nữa rồi sẽ làm sự chấm dứt đau khổ.

Này Ānanda, hơn năm trăm nam cư sĩ qua đời ở Nādikā, do sự cạn kiệt ba xiềng xích, là bậc Nhập lưu, không còn rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến giác ngộ.

10. Bài pháp Gương Pháp (Dhammādāsadhammapariyāya)

Này Ānanda, không có gì đáng ngạc nhiên khi một người mang thân người phải qua đời. Nhưng nếu mỗi khi có người qua đời, các vị lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này, thì đó là sự phiền nhiễu cho Như Lai.

Do đó, này Ānanda, Ta sẽ giảng bài pháp gọi là Gương Pháp (dhammādāsa), để vị thánh đệ tử nào được trang bị pháp này, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về mình: 'Ta đã cạn kiệt địa ngục, cạn kiệt cõi súc sinh, cạn kiệt cõi ngạ quỷ, cạn kiệt các cõi ác, đọa xứ; ta là bậc Nhập lưu (sotāpanna), không còn rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến giác ngộ (sambodhiparāyaṇā).'

Và này Ānanda, bài pháp Gương Pháp đó là gì...?

Ở đây, này Ānanda, vị thánh đệ tử có niềm tin không lay chuyển đối với Đức Phật: 'Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.'

Vị ấy có niềm tin không lay chuyển đối với Pháp: 'Pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng nghiệm.'

Vị ấy có niềm tin không lay chuyển đối với Tăng: 'Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn thực hành tốt đẹp, thực hành chân chính, thực hành đúng phương pháp, thực hành thích đáng, tức là bốn đôi tám vị; Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng ở đời.'

Vị ấy được trang bị những đạo đức (sīla) được các bậc thánh yêu thích, không bị phá vỡ, không bị sứt mẻ, không bị tì vết, không bị vẩn đục, mang lại tự do, được người trí khen ngợi, không bị bám chấp, dẫn đến Định (samādhi).

Này Ānanda, đây chính là bài pháp Gương Pháp...

Tại đó, khi trú ở Nādikā trong Ngôi nhà Gạch, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ kheo bài pháp này:

"Đây là đạo đức, đây là Định, đây là trí tuệ (paññā). Định được tu tập cùng với đạo đức sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với Định sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các nguồn ác (āsava), đó là—nguồn ác của ham muốn giác quan (kāmāsava), nguồn ác của mong muốn hiện hữu (bhavāsava), nguồn ác của Không Hiểu Biết (avijjāsava)."

(...)

Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở Nādikā cho đến khi vừa ý, đã gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Vesālī."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Vesālī. Tại đó, Thế Tôn trú ở Vesālī, trong vườn xoài của Ambapālī.

Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

"Này các tỳ kheo, tỳ kheo hãy sống với sự tự quan sát (chánh niệm / sato) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), đây là lời dạy của Ta dành cho các vị.

Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo có sự tự quan sát? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo quan sát Cơ thể qua Cơ thể của mình (quán thân trên thân / kāye kāyānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, có sự tự quan sát, loại bỏ lòng tham (ái dục / abhijjhā) và ưu phiền (ưu / domanassa) ở đời. Vị ấy quan sát Cảm Giác qua Cảm Giác của mình (quán thọ trên thọ / vedanāsu vedanānupassī)... quan sát Tâm qua Tâm của mình (quán tâm trên tâm / citte cittānupassī)... quan sát quy-luật qua các-quy-luật (quán pháp trên pháp / dhammesu dhammānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, có sự tự quan sát, loại bỏ lòng thamưu phiền ở đời. Như vậy, này các tỳ kheo, là tỳ kheo có sự tự quan sát.

Và này các tỳ kheo, thế nào là tỳ kheo nhận biết rõ ràng? Ở đây, này các tỳ kheo, tỳ kheo khi bước tới bước lui đều nhận biết rõ ràng; khi nhìn thẳng nhìn quanh đều nhận biết rõ ràng; khi co tay duỗi tay đều nhận biết rõ ràng; khi mang y Tăng-già-lê, bình bát và y áo đều nhận biết rõ ràng; khi ăn, uống, nhai, nếm đều nhận biết rõ ràng; khi đại tiện tiểu tiện đều nhận biết rõ ràng; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng đều nhận biết rõ ràng. Như vậy, này các tỳ kheo, là tỳ kheo nhận biết rõ ràng. Này các tỳ kheo, tỳ kheo hãy sống có sự tự quan sátnhận biết rõ ràng, đây là lời dạy của Ta dành cho các vị."

11. Kỹ nữ Ambapālī (Ambapālīgaṇikā)

Kỹ nữ Ambapālī nghe tin: "Thế Tôn đã đến Vesālī và đang trú tại vườn xoài của ta." Rồi kỹ nữ Ambapālī cho chuẩn bị những cỗ xe tuyệt hảo, lên một cỗ xe tuyệt hảo, cùng với những cỗ xe tuyệt hảo khác rời khỏi Vesālī. Cô đi đến khu vườn của mình. Đi xe cho đến nơi xe có thể đi được, cô xuống xe và đi bộ đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi kỹ nữ Ambapālī ngồi một bên, Thế Tôn đã dùng bài pháp để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ.

Rồi kỹ nữ Ambapālī, sau khi được Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, đã bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận lời mời dùng bữa ngày mai của con cùng với đại chúng tỳ kheo." Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi kỹ nữ Ambapālī, biết Thế Tôn đã nhận lời, liền đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

Những người Licchavī ở Vesālī nghe tin: "Thế Tôn đã đến Vesālī và đang trú tại vườn xoài của Ambapālī." Rồi những người Licchavī cho chuẩn bị những cỗ xe tuyệt hảo, lên một cỗ xe tuyệt hảo, cùng với những cỗ xe tuyệt hảo khác rời khỏi Vesālī. Trong đó, một số người Licchavī màu xanh, mặc áo xanh, trang sức xanh; một số màu vàng, mặc áo vàng, trang sức vàng; một số màu đỏ, mặc áo đỏ, trang sức đỏ; một số màu trắng, mặc áo trắng, trang sức trắng.

Rồi kỹ nữ Ambapālī lái xe đụng trục xe vào trục xe, bánh xe vào bánh xe, ách xe vào ách xe của những thanh niên Licchavī trẻ tuổi. Rồi những người Licchavī nói với kỹ nữ Ambapālī: "Này Ambapālī, sao cô lại lái xe đụng trục xe vào trục xe, bánh xe vào bánh xe, ách xe vào ách xe của những thanh niên Licchavī trẻ tuổi như vậy?"

"Thưa các vương tử, vì tôi đã mời Thế Tôn cùng đại chúng tỳ kheo dùng bữa ngày mai."

"Này Ambapālī, hãy nhường bữa ăn đó cho chúng tôi với giá một trăm ngàn."

"Thưa các vương tử, dù các vị có cho tôi cả Vesālī cùng với các vùng phụ cận, tôi cũng không nhường bữa ăn đó."

Rồi những người Licchavī búng tay: "Chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại, chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại!" Rồi những người Licchavī đi đến vườn xoài của Ambapālī.

Thế Tôn thấy những người Licchavī đang đến từ xa. Thấy vậy, Ngài gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, những tỳ kheo nào chưa từng thấy chư thiên cõi Đao Lợi, hãy nhìn hội chúng Licchavī này; hãy ngắm hội chúng Licchavī này; hãy so sánh hội chúng Licchavī này—họ giống như chư thiên cõi Đao Lợi."

Rồi những người Licchavī đi xe cho đến nơi xe có thể đi được, xuống xe và đi bộ đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi những người Licchavī ngồi một bên, Thế Tôn đã dùng bài pháp để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ.

Rồi những người Licchavī, sau khi được Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, đã bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận lời mời dùng bữa ngày mai của chúng con cùng với đại chúng tỳ kheo."

Rồi Thế Tôn nói với những người Licchavī: "Này các Licchavī, Ta đã nhận lời mời dùng bữa ngày mai của kỹ nữ Ambapālī rồi."

Rồi những người Licchavī búng tay: "Chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại, chúng ta đã bị người phụ nữ này đánh bại!"

Rồi những người Licchavī hoan hỷ, tán thán lời Thế Tôn, đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

Rồi kỹ nữ Ambapālī, khi đêm đã qua, cho chuẩn bị thức ăn thượng vị loại cứng và loại mềm tại khu vườn của mình, rồi báo giờ cho Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng."

Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bình bát, cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến nhà của kỹ nữ Ambapālī; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn. Rồi kỹ nữ Ambapālī tự tay phục vụ, làm cho Tăng chúng do Đức Phật dẫn đầu thỏa mãn với thức ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.

Rồi kỹ nữ Ambapālī, khi Thế Tôn đã ăn xong và rút tay khỏi bát, lấy một chiếc ghế thấp ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, kỹ nữ Ambapālī bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, con xin dâng khu vườn này cho Tăng chúng do Đức Phật dẫn đầu."

Thế Tôn nhận lấy khu vườn.

Rồi Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ kỹ nữ Ambapālī, rồi đứng dậy rời đi.

Tại đó, khi trú ở Vesālī trong vườn xoài của Ambapālī, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ kheo bài pháp này:

"Đây là đạo đức (sīla), đây là Định (samādhi), đây là trí tuệ (paññā). Định được tu tập cùng với đạo đức sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với Định sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các nguồn ác (āsava), đó là—nguồn ác của ham muốn giác quan (kāmāsava), nguồn ác của mong muốn hiện hữu (bhavāsava), nguồn ác của Không Hiểu Biết (avijjāsava)."

12. Vào mùa an cư ở làng Veḷuva (Veḷuvagāmavassūpagamana)

Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở vườn xoài của Ambapālī cho đến khi vừa ý, đã gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Veḷuva."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến làng Veḷuva. Tại đó, Thế Tôn trú ở làng Veḷuva.

Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, các vị hãy đi an cư mùa mưa xung quanh Vesālī, tùy theo chỗ có bạn bè, người quen, người thân thiết. Còn Ta sẽ an cư mùa mưa ngay tại làng Veḷuva này."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ kheo đáp lời Thế Tôn và đi an cư mùa mưa xung quanh Vesālī, tùy theo chỗ có bạn bè, người quen, người thân thiết. Còn Thế Tôn an cư mùa mưa ngay tại làng Veḷuva.

Khi Thế Tôn đang an cư mùa mưa, một căn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm giác khó chịu (thọ khổ / dukkha-vedanā) dữ dội, gần như chết, xuất hiện. Thế Tôn với sự tự quan sát (sato) và nhận biết rõ ràng (sampajāno), chịu đựng chúng mà không phiền não. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Thật không thích hợp nếu Ta đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbāyeyyaṁ) mà không báo cho những người thị giả, không từ biệt đại chúng tỳ kheo. Hay là Ta hãy dùng nỗ lực để kìm hãm căn bệnh này, duy trì hoạt động duy trì sự sống (mạng hành / āyusaṅkhāra) và tiếp tục sống."

Rồi Thế Tôn dùng nỗ lực kìm hãm căn bệnh đó, duy trì hoạt động duy trì sự sống và tiếp tục sống. Rồi căn bệnh của Thế Tôn lắng dịu.

Rồi Thế Tôn, sau khi khỏi bệnh không lâu, bước ra khỏi chỗ ở và ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn dưới bóng râm phía sau chỗ ở. Rồi tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, con đã thấy Thế Tôn được thoải mái; con đã thấy Thế Tôn chịu đựng được. Nhưng bạch Thế Tôn, cơ thể con như rã rời, các phương hướng mờ mịt, các pháp không còn rõ ràng với con vì căn bệnh của Thế Tôn. Tuy nhiên, con vẫn có một chút an ủi: 'Thế Tôn sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi Ngài để lại một lời dặn dò nào đó cho đại chúng tỳ kheo.'"

"Này Ānanda, đại chúng tỳ kheo còn mong đợi gì ở Ta nữa? Này Ānanda, Ta đã giảng Pháp không phân biệt trong ngoài. Này Ānanda, đối với các Pháp, Như Lai không có 'nắm tay của vị đạo sư' (giấu giếm). Này Ānanda, ai nghĩ rằng: 'Ta sẽ lãnh đạo đại chúng tỳ kheo' hoặc 'Đại chúng tỳ kheo phụ thuộc vào ta', thì người đó mới cần để lại lời dặn dò cho đại chúng tỳ kheo. Này Ānanda, Như Lai không nghĩ rằng: 'Ta sẽ lãnh đạo đại chúng tỳ kheo' hoặc 'Đại chúng tỳ kheo phụ thuộc vào ta'. Vậy tại sao Như Lai lại phải để lại lời dặn dò cho đại chúng tỳ kheo?

Này Ānanda, nay Ta đã già, đã lớn tuổi, đã đi qua nhiều năm tháng, đã đến tuổi xế chiều. Tuổi của Ta đã tám mươi. Này Ānanda, giống như một cỗ xe cũ kỹ phải nhờ những dây chằng buộc mới chạy được; cũng vậy, này Ānanda, cơ thể của Như Lai dường như phải nhờ những dây chằng buộc mới duy trì được. Này Ānanda, chỉ khi nào Như Lai không chú ý đến mọi hình tướng, chấm dứt (nirodha) một số cảm giác, đạt đến và an trú trong Định trong trạng thái tâm không chạy theo hình dáng (vô tướng tâm định), thì khi đó cơ thể của Như Lai mới được thoải mái.

