Skip to content

DN 19. KINH DÀI VỀ GOVINDA

(Mahāgovindasutta)

Như vầy tôi nghe — một thời Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).

Khi ấy, nhạc thần (Càn-thát-bà / gandhabba) Pañcasikha, khi đêm đã về khuya, với dung sắc thù thắng làm sáng rực toàn bộ núi Gijjhakūṭa, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, nhạc thần Pañcasikha bạch Thế Tôn điều này: "Bạch Thế Tôn, những gì con đã nghe trực tiếp, đã nhận trực tiếp từ chư thiên cõi Tāvatiṁsa (Đao-lợi), con xin thuật lại điều đó cho Thế Tôn."

"Này Pañcasikha, hãy thuật lại cho ta," Thế Tôn nói.

1. Hội chúng chư thiên (Devasabhā)

"Bạch Thế Tôn, vào những ngày trước đây, rất lâu trước đây, vào ngày rằm Uposatha (Bố-tát), đêm trăng tròn ngày Tự tứ, toàn bộ chư thiên cõi Tāvatiṁsa đã ngồi tụ họp tại giảng đường Sudhammā; một hội chúng chư thiên đông đảo ngồi vây quanh, và Bốn vị Đại vương ngồi ở bốn hướng;

Ở hướng Đông, Đại vương Dhataraṭṭha ngồi quay mặt về hướng Tây, có chư thiên ngồi phía trước; ở hướng Nam, Đại vương Virūḷhaka ngồi quay mặt về hướng Bắc, có chư thiên ngồi phía trước; ở hướng Tây, Đại vương Virūpakkha ngồi quay mặt về hướng Đông, có chư thiên ngồi phía trước; ở hướng Bắc, Đại vương Vessavaṇa ngồi quay mặt về hướng Nam, có chư thiên ngồi phía trước.

Bạch Thế Tôn, khi toàn bộ chư thiên cõi Tāvatiṁsa đã ngồi tụ họp tại giảng đường Sudhammā, một hội chúng chư thiên đông đảo ngồi vây quanh, và Bốn vị Đại vương ngồi ở bốn hướng, đây là chỗ ngồi của họ; và sau đó là chỗ ngồi của chúng con.

Bạch Thế Tôn, những vị chư thiên nào đã thực hành lối sống thanh tịnh (Phạm hạnh / brahmacariya) dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn và mới tái sinh vào cõi Tāvatiṁsa gần đây, những vị ấy chiếu sáng vượt trội hơn các chư thiên khác cả về dung sắc lẫn vinh quang. Do điều đó, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa trở nên hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoan thanh thản: 'Thật tuyệt vời, các thiên chúng đang được làm cho sung mãn, các a-tu-la chúng đang bị suy giảm.'

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka (Đế Thích) biết được sự hoan hỷ của chư thiên cõi Tāvatiṁsa, liền nói lên những vần kệ tùy hỷ này:

'Thật hoan hỷ thay chư thiên, cõi Tāvatiṁsa cùng với Đế Thích;
Đang đảnh lễ Người Đến Như Vậy (Như Lai / Tathāgata), và tính chất tốt đẹp của Điều dạy (Pháp / dhamma).

Nhìn thấy những chư thiên mới, đầy dung sắc và vinh quang;
Đã thực hành lối sống thanh tịnh nơi bậc Thiện Thệ, rồi đi đến nơi đây.

Họ chiếu sáng vượt trội hơn những người khác, về dung sắc, vinh quang và tuổi thọ;
Những đệ tử của bậc có trí tuệ rộng lớn, đã đạt được sự thù thắng ở nơi đây.

Thấy điều này họ vui mừng, cõi Tāvatiṁsa cùng với Đế Thích;
Đang đảnh lễ Người Đến Như Vậy, và tính chất tốt đẹp của Điều dạy.'

Do điều đó, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa lại càng thêm hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoan thanh thản: 'Thật tuyệt vời, các thiên chúng đang được làm cho sung mãn, các a-tu-la chúng đang bị suy giảm.'

2. Tám lời ca ngợi đúng sự thật (Aṭṭhayathābhuccavaṇṇa)

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka biết được sự hoan hỷ của chư thiên cõi Tāvatiṁsa, liền gọi chư thiên Tāvatiṁsa: 'Thưa các ngài, các ngài có muốn nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật (như thật tán thán / yathābhuccavaṇṇa) về Thế Tôn không?'

'Thưa ngài, chúng tôi muốn nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn.'

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka tuyên bố tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn cho chư thiên cõi Tāvatiṁsa:

'Chư thiên Tāvatiṁsa tôn kính nghĩ thế nào? Thế Tôn đã thực hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Một bậc Đạo sư thực hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Điều dạy đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, thấy rõ ngay hiện tại, không phụ thuộc thời gian, đến để mà thấy, dẫn dắt vào trong, được người trí tự mình trải nghiệm trực tiếp (sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi). Một bậc Đạo sư thuyết giảng Điều dạy có khả năng dẫn dắt vào trong, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

"Đây là những điều thiện (thiện / kusala)" đã được Thế Tôn khéo léo chỉ rõ, "đây là những điều không thiện (bất thiện / akusala)" đã được khéo léo chỉ rõ. "Đây là điều có lỗi, đây là điều không có lỗi, đây là điều nên theo, đây là điều không nên theo, đây là điều thấp kém, đây là điều cao thượng, đây là điều có phần đen phần trắng" đã được khéo léo chỉ rõ. Một bậc Đạo sư chỉ rõ những điều thiện và không thiện, có lỗi và không có lỗi, nên theo và không nên theo, thấp kém và cao thượng, có phần đen phần trắng, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Con đường dẫn đến Niết-bàn (nibbāna) cho các đệ tử đã được Thế Tôn khéo léo chỉ rõ, Niết-bàn và con đường hòa quyện vào nhau. Giống như nước sông Hằng hòa quyện và hợp nhất với nước sông Yamunā; cũng vậy, con đường dẫn đến Niết-bàn cho các đệ tử đã được Thế Tôn khéo léo chỉ rõ, Niết-bàn và con đường hòa quyện vào nhau. Một bậc Đạo sư chỉ rõ con đường dẫn đến Niết-bàn, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Lợi lộc đã phát sinh cho Thế Tôn, danh tiếng đã phát sinh, đến mức các vị vua chúa (Sát-đế-lỵ) luôn giữ lòng kính mến ngài, nhưng Thế Tôn thọ dụng thức ăn mà không hề có sự say sưa kiêu ngạo. Một bậc Đạo sư thọ dụng thức ăn không có sự say sưa kiêu ngạo, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn đã có được những người bạn đồng hành là người đang học (hữu học / sekha) đang thực hành con đường, và người đã sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsava) đã sống trọn vẹn. Thế Tôn đẩy lùi đám đông và sống chuyên tâm vào sự vui thích tĩnh lặng một mình. Một bậc Đạo sư chuyên tâm vào sự vui thích tĩnh lặng một mình, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn nói sao làm vậy, làm sao nói vậy; vì nói sao làm vậy, làm sao nói vậy. Một bậc Đạo sư thực hành Điều dạy thuận theo Điều dạy, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn đã vượt qua nghi ngờ, đã loại bỏ sự do dự, đã hoàn tất các ý định, có chí hướng vững chắc trong lối sống thanh tịnh nguyên thủy. Một bậc Đạo sư đã vượt qua nghi ngờ, đã loại bỏ sự do dự, đã hoàn tất các ý định, có chí hướng vững chắc trong lối sống thanh tịnh nguyên thủy, hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.'

Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka đã tuyên bố tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn cho chư thiên cõi Tāvatiṁsa như vậy. Do điều đó, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa lại càng thêm hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoan thanh thản khi nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn.

Tại đó, bạch Thế Tôn, một số chư thiên nói như vầy: 'Thưa các ngài, ôi thật tuyệt vời nếu có bốn vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời và thuyết giảng Điều dạy giống như Thế Tôn. Điều đó sẽ mang lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.'

Một số chư thiên nói như vầy: 'Thưa các ngài, hãy để qua một bên bốn vị Chánh Đẳng Giác, ôi thật tuyệt vời nếu có ba vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời...'. Một số chư thiên nói như vầy: 'Thưa các ngài, hãy để qua một bên ba vị Chánh Đẳng Giác, ôi thật tuyệt vời nếu có hai vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở đời và thuyết giảng Điều dạy giống như Thế Tôn. Điều đó sẽ mang lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.'

Khi được nói như vậy, bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka bảo chư thiên cõi Tāvatiṁsa điều này: 'Thưa các ngài, điều này là không thể, không có cơ hội, rằng trong cùng một thế giới lại có hai vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện cùng lúc không trước không sau, trường hợp này không tồn tại. Thưa các ngài, ôi thật tuyệt vời nếu Thế Tôn ít bệnh tật, ít ốm đau và trụ thế lâu dài trong một thời gian dài. Điều đó sẽ mang lại lợi ích cho số đông, hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người.'

Khi ấy, bạch Thế Tôn, vì mục đích gì mà chư thiên cõi Tāvatiṁsa ngồi tụ họp tại giảng đường Sudhammā, sau khi suy nghĩ về mục đích đó, thảo luận về mục đích đó, Bốn vị Đại vương đã nhận được lời chỉ giáo về mục đích đó. Sau khi nhận được lời chỉ giáo về mục đích đó, Bốn vị Đại vương đứng tại chỗ ngồi của mình, không rời đi.

Các vị vua sau khi được chỉ giáo, đã tiếp nhận lời khuyên;
Với tâm trí tĩnh lặng và trong sáng, họ đứng tại chỗ ngồi của mình.

Khi ấy, bạch Thế Tôn, ở hướng Bắc một ánh sáng rực rỡ sinh ra, một vầng hào quang xuất hiện vượt qua cả uy lực của chư thiên. Khi ấy, bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka gọi chư thiên cõi Tāvatiṁsa: 'Thưa các ngài, theo như những dấu hiệu đang xuất hiện, ánh sáng rực rỡ sinh ra, vầng hào quang xuất hiện, Phạm thiên sắp xuất hiện; đây là dấu hiệu báo trước sự xuất hiện của Phạm thiên, tức là ánh sáng sinh ra và vầng hào quang xuất hiện này.

Theo như những dấu hiệu đang xuất hiện, Phạm thiên sắp xuất hiện;
Đây là dấu hiệu của Phạm thiên, vầng hào quang rộng lớn và vĩ đại.'

3. Câu chuyện của Sanaṅkumāra (Sanaṅkumārakathā)

Khi ấy, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa ngồi xuống tại chỗ ngồi của mình: 'Chúng ta sẽ tìm hiểu vầng hào quang này, xem kết quả của nó sẽ là gì, sau khi chứng kiến tận mắt chúng ta mới rời đi.' Bốn vị Đại vương cũng ngồi xuống tại chỗ ngồi của mình: 'Chúng ta sẽ tìm hiểu vầng hào quang này, xem kết quả của nó sẽ là gì, sau khi chứng kiến tận mắt chúng ta mới rời đi.' Nghe vậy, chư thiên cõi Tāvatiṁsa tập trung tâm trí: 'Chúng ta sẽ tìm hiểu vầng hào quang này, xem kết quả của nó sẽ là gì, sau khi chứng kiến tận mắt chúng ta mới rời đi.'

Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa, ngài hóa hiện ra một thân hình thô trược rồi mới xuất hiện. Bởi vì, bạch Thế Tôn, dung sắc tự nhiên của Phạm thiên là không thể chịu đựng nổi đối với tầm nhìn của chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa, ngài chiếu sáng vượt trội hơn các chư thiên khác cả về dung sắc lẫn vinh quang. Giống như, bạch Thế Tôn, một hình dáng bằng vàng chiếu sáng vượt trội hơn một hình dáng con người; cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa, ngài chiếu sáng vượt trội hơn các chư thiên khác cả về dung sắc lẫn vinh quang. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra xuất hiện trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa, trong hội chúng đó không một vị chư thiên nào đảnh lễ, đứng dậy chào hay mời chỗ ngồi. Tất cả đều im lặng, chắp tay, ngồi kiết già với ý nghĩ: 'Bây giờ Phạm thiên Sanaṅkumāra muốn chỗ ngồi của vị chư thiên nào, ngài sẽ ngồi trên chỗ ngồi của vị chư thiên đó.' Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra ngồi trên chỗ ngồi của vị chư thiên nào, vị chư thiên đó nhận được sự hân hoan to lớn, vị chư thiên đó nhận được sự thanh thản to lớn. Giống như, bạch Thế Tôn, một vị vua Sát-đế-lỵ được lễ rưới nước lên đầu (quán đảnh / muddhāvasitta) mới lên ngôi, vị ấy nhận được sự hân hoan to lớn, nhận được sự thanh thản to lớn; cũng vậy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra ngồi trên chỗ ngồi của vị chư thiên nào, vị chư thiên đó nhận được sự hân hoan to lớn, vị chư thiên đó nhận được sự thanh thản to lớn.

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra biết được sự hoan hỷ của chư thiên cõi Tāvatiṁsa, liền tàng hình và nói lên những vần kệ tùy hỷ này:

'Thật hoan hỷ thay chư thiên, cõi Tāvatiṁsa cùng với Đế Thích;
Đang đảnh lễ Người Đến Như Vậy, và tính chất tốt đẹp của Điều dạy.