Do đó, này Ānanda, hãy tự làm hòn đảo cho chính mình (tự làm ngọn đèn / attadīpā), tự làm nơi nương tựa cho chính mình (tự quy y / attasaraṇā), không nương tựa vào ai khác; lấy Pháp làm hòn đảo (dhammadīpā), lấy Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác. Và này Ānanda, thế nào là tỳ kheo tự làm hòn đảo cho chính mình, tự làm nơi nương tựa cho chính mình, không nương tựa vào ai khác; lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác? Ở đây, này Ānanda, tỳ kheo quan sát Cơ thể qua Cơ thể của mình (kāye kāyānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng (sampajāno), có sự tự quan sát (satimā), loại bỏ lòng tham (abhijjhā) và ưu phiền (domanassa) ở đời. Quan sát Cảm Giác qua Cảm Giác của mình (vedanāsu vedanānupassī)... quan sát Tâm qua Tâm của mình (citte cittānupassī)... quan sát quy-luật qua các-quy-luật (dhammesu dhammānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, có sự tự quan sát, loại bỏ lòng thamưu phiền ở đời. Như vậy, này Ānanda, là tỳ kheo tự làm hòn đảo cho chính mình, tự làm nơi nương tựa cho chính mình, không nương tựa vào ai khác; lấy Chân lý(Pháp) làm hòn đảo, lấy Chân lý làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác.

Này Ānanda, hiện tại hay sau khi Ta qua đời, những ai tự làm hòn đảo cho chính mình, tự làm nơi nương tựa cho chính mình, không nương tựa vào ai khác; lấy Chân lý làm hòn đảo, lấy Chân lý làm nơi nương tựa, không nương tựa vào ai khác, những tỳ kheo đó sẽ là những người đứng đầu trong số những người mong muốn học tập."

Tụng phẩm thứ hai.

13. Câu chuyện về gợi ý và ánh sáng (Nimittobhāsakathā)

Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bình bát đi vào Vesālī để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trở về, Ngài gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, hãy lấy tọa cụ, chúng ta sẽ đi đến đền Cāpāla để nghỉ trưa."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sát phía sau Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn đi đến đền Cāpāla; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn. Tôn giả Ānanda cũng đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Khi tôn giả Ānanda ngồi một bên, Thế Tôn nói: "Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu, đền Udena thật đáng yêu, đền Gotamaka thật đáng yêu, đền Sattamba thật đáng yêu, đền Bahuputta thật đáng yêu, đền Sārandada thật đáng yêu, đền Cāpāla thật đáng yêu.

Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập, làm cho viên mãn, biến thành cỗ xe, biến thành nền tảng, củng cố, tích lũy và khéo léo khởi xướng được bốn cổng thần thông (như ý túc / iddhipādā), nếu muốn, người đó có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp. Này Ānanda, Như Lai đã tu tập, làm cho viên mãn, biến thành cỗ xe, biến thành nền tảng, củng cố, tích lũy và khéo léo khởi xướng được bốn cổng thần thông, nếu muốn, này Ānanda, Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp."

Mặc dù Thế Tôn đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy, minh bạch như vậy, tôn giả Ānanda vẫn không thể thấu hiểu; không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy sống trọn một kiếp, xin Bậc Thiện Thệ hãy sống trọn một kiếp vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người," vì tâm trí vị ấy đã bị Ma vương che mờ.

Lần thứ hai Thế Tôn... Lần thứ ba Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu... Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập... được bốn cổng thần thông... Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp."

Mặc dù Thế Tôn đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy, minh bạch như vậy, tôn giả Ānanda vẫn không thể thấu hiểu; không thỉnh cầu Thế Tôn... vì tâm trí vị ấy đã bị Ma vương che mờ.

Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, hãy đi đi, nếu ông thấy đã đến lúc."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn, đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi ngồi dưới một gốc cây cách đó không xa.

14. Câu chuyện Ma vương thỉnh cầu (Mārayācanakathā)

Rồi Ma vương Ác ma, không lâu sau khi tôn giả Ānanda rời đi, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đứng một bên. Đứng một bên, Ma vương Ác ma bạch Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbātu), xin Bậc Thiện Thệ hãy đến hoàn toàn chấm dứt, nay đã đến lúc Thế Tôn đến hoàn toàn chấm dứt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã từng nói lời này: 'Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi các tỳ kheo đệ tử của Ta trở nên tài giỏi, được rèn luyện, tự tin, học rộng, thấu hiểu Pháp, thực hành đúng Pháp và tùy Pháp, thực hành thích đáng, sống theo Pháp, sau khi học hỏi từ đạo sư của mình có thể truyền đạt, giảng dạy, tuyên bố, thiết lập, mở bày, phân tích, làm cho rõ ràng, và có thể dùng Pháp để bẻ gãy những quan điểm đối lập một cách hợp lý, giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu.'

Và nay, bạch Thế Tôn, các tỳ kheo đệ tử của Thế Tôn đã trở nên tài giỏi... giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu. Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt, xin Bậc Thiện Thệ hãy đến hoàn toàn chấm dứt, nay đã đến lúc Thế Tôn đến hoàn toàn chấm dứt.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã từng nói lời này: 'Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi các tỳ kheo ni đệ tử của Ta... các nam cư sĩ đệ tử của Ta... các nữ cư sĩ đệ tử của Ta trở nên tài giỏi... giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu.'

Và nay, bạch Thế Tôn, các nữ cư sĩ đệ tử của Thế Tôn đã trở nên tài giỏi... giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu. Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt...

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã từng nói lời này: 'Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi đời sống phạm hạnh này trở nên thành công, thịnh vượng, lan rộng, được nhiều người biết đến, phổ biến, cho đến khi được công bố rộng rãi cho chư thiên và loài người.'

Và nay, bạch Thế Tôn, đời sống phạm hạnh của Thế Tôn đã trở nên thành công, thịnh vượng, lan rộng, được nhiều người biết đến, phổ biến, cho đến khi được công bố rộng rãi cho chư thiên và loài người. Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt, xin Bậc Thiện Thệ hãy đến hoàn toàn chấm dứt, nay đã đến lúc Thế Tôn đến hoàn toàn chấm dứt."

Khi được nói như vậy, Thế Tôn nói với Ma vương Ác ma: "Này Ác ma, hãy yên tâm, không lâu nữa Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt. Ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt."

15. Từ bỏ hoạt động duy trì sự sống (Āyusaṅkhāraossajjana)

Rồi Thế Tôn, tại đền Cāpāla, có sự tự quan sát (sato), nhận biết rõ ràng (sampajāno), đã từ bỏ hoạt động duy trì sự sống (mạng hành / āyusaṅkhāra). Khi Thế Tôn từ bỏ hoạt động duy trì sự sống, một trận động đất lớn (đại địa chấn / mahābhūmicālo) xảy ra, đáng sợ, dựng tóc gáy, và sấm sét nổ vang. Rồi Thế Tôn, hiểu rõ ý nghĩa này, ngay lúc đó đã thốt lên lời cảm hứng này:

"Giữa hữu hạn vô hạn,
Hiền triết bỏ mạng hành;
Vui trong, tâm tĩnh lặng,
Vỡ vỏ sống như phá áo giáp."

16. Nguyên nhân của động đất lớn (Mahābhūmicālahetu)

Rồi tôn giả Ānanda suy nghĩ: "Thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, trận động đất lớn này thật dữ dội; trận động đất lớn này thật vô cùng dữ dội, đáng sợ, dựng tóc gáy; và sấm sét nổ vang. Đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện hình thành (duyên / paccaya) cho sự xuất hiện của trận động đất lớn này?"

Rồi tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: "Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật phi thường, bạch Thế Tôn. Trận động đất lớn này thật dữ dội... Đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện hình thành cho sự xuất hiện của trận động đất lớn này?"

"Này Ānanda, có tám nguyên nhân, tám điều kiện hình thành cho sự xuất hiện của một trận động đất lớn. Tám điều đó là gì?

Này Ānanda, trái đất lớn này dựa trên nước, nước dựa trên gió, gió dựa trên không gian. Này Ānanda, có những lúc những cơn gió lớn thổi. Những cơn gió lớn thổi làm nước rung chuyển. Nước rung chuyển làm trái đất rung chuyển. Đây là nguyên nhân thứ nhất, điều kiện hình thành thứ nhất cho sự xuất hiện của một trận động đất lớn.

Lại nữa, này Ānanda, khi một sa-môn hay bà-la-môn có thần thông, đã đạt được sự kiểm soát tâm trí, hoặc một vị chư thiên có thần thông lớn, uy lực lớn, vị ấy đã tu tập nhận thức về đất ở mức độ nhỏ, nhận thức về nước ở mức độ vô hạn. Vị ấy làm cho trái đất này rung chuyển, chấn động, rung lắc dữ dội. Đây là nguyên nhân thứ hai, điều kiện hình thành thứ hai...

Lại nữa, này Ānanda, khi Bồ-tát từ cõi trời Đâu-suất mạng chung, có sự tự quan sát, nhận biết rõ ràng, nhập vào thai mẹ, khi đó trái đất này rung chuyển, chấn động, rung lắc dữ dội. Đây là nguyên nhân thứ ba, điều kiện hình thành thứ ba...

Lại nữa, này Ānanda, khi Bồ-tát có sự tự quan sát, nhận biết rõ ràng, thoát ra khỏi thai mẹ, khi đó trái đất này rung chuyển... Đây là nguyên nhân thứ tư, điều kiện hình thành thứ tư...

Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Đẳng Giác, khi đó trái đất này rung chuyển... Đây là nguyên nhân thứ năm, điều kiện hình thành thứ năm...

Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp vô thượng, khi đó trái đất này rung chuyển... Đây là nguyên nhân thứ sáu, điều kiện hình thành thứ sáu...

Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai có sự tự quan sát, nhận biết rõ ràng, từ bỏ hoạt động duy trì sự sống, khi đó trái đất này rung chuyển... Đây là nguyên nhân thứ bảy, điều kiện hình thành thứ bảy...

Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai đến hoàn toàn chấm dứt trong giới Niết-bàn không còn dư tàn, khi đó trái đất này rung chuyển, chấn động, rung lắc dữ dội. Đây là nguyên nhân thứ tám, điều kiện hình thành thứ tám cho sự xuất hiện của một trận động đất lớn.

Này Ānanda, đây là tám nguyên nhân, tám điều kiện hình thành cho sự xuất hiện của một trận động đất lớn.

17. Tám hội chúng (Aṭṭhaparisā)

Này Ānanda, có tám hội chúng này. Tám hội chúng nào? Hội chúng Sát-đế-lỵ, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng Gia chủ, hội chúng Sa-môn, hội chúng chư thiên Tứ Thiên Vương, hội chúng chư thiên Đao Lợi, hội chúng Ma vương, hội chúng Phạm thiên.

Này Ānanda, Ta nhớ lại đã từng đi đến hàng trăm hội chúng Sát-đế-lỵ. Tại đó, Ta đã từng ngồi cùng họ, nói chuyện cùng họ, và thảo luận cùng họ. Màu da của họ thế nào, màu da của Ta cũng thế ấy. Giọng nói của họ thế nào, giọng nói của Ta cũng thế ấy. Ta dùng bài Pháp để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ. Khi Ta đang nói, họ không biết: 'Người đang nói này là ai, là chư thiên hay loài người?' Sau khi dùng bài Pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, họ không biết: 'Người vừa biến mất này là ai, là chư thiên hay loài người?'

Này Ānanda, Ta nhớ lại đã từng đi đến hàng trăm hội chúng Bà-la-môn... hội chúng Gia chủ... hội chúng Sa-môn... hội chúng chư thiên Tứ Thiên Vương... hội chúng chư thiên Đao Lợi... hội chúng Ma vương... hội chúng Phạm thiên. Tại đó, Ta đã từng ngồi cùng họ... Khi Ta biến mất, họ không biết: 'Người vừa biến mất này là ai, là chư thiên hay loài người?'

Này Ānanda, đây là tám hội chúng.

18. Tám mốc làm chủ (Aṭṭhaabhibhāyatana)

Này Ānanda, có tám mốc làm chủ (thắng xứ / abhibhāyatana) này. Tám cõi nào?

Một người có nhận thức về hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài nhỏ bé, đẹp hay xấu. Vị ấy biết rằng: 'Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.' Đây là mốc làm chủ thứ nhất.

Một người có nhận thức về hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài vô hạn, đẹp hay xấu. Vị ấy biết rằng: 'Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.' Đây là mốc làm chủ thứ hai.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài nhỏ bé, đẹp hay xấu. Vị ấy biết rằng: 'Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.' Đây là mốc làm chủ thứ ba.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài vô hạn, đẹp hay xấu. Vị ấy biết rằng: 'Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.' Đây là mốc làm chủ thứ tư.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài màu xanh, sắc xanh, biểu hiện xanh, ánh sáng xanh. Giống như bông hoa Umā màu xanh... hay tấm vải Bārāṇasī nhẵn nhụi cả hai mặt màu xanh... Vị ấy biết rằng: 'Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.' Đây là mốc làm chủ thứ năm.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài màu vàng... Giống như bông hoa Kaṇikāra màu vàng... hay tấm vải Bārāṇasī... Vị ấy biết rằng: 'Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.' Đây là mốc làm chủ thứ sáu.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài màu đỏ... Giống như bông hoa Bandhujīvaka màu đỏ... hay tấm vải Bārāṇasī... Vị ấy biết rằng: 'Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.' Đây là mốc làm chủ thứ bảy.

Một người có nhận thức về không hình sắc bên trong, nhìn thấy các hình sắc bên ngoài màu trắng... Giống như sao Mai màu trắng... hay tấm vải Bārāṇasī... Vị ấy biết rằng: 'Ta đã làm chủ được, ta biết và thấy chúng.' Đây là mốc làm chủ thứ tám.