Nhìn thấy những chư thiên mới, đầy dung sắc và vinh quang;
Đã thực hành lối sống thanh tịnh nơi bậc Thiện Thệ, rồi đi đến nơi đây.

Họ chiếu sáng vượt trội hơn những người khác, về dung sắc, vinh quang và tuổi thọ;
Những đệ tử của bậc có trí tuệ rộng lớn, đã đạt được sự thù thắng ở nơi đây.

Thấy điều này họ vui mừng, cõi Tāvatiṁsa cùng với Đế Thích;
Đang đảnh lễ Người Đến Như Vậy, và tính chất tốt đẹp của Điều dạy.'

Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã nói lên ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra nói lên ý nghĩa này, giọng nói của ngài hội đủ tám đặc điểm: rõ ràng, dễ hiểu, êm ái, dễ nghe, tròn vành, không phân tán, sâu lắng, và vang vọng. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanaṅkumāra dùng giọng nói để truyền đạt cho hội chúng, âm thanh của ngài không lọt ra ngoài hội chúng. Bạch Thế Tôn, ai có giọng nói hội đủ tám đặc điểm như vậy, người đó được gọi là có 'giọng nói Phạm thiên'.

Khi ấy, bạch Thế Tôn, chư thiên cõi Tāvatiṁsa thưa với Phạm thiên Sanaṅkumāra điều này: 'Lành thay, Đại Phạm thiên, chúng tôi hoan hỷ khi suy xét về điều này; và Thiên chủ Sakka cũng đã nói lên tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn; chúng tôi cũng hoan hỷ khi suy xét về những điều đó.'

4. Tám lời ca ngợi đúng sự thật (Aṭṭhayathābhuccavaṇṇa)

Khi ấy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra thưa với Thiên chủ Sakka điều này: 'Lành thay, Thiên chủ, chúng tôi cũng muốn nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn.'

'Thưa vâng, Đại Phạm thiên,' bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka liền tuyên bố tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn cho Phạm thiên Sanaṅkumāra nghe:

'Đại Phạm thiên tôn kính nghĩ thế nào? Thế Tôn đã thực hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Một bậc Đạo sư thực hành vì lợi ích cho số đông... ngoại trừ Thế Tôn.

Điều dạy đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, thấy rõ ngay hiện tại, không phụ thuộc thời gian, đến để mà thấy, dẫn dắt vào trong, được người trí tự mình trải nghiệm trực tiếp. Một bậc Đạo sư thuyết giảng Điều dạy có khả năng dẫn dắt vào trong... ngoại trừ Thế Tôn.

"Đây là những điều thiện" đã được Thế Tôn khéo léo chỉ rõ, "đây là những điều không thiện" đã được khéo léo chỉ rõ... Một bậc Đạo sư chỉ rõ những điều thiện và không thiện... ngoại trừ Thế Tôn.

Con đường dẫn đến Niết-bàn cho các đệ tử đã được Thế Tôn khéo léo chỉ rõ, Niết-bàn và con đường hòa quyện vào nhau... Một bậc Đạo sư chỉ rõ con đường dẫn đến Niết-bàn... ngoại trừ Thế Tôn.

Lợi lộc đã phát sinh cho Thế Tôn, danh tiếng đã phát sinh... Thế Tôn thọ dụng thức ăn mà không hề có sự say sưa kiêu ngạo. Một bậc Đạo sư thọ dụng thức ăn không có sự say sưa kiêu ngạo... ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn đã có được những người bạn đồng hành là người đang học đang thực hành con đường, và người đã sạch nguồn ác đã sống trọn vẹn. Thế Tôn đẩy lùi đám đông và sống chuyên tâm vào sự vui thích tĩnh lặng một mình. Một bậc Đạo sư chuyên tâm vào sự vui thích tĩnh lặng một mình... ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn nói sao làm vậy, làm sao nói vậy... Một bậc Đạo sư thực hành Điều dạy thuận theo Điều dạy... ngoại trừ Thế Tôn.

Thế Tôn đã vượt qua nghi ngờ, đã loại bỏ sự do dự, đã hoàn tất các ý định, có chí hướng vững chắc trong lối sống thanh tịnh nguyên thủy. Một bậc Đạo sư đã vượt qua nghi ngờ... hội đủ yếu tố này, chúng ta không hề thấy trong quá khứ, cũng không thấy trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.'

Bạch Thế Tôn, Thiên chủ Sakka đã tuyên bố tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn cho Phạm thiên Sanaṅkumāra như vậy. Do điều đó, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra trở nên hoan hỷ, vui mừng, sinh lòng hân hoan thanh thản khi nghe tám lời ca ngợi đúng sự thật về Thế Tôn. Khi ấy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra hóa hiện ra một thân hình thô trược, mang hình dáng của một đồng tử, xuất hiện dưới dạng nhạc thần Pañcasikha trước chư thiên cõi Tāvatiṁsa. Ngài bay lên không trung và ngồi kiết già giữa hư không. Giống như, bạch Thế Tôn, một người đàn ông lực lưỡng ngồi kiết già trên một chiếc giường được trải nệm êm ái hoặc trên một mặt đất bằng phẳng; cũng vậy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanaṅkumāra bay lên không trung, ngồi kiết già giữa hư không và gọi chư thiên cõi Tāvatiṁsa:

5. Câu chuyện Bà-la-môn Govinda (Govindabrāhmaṇavatthu)

'Chư thiên Tāvatiṁsa tôn kính nghĩ thế nào, Thế Tôn đã là người có trí tuệ vĩ đại từ rất lâu đời.

Thuở xưa, thưa các ngài, có một vị vua tên là Disampati. Vua Disampati có một vị Bà-la-môn tên là Govinda làm quan tế tự (purohita). Vua Disampati có một người con trai tên là thái tử Reṇu. Bà-la-môn Govinda có một người con trai tên là thanh niên Jotipāla. Như vậy, thái tử Reṇu, thanh niên Jotipāla và sáu vị Sát-đế-lỵ khác, tổng cộng là tám người bạn thân thiết.

Rồi, thưa các ngài, sau một thời gian, Bà-la-môn Govinda qua đời. Khi Bà-la-môn Govinda qua đời, vua Disampati than khóc: "Ôi, vào lúc chúng ta giao phó mọi công việc cho Bà-la-môn Govinda để tận hưởng, đắm chìm trong năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇa), thì chính lúc đó Bà-la-môn Govinda lại qua đời."

Khi được nói như vậy, thưa các ngài, thái tử Reṇu thưa với vua Disampati điều này: "Tâu phụ vương, xin đừng than khóc quá mức về sự qua đời của Bà-la-môn Govinda. Tâu phụ vương, Bà-la-môn Govinda có một người con trai tên là thanh niên Jotipāla, còn thông thái hơn cả cha mình, còn nhìn xa trông rộng hơn cả cha mình; những việc gì cha cậu ấy từng khuyên bảo, thì nay hãy để thanh niên Jotipāla khuyên bảo."

"Có thật vậy không, này thái tử?"

"Thật vậy, tâu phụ vương."

6. Câu chuyện Mahāgovinda (Mahāgovindavatthu)

Khi ấy, thưa các ngài, vua Disampati gọi một người hầu: "Này người hầu, hãy đến chỗ thanh niên Jotipāla; sau khi đến, hãy nói với thanh niên Jotipāla như vầy: 'Chúc ngài Jotipāla tốt lành, vua Disampati cho gọi ngài Jotipāla, vua Disampati muốn gặp ngài Jotipāla.'"

"Thưa vâng, tâu đại vương," người hầu đó vâng lệnh vua Disampati, đi đến chỗ thanh niên Jotipāla; sau khi đến, nói với thanh niên Jotipāla điều này: "Chúc ngài Jotipāla tốt lành, vua Disampati cho gọi ngài Jotipāla, vua Disampati muốn gặp ngài Jotipāla." "Thưa vâng, bạn," thanh niên Jotipāla vâng lời người hầu đó, đi đến chỗ vua Disampati; sau khi đến, chào hỏi thân thiện với vua Disampati;

sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và lịch sự, cậu ngồi xuống một bên. Khi thanh niên Jotipāla đã ngồi một bên, thưa các ngài, vua Disampati nói điều này: "Xin ngài Jotipāla hãy khuyên bảo chúng tôi, xin ngài Jotipāla đừng từ chối việc khuyên bảo. Ta sẽ đặt ngài vào vị trí của cha ngài, ta sẽ phong ngài làm Govinda."

"Thưa vâng, tâu đại vương," thanh niên Jotipāla nhận lời vua Disampati.

Khi ấy, thưa các ngài, vua Disampati phong thanh niên Jotipāla làm Govinda, đặt cậu vào vị trí của cha mình. Sau khi được phong làm Govinda và đặt vào vị trí của cha, những việc gì cha cậu từng khuyên bảo, cậu cũng khuyên bảo; những việc gì cha cậu không khuyên bảo, cậu cũng khuyên bảo; những công việc gì cha cậu từng hoàn thành, cậu cũng hoàn thành; những công việc gì cha cậu không hoàn thành, cậu cũng hoàn thành. Mọi người nói về cậu như vầy: "Thật là một Govinda, thưa các ngài, thật là một Mahāgovinda (Đại Govinda), thưa các ngài." Bằng cách này, thưa các ngài, danh xưng Mahāgovinda đã ra đời cho thanh niên Jotipāla.

6.1. Chia rẽ vương quốc (Rajjasaṁvibhajana)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ kia; sau khi đến, nói với sáu vị Sát-đế-lỵ điều này: "Thưa các ngài, vua Disampati đã già yếu, cao tuổi, lớn tuổi, đã đi qua phần lớn cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều, ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao? Có khả năng là khi vua Disampati qua đời, các quan đại thần sẽ tôn thái tử Reṇu lên ngôi vua. Các ngài hãy đi đến chỗ thái tử Reṇu; sau khi đến, hãy nói với thái tử Reṇu như vầy: 'Chúng tôi là những người bạn thân thiết, yêu quý, vừa ý, không trái nghịch của ngài Reṇu; ngài vui thì chúng tôi vui, ngài buồn thì chúng tôi buồn. Thưa ngài, vua Disampati đã già yếu, cao tuổi, lớn tuổi, đã đi qua phần lớn cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều, ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao? Có khả năng là khi vua Disampati qua đời, các quan đại thần sẽ tôn ngài Reṇu lên ngôi vua. Nếu ngài Reṇu được làm vua, xin hãy chia sẻ vương quốc với chúng tôi.'"

"Thưa vâng, bạn," sáu vị Sát-đế-lỵ vâng lời Bà-la-môn Mahāgovinda, đi đến chỗ thái tử Reṇu; sau khi đến, nói với thái tử Reṇu điều này: "Chúng tôi là những người bạn thân thiết, yêu quý, vừa ý, không trái nghịch của ngài Reṇu; ngài vui thì chúng tôi vui, ngài buồn thì chúng tôi buồn. Thưa ngài, vua Disampati đã già yếu... Có khả năng là khi vua Disampati qua đời, các quan đại thần sẽ tôn ngài Reṇu lên ngôi vua. Nếu ngài Reṇu được làm vua, xin hãy chia sẻ vương quốc với chúng tôi."

"Thưa các bạn, ai khác trong vương quốc của tôi sẽ được hạnh phúc, nếu không phải là các bạn? Thưa các bạn, nếu tôi được làm vua, tôi sẽ chia sẻ vương quốc với các bạn."

Rồi, thưa các ngài, sau một thời gian, vua Disampati qua đời. Khi vua Disampati qua đời, các quan đại thần tôn thái tử Reṇu lên ngôi vua. Sau khi lên ngôi vua, Reṇu tận hưởng, đắm chìm trong năm sợi dây trói buộc của bản năng.

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ kia; sau khi đến, nói với sáu vị Sát-đế-lỵ điều này: "Thưa các ngài, vua Disampati đã qua đời. Reṇu đã lên ngôi vua và đang tận hưởng, đắm chìm trong năm sợi dây trói buộc của bản năng. Ai mà biết được, các dục lạc thật là say đắm? Các ngài hãy đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, hãy nói với vua Reṇu như vầy: 'Thưa ngài, vua Disampati đã qua đời, ngài Reṇu đã lên ngôi vua, ngài có nhớ lời hứa đó không?'"

"Thưa vâng, bạn," sáu vị Sát-đế-lỵ vâng lời Bà-la-môn Mahāgovinda, đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, nói với vua Reṇu điều này: "Thưa ngài, vua Disampati đã qua đời, ngài Reṇu đã lên ngôi vua, ngài có nhớ lời hứa đó không?"

"Tôi nhớ lời hứa đó, thưa các bạn. Nhưng thưa các bạn, ai có khả năng chia mảnh đất lớn này, phía Bắc thì dài, phía Nam thì hình miệng xe bò, thành bảy phần bằng nhau và phân định rõ ràng?"

"Thưa ngài, ai khác có khả năng, ngoại trừ Bà-la-môn Mahāgovinda?"

Khi ấy, thưa các ngài, vua Reṇu gọi một người hầu: "Này người hầu, hãy đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda; sau khi đến, hãy nói với Bà-la-môn Mahāgovinda như vầy: 'Thưa ngài, vua Reṇu cho gọi ngài.'"