Này Ānanda, đây là tám mốc làm chủ.

19. Tám sự giải thoát (Aṭṭhavimokkha)

Này Ānanda, có tám sự giải thoát (vimokkha) này. Tám sự nào?

Người có hình sắc nhìn thấy các hình sắc, đây là sự giải thoát thứ nhất.

Người có nhận thức về không hình sắc bên trong nhìn thấy các hình sắc bên ngoài, đây là sự giải thoát thứ hai.

Người chú tâm hoàn toàn vào cái đẹp, đây là sự giải thoát thứ ba.

Vượt qua hoàn toàn các nhận thức về hình sắc, do sự tan biến (diệt / atthaṅgama) của các nhận thức về va chạm, do không chú ý đến các nhận thức về sự khác biệt, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana) với suy nghĩ 'Không gian là vô tận', đây là sự giải thoát thứ tư.

Vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi 'Cái Biết' là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana) với suy nghĩ ''Cái Biết' là vô tận', đây là sự giải thoát thứ năm.

Vượt qua hoàn toàn cõi 'Cái Biết' là Vô Tận, vị ấy đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana) với suy nghĩ 'Không có vật gì', đây là sự giải thoát thứ sáu.

Vượt qua hoàn toàn cõi Không Có Vật Gì, vị ấy đạt đến và an trú trong xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana), đây là sự giải thoát thứ bảy.

Vượt qua hoàn toàn xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức", vị ấy đạt đến và an trú trong định làm ngưng Cảm giác và Nhận thức (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha), đây là sự giải thoát thứ tám.

Này Ānanda, đây là tám sự giải thoát.

(...)

Này Ānanda, có một thời Ta trú ở Uruvelā, trên bờ sông Nerañjarā, dưới gốc cây đa Ajapāla, khi vừa mới giác ngộ. Khi đó, này Ānanda, Ma vương Ác ma đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đứng một bên. Đứng một bên, này Ānanda, Ma vương Ác ma nói với Ta: 'Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbātu); xin Bậc Thiện Thệ hãy đến hoàn toàn chấm dứt, nay đã đến lúc Thế Tôn đến hoàn toàn chấm dứt.' Khi được nói như vậy, này Ānanda, Ta đã nói với Ma vương Ác ma:

'Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi các tỳ kheo đệ tử của Ta trở nên tài giỏi... giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu. Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi các tỳ kheo ni đệ tử của Ta... các nam cư sĩ đệ tử của Ta... các nữ cư sĩ đệ tử của Ta trở nên tài giỏi... giảng dạy Pháp một cách kỳ diệu.

Này Ác ma, Ta sẽ chưa đến hoàn toàn chấm dứt cho đến khi đời sống phạm hạnh này trở nên thành công, thịnh vượng, lan rộng, được nhiều người biết đến, phổ biến, cho đến khi được công bố rộng rãi cho chư thiên và loài người.'

Và ngay hôm nay, này Ānanda, tại đền Cāpāla, Ma vương Ác ma đã đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đứng một bên. Đứng một bên, này Ānanda, Ma vương Ác ma nói với Ta: 'Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt... Và nay, bạch Thế Tôn, đời sống phạm hạnh của Thế Tôn đã trở nên thành công... Bạch Thế Tôn, nay xin Thế Tôn hãy đến hoàn toàn chấm dứt...'

Khi được nói như vậy, này Ānanda, Ta đã nói với Ma vương Ác ma: 'Này Ác ma, hãy yên tâm, không lâu nữa Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt. Ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt.' Và ngay hôm nay, này Ānanda, tại đền Cāpāla, Như Lai có sự tự quan sát (sato), nhận biết rõ ràng (sampajāno), đã từ bỏ hoạt động duy trì sự sống (āyusaṅkhāra)."

20. Câu chuyện Ānanda thỉnh cầu (Ānandayācanakathā)

Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy sống trọn một kiếp, xin Bậc Thiện Thệ hãy sống trọn một kiếp vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người."

"Thôi đủ rồi, Ānanda. Đừng thỉnh cầu Như Lai nữa, nay không còn là lúc để thỉnh cầu Như Lai."

Lần thứ hai tôn giả Ānanda... Lần thứ ba tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy sống trọn một kiếp..."

"Này Ānanda, ông có tin vào sự giác ngộ của Như Lai không?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

"Vậy tại sao, này Ānanda, ông lại ép buộc Như Lai đến lần thứ ba?"

"Bạch Thế Tôn, con đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp: 'Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập... được bốn cổng thần thông (iddhipādā)... Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.'"

"Ông có tin không, Ānanda?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

"Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông, vì khi Như Lai đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy, minh bạch như vậy, ông đã không thể thấu hiểu, không thỉnh cầu Như Lai: 'Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy sống trọn một kiếp...' Nếu ông thỉnh cầu Như Lai, Như Lai có thể từ chối hai lần, nhưng đến lần thứ ba sẽ nhận lời. Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông.

Này Ānanda, có một thời Ta trú ở Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Tại đó, Ta cũng đã gọi ông: 'Này Ānanda, Rājagaha thật đáng yêu, núi Gijjhakūṭa thật đáng yêu. Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập... được bốn cổng thần thông... Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.' Mặc dù Như Lai đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy... ông đã không thỉnh cầu Như Lai... Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông.

Này Ānanda, có một thời Ta trú ngay tại Rājagaha, ở Gotamanigrodha... ở Corapapāta... ở hang Sattapaṇṇi bên sườn núi Vebhāra... ở Kāḷasilā bên sườn núi Isigili... ở hang Sappasoṇḍika trong rừng Sīta... ở Tapodārāma... ở Kalandakanivāpa trong rừng Veḷuva... ở vườn xoài Jīvaka... ở vườn nai Maddakucchi.

Tại đó, Ta cũng đã gọi ông: 'Này Ānanda, Rājagaha thật đáng yêu... Này Ānanda, bất cứ ai đã tu tập... được bốn cổng thần thông... Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.' Mặc dù Như Lai đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy... ông đã không thỉnh cầu Như Lai... Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông.

Này Ānanda, có một thời Ta trú ngay tại Vesālī này, ở đền Udena. Tại đó, Ta cũng đã gọi ông: 'Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu, đền Udena thật đáng yêu... Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.' Mặc dù Như Lai đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy... ông đã không thỉnh cầu Như Lai... Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông. Này Ānanda, có một thời Ta trú ngay tại Vesālī này, ở đền Gotamaka... đền Sattamba... đền Bahuputta... đền Sārandada... và ngay hôm nay, này Ānanda, tại đền Cāpāla, Ta đã gọi ông: 'Này Ānanda, Vesālī thật đáng yêu... đền Cāpāla thật đáng yêu... Như Lai có thể sống trọn một kiếp hoặc phần còn lại của một kiếp.' Mặc dù Như Lai đã đưa ra gợi ý rõ ràng như vậy, minh bạch như vậy, ông đã không thể thấu hiểu, không thỉnh cầu Như Lai...

Nếu ông thỉnh cầu Như Lai, Như Lai có thể từ chối hai lần, nhưng đến lần thứ ba sẽ nhận lời. Do đó, này Ānanda, lỗi lầm là của ông, sự sai sót là của ông.

Này Ānanda, chẳng phải Ta đã nói trước điều này sao: 'Mọi thứ yêu thương, vừa ý đều phải chịu sự chia lìa, xa cách, biến đổi. Làm sao có thể có chuyện: Những gì được sinh ra, được hình thành, do Hợp mà thành (hữu vi / saṅkhata), chịu sự suy tàn (diệt pháp / vayadhamma), lại không bị tan rã? Điều đó không thể xảy ra.' Những gì Như Lai đã từ bỏ, nôn mửa, giải thoát, loại bỏ, buông xả, tức là hoạt động duy trì sự sống đã được từ bỏ, và lời nói dứt khoát đã được thốt ra: 'Không lâu nữa Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt. Ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt.' Việc Như Lai rút lại điều đó vì lý do mạng sống là điều không thể xảy ra.

Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Hội trường Mái nhọn trong Rừng Lớn."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn cùng với tôn giả Ānanda đi đến Hội trường Mái nhọn trong Rừng Lớn; sau khi đến, Ngài gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, hãy đi tập hợp tất cả các tỳ kheo đang sống quanh Vesālī vào hội trường."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn, tập hợp tất cả các tỳ kheo đang sống quanh Vesālī vào hội trường, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Tăng chúng tỳ kheo đã tập hợp, nay xin Thế Tôn làm những gì Ngài cho là đúng lúc."

(...)

Rồi Thế Tôn đi đến hội trường; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

"Do đó, này các tỳ kheo, những Pháp mà Ta đã giảng dạy bằng sự hiểu biết trực tiếp, các vị phải khéo léo học tập, thực hành, tu tập và làm cho viên mãn, để đời sống phạm hạnh này được kéo dài và tồn tại lâu dài, vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Và này các tỳ kheo, những Pháp mà Ta đã giảng dạy bằng sự hiểu biết trực tiếp... đó là gì? Đó là—bốn nơi Tự Quan Sát (tứ niệm xứ / satipaṭṭhānā), bốn nỗ lực đúng đắn (tứ chánh cần / sammappadhānā), được bốn cổng thần thông (iddhipādā), năm năng lực kiểm soát (ngũ căn / indriyāni), năm sức mạnh (ngũ lực / balāni), bảy Dấu hiệu Của Giác Ngộ (thất giác chi / bojjhaṅgā), Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo).

Này các tỳ kheo, đây là những Pháp mà Ta đã giảng dạy bằng sự hiểu biết trực tiếp, các vị phải khéo léo học tập, thực hành, tu tập và làm cho viên mãn, để đời sống phạm hạnh này được kéo dài và tồn tại lâu dài, vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người."

Rồi Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

"Này các tỳ kheo, nay Ta khuyên các vị: Các hoạt động (hành / saṅkhāra) đều chịu sự suy tàn (diệt pháp / vayadhamma), hãy nỗ lực không buông lung. Không lâu nữa Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt. Ba tháng kể từ nay, Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt."

Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

"Tuổi đã chín, mạng còn ngắn ngủi;
Ta bỏ các vị mà đi,
Tự nương tựa chính mình.\

Tỳ kheo, không buông lung, tự quan sát, giữ đạo đức ;
Định tĩnh tâm, bảo vệ tâm của mình.

Ai không buông lung Pháp và Luật này;
Sẽ bỏ vòng luân hồ, chấm dứt đau khổ."

Tụng phẩm thứ ba.

21. Cái nhìn của voi chúa (Nāgāpalokita)

Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bình bát đi vào Vesālī để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trở về, Ngài quay lại nhìn Vesālī với cái nhìn của voi chúa và gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, đây là lần cuối cùng Như Lai nhìn thấy Vesālī. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Bhaṇḍagāma."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Bhaṇḍagāma. Tại đó, Thế Tôn trú ở Bhaṇḍagāma. Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo:

"Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt bốn Pháp mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Bốn Pháp nào? Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt đạo đức (sīla) của bậc thánh mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, chính vì không hiểu biết, không thấu đạt Định (samādhi) của bậc thánh... trí tuệ (paññā) của bậc thánh... sự giải thoát (vimokkha) của bậc thánh mà Ta và các vị đã phải lang thang, trôi dạt trong một thời gian dài như thế này. Này các tỳ kheo, khi đạo đức của bậc thánh đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; Định của bậc thánh đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; trí tuệ của bậc thánh đã được hiểu biết, đã được thấu đạt; sự giải thoát của bậc thánh đã được hiểu biết, đã được thấu đạt, thì sự thèm khát (taṇhā) cõi tồn tại (bhava) bị nhổ rễ, dây trói buộc vào cõi tồn tại (bhavanetti) bị cạn kiệt, nay không còn tái sinh nữa."

Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nói điều này, Bậc Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư lại nói thêm:

"Đạo đức, Định, và trí tuệ,
cùng sự giải thoát vô thượng;
Pháp chứng xưng danh Gotama.

Phật người biết trực tiếp,
đã giảng Pháp cho các tỳ kheo;
Bậc Đạo Sư làm sự chấm dứt đau khổ,
Bậc Có Mắt đã đến nơi hoàn toàn chấm dứt."

Tại đó, khi trú ở Bhaṇḍagāma, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ kheo bài pháp này:

"Đây là đạo đức, đây là định, đây là trí tuệ. Định được tu tập cùng với đạo đức sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với định sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các nguồn ác (āsava), đó là—nguồn ác của ham muốn giác quan (kāmāsava), nguồn ác của mong muốn hiện hữu (bhavāsava), nguồn ác của Không Hiểu Biết (avijjāsava)."

22. Câu chuyện về Bốn Tiêu chuẩn tham chiếu lớn (Catumahāpadesakathā)

Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở Bhaṇḍagāma cho đến khi vừa ý, đã gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Hatthigāma,

đến Ambagāma,

đến Jambugāma,

đến Bhoganagara."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Bhoganagara. Tại đó, Thế Tôn trú ở Bhoganagara, tại đền Ānanda.

Tại đó, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, Ta sẽ giảng bốn tiêu chuẩn lớn để tham chiếu (đại giáo pháp / mahāpadesa), hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ nói."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ kheo đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói:

"Ở đây, này các tỳ kheo, nếu một tỳ kheo nói như sau: 'Thưa các hiền giả, tôi đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.' Này các tỳ kheo, lời nói của tỳ kheo đó không nên vội khen ngợi, cũng không nên vội bác bỏ. Không khen ngợi, không bác bỏ, các vị phải học kỹ từng câu từng chữ và đối chiếu với Kinh, so sánh với Luật. Nếu khi đối chiếu với Kinh, so sánh với Luật, chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: 'Chắc chắn đây không phải là lời của Thế Tôn; tỳ kheo này đã ghi nhận sai.' Như vậy, này các tỳ kheo, các vị hãy gạt bỏ nó. Nếu khi đối chiếu với Kinh, so sánh với Luật, chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: 'Chắc chắn đây là lời của Thế Tôn; tỳ kheo này đã ghi nhận đúng.' Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ tiêu chuẩn lớn để tham chiếu thứ nhất này.

Lại nữa, này các tỳ kheo, nếu một tỳ kheo nói như sau: 'Tại trú xứ tên là X, có một Tăng chúng đang sống cùng với các vị trưởng lão, các vị lãnh đạo. Tôi đã nghe trực tiếp từ Tăng chúng đó, đã ghi nhận trực tiếp: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.' Này các tỳ kheo, lời nói của tỳ kheo đó không nên vội khen ngợi, cũng không nên vội bác bỏ... Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: 'Chắc chắn đây không phải là lời của Thế Tôn; Tăng chúng đó đã ghi nhận sai.' Như vậy, này các tỳ kheo, các vị hãy gạt bỏ nó. Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: 'Chắc chắn đây là lời của Thế Tôn; Tăng chúng đó đã ghi nhận đúng.' Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ tiêu chuẩn lớn để tham chiếu thứ hai này.

Lại nữa, này các tỳ kheo, nếu một tỳ kheo nói như sau: 'Tại trú xứ tên là X, có nhiều tỳ kheo trưởng lão đang sống, học rộng, thông thạo truyền thống, gìn giữ Pháp, gìn giữ Luật, gìn giữ các bản tóm tắt. Tôi đã nghe trực tiếp từ các vị trưởng lão đó, đã ghi nhận trực tiếp: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.' Này các tỳ kheo, lời nói của tỳ kheo đó không nên vội khen ngợi... Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: 'Chắc chắn đây không phải là lời của Thế Tôn; các vị trưởng lão đó đã ghi nhận sai.' Như vậy, này các tỳ kheo, các vị hãy gạt bỏ nó. Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: 'Chắc chắn đây là lời của Thế Tôn; các vị trưởng lão đó đã ghi nhận đúng.' Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ tiêu chuẩn lớn để tham chiếu thứ ba này.

Lại nữa, này các tỳ kheo, nếu một tỳ kheo nói như sau: 'Tại trú xứ tên là X, có một tỳ kheo trưởng lão đang sống, học rộng, thông thạo truyền thống, gìn giữ Pháp, gìn giữ Luật, gìn giữ các bản tóm tắt. Tôi đã nghe trực tiếp từ vị trưởng lão đó, đã ghi nhận trực tiếp: Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của Bậc Đạo Sư.' Này các tỳ kheo, lời nói của tỳ kheo đó không nên vội khen ngợi, cũng không nên vội bác bỏ... Nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: 'Chắc chắn đây không phải là lời của Thế Tôn; vị trưởng lão đó đã ghi nhận sai.' Như vậy, này các tỳ kheo, các vị hãy gạt bỏ nó. Nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thì các vị phải đi đến kết luận: 'Chắc chắn đây là lời của Thế Tôn; vị trưởng lão đó đã ghi nhận đúng.' Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ tiêu chuẩn lớn để tham chiếu thứ tư này.

Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ bốn tiêu chuẩn lớn để tham chiếu này."

Tại đó, khi trú ở Bhoganagara tại đền Ānanda, Thế Tôn cũng thường xuyên thuyết giảng cho các tỳ kheo bài pháp này:

"Đây là đạo đức, đây là Định, đây là trí tuệ. Định được tu tập cùng với đạo đức sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Trí tuệ được tu tập cùng với Định sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn. Tâm được tu tập cùng với trí tuệ sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi các nguồn ác, đó là—nguồn ác của ham muốn giác quan, nguồn ác của mong muốn hiện hữu, nguồn ác của Không Hiểu Biết."

23. Câu chuyện về Cunda, con trai người thợ rèn (Kammāraputtacundavatthu)

Rồi Thế Tôn, sau khi trú ở Bhoganagara cho đến khi vừa ý, đã gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Pāvā."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến Pāvā. Tại đó, Thế Tôn trú ở Pāvā, trong vườn xoài của Cunda, con trai người thợ rèn.

Cunda, con trai người thợ rèn, nghe tin: "Thế Tôn đã đến Pāvā và đang trú tại vườn xoài của ta." Rồi Cunda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Cunda ngồi một bên, Thế Tôn đã dùng bài pháp để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ. Rồi Cunda, sau khi được Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, đã bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận lời mời dùng bữa ngày mai của con cùng với đại chúng tỳ kheo." Thế Tôn im lặng nhận lời.

Rồi Cunda, biết Thế Tôn đã nhận lời, liền đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

Rồi Cunda, khi đêm đã qua, cho chuẩn bị thức ăn thượng vị loại cứng và loại mềm tại nhà mình, cùng với nhiều món sūkaramaddava (sūkaramaddava), rồi báo giờ cho Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng."

Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng, đắp y, mang bình bát, cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến nhà của Cunda; sau khi đến, Ngài ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn gọi Cunda: "Này Cunda, món sūkaramaddava mà ông đã chuẩn bị, hãy dọn cho Ta. Còn những thức ăn loại cứng và loại mềm khác đã chuẩn bị, hãy dọn cho đại chúng tỳ kheo."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Cunda đáp lời Thế Tôn và dọn món sūkaramaddava đã chuẩn bị cho Thế Tôn. Còn những thức ăn loại cứng và loại mềm khác đã chuẩn bị, ông dọn cho đại chúng tỳ kheo.

Rồi Thế Tôn gọi Cunda: "Này Cunda, món sūkaramaddava còn lại, hãy chôn xuống một cái hố. Này Cunda, Ta không thấy ai trong thế giới chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, trong quần chúng sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người, ăn món này mà có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Cunda đáp lời Thế Tôn, chôn món sūkaramaddava còn lại xuống một cái hố, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi Cunda ngồi một bên, Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, rồi đứng dậy rời đi.

(...)

Rồi Thế Tôn, sau khi dùng bữa ăn của Cunda, một căn bệnh trầm trọng khởi lên, bệnh kiết lỵ ra máu, những cảm giác khó chịu (dukkha-vedanā) dữ dội, gần như chết, xuất hiện. Thế Tôn có sự tự quan sát (sato), nhận biết rõ ràng (sampajāno), chịu đựng chúng mà không bị phiền não. Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kusinārā."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn.

Nghe nói, sau khi dùng bữa ăn của Cunda, con trai người thợ rèn; Bậc Trí Giả đã mắc phải căn bệnh dữ dội, gần như chết.

Sau khi ăn món sūkaramaddava, Căn bệnh dữ dội đã khởi lên nơi Bậc Đạo Sư; Đang bị tiêu chảy, Thế Tôn nói: "Ta sẽ đi đến thành Kusinārā."

24. Mang nước uống (Pānīyāharaṇa)

Rồi Thế Tôn bước ra khỏi đường, đi đến một gốc cây; sau khi đến, Ngài gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, hãy gấp y Tăng-già-lê làm bốn và trải ra cho Ta, Ta đang mệt, này Ānanda, Ta muốn ngồi."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn và trải y Tăng-già-lê gấp làm bốn. Thế Tôn ngồi trên chỗ đã được dọn sẵn.

Ngồi xuống, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, hãy mang nước uống cho Ta, Ta đang khát, này Ānanda, Ta muốn uống."

Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe đi qua, dòng nước bị bánh xe cắt ngang, ít ỏi, bị khuấy động, đục ngầu đang chảy. Bạch Thế Tôn, dòng sông Kakudhā cách đây không xa, nước trong, nước ngọt, nước mát, nước sạch, bến lội tốt, thật đáng yêu. Tại đó Thế Tôn có thể uống nước và làm mát cơ thể."

Lần thứ hai Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, hãy mang nước uống cho Ta, Ta đang khát, này Ānanda, Ta muốn uống." Lần thứ hai tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe đi qua... Tại đó Thế Tôn có thể uống nước và làm mát cơ thể."

Lần thứ ba Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, hãy mang nước uống cho Ta, Ta đang khát, này Ānanda, Ta muốn uống."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn, cầm bình bát đi đến dòng sông nhỏ đó. Và dòng sông nhỏ đó, dù bị bánh xe cắt ngang, ít ỏi, bị khuấy động, đục ngầu đang chảy, nhưng khi tôn giả Ānanda đến gần, nó lại chảy trong vắt, sáng sủa, không vẩn đục.

Rồi tôn giả Ānanda suy nghĩ: "Thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, thần thông lớn và uy lực lớn của Như Lai. Dòng sông nhỏ này bị bánh xe cắt ngang, ít ỏi, bị khuấy động, đục ngầu đang chảy, nhưng khi ta đến gần, nó lại chảy trong vắt, sáng sủa, không vẩn đục." Lấy nước vào bát, vị ấy đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn: "Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật phi thường, bạch Thế Tôn, thần thông lớn và uy lực lớn của Như Lai. Vừa rồi dòng sông nhỏ đó bị bánh xe cắt ngang, ít ỏi, bị khuấy động, đục ngầu đang chảy, nhưng khi con đến gần, nó lại chảy trong vắt, sáng sủa, không vẩn đục. Xin Thế Tôn hãy uống nước, xin Bậc Thiện Thệ hãy uống nước." Rồi Thế Tôn uống nước.

25. Câu chuyện về Pukkusa dòng dõi Malla (Pukkusamallaputtavatthu)

Lúc bấy giờ, Pukkusa dòng dõi Malla, một đệ tử của Āḷāra Kālāma, đang đi trên đường từ Kusinārā đến Pāvā. Pukkusa thấy Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây. Thấy vậy, ông đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Pukkusa bạch Thế Tôn: "Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật phi thường, bạch Thế Tôn, những người xuất gia sống trong trạng thái an tịnh thật sự.

Bạch Thế Tôn, thuở xưa Āḷāra Kālāma đang đi trên đường, bước ra khỏi đường và ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây cách đó không xa. Khi đó, bạch Thế Tôn, có khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua sát bên Āḷāra Kālāma. Rồi một người đi theo sau đoàn xe đó đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; sau khi đến, hỏi Āḷāra Kālāma: 'Thưa ngài, ngài có thấy khoảng năm trăm cỗ xe đi qua không?'

'Này bạn, tôi không thấy.'

'Nhưng thưa ngài, ngài có nghe tiếng ồn không?'

'Này bạn, tôi không nghe tiếng ồn.'

'Nhưng thưa ngài, ngài có đang ngủ không?'

'Này bạn, tôi không ngủ.'

'Nhưng thưa ngài, ngài có nhận thức không?'

'Có, này bạn.'

'Vậy thưa ngài, ngài có nhận thức, đang thức, mà khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua sát bên ngài lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn; thậm chí y Tăng-già-lê của ngài còn bị bụi phủ đầy sao?'

'Đúng vậy, này bạn.'

Khi đó, bạch Thế Tôn, người đó suy nghĩ: 'Thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, những người xuất gia sống trong trạng thái an tịnh thật sự. Đến mức có nhận thức, đang thức, mà khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua sát bên lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn.' Người đó bày tỏ niềm tin to lớn đối với Āḷāra Kālāma rồi rời đi."

"Này Pukkusa, ông nghĩ sao, điều nào khó làm hơn, khó thực hiện hơn—một người có nhận thức, đang thức, mà khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua sát bên lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn; hay một người có nhận thức, đang thức, khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn?"

"Bạch Thế Tôn, năm trăm cỗ xe, sáu trăm, bảy trăm, tám trăm, chín trăm, một ngàn, hay một trăm ngàn cỗ xe thì có nghĩa lý gì. Điều này mới khó làm hơn, khó thực hiện hơn: một người có nhận thức, đang thức, khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn."

"Này Pukkusa, có một thời Ta trú ở Ātumā, trong một ngôi nhà chứa trấu. Lúc bấy giờ, khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh, cách ngôi nhà chứa trấu không xa, có hai anh em nông dân và bốn con bò bị sét đánh chết. Rồi này Pukkusa, một đám đông lớn ở Ātumā kéo đến chỗ hai anh em nông dân và bốn con bò bị sét đánh chết.

Lúc bấy giờ, này Pukkusa, Ta bước ra khỏi ngôi nhà chứa trấu và đang đi kinh hành ngoài trời trước cửa nhà. Rồi này Pukkusa, một người từ đám đông đó đi đến chỗ Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Đứng một bên, này Pukkusa, Ta hỏi người đó: 'Này bạn, đám đông lớn này tụ tập làm gì vậy?'

'Bạch Thế Tôn, vừa rồi khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh, có hai anh em nông dân và bốn con bò bị sét đánh chết. Đám đông lớn này tụ tập ở đó. Nhưng bạch Thế Tôn, ngài đã ở đâu?'

'Này bạn, Ta ở ngay đây.'

'Nhưng bạch Thế Tôn, ngài có thấy không?'

'Này bạn, Ta không thấy.'

'Nhưng bạch Thế Tôn, ngài có nghe tiếng ồn không?'

'Này bạn, Ta không nghe tiếng ồn.'

'Nhưng bạch Thế Tôn, ngài có đang ngủ không?'

'Này bạn, Ta không ngủ.'

'Nhưng bạch Thế Tôn, ngài có nhận thức không?'

'Có, này bạn.'

'Vậy bạch Thế Tôn, ngài có nhận thức, đang thức, khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn sao?'

'Đúng vậy, này bạn.'