"Thưa vâng, tâu đại vương," người hầu đó vâng lệnh vua Reṇu, đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda; sau khi đến, nói với Bà-la-môn Mahāgovinda điều này: "Thưa ngài, vua Reṇu cho gọi ngài." "Thưa vâng, bạn," Bà-la-môn Mahāgovinda vâng lời người hầu đó, đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, chào hỏi thân thiện với vua Reṇu.

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và lịch sự, ông ngồi xuống một bên. Khi Bà-la-môn Mahāgovinda đã ngồi một bên, thưa các ngài, vua Reṇu nói điều này: "Xin ngài Govinda hãy chia mảnh đất lớn này, phía Bắc thì dài, phía Nam thì hình miệng xe bò, thành bảy phần bằng nhau và phân định rõ ràng."

"Thưa vâng, tâu đại vương," Bà-la-môn Mahāgovinda vâng lời vua Reṇu, chia mảnh đất lớn này, phía Bắc thì dài, phía Nam thì hình miệng xe bò, thành bảy phần bằng nhau và phân định rõ ràng. Ông thiết lập tất cả các biên giới hình miệng xe bò. Ở chính giữa là vương quốc của vua Reṇu.

Dantapura của người Kaliṅga, và Potana của người Assaka;
Mahesaya của người Avanti, và Roruka của người Sovīra.

Mithilā của người Videha, Campā được xây dựng cho người Aṅga;
Và Bārāṇasī của người Kāsi, đó là những nơi do Govinda phân định.

Khi ấy, thưa các ngài, sáu vị Sát-đế-lỵ vô cùng hoan hỷ với phần lãnh thổ của mình, ý nguyện đã được trọn vẹn: "Những gì chúng ta mong muốn, những gì chúng ta khao khát, những gì chúng ta dự định, những gì chúng ta ước ao, chúng ta đã đạt được."

Vua Sattabhū và Brahmadatta, Vessabhū cùng với Bharata; Reṇu và hai vị Dhataraṭṭha, đó là bảy vị vua thời bấy giờ.

Kết thúc phần tụng thứ nhất.

6.2. Tiếng tăm vang dội (Kittisaddaabbhuggamana)

Khi ấy, thưa các ngài, sáu vị Sát-đế-lỵ đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda; sau khi đến, nói với Bà-la-môn Mahāgovinda điều này: "Như ngài Govinda là người bạn thân thiết, yêu quý, vừa ý, không trái nghịch của vua Reṇu. Cũng vậy, ngài Govinda cũng là người bạn thân thiết, yêu quý, vừa ý, không trái nghịch của chúng tôi, xin ngài Govinda hãy khuyên bảo chúng tôi; xin ngài Govinda đừng từ chối việc khuyên bảo."

"Thưa vâng, các ngài," Bà-la-môn Mahāgovinda nhận lời sáu vị Sát-đế-lỵ đó. Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda làm cố vấn cho bảy vị vua Sát-đế-lỵ đã được lễ rưới nước lên đầu, và dạy chú thuật cho bảy vị Bà-la-môn đại gia cùng bảy trăm thanh niên đã tắm gội (những người đã hoàn thành việc học Vệ-đà).

Rồi, thưa các ngài, sau một thời gian, tiếng tăm tốt đẹp này của Bà-la-môn Mahāgovinda vang dội: "Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt nhìn thấy Phạm thiên, Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt đàm đạo, nói chuyện, thảo luận với Phạm thiên."

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda nghĩ như vầy: "Tiếng tăm tốt đẹp này của ta đã vang dội: 'Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt nhìn thấy Phạm thiên, Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt đàm đạo, nói chuyện, thảo luận với Phạm thiên.' Nhưng ta không hề nhìn thấy Phạm thiên, không đàm đạo với Phạm thiên, không nói chuyện với Phạm thiên, không thảo luận với Phạm thiên. Ta đã nghe điều này từ những vị Bà-la-môn trưởng lão, cao tuổi, các bậc thầy và tổ sư nói rằng: 'Ai trong bốn tháng mùa mưa sống ẩn cư, tu tập Thiền-na (jhāna) của Tâm thông cảm (bi / karuṇā), người đó sẽ nhìn thấy Phạm thiên, đàm đạo với Phạm thiên, nói chuyện với Phạm thiên, thảo luận với Phạm thiên.' Hay là ta nên sống ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm."

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, nói với vua Reṇu điều này: "Thưa ngài, tiếng tăm tốt đẹp này của tôi đã vang dội: 'Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt nhìn thấy Phạm thiên, Bà-la-môn Mahāgovinda tận mắt đàm đạo, nói chuyện, thảo luận với Phạm thiên.' Nhưng thưa ngài, tôi không hề nhìn thấy Phạm thiên, không đàm đạo với Phạm thiên, không nói chuyện với Phạm thiên, không thảo luận với Phạm thiên. Tôi đã nghe điều này từ những vị Bà-la-môn trưởng lão, cao tuổi, các bậc thầy và tổ sư nói rằng: 'Ai trong bốn tháng mùa mưa sống ẩn cư, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm, người đó sẽ nhìn thấy Phạm thiên, đàm đạo với Phạm thiên, nói chuyện với Phạm thiên, thảo luận với Phạm thiên.' Thưa ngài, tôi muốn sống ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm; không ai được đến gần tôi ngoại trừ một người mang thức ăn đến."

"Ngài Govinda hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc."

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ kia... "Ngài Govinda hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc."

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ bảy vị Bà-la-môn đại gia và bảy trăm thanh niên đã tắm gội; sau khi đến, nói với họ điều này: "Thưa các ngài, tiếng tăm tốt đẹp này của tôi đã vang dội... Tôi đã nghe điều này từ những vị Bà-la-môn trưởng lão... 'Ai trong bốn tháng mùa mưa sống ẩn cư, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm, người đó sẽ nhìn thấy Phạm thiên...'. Do đó, thưa các ngài, hãy tụng đọc chi tiết các chú thuật như đã được nghe, như đã được học, và hãy dạy chú thuật cho nhau; thưa các ngài, tôi muốn sống ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm;

không ai được đến gần tôi ngoại trừ một người mang thức ăn đến." "Ngài Govinda hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc."

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ bốn mươi người vợ ngang hàng; sau khi đến, nói với bốn mươi người vợ ngang hàng điều này: "Này các phu nhân, tiếng tăm tốt đẹp này của tôi đã vang dội... Tôi đã nghe điều này từ những vị Bà-la-môn trưởng lão... 'Ai trong bốn tháng mùa mưa sống ẩn cư, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm, người đó sẽ nhìn thấy Phạm thiên...'. Này các phu nhân, tôi muốn sống ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm; không ai được đến gần tôi ngoại trừ một người mang thức ăn đến." "Ngài Govinda hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc."