Khi đó, này Pukkusa, người đó suy nghĩ: 'Thật kỳ diệu thay, thật phi thường thay, những người xuất gia sống trong trạng thái an tịnh thật sự. Đến mức có nhận thức, đang thức, khi trời mưa to, sấm sét ầm ầm, chớp giật, sét đánh lại không thấy, cũng không nghe tiếng ồn.' Người đó bày tỏ niềm tin to lớn đối với Ta, đảnh lễ Ta, đi nhiễu quanh Ta rồi rời đi."

Khi được nói như vậy, Pukkusa bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, niềm tin của con đối với Āḷāra Kālāma, con xin tung nó vào cơn gió lớn hoặc thả trôi theo dòng sông chảy xiết. Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Tuyệt vời thay, bạch Thế Tôn! Giống như người lật ngửa những gì bị úp sấp, mở bày những gì bị che khuất, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm ngọn đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được hình sắc; cũng vậy, Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện để làm sáng tỏ Pháp. Con xin nương tựa Thế Tôn, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng chúng. Xin Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến trọn đời con xin nương tựa."

Rồi Pukkusa gọi một người: "Này bạn, hãy mang đến cho tôi cặp y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc."

"Thưa vâng, thưa ngài," người đó đáp lời Pukkusa và mang đến cặp y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc. Rồi Pukkusa dâng cặp y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc đó lên Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, đây là cặp y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc, xin Thế Tôn vì lòng thương tưởng mà nhận lấy cho con."

"Vậy thì, này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một cái, và đắp cho Ānanda một cái."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Pukkusa đáp lời Thế Tôn, đắp cho Thế Tôn một cái, và đắp cho tôn giả Ānanda một cái.

Rồi Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ Pukkusa. Rồi Pukkusa, sau khi được Thế Tôn dùng bài pháp chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn chấn và hoan hỷ, đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài rồi rời đi.

Rồi tôn giả Ānanda, không lâu sau khi Pukkusa rời đi, đã mang chiếc y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc đó đắp lên cơ thể Thế Tôn. Khi được đắp lên cơ thể Thế Tôn, nó dường như mất đi vẻ sáng chói. Rồi tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: "Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật phi thường, bạch Thế Tôn, màu da của Như Lai thật vô cùng thanh tịnh và sáng ngời. Bạch Thế Tôn, chiếc y màu vàng óng, nhẵn mịn, đáng mặc này khi được đắp lên cơ thể Thế Tôn, dường như mất đi vẻ sáng chói."

"Đúng vậy, Ānanda, đúng vậy, Ānanda. Có hai thời điểm màu da của Như Lai trở nên vô cùng thanh tịnh và sáng ngời. Hai thời điểm nào? Đêm mà Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Đẳng Giác, và đêm mà Như Lai đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbāyati) trong giới Niết-bàn không còn dư tàn. Này Ānanda, đây là hai thời điểm màu da của Như Lai trở nên vô cùng thanh tịnh và sáng ngời.

Và hôm nay, này Ānanda, vào canh cuối của đêm, tại Kusinārā, trong rừng sāla của người Malla ở Upavattana, giữa hai cây sāla song sinh, Như Lai sẽ đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbāna). Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến dòng sông Kakudhā."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn.

Cặp y màu vàng óng, nhẵn mịn, Pukkusa đã dâng lên; Bậc Đạo Sư được đắp y đó, tỏa sáng như màu vàng ròng.

(...)

Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng tỳ kheo đi đến dòng sông Kakudhā; sau khi đến, lội xuống sông Kakudhā, tắm, uống nước, rồi đi lên và đi đến vườn xoài. Sau khi đến, Ngài gọi tôn giả Cundaka: "Này Cundaka, hãy gấp y Tăng-già-lê làm bốn và trải ra cho Ta, Ta đang mệt, này Cundaka, Ta muốn nằm."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tôn giả Cundaka đáp lời Thế Tôn và trải y Tăng-già-lê gấp làm bốn. Rồi Thế Tôn nằm nghiêng bên phải theo dáng sư tử, đặt chân này lên chân kia, có sự tự quan sát, nhận biết rõ ràng, giữ trong tâm ý niệm thức dậy. Còn tôn giả Cundaka ngồi ngay phía trước Thế Tôn.

Đức Phật đi đến dòng sông Kakudhā, Nước trong, nước ngọt, sáng sủa; Bậc Đạo Sư lội xuống, dáng vẻ không mệt mỏi, Như Lai, bậc không ai sánh bằng ở đời.

Tắm và uống xong, Bậc Đạo Sư đi lên, Đi giữa đại chúng tỳ kheo; Bậc thuyết giảng Pháp ở đời, Bậc Đại Tiên đi đến vườn xoài.

Ngài gọi tỳ kheo tên là Cundaka, "Hãy trải y gấp làm bốn cho Ta nằm"; Được yêu cầu, Cunda với tâm tu tập, Nhanh chóng trải y gấp làm bốn; Bậc Đạo Sư nằm xuống, dáng vẻ không mệt mỏi, Cunda cũng ngồi ngay phía trước.

Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda:

"Này Ānanda, có thể ai đó sẽ làm cho Cunda, con trai người thợ rèn, sinh lòng hối hận: 'Này bạn Cunda, thật là tổn thất cho bạn, thật là xui xẻo cho bạn, khi Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng của bạn rồi đến hoàn toàn chấm dứt (parinibbuto).' Này Ānanda, sự hối hận của Cunda cần phải được xua tan như sau: 'Này bạn Cunda, thật là lợi ích cho bạn, thật là may mắn cho bạn, khi Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng của bạn rồi đến hoàn toàn chấm dứt. Này bạn Cunda, tôi đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp:

Có hai bữa ăn có quả báo bằng nhau, kết quả bằng nhau, mang lại quả lớn hơn và lợi ích lớn hơn rất nhiều so với các bữa ăn khác. Hai bữa ăn nào? Bữa ăn mà sau khi dùng, Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Đẳng Giác, và bữa ăn mà sau khi dùng, Như Lai đến hoàn toàn chấm dứt trong giới Niết-bàn không còn dư tàn. Hai bữa ăn này có quả báo bằng nhau, kết quả bằng nhau, mang lại quả lớn hơn và lợi ích lớn hơn rất nhiều so với các bữa ăn khác.

Tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến tuổi thọ, tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến sắc đẹp, tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến hạnh phúc (lạc / sukha), tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến danh tiếng, tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến cõi trời, tôn giả Cunda đã tích lũy được nghiệp dẫn đến quyền lực.' Này Ānanda, sự hối hận của Cunda cần phải được xua tan như vậy."

Rồi Thế Tôn, hiểu rõ ý nghĩa này, ngay lúc đó đã thốt lên lời cảm hứng này:

"Người cho đi, phước báu tăng trưởng, Người tự kiềm chế, hận thù không tích tụ; Người thiện từ bỏ điều ác, Do cạn kiệt tham, sân, si, đạt được sự tĩnh lặng."

Tụng phẩm thứ tư.

26. Cặp cây Sāla (Yamakasālā)

Khi ấy, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến bờ bên kia sông Hiraññavatī, hướng về Kusinārā, đến rừng cây Sāla của dòng họ Malla ở Upavattana."

"Vâng, thưa ngài," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn. Sau đó, Thế Tôn cùng với một hội chúng tỳ-kheo lớn đi đến bờ bên kia sông Hiraññavatī, hướng về Kusinārā, đến rừng cây Sāla của dòng họ Malla ở Upavattana. Khi đến nơi, ngài gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, hãy dọn cho ta một chỗ nằm giữa cặp cây Sāla, đầu hướng về phía bắc. Ta đang mệt mỏi, này Ānanda, ta muốn nằm nghỉ."

"Vâng, thưa ngài," tôn giả Ānanda đáp lời Thế Tôn và dọn một chỗ nằm giữa cặp cây Sāla, đầu hướng về phía bắc. Sau đó, Thế Tôn nằm nghiêng bên phải, theo dáng nằm của sư tử, đặt chân này lên chân kia, quan sát và nhận biết rõ ràng (chánh niệm tỉnh giác / sato sampajāno).

Vào lúc bấy giờ, cặp cây Sāla nở hoa rực rỡ dù trái mùa. Những bông hoa ấy rơi rụng, tuôn đổ, rải rắc lên thân thể của Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata) để cúng dường Người Đến Như Vậy. Những bông hoa Mandārava từ cõi trời cũng rơi xuống từ hư không, rơi rụng, tuôn đổ, rải rắc lên thân thể của Người Đến Như Vậy để cúng dường. Bột trầm hương từ cõi trời cũng rơi xuống từ hư không, rơi rụng, tuôn đổ, rải rắc lên thân thể của Người Đến Như Vậy để cúng dường. Âm nhạc cõi trời vang lên trong không trung để cúng dường Người Đến Như Vậy. Những bài ca cõi trời vang vọng trong không trung để cúng dường Người Đến Như Vậy.

Khi ấy, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, cặp cây Sāla đang nở hoa rực rỡ dù trái mùa. Chúng rơi rụng, tuôn đổ, rải rắc lên thân thể của Người Đến Như Vậy để cúng dường. Hoa Mandārava, bột trầm hương cõi trời rơi xuống, âm nhạc và bài ca cõi trời vang lên để cúng dường Người Đến Như Vậy. Nhưng này Ānanda, không phải bằng những cách này mà Người Đến Như Vậy được tôn trọng, tôn kính, kính trọng, cúng dường hay suy tôn. Này Ānanda, bất kỳ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ hay nữ cư sĩ nào sống thực hành Điều dạy (Pháp / Dhamma) thuận theo Điều dạy, sống chân chính, hành xử theo Điều dạy, thì người đó đang tôn trọng, tôn kính, kính trọng, cúng dường và suy tôn Người Đến Như Vậy bằng sự cúng dường cao thượng nhất. Do đó, này Ānanda, các vị phải rèn luyện thế này: 'Chúng ta sẽ sống thực hành Điều dạy thuận theo Điều dạy, sống chân chính, hành xử theo Điều dạy'."

27. Trưởng lão Upavāṇa

Vào lúc bấy giờ, tôn giả Upavāṇa đang đứng trước mặt Thế Tôn để quạt cho ngài. Thế Tôn liền bảo tôn giả Upavāṇa lùi lại: "Hãy lùi ra, tỳ-kheo, đừng đứng trước mặt ta."

Tôn giả Ānanda liền nghĩ: "Tôn giả Upavāṇa này đã là thị giả của Thế Tôn từ lâu, luôn ở gần, luôn kề cận. Vậy mà trong giờ phút cuối cùng, Thế Tôn lại bảo tôn giả Upavāṇa lùi lại: 'Hãy lùi ra, tỳ-kheo, đừng đứng trước mặt ta.' Nguyên nhân là gì, điều kiện (duyên / paccaya) là gì mà Thế Tôn lại bảo tôn giả Upavāṇa lùi lại?"

Rồi tôn giả Ānanda hỏi Thế Tôn: "Thưa ngài, tôn giả Upavāṇa này đã là thị giả từ lâu... Nguyên nhân là gì, điều kiện là gì mà ngài lại bảo tôn giả lùi lại?"

"Này Ānanda, chư thiên từ mười hệ thống thế giới phần lớn đã tụ tập lại để chiêm ngưỡng Người Đến Như Vậy. Xung quanh rừng cây Sāla của dòng họ Malla ở Upavattana, Kusinārā, trong vòng mười hai do-tuần, không có một khoảng trống nào dù chỉ bằng đầu sợi lông mà không chật kín những vị chư thiên có uy lực lớn. Này Ānanda, chư thiên đang phàn nàn: 'Chúng ta đã từ xa đến để chiêm ngưỡng Người Đến Như Vậy. Rất hiếm khi các vị Người Đến Như Vậy, những Bậc Xứng Đáng, những Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn xuất hiện trên đời. Và ngay đêm nay, vào canh cuối, sự chấm dứt hoàn toàn (viên tịch / parinibbāna) của Người Đến Như Vậy sẽ diễn ra. Thế mà vị tỳ-kheo có uy lực lớn này lại đứng che khuất trước mặt Thế Tôn, khiến chúng ta không thể chiêm ngưỡng Người Đến Như Vậy trong giờ phút cuối cùng'."

"Thưa ngài, Thế Tôn đang suy nghĩ (tác ý / manasikāra) đến những chư thiên có trạng thái tâm như thế nào?"

"Này Ānanda, có những chư thiên ở trên hư không nhưng lại có Nhận Thức (tưởng / saññā) bám víu vào đất, họ xõa tóc than khóc, giơ cao hai tay than khóc, ngã quỵ xuống, lăn lộn qua lại, than vãn: 'Quá sớm, Thế Tôn sẽ chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Bậc Thiện Thệ sẽ chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Con Mắt của thế gian sẽ biến mất!'

Này Ānanda, có những chư thiên ở trên mặt đất có Nhận Thức bám víu vào đất, họ xõa tóc than khóc... 'Quá sớm, Con Mắt của thế gian sẽ biến mất!'

Nhưng những chư thiên nào đã cạn hết đắm nhiễm (ly tham / vītarāgā), họ quan sát và nhận biết rõ ràng, chịu đựng với suy nghĩ: 'Các hoạt động (hành / saṅkhārā) là không thường hằng (vô thường / anicca), làm sao có thể mong cầu điều khác được?'"

28. Bốn nơi đáng để tôn kính

"Thưa ngài, trước đây, sau khi an cư mùa mưa ở các phương, các tỳ-kheo thường đến để chiêm ngưỡng Người Đến Như Vậy. Chúng con được gặp gỡ và hầu hạ những tỳ-kheo đáng kính trọng. Nhưng sau khi Thế Tôn qua đời, chúng con sẽ không còn được gặp gỡ và hầu hạ những tỳ-kheo đáng kính trọng nữa."

"Này Ānanda, có bốn nơi này đáng để một người con gia đình có niềm tin đến chiêm ngưỡng và tôn kính. Bốn nơi nào? 'Đây là nơi Người Đến Như Vậy đản sinh' — này Ānanda, đây là nơi đáng để chiêm ngưỡng và tôn kính. 'Đây là nơi Người Đến Như Vậy giác ngộ sự Giác Ngộ Hoàn Toàn Vô Thượng' — đây là nơi đáng để chiêm ngưỡng và tôn kính. 'Đây là nơi Người Đến Như Vậy vận chuyển bánh xe Quy luật vô thượng' — đây là nơi đáng để chiêm ngưỡng và tôn kính. 'Đây là nơi Người Đến Như Vậy chấm dứt hoàn toàn trong giới hạn của Niết-bàn không còn tàn dư' — đây là nơi đáng để chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ānanda, đây là bốn nơi đáng để một người con gia đình có niềm tin đến chiêm ngưỡng và tôn kính.

Này Ānanda, những tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ có niềm tin sẽ đến và nói: 'Đây là nơi Người Đến Như Vậy đản sinh', 'Đây là nơi Người Đến Như Vậy giác ngộ...', 'Đây là nơi Người Đến Như Vậy vận chuyển bánh xe...', 'Đây là nơi Người Đến Như Vậy chấm dứt hoàn toàn...'. Này Ānanda, bất cứ ai đi hành hương đến các tháp tưởng niệm với tâm trong sạch mà qua đời, tất cả họ sau khi cơ thể tan vỡ, sau khi chết, sẽ tái sinh vào cõi lành, thế giới thiên đường."

29. Những câu hỏi của Ānanda

"Thưa ngài, chúng con nên cư xử thế nào với phụ nữ?" "Không nhìn, này Ānanda." "Nếu phải nhìn, thưa Thế Tôn, thì nên cư xử thế nào?" "Không nói chuyện, này Ānanda." "Nếu phải nói chuyện, thưa ngài, thì nên cư xử thế nào?" "Phải thiết lập sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati), này Ānanda."

"Thưa ngài, chúng con nên xử lý thân thể của Người Đến Như Vậy như thế nào?" "Này Ānanda, các vị đừng bận tâm đến việc cúng dường thân thể của Người Đến Như Vậy. Này Ānanda, các vị hãy nỗ lực cho mục đích cốt lõi của chính mình, hãy dấn thân vào mục đích cốt lõi, hãy sống sáng suốt (không phóng dật / appamāda), nhiệt tâm, kiên quyết hướng đến mục đích cốt lõi. Này Ānanda, có những người trí thức thuộc giai cấp chiến binh, trí thức Bà-la-môn, trí thức chủ nhà có niềm tin sâu sắc vào Người Đến Như Vậy, họ sẽ lo việc cúng dường thân thể của Người Đến Như Vậy."

"Nhưng thưa ngài, thân thể của Người Đến Như Vậy nên được xử lý như thế nào?" "Này Ānanda, người ta xử lý thân thể của một Vua cai trị toàn cầu (Chuyển luân vương / cakkavattī) như thế nào, thì hãy xử lý thân thể của Người Đến Như Vậy như thế ấy." "Thưa ngài, người ta xử lý thân thể của một Vua cai trị toàn cầu như thế nào?" "Này Ānanda, họ bọc thân thể của Vua cai trị toàn cầu bằng vải mới, sau đó bọc bằng bông tơi, rồi lại bọc bằng vải mới. Bằng cách này, họ bọc thân thể bằng năm trăm lớp vải kép, rồi đặt vào một vại sắt chứa dầu, đậy lại bằng một vại sắt khác, xây một giàn thiêu bằng mọi loại gỗ thơm và hỏa thiêu thân thể của Vua cai trị toàn cầu. Họ xây một tháp tưởng niệm (tháp / thūpa) cho Vua cai trị toàn cầu ở ngã tư đường. Này Ānanda, đó là cách họ xử lý thân thể của Vua cai trị toàn cầu. Cách xử lý thân thể của Vua cai trị toàn cầu ra sao, thì cách xử lý thân thể của Người Đến Như Vậy cũng như vậy. Một tháp tưởng niệm cho Người Đến Như Vậy nên được xây ở ngã tư đường. Tại đó, những ai dâng vòng hoa, hương liệu, bột thơm, hoặc đảnh lễ, hoặc làm cho tâm mình trong sạch, điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.

30. Những người xứng đáng được xây tháp

Này Ānanda, có bốn hạng người xứng đáng được xây tháp tưởng niệm. Bốn hạng người nào? Người Đến Như Vậy, Bậc Xứng Đáng, Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn xứng đáng được xây tháp; Bậc Tự Mình Giác Ngộ Độc Lập (Paccekabuddha) xứng đáng được xây tháp; Đệ tử của Người Đến Như Vậy xứng đáng được xây tháp; Vua cai trị toàn cầu xứng đáng được xây tháp.

Này Ānanda, dựa vào lý do gì mà Người Đến Như Vậy... xứng đáng được xây tháp? Này Ānanda, nhiều người sẽ làm cho tâm mình trong sạch khi nghĩ rằng: 'Đây là tháp của Thế Tôn, Bậc Xứng Đáng, Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn'. Sau khi làm tâm trong sạch tại đó, khi cơ thể tan vỡ, sau khi chết, họ sẽ tái sinh vào cõi lành, thế giới thiên đường. Đây là lý do...

Dựa vào lý do gì mà Bậc Tự Mình Giác Ngộ Độc Lập xứng đáng được xây tháp? ... 'Đây là tháp của Bậc Tự Mình Giác Ngộ Độc Lập'...

Dựa vào lý do gì mà Đệ tử của Người Đến Như Vậy xứng đáng được xây tháp? ... 'Đây là tháp của Đệ tử của Thế Tôn'...

Dựa vào lý do gì mà Vua cai trị toàn cầu xứng đáng được xây tháp? ... 'Đây là tháp của vị vua cai trị theo Quy luật chân chính'...

Này Ānanda, đây là bốn hạng người xứng đáng được xây tháp."

31. Những phẩm chất kỳ diệu của Ānanda

Khi ấy, tôn giả Ānanda đi vào một tịnh xá, tựa vào khung cửa và đứng khóc: "Than ôi, ta vẫn còn là người đang học tập, vẫn còn việc phải làm, vậy mà Bậc Đạo Sư của ta, người luôn thương xót ta, sắp chấm dứt hoàn toàn!"

Thế Tôn liền hỏi các tỳ-kheo: "Này các tỳ-kheo, Ānanda đâu rồi?" "Thưa ngài, tôn giả Ānanda đã đi vào tịnh xá, tựa vào khung cửa và đứng khóc..." Thế Tôn bảo một tỳ-kheo: "Hãy đi, tỳ-kheo, nhân danh ta gọi Ānanda: 'Này hiền giả Ānanda, Bậc Đạo Sư gọi thầy'."

Tôn giả Ānanda đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda: "Thôi nào, Ānanda, đừng sầu não, đừng than khóc. Này Ānanda, chẳng phải ta đã từng nói trước rằng mọi thứ yêu thương và vừa ý đều phải chịu sự chia ly, xa cách, và biến đổi sao? Làm sao có thể mong cầu điều khác được? Những gì được sinh ra, được hình thành, do Hợp mà thành (hữu vi / saṅkhata), mang bản chất suy tàn, mà lại mong 'Mong sao thân thể của Người Đến Như Vậy đừng tan vỡ' — điều đó là không thể. Này Ānanda, từ lâu thầy đã hầu hạ Người Đến Như Vậy bằng những hành động của cơ thể, lời nói, và tâm trí chứa đựng Tâm yêu thương (từ / mettā), mang lại lợi ích và hạnh phúc, không chia cắt, không giới hạn (vô lượng / appamāṇa). Thầy đã tạo nhiều công đức, Ānanda. Hãy nỗ lực thực hành, thầy sẽ sớm trở thành người hết sạch nguồn ác (lậu tận / anāsavo)."

Sau đó, Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: "Này các tỳ-kheo, những vị Bậc Xứng Đáng, Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn trong quá khứ cũng có những thị giả xuất sắc như Ānanda của ta. Những vị Bậc Xứng Đáng, Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn trong tương lai cũng sẽ có những thị giả xuất sắc như Ānanda của ta. Này các tỳ-kheo, Ānanda là người khôn ngoan, có trí tuệ. Thầy ấy biết rõ: 'Đây là thời gian thích hợp để các tỳ-kheo đến thăm Người Đến Như Vậy, đây là thời gian cho tỳ-kheo-ni, cho nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho vua chúa, quan lại, cho các tu sĩ ngoại đạo và đệ tử của họ.'

Này các tỳ-kheo, có bốn phẩm chất kỳ diệu và phi thường ở Ānanda. Bốn phẩm chất nào? Nếu hội chúng tỳ-kheo đến thăm Ānanda, họ cảm thấy hoan hỉ khi nhìn thấy thầy. Nếu Ānanda nói về Điều dạy, họ cảm thấy hoan hỉ với lời nói đó. Khi Ānanda im lặng, hội chúng tỳ-kheo vẫn cảm thấy chưa thỏa mãn. Tương tự với hội chúng tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ...

Này các tỳ-kheo, có bốn phẩm chất kỳ diệu và phi thường ở một Vua cai trị toàn cầu. Nếu hội chúng giai cấp chiến binh, Bà-la-môn, chủ nhà, hay tu sĩ đến thăm vua, họ hoan hỉ khi nhìn thấy vua. Nếu vua nói, họ hoan hỉ với lời nói đó. Khi vua im lặng, họ vẫn cảm thấy chưa thỏa mãn.

Cũng giống như vậy, này các tỳ-kheo, có bốn phẩm chất kỳ diệu và phi thường ở Ānanda..."

32. Lời dạy về kinh Mahāsudassana

Khi được nói như vậy, tôn giả Ānanda thưa với Thế Tôn: "Thưa ngài, xin Thế Tôn đừng chấm dứt hoàn toàn ở cái thị trấn nhỏ bé, hoang vu, hẻo lánh này. Thưa ngài, có những thành phố lớn khác như Campā, Rājagaha, Sāvatthī, Sāketa, Kosambī, Bārāṇasī; xin Thế Tôn hãy chấm dứt hoàn toàn ở đó. Ở đó có nhiều trí thức giai cấp chiến binh, Bà-la-môn, chủ nhà có niềm tin sâu sắc vào Người Đến Như Vậy, họ sẽ lo việc cúng dường thân thể của Người Đến Như Vậy."

"Đừng nói vậy, Ānanda, đừng nói vậy: 'thị trấn nhỏ bé, hoang vu, hẻo lánh'. Này Ānanda, thuở xưa có một vị vua tên là Mahāsudassana, một Vua cai trị toàn cầu, cai trị theo Quy luật chân chính, chinh phục bốn phương, thiết lập an ninh cho vương quốc, sở hữu bảy báu vật. Này Ānanda, Kusinārā này từng là kinh đô của vua Mahāsudassana, tên là Kusāvatī. Chiều dài từ đông sang tây là mười hai do-tuần, chiều rộng từ bắc xuống nam là bảy do-tuần. Kinh đô Kusāvatī rất thịnh vượng, trù phú, đông đúc dân cư và dồi dào thức ăn. Giống như kinh đô Āḷakamandā của chư thiên... Kinh đô Kusāvatī không bao giờ ngớt mười loại âm thanh ngày đêm: tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng đàn tỳ-bà, tiếng hát, tiếng ốc tù và, tiếng chũm chọe, và âm thanh thứ mười là tiếng gọi 'Hãy ăn, hãy uống, hãy nếm'.

Này Ānanda, hãy đi vào Kusinārā và thông báo cho những người dòng họ Malla ở Kusinārā: 'Này các Vāseṭṭha, hôm nay vào canh cuối của đêm, sự chấm dứt hoàn toàn của Người Đến Như Vậy sẽ diễn ra. Hãy đến, này các Vāseṭṭha, hãy đến! Đừng để sau này phải hối hận: 'sự chấm dứt hoàn toàn của Người Đến Như Vậy đã diễn ra ngay trên lãnh thổ của chúng ta, vậy mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Người Đến Như Vậy trong giờ phút cuối cùng'."

"Vâng, thưa ngài," tôn giả Ānanda đáp lời, mặc y, mang bát và cùng một người bạn đồng hành đi vào Kusinārā.

33. Dòng họ Malla đảnh lễ

Vào lúc bấy giờ, những người dòng họ Malla ở Kusinārā đang tụ tập tại hội trường vì một công việc nào đó. Tôn giả Ānanda đi đến hội trường và thông báo cho họ: "Này các Vāseṭṭha, hôm nay vào canh cuối của đêm, sự chấm dứt hoàn toàn của Người Đến Như Vậy sẽ diễn ra. Hãy đến... Đừng để sau này phải hối hận..."

Nghe lời của tôn giả Ānanda, những người đàn ông, thanh niên, con dâu, và phụ nữ dòng họ Malla đều đau buồn, sầu não, tâm trí ngập tràn đau khổ. Một số xõa tóc than khóc, giơ cao hai tay than khóc, ngã quỵ xuống, lăn lộn qua lại, than vãn: "Quá sớm, Thế Tôn sẽ chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Bậc Thiện Thệ sẽ chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Con Mắt của thế gian sẽ biến mất!"