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda cho xây dựng một ngôi nhà nghỉ mới ở phía Đông thành phố, sống ẩn cư trong bốn tháng mùa mưa, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm; không ai đến gần ông ngoại trừ một người mang thức ăn đến.

Rồi, thưa các ngài, khi bốn tháng đã trôi qua, Bà-la-môn Mahāgovinda cảm thấy chán nản, cảm thấy bồn chồn: "Tôi đã nghe điều này từ những vị Bà-la-môn trưởng lão, cao tuổi, các bậc thầy và tổ sư nói rằng: 'Ai trong bốn tháng mùa mưa sống ẩn cư, tu tập Thiền-na của Tâm thông cảm, người đó sẽ nhìn thấy Phạm thiên, đàm đạo với Phạm thiên, nói chuyện với Phạm thiên, thảo luận với Phạm thiên.' Nhưng tôi không hề nhìn thấy Phạm thiên, không đàm đạo với Phạm thiên, không nói chuyện với Phạm thiên, không thảo luận với Phạm thiên."

6.3. Đàm đạo với Phạm thiên (Brahmunāsākacchā)

Khi ấy, thưa các ngài, Phạm thiên Sanaṅkumāra biết được tâm tư của Bà-la-môn Mahāgovinda bằng tâm của mình — giống như một người đàn ông lực lưỡng duỗi cánh tay đang co lại, hoặc co cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy — ngài biến mất khỏi cõi Phạm thiên và xuất hiện ngay trước mặt Bà-la-môn Mahāgovinda. Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda cảm thấy sợ hãi, cảm thấy kinh hoàng, cảm thấy sởn gai ốc khi nhìn thấy hình dáng chưa từng thấy đó. Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda sợ hãi, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược, đã nói với Phạm thiên Sanaṅkumāra bằng vần kệ:

"Đầy dung sắc, vinh quang và uy nghi, ngài là ai thưa ngài;
Không biết ngài nên chúng tôi hỏi, làm sao chúng tôi biết được ngài?"

"Họ biết ta là Đồng Tử, ở cõi Phạm thiên từ ngàn xưa;
Tất cả chư thiên đều biết ta, này Govinda hãy biết như vậy."

"Chỗ ngồi, nước rửa chân, và mật ong cùng rau quả dâng lên Phạm thiên;
Chúng tôi xin hỏi ngài về lễ vật, xin ngài hãy nhận lễ vật của chúng tôi."

"Ta nhận lễ vật của ông, những gì ông nói này Govinda;
Vì lợi ích trong hiện tại, và vì hạnh phúc trong tương lai;
Đã có cơ hội hãy hỏi đi, bất cứ điều gì ông mong muốn."

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda nghĩ như vầy: "Ta đã được Phạm thiên Sanaṅkumāra cho phép. Ta nên hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra về lợi ích trong hiện tại hay lợi ích trong tương lai?"

Rồi, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda nghĩ như vầy: "Ta đã thành thạo về những lợi ích trong hiện tại, và những người khác cũng hỏi ta về lợi ích trong hiện tại. Hay là ta chỉ nên hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra về lợi ích trong tương lai." Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đã hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra bằng vần kệ:

"Tôi xin hỏi Phạm thiên Sanaṅkumāra, người không còn nghi ngờ về những điều người khác muốn biết;
Đứng ở đâu và học tập điều gì, con người mới đạt được cõi Phạm thiên bất tử?"

"Từ bỏ sự chấp ngã ở loài người, này Phạm chí,
Trở nên nhất tâm, giải thoát qua Tâm thông cảm;
Không có mùi xú uế (āmagandha), tránh xa việc dâm dục,
Đứng ở đây và học tập điều này;
Con người mới đạt được cõi Phạm thiên bất tử."

"'Từ bỏ sự chấp ngã', điều này tôi hiểu lời ngài. Ở đây có người từ bỏ khối tài sản nhỏ hoặc từ bỏ khối tài sản lớn, từ bỏ vòng thân thuộc nhỏ hoặc từ bỏ vòng thân thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, như vậy là 'từ bỏ sự chấp ngã', điều này tôi hiểu lời ngài.

'Trở nên nhất tâm', điều này tôi hiểu lời ngài. Ở đây có người lui tới chỗ ở thanh vắng: rừng núi, gốc cây, khe núi, hang động, nghĩa địa, rừng sâu, bãi đất trống, đống rơm, như vậy là 'trở nên nhất tâm', điều này tôi hiểu lời ngài.

'Giải thoát qua Tâm thông cảm', điều này tôi hiểu lời ngài. Ở đây có người an trú với tâm tràn đầy Tâm thông cảm lan tỏa một hướng, cũng vậy hướng thứ hai, cũng vậy hướng thứ ba, cũng vậy hướng thứ tư. Cứ như thế, lan tỏa lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp mọi nơi, vì sự đồng nhất với tất cả, người ấy an trú với tâm tràn đầy Tâm thông cảm lan tỏa khắp toàn bộ thế giới, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Như vậy là 'giải thoát qua Tâm thông cảm', điều này tôi hiểu lời ngài.

Nhưng về mùi xú uế, tôi không hiểu lời ngài nói.

Những gì là mùi xú uế ở loài người, thưa Phạm thiên,
Xin bậc trí giả hãy nói cho người không biết ở đây;
Bị che lấp bởi điều gì mà chúng sinh tạo ra,
Bị đọa vào cõi dữ và bị che lấp khỏi cõi Phạm thiên?"\

"Tức giận, nói dối, lừa gạt và phản trắc,
Keo kiệt, kiêu ngạo, ganh tị;
Mong muốn, khao khát, làm hại người khác,
Ám ảnh dễ chịu (tham / lobha), ám ảnh khó chịu (sân / dosa), say sưa và sự u mê (si / moha);
Bị trói buộc trong những điều này là không thoát khỏi mùi xú uế,
Bị đọa vào cõi dữ và bị che lấp khỏi cõi Phạm thiên."

"Theo như tôi hiểu lời ngài nói về mùi xú uế. Những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình. Thưa ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình."

"Ngài Govinda hãy làm những gì ngài cho là đúng lúc."

6.4. Báo tin cho vua Reṇu (Reṇurājaāmantanā)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ vua Reṇu; sau khi đến, nói với vua Reṇu điều này: "Bây giờ xin ngài hãy tìm một vị quan tế tự khác, người sẽ khuyên bảo vương quốc của ngài. Thưa ngài, tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình. Thưa ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình."

"Tôi báo tin cho nhà vua, Reṇu chúa tể của đất đai;
Ngài hãy tự mình cai quản vương quốc, tôi không còn vui thích với chức quan tế tự."