Sau đó, tất cả họ với tâm trí ngập tràn đau khổ đi đến rừng cây Sāla ở Upavattana, nơi tôn giả Ānanda đang ở.

Tôn giả Ānanda nghĩ: "Nếu ta để từng người dòng họ Malla đảnh lễ Thế Tôn, thì đêm sẽ tàn trước khi tất cả kịp đảnh lễ. Tốt hơn ta nên xếp họ theo từng gia đình và cho đảnh lễ: 'Thưa ngài, người dòng họ Malla tên này, cùng với con cái, vợ, tùy tùng và quan lại, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn'." Và tôn giả Ānanda đã làm như vậy. Bằng cách này, tôn giả Ānanda đã giúp những người dòng họ Malla đảnh lễ Thế Tôn ngay trong canh đầu của đêm.

34. Câu chuyện tu sĩ lang thang Subhadda

Vào lúc bấy giờ, có một tu sĩ lang thang tên là Subhadda đang sống ở Kusinārā. Subhadda nghe tin: "Đêm nay vào canh cuối, tu sĩ Gotama sẽ chấm dứt hoàn toàn." Subhadda nghĩ: "Ta từng nghe các tu sĩ lang thang lớn tuổi, những bậc thầy truyền lại rằng: 'Rất hiếm khi các vị Người Đến Như Vậy, những Bậc Xứng Đáng, Bậc Tự Mình Giác Ngộ Hoàn Toàn xuất hiện trên đời.' Đêm nay tu sĩ Gotama sẽ chấm dứt hoàn toàn. Ta đang có một mối nghi ngờ, và ta tin tưởng rằng tu sĩ Gotama có thể giảng dạy Điều dạy để ta loại bỏ mối nghi ngờ này."

Subhadda đi đến rừng cây Sāla, gặp tôn giả Ānanda và bày tỏ mong muốn được gặp tu sĩ Gotama. Tôn giả Ānanda từ chối: "Thôi đi, này hiền giả Subhadda, đừng làm phiền Người Đến Như Vậy, Thế Tôn đang mệt." Subhadda yêu cầu lần thứ hai, rồi lần thứ ba, nhưng tôn giả Ānanda vẫn từ chối.

Thế Tôn nghe được cuộc trò chuyện giữa tôn giả Ānanda và Subhadda, liền gọi Ānanda: "Thôi nào, Ānanda, đừng ngăn cản Subhadda. Hãy để Subhadda được gặp Người Đến Như Vậy. Bất cứ điều gì Subhadda hỏi ta, người ấy hỏi vì mong muốn hiểu biết, không phải để làm phiền. Và những gì ta giải đáp, người ấy sẽ nhanh chóng thấu hiểu."

Tôn giả Ānanda liền bảo Subhadda: "Hãy vào đi, hiền giả Subhadda, Thế Tôn cho phép ông."

Subhadda đi đến gặp Thế Tôn, chào hỏi thân thiện, ngồi xuống một bên và hỏi: "Thưa tu sĩ Gotama, có những tu sĩ và Bà-la-môn là những người đứng đầu hội chúng, có nhiều đệ tử, nổi tiếng, được nhiều người tôn kính, như Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāyana, Sañcaya Belaṭṭhaputta, Nigaṇṭha Nāṭaputta. Có phải tất cả họ đều đã giác ngộ như họ tự nhận, hay không ai giác ngộ, hay chỉ một số giác ngộ?"

"Thôi đi, Subhadda, hãy gác chuyện đó lại. Ta sẽ giảng Điều dạy cho ông; hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ nói." "Vâng, thưa ngài," Subhadda đáp lời. Thế Tôn nói:

"Này Subhadda, trong bất kỳ Điều dạy và kỷ luật nào mà Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo) không được tìm thấy, thì ở đó không có tu sĩ thứ nhất (Tu-đà-hoàn), không có tu sĩ thứ hai (Tư-đà-hàm), không có tu sĩ thứ ba (A-na-hàm), không có tu sĩ thứ tư (A-la-hán). Này Subhadda, trong bất kỳ Điều dạy và kỷ luật nào mà Tám Bước Thiện được tìm thấy, thì ở đó có tu sĩ thứ nhất, thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Này Subhadda, trong Điều dạy và kỷ luật này có Tám Bước Thiện, nên chỉ ở đây mới có tu sĩ thứ nhất, thứ hai, thứ ba, và thứ tư. Các học thuyết khác đều trống rỗng những tu sĩ chân chính. Này Subhadda, nếu các tỳ-kheo này sống chân chính, thế gian sẽ không trống vắng các Bậc Xứng Đáng.

Năm hai mươi chín tuổi, này Subhadda,
Ta xuất gia tìm kiếm điều thiện tột cùng.
Đã hơn năm mươi năm trôi qua,
Kể từ khi ta xuất gia, này Subhadda.
Ta đi theo con đường của Quy luật chân chính,
Ngoài con đường này, không có tu sĩ nào cả.

Không có tu sĩ thứ hai. Không có tu sĩ thứ ba. Không có tu sĩ thứ tư. Các học thuyết khác đều trống rỗng những tu sĩ chân chính. Này Subhadda, nếu các tỳ-kheo này sống chân chính, thế gian sẽ không trống vắng các Bậc Xứng Đáng."

Nghe vậy, Subhadda thưa: "Tuyệt vời thay, thưa ngài! Tuyệt vời thay, thưa ngài! Giống như lật ngửa một vật bị úp, mở ra một vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để người có mắt có thể thấy hình dáng; cũng vậy, Điều dạy đã được Thế Tôn làm sáng tỏ qua nhiều cách. Con xin nương tựa vào Thế Tôn, vào Điều dạy và hội chúng tỳ-kheo. Xin cho con được xuất gia và thọ giới cụ túc dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn."

"Này Subhadda, bất cứ ai trước đây thuộc giáo phái khác muốn xuất gia và thọ giới trong Điều dạy và kỷ luật này, người đó phải trải qua thời gian thử thách bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu các tỳ-kheo hài lòng, họ sẽ cho xuất gia và thọ giới tỳ-kheo. Tuy nhiên, ta cũng nhận thấy sự khác biệt giữa các cá nhân."

"Thưa ngài, nếu những người ngoại đạo phải thử thách bốn tháng... con sẵn sàng thử thách bốn năm. Sau bốn năm, nếu các tỳ-kheo hài lòng, xin hãy cho con xuất gia và thọ giới."

Thế Tôn liền bảo tôn giả Ānanda: "Vậy thì Ānanda, hãy cho Subhadda xuất gia." "Vâng, thưa ngài," tôn giả Ānanda đáp.

Subhadda nói với tôn giả Ānanda: "Thật là một lợi ích lớn cho thầy, hiền giả Ānanda; thầy thật may mắn khi được làm đệ tử trực tiếp trước mặt Bậc Đạo Sư." Subhadda được xuất gia và thọ giới dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn. Không lâu sau khi thọ giới, sống một mình, rời bỏ (viễn ly / vūpakaṭṭho), sáng suốt, nhiệt tâm, kiên quyết, tôn giả Subhadda đã tự mình hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhiññā), chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại vào mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh — điều mà các người con gia đình chân chính đã rời bỏ gia đình để sống đời không nhà hướng tới.

Vị ấy hiểu rõ: "Sự Tái sinh đã cạn kiệt, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái tồn tại này nữa." Tôn giả Subhadda đã trở thành một trong những Bậc Xứng Đáng. Vị ấy là đệ tử chứng quả cuối cùng trực tiếp của Thế Tôn.

(Kết thúc phần tụng thứ năm).

35. Lời dạy cuối cùng của Người Đến Như Vậy

Khi ấy, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, có thể các vị sẽ nghĩ: 'Lời dạy không còn Bậc Đạo Sư nữa, chúng ta không còn Bậc Đạo Sư.' Này Ānanda, không nên nghĩ như vậy. Điều dạy (Pháp) và Kỷ luật (Luật) mà ta đã giảng dạy và quy định cho các vị, đó sẽ là Bậc Đạo Sư của các vị sau khi ta qua đời.

Này Ānanda, hiện nay các tỳ-kheo gọi nhau bằng từ 'hiền giả' (āvuso), nhưng sau khi ta qua đời, không nên gọi nhau như vậy nữa. Tỳ-kheo lớn tuổi hơn nên gọi tỳ-kheo nhỏ tuổi hơn bằng tên, họ, hoặc bằng từ 'hiền giả'. Tỳ-kheo nhỏ tuổi hơn nên gọi tỳ-kheo lớn tuổi hơn là 'thưa ngài' (bhante) hoặc 'tôn giả' (āyasmā).

Này Ānanda, sau khi ta qua đời, nếu hội chúng muốn, có thể bãi bỏ những điều luật nhỏ nhặt và thứ yếu.

Này Ānanda, sau khi ta qua đời, hãy áp dụng hình phạt Phạm-thiên (brahmadaṇḍa) đối với tỳ-kheo Channa." "Thưa ngài, hình phạt Phạm-thiên là gì?" "Này Ānanda, tỳ-kheo Channa muốn nói gì thì cứ nói. Các tỳ-kheo không được nói chuyện với ông ấy, không được khuyên bảo, không được chỉ dạy ông ấy."

Sau đó, Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: "Này các tỳ-kheo, nếu có bất kỳ tỳ-kheo nào có nghi ngờ hay thắc mắc về Phật, về Điều dạy, về Hội chúng, về Con đường, hay về Phương pháp thực hành, hãy hỏi đi, này các tỳ-kheo! Đừng để sau này phải hối hận: 'Bậc Đạo Sư đã ở ngay trước mặt chúng ta, vậy mà chúng ta không trực tiếp hỏi ngài'." Khi được nói như vậy, các tỳ-kheo đều im lặng.

Lần thứ hai... Lần thứ ba, Thế Tôn lặp lại câu hỏi. Lần thứ ba, các tỳ-kheo vẫn im lặng. Thế Tôn nói: "Này các tỳ-kheo, có thể vì tôn kính Bậc Đạo Sư mà các vị không hỏi. Vậy thì này các tỳ-kheo, hãy để bạn bè nói lại với bạn bè." Khi được nói như vậy, các tỳ-kheo vẫn im lặng.

Tôn giả Ānanda thưa: "Thật kỳ diệu, thưa ngài! Thật phi thường, thưa ngài! Con có niềm tin sâu sắc vào hội chúng tỳ-kheo này, rằng không có một tỳ-kheo nào có nghi ngờ hay thắc mắc về Phật, Điều dạy, Hội chúng, Con đường, hay Phương pháp thực hành." "Này Ānanda, thầy nói vì niềm tin, nhưng Người Đến Như Vậy biết rõ điều này. Trong hội chúng này, không có một tỳ-kheo nào có nghi ngờ... Này Ānanda, trong số năm trăm tỳ-kheo này, vị thấp nhất cũng đã là người bước vào dòng chảy (Tu-đà-hoàn), không còn khả năng rơi vào cõi thấp, chắc chắn hướng đến sự Giác Ngộ."

Sau đó, Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: "Này các tỳ-kheo, ta khuyên các vị, Mọi thứ đều do hợp lại mà hình thành (hữu vi/ saṅkhārā), đều mang tính suy tàn (hoại diệt pháp / vayadhammā), hãy thành tựu [mục đích] bằng sự không u mê (không phóng dật / appamāda)."

Đây là lời nói cuối cùng của Người Đến Như Vậy.

36. Câu chuyện về sự chấm dứt hoàn toàn

Khi ấy, Thế Tôn nhập vào tầng Thiền-na (Thiền / jhāna) thứ nhất; xuất khỏi tầng Thiền-na thứ nhất, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ hai; xuất khỏi tầng Thiền-na thứ hai, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ ba; xuất khỏi tầng Thiền-na thứ ba, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ tư; xuất khỏi tầng Thiền-na thứ tư, ngài nhập vào cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana); xuất khỏi cõi Không Gian là Vô Tận, ngài nhập vào cõi 'Cái Biết' là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana); xuất khỏi cõi 'Cái Biết' là Vô Tận, ngài nhập vào cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana); xuất khỏi cõi Không Có Vật Gì, ngài nhập vào xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana); xuất khỏi xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức", ngài nhập vào Định làm ngưng Cảm Giác và Nhận Thức (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha).

Lúc đó, tôn giả Ānanda nói với tôn giả Anuruddha: "Thưa tôn giả Anuruddha, Thế Tôn đã chấm dứt hoàn toàn rồi." "Không, hiền giả Ānanda, Thế Tôn chưa chấm dứt hoàn toàn, ngài đang nhập vào Định làm ngưng Cảm Giác và Nhận Thức."

Sau đó, Thế Tôn xuất khỏi Định làm ngưng Cảm Giác và Nhận Thức, nhập vào xứ Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức"; xuất khỏi đó, ngài nhập vào cõi Không Có Vật Gì; xuất khỏi đó, ngài nhập vào cõi 'Cái Biết' là Vô Tận; xuất khỏi đó, ngài nhập vào cõi Không Gian là Vô Tận; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ tư; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ ba; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ hai; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ nhất. Xuất khỏi tầng Thiền-na thứ nhất, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ hai; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ ba; xuất khỏi đó, ngài nhập vào tầng Thiền-na thứ tư. Ngay sau khi xuất khỏi tầng Thiền-na thứ tư, Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn.

Cùng lúc Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, một trận động đất lớn xảy ra, đáng sợ, dựng tóc gáy. Trống trời vang lên. Cùng lúc Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, Phạm thiên Sahampati đọc bài kệ này:

"Mọi chúng sinh trên thế gian này,
Đều phải bỏ lại thân xác.
Ngay cả Bậc Đạo Sư vĩ đại,
Không ai sánh bằng trên thế gian,
Người Đến Như Vậy đạt sức mạnh tối thượng,
Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn nay đã chấm dứt hoàn toàn."