"Nếu ngài thiếu thốn dục lạc, tôi sẽ làm cho ngài đầy đủ;
Ai làm hại ngài tôi sẽ ngăn chặn, tôi là tổng tư lệnh của đất đai;
Ngài là cha tôi là con, xin Govinda đừng rời bỏ chúng tôi."

"Tôi không thiếu thốn dục lạc, không ai làm hại tôi;
Nghe lời của đấng phi nhân, nên tôi không còn vui thích ở nhà."

"Đấng phi nhân đó hình dáng ra sao, đã nói với ngài điều gì;
Mà nghe xong ngài lại rời bỏ chúng tôi, và toàn bộ ngôi nhà này?"

"Trước đây khi tôi đang ẩn cư, với mong muốn được tế tự;
Ngọn lửa đang bốc cháy, được rải đầy lá kusa.

Rồi Phạm thiên xuất hiện trước tôi, từ cõi Phạm thiên ngàn xưa;
Ngài đã giải đáp câu hỏi cho tôi, nghe xong tôi không còn vui thích ở nhà."

"Tôi tin tưởng ngài, những gì ngài nói này Govinda;
Nghe lời của đấng phi nhân, làm sao ngài có thể làm khác được.

Chúng tôi sẽ đi theo ngài, ngài Govinda là bậc thầy của chúng tôi;
Giống như viên ngọc lưu ly, không tỳ vết, trong sáng, tuyệt đẹp;
Chúng tôi cũng sẽ sống thanh tịnh như vậy, theo lời khuyên của Govinda.

Nếu ngài Govinda xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó."

6.5. Báo tin cho sáu vị Sát-đế-lỵ (Chakhattiyaāmantanā)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ sáu vị Sát-đế-lỵ kia; sau khi đến, nói với sáu vị Sát-đế-lỵ điều này: "Bây giờ xin các ngài hãy tìm một vị quan tế tự khác, người sẽ khuyên bảo vương quốc của các ngài. Thưa các ngài, tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình. Thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình."

Khi ấy, thưa các ngài, sáu vị Sát-đế-lỵ bước sang một bên và cùng suy nghĩ như vầy: "Những người Bà-la-môn này vốn tham tiền; hay là chúng ta dùng tiền bạc để giữ Bà-la-môn Mahāgovinda lại."

Họ đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda và nói như vầy: "Thưa ngài, trong bảy vương quốc này có rất nhiều tài sản, ngài cần bao nhiêu, chúng tôi sẽ mang đến bấy nhiêu."

"Thôi đi các ngài, chính tôi cũng có rất nhiều tài sản nhờ vào các ngài. Tôi sẽ từ bỏ tất cả để xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình, thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình."

Khi ấy, thưa các ngài, sáu vị Sát-đế-lỵ bước sang một bên và cùng suy nghĩ như vầy: "Những người Bà-la-môn này vốn tham phụ nữ; hay là chúng ta dùng phụ nữ để giữ Bà-la-môn Mahāgovinda lại."

Họ đi đến chỗ Bà-la-môn Mahāgovinda và nói như vầy: "Thưa ngài, trong bảy vương quốc này có rất nhiều phụ nữ, ngài cần bao nhiêu, chúng tôi sẽ mang đến bấy nhiêu."

"Thôi đi các ngài, chính tôi cũng có bốn mươi người vợ ngang hàng. Tôi sẽ từ bỏ tất cả để xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình, thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình."

"Nếu ngài Govinda xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó."

"Nếu các ngài từ bỏ dục lạc, nơi mà người thường bị trói buộc;
Hãy bắt đầu mạnh mẽ lên, kiên định với sức mạnh của sự nhẫn nhục.

Đây là con đường ngay thẳng, đây là con đường vô thượng;
Điều dạy chân chính được người hiền bảo vệ, để tái sinh vào cõi Phạm thiên."

"Vậy thì xin ngài Govinda hãy đợi bảy năm. Sau bảy năm, chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó."

"Bảy năm là quá lâu, thưa các ngài, tôi không thể đợi các ngài bảy năm. Ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao. Đời sau là nơi phải đến, cần phải hiểu bằng trí tuệ, cần phải làm những điều thiện, cần phải thực hành lối sống thanh tịnh, không có chuyện sinh ra mà không chết. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình, thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình."

"Vậy thì xin ngài Govinda hãy đợi sáu năm... năm năm... bốn năm... ba năm... hai năm... một năm, sau một năm chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó." "Một năm là quá lâu, thưa các ngài, tôi không thể đợi các ngài một năm. Ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao... Thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình." "Vậy thì xin ngài Govinda hãy đợi bảy tháng, sau bảy tháng chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó." "Bảy tháng là quá lâu, thưa các ngài, tôi không thể đợi các ngài bảy tháng. Ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao... Thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình." "Vậy thì xin ngài Govinda hãy đợi sáu tháng... năm tháng... bốn tháng... ba tháng... hai tháng... một tháng... nửa tháng, sau nửa tháng chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó."

"Nửa tháng là quá lâu, thưa các ngài, tôi không thể đợi các ngài nửa tháng. Ai mà biết được mạng sống sẽ ra sao. Đời sau là nơi phải đến, cần phải hiểu bằng trí tuệ, cần phải làm những điều thiện, cần phải thực hành lối sống thanh tịnh, không có chuyện sinh ra mà không chết. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình, thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình."

"Vậy thì xin ngài Govinda hãy đợi bảy ngày, để chúng tôi giao lại vương quốc cho con cái và anh em cai quản, sau bảy ngày chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó."

"Bảy ngày thì không lâu, thưa các ngài, tôi sẽ đợi các ngài bảy ngày."

6.6. Báo tin cho các Bà-la-môn đại gia (Brāhmaṇamahāsālādīnaṁāmantanā)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ bảy vị Bà-la-môn đại gia và bảy trăm thanh niên đã tắm gội; sau khi đến, nói với họ điều này: "Bây giờ xin các ngài hãy tìm một vị thầy khác, người sẽ dạy chú thuật cho các ngài. Thưa các ngài, tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế. Những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình, thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình."

"Xin ngài Govinda đừng xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Thưa ngài, sự xuất gia thì ít quyền lực và ít lợi lộc; còn địa vị Bà-la-môn thì nhiều quyền lực và nhiều lợi lộc."

"Xin các ngài đừng nói như vầy: 'Sự xuất gia thì ít quyền lực và ít lợi lộc, còn địa vị Bà-la-môn thì nhiều quyền lực và nhiều lợi lộc.' Thưa các ngài, ai khác ngoài tôi có nhiều quyền lực hơn hay nhiều lợi lộc hơn. Thưa các ngài, hiện nay tôi giống như vua của các vị vua, giống như Phạm thiên của các Bà-la-môn, giống như chư thiên của các gia chủ. Tôi sẽ từ bỏ tất cả để xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình. Thưa các ngài, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình."