Cùng lúc Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, Vua trời Sakka đọc bài kệ này:

"Mọi thứ họp mà thànhsuy tàn,
Mang bản chất sinh ra và tàn hoại.
Sinh ra rồi lại chấm dứt,
lắng dịu của chúng là hạnh phúc."

Cùng lúc Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, tôn giả Anuruddha đọc những bài kệ này:

"Không còn hơi thở vào ra,
Tâm vững chãi, không lay động.
Bậc tĩnh lặng, vượt qua tham ái,
Bậc hiền triết đã qua đời.

Với tâm trí không nao núng,
Ngài chịu đựng mọi Cảm Giác.
Như ngọn đèn tắt lịm,
Tâm ngài đã hoàn toàn giải thoát."

Cùng lúc Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, tôn giả Ānanda đọc bài kệ này:

"Thật đáng sợ thay, đáng sợ thay,
Khi Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn,
Đầy đủ mọi phẩm chất tối thắng,
Đã chấm dứt hoàn toàn."

Khi Thế Tôn chấm dứt hoàn toàn, những tỳ-kheo chưa cạn hết đắm nhiễm xõa tóc than khóc, giơ cao hai tay than khóc, ngã quỵ xuống, lăn lộn qua lại: "Quá sớm, Thế Tôn đã chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Bậc Thiện Thệ đã chấm dứt hoàn toàn! Quá sớm, Con Mắt của thế gian đã biến mất!" Nhưng những tỳ-kheo đã cạn hết đắm nhiễm, họ quan sát và nhận biết rõ ràng, chịu đựng với suy nghĩ: "Mọi thứ do hợp lại mà thành, mang tính suy tàn, làm sao có thể mong cầu điều khác được?"

Tôn giả Anuruddha nói với các tỳ-kheo: "Thôi nào, các hiền giả, đừng sầu não, đừng than khóc. Chẳng phải Thế Tôn đã từng nói trước rằng mọi thứ yêu thương và vừa ý đều phải chịu sự chia ly, xa cách, và biến đổi sao? Làm sao có thể mong cầu điều khác được? Những gì được sinh ra, được hình thành, do Hợp mà thành, mang bản chất suy tàn, mà lại mong 'Mong sao nó đừng tan vỡ' — điều đó là không thể. Các hiền giả, chư thiên đang phàn nàn đấy."

"Thưa tôn giả Anuruddha, ngài đang suy nghĩ đến những chư thiên nào?" "Này hiền giả Ānanda, có những chư thiên ở trên hư không nhưng lại có Nhận Thức bám víu vào đất, họ xõa tóc than khóc... Có những chư thiên ở trên mặt đất... Nhưng những chư thiên nào đã cạn hết đắm nhiễm, họ quan sát và nhận biết rõ ràng, chịu đựng với suy nghĩ: 'Mọi thứ do hợp lại mà thành, mang tính suy tàn, làm sao có thể mong cầu điều khác được?'"

Sau đó, tôn giả Anuruddha và tôn giả Ānanda dành phần còn lại của đêm để đàm luận về Điều dạy. Tôn giả Anuruddha bảo tôn giả Ānanda: "Hãy đi, hiền giả Ānanda, vào Kusinārā và thông báo cho những người dòng họ Malla: 'Này các Vāseṭṭha, Thế Tôn đã chấm dứt hoàn toàn, bây giờ là lúc các vị làm những gì cần thiết'." "Vâng, thưa ngài," tôn giả Ānanda đáp, và vào buổi sáng, mặc y, mang bát cùng một người bạn đồng hành đi vào Kusinārā.

Lúc đó, những người dòng họ Malla đang tụ tập tại hội trường vì chính việc này. Tôn giả Ānanda thông báo cho họ. Nghe tin, họ đau buồn, sầu não, than khóc như trước.

37. Cúng dường thân thể Phật

Những người dòng họ Malla ra lệnh cho người hầu: "Hãy thu thập tất cả hương liệu, vòng hoa và nhạc cụ ở Kusinārā." Họ mang theo hương liệu, vòng hoa, nhạc cụ và năm trăm lớp vải, đi đến rừng cây Sāla ở Upavattana. Họ cúng dường thân thể Thế Tôn bằng những điệu múa, bài ca, âm nhạc, vòng hoa và hương liệu, tôn trọng, kính trọng, dựng rạp vải và trang hoàng các sảnh đường, trải qua ngày thứ nhất.

Họ nghĩ: "Hôm nay đã quá muộn để hỏa thiêu, ngày mai chúng ta sẽ làm." Nhưng họ tiếp tục cúng dường qua ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, và thứ sáu. Đến ngày thứ bảy, họ nghĩ: "Chúng ta sẽ mang thân thể Thế Tôn về phía nam, ra khỏi thành phố qua cổng nam và hỏa thiêu ở đó." Tám vị thủ lĩnh dòng họ Malla, đã gội đầu và mặc áo mới, cố gắng nâng thân thể lên nhưng không thể nhúc nhích.

Họ hỏi tôn giả Anuruddha: "Thưa ngài, nguyên nhân là gì mà chúng tôi không thể nâng thân thể lên?" "Này các Vāseṭṭha, ý định của các vị khác với ý định của chư thiên." "Ý định của chư thiên là gì, thưa ngài?" "Ý định của chư thiên là mang thân thể về phía bắc, vào thành phố qua cổng bắc, đi qua trung tâm thành phố, ra khỏi cổng đông, và hỏa thiêu tại tháp tưởng niệm Makuṭabandhana của dòng họ Malla ở phía đông thành phố." "Thưa ngài, hãy làm theo ý định của chư thiên."

Lúc đó, toàn bộ Kusinārā ngập tràn hoa Mandārava cao đến đầu gối. Chư thiên và người dòng họ Malla cùng nhau mang thân thể đi theo lộ trình chư thiên mong muốn và đặt tại tháp tưởng niệm Makuṭabandhana.

Họ hỏi tôn giả Ānanda: "Chúng tôi nên xử lý thân thể Người Đến Như Vậy như thế nào?" Tôn giả Ānanda lặp lại lời dạy của Đức Phật về cách xử lý thân thể của một Vua cai trị toàn cầu (bọc 500 lớp vải, đặt trong vại sắt, hỏa thiêu và xây tháp). Người dòng họ Malla làm y như vậy, đặt thân thể lên giàn thiêu bằng mọi loại gỗ thơm.

38. Câu chuyện về Trưởng lão Mahākassapa

Vào lúc bấy giờ, tôn giả Mahākassapa đang đi trên đường từ Pāvā đến Kusinārā cùng với một hội chúng lớn khoảng năm trăm tỳ-kheo. Tôn giả bước ra khỏi đường và ngồi nghỉ dưới gốc cây. Một tu sĩ ngoại đạo (Ājīvaka) đang đi từ Kusinārā đến Pāvā, mang theo một bông hoa Mandārava. Tôn giả Mahākassapa thấy người ấy từ xa liền hỏi: "Này hiền giả, ông có biết Bậc Đạo Sư của chúng tôi không?" "Có, tôi biết. Tu sĩ Gotama đã chấm dứt hoàn toàn được bảy ngày rồi. Tôi lấy bông hoa Mandārava này từ đó."

Những tỳ-kheo chưa cạn hết đắm nhiễm than khóc, trong khi những vị đã cạn hết đắm nhiễm thì quan sát và nhận biết rõ ràng, chấp nhận sự không thường hằng. Lúc đó, một tỳ-kheo tên là Subhadda (người xuất gia khi đã lớn tuổi) nói: "Thôi nào, các hiền giả, đừng than khóc. Chúng ta đã thoát khỏi vị đại tu sĩ đó rồi. Chúng ta từng bị phiền nhiễu bởi những lời: 'Điều này được phép, điều này không được phép'. Bây giờ chúng ta muốn làm gì thì làm, không muốn làm thì thôi." Tôn giả Mahākassapa liền khuyên bảo các tỳ-kheo về sự không thường hằng của những thứ do hợp mà thành.

Tại giàn thiêu, bốn vị thủ lĩnh dòng họ Malla cố gắng châm lửa nhưng lửa không cháy. Họ hỏi tôn giả Anuruddha và được biết: "Ý định của chư thiên là giàn thiêu sẽ không bắt lửa cho đến khi tôn giả Mahākassapa đến đảnh lễ dưới chân Thế Tôn."

Tôn giả Mahākassapa đến nơi, đắp y một bên vai, chắp tay, đi vòng quanh giàn thiêu ba lần và cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn. Năm trăm tỳ-kheo cũng làm như vậy. Ngay sau khi họ đảnh lễ, giàn thiêu tự động bốc cháy.

Khi thân thể Thế Tôn bị thiêu rụi, da, lớp da trong, thịt, gân, và dịch khớp không để lại tro hay bồ hóng; chỉ còn lại xương (xá-lợi). Giống như bơ hay dầu cháy không để lại tro, thân thể ngài cũng vậy. Trong năm trăm lớp vải, chỉ có lớp trong cùng và lớp ngoài cùng không bị cháy. Khi thân thể đã cháy xong, những dòng nước từ hư không và từ những cây Sāla phun ra dập tắt giàn thiêu. Người dòng họ Malla cũng dùng nước thơm để dập lửa. Sau đó, họ đặt xá-lợi trong hội trường, lập hàng rào giáo mác và cung tên bảo vệ, cúng dường suốt bảy ngày.

39. Phân chia xá-lợi

Vua Ajātasattu của Magadha nghe tin, liền cử sứ giả đến Kusinārā: "Thế Tôn là người giai cấp chiến binh, ta cũng là người giai cấp chiến binh. Ta xứng đáng có một phần xá-lợi để xây tháp và cúng dường." Tương tự, những người Licchavi ở Vesālī, dòng họ Sakya ở Kapilavatthu, dòng họ Buli ở Allakappa, dòng họ Koliya ở Rāmagāma, một Bà-la-môn ở Veṭṭhadīpa, và dòng họ Malla ở Pāvā đều cử sứ giả đến đòi một phần xá-lợi.

Người dòng họ Malla ở Kusinārā từ chối: "Thế Tôn đã chấm dứt hoàn toàn trên lãnh thổ của chúng tôi, chúng tôi sẽ không chia xá-lợi." Lúc đó, Bà-la-môn Doṇa lên tiếng:

"Xin quý vị hãy nghe tôi một lời,
Đức Phật của chúng ta luôn dạy sự nhẫn nhục;
Thật không tốt nếu vì xá-lợi của Bậc Tối Thượng,
Mà lại xảy ra chiến tranh và xung đột.

Hãy cùng nhau hòa hợp và đoàn kết,
Chia xá-lợi thành tám phần bằng nhau;
Để các tháp tưởng niệm được dựng lên khắp nơi,
Cho nhiều người khởi niềm tin vào Bậc Có Mắt."

Họ đồng ý: "Vậy thưa Bà-la-môn, xin ông hãy chia xá-lợi thành tám phần bằng nhau." Bà-la-môn Doṇa chia xá-lợi thành tám phần và xin giữ lại chiếc bình đong (tumba) để xây tháp. Họ đồng ý trao chiếc bình cho ông. Dòng họ Moriya ở Pippalivana đến muộn, nên chỉ nhận được tro từ giàn thiêu.

40. Thờ cúng tháp xá-lợi

Vua Ajātasattu xây tháp và cúng dường xá-lợi tại Rājagaha. Những người Licchavi xây tháp tại Vesālī. Dòng họ Sakya xây tháp tại Kapilavatthu. Dòng họ Buli xây tháp tại Allakappa. Dòng họ Koliya xây tháp tại Rāmagāma. Bà-la-môn Veṭṭhadīpaka xây tháp tại Veṭṭhadīpa. Dòng họ Malla ở Pāvā xây tháp tại Pāvā. Dòng họ Malla ở Kusinārā xây tháp tại Kusinārā. Bà-la-môn Doṇa xây tháp cho chiếc bình đong. Dòng họ Moriya xây tháp cho tro. Như vậy có tám tháp xá-lợi, tháp thứ chín là tháp bình đong, tháp thứ mười là tháp tro. Sự việc đã diễn ra như vậy.

Tám bình xá-lợi của Bậc Có Mắt,
Bảy bình được thờ cúng tại cõi Diêm-phù-đề (Jambudīpa);
Một bình của Bậc Tối Thượng giữa các loài người,
Được Long vương thờ cúng tại Rāmagāma.

Một xá-lợi răng (dāṭhā) được chư thiên thờ cúng,
Một chiếc được tôn kính tại thành phố Gandhāra;
Một chiếc trong vương quốc của vua Kāliṅga,
Và một chiếc được Long vương thờ cúng.

Nhờ uy lực của ngài, trái đất này,
Được trang hoàng bằng những lễ vật cúng dường tốt nhất;
Xá-lợi của Bậc Có Mắt đã được như vậy,
Được tôn kính bởi những người đáng tôn kính.

Được cúng dường bởi vua chư thiên, vua rồng, vua loài người,
Và được cúng dường bởi những bậc tối thượng trong loài người;
Hãy chắp tay đảnh lễ khi nhận được xá-lợi,
Vì một vị Phật thật khó gặp dù trải qua hàng trăm kiếp.

Bốn mươi chiếc răng đều đặn, cùng tóc và lông,
Chư thiên đã mang đi từng thứ một, truyền qua các hệ thống thế giới.

(Kết thúc kinh Đại Bát-niết-bàn, kinh thứ ba).