"Nếu ngài Govinda xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó."

6.7. Báo tin cho các người vợ (Bhariyānaṁāmantanā)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến chỗ bốn mươi người vợ ngang hàng; sau khi đến, nói với bốn mươi người vợ ngang hàng điều này: "Này các phu nhân, ai muốn thì hãy về nhà người thân của mình hoặc tìm một người chồng khác. Này các phu nhân, tôi muốn xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Theo như tôi nghe Phạm thiên nói về mùi xú uế, những điều đó không dễ gì dập tắt khi còn sống trong gia đình. Này các phu nhân, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình."

"Ngài chính là người thân của chúng tôi khi chúng tôi cần người thân, ngài là chồng của chúng tôi khi chúng tôi cần chồng. Nếu ngài Govinda xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, chúng tôi cũng sẽ xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình, khi đó ngài đi về đâu, chúng tôi sẽ đi về đó."

6.8. Sự xuất gia của Mahāgovinda (Mahāgovindapabbajjā)

Khi ấy, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda sau bảy ngày đó đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. Khi Bà-la-môn Mahāgovinda xuất gia, bảy vị vua Sát-đế-lỵ đã được lễ rưới nước lên đầu, bảy vị Bà-la-môn đại gia, bảy trăm thanh niên đã tắm gội, bốn mươi người vợ ngang hàng, hàng ngàn Sát-đế-lỵ, hàng ngàn Bà-la-môn, hàng ngàn gia chủ, và phụ nữ từ nhiều hậu cung đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình theo sau Bà-la-môn Mahāgovinda.

Được hội chúng đó vây quanh, thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda đi du hành qua các làng mạc, thị trấn và kinh đô. Thưa các ngài, vào thời điểm đó, khi Bà-la-môn Mahāgovinda đi đến một làng mạc hay thị trấn nào, ở đó ông giống như vua của các vị vua, giống như Phạm thiên của các Bà-la-môn, giống như chư thiên của các gia chủ. Vào thời điểm đó, khi mọi người hắt hơi hay vấp ngã. Họ đều nói như vầy: "Kính lễ Bà-la-môn Mahāgovinda, kính lễ vị quan tế tự của bảy vương quốc."

Thưa các ngài, Bà-la-môn Mahāgovinda an trú với tâm tràn đầy Tâm yêu thương lan tỏa một hướng, cũng vậy hướng thứ hai, cũng vậy hướng thứ ba, cũng vậy hướng thứ tư. Cứ như thế, lan tỏa lên trên, xuống dưới, bề ngang, khắp mọi nơi, vì sự đồng nhất với tất cả, ông an trú với tâm tràn đầy Tâm yêu thương lan tỏa khắp toàn bộ thế giới, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Với tâm tràn đầy Tâm thông cảm... Với tâm tràn đầy Tâm cùng vui... Với tâm tràn đầy Tâm bình thản... không ác ý. Ông đã thuyết giảng cho các đệ tử con đường dẫn đến sự cộng trú ở cõi Phạm thiên.

Thưa các ngài, vào thời điểm đó, những đệ tử nào của Bà-la-môn Mahāgovinda thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp. Sau khi thân hoại mạng chung, họ tái sinh vào cõi lành, cõi Phạm thiên. Những ai không thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp, sau khi thân hoại mạng chung, một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại (Paranimmitavasavattī); một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Hóa Lạc (Nimmānaratī); một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Đâu-suất (Tusita); một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Dạ-ma (Yāma); một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Đao-lợi (Tāvatiṁsa); một số tái sinh cộng trú với chư thiên cõi Tứ Thiên Vương (Cātumahārājikā); những ai chỉ làm sung mãn thân phận thấp kém nhất thì làm sung mãn thân phận nhạc thần (gandhabba).

Như vậy, thưa các ngài, sự xuất gia của tất cả những thiện nam tử đó không phải là vô ích, không phải là trống rỗng, mà có kết quả, có lợi ích.'

Thế Tôn có nhớ điều đó không?"

"Ta nhớ, này Pañcasikha. Vào thời điểm đó, ta chính là Bà-la-môn Mahāgovinda. Ta đã thuyết giảng cho các đệ tử con đường dẫn đến sự cộng trú ở cõi Phạm thiên. Nhưng này Pañcasikha, lối sống thanh tịnh đó không dẫn đến sự nhàm chán, không dẫn đến sự phai nhạt, không dẫn đến sự chấm dứt, không dẫn đến sự tĩnh lặng, không dẫn đến sự hiểu biết trực tiếp, không dẫn đến sự giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn, mà chỉ dẫn đến sự tái sinh vào cõi Phạm thiên.

Còn lối sống thanh tịnh này của ta, này Pañcasikha, hoàn toàn dẫn đến sự nhàm chán, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự tĩnh lặng, sự hiểu biết trực tiếp, sự giác ngộ, và Niết-bàn. Và lối sống thanh tịnh nào, này Pañcasikha, hoàn toàn dẫn đến sự nhàm chán, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự tĩnh lặng, sự hiểu biết trực tiếp, sự giác ngộ, và Niết-bàn? Đó chính là Tám Bước Thiện (Bát Thánh Đạo). Cụ thể là — Nhìn Thấy Thiện (sammādiṭṭhi), Suy Nghĩ Thiện (sammāsaṅkappa), Lời Nói Thiện (sammāvācā), Hành Động Thiện (sammākammanta), Đời Sống Thiện (sammāājīva), Nỗ lực Thiện (sammāvāyāma), Tự Quan Sát Thiện (sammāsati), Định thiện (sammāsamādhi). Đây chính là lối sống thanh tịnh, này Pañcasikha, hoàn toàn dẫn đến sự nhàm chán, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự tĩnh lặng, sự hiểu biết trực tiếp, sự giác ngộ, và Niết-bàn.

Này Pañcasikha, những đệ tử nào của ta thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp, do cạn kiệt (đoạn tận / khayā) các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), họ tự mình trải nghiệm trực tiếp, chứng ngộ và an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn nguồn ác ngay trong hiện tại;

những ai không thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp, do diệt trừ hoàn toàn năm Xiềng Xích (kiết sử / saṁyojana) cõi dưới, họ sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātika) tại đó, nhập diệt hoàn toàn tại đó, không còn quay trở lại từ thế giới đó nữa.

Những ai không thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp, một số do diệt trừ hoàn toàn ba Xiềng Xích, làm nhẹ bớt đắm nhiễm (tham / rāga), ám ảnh khó chịu (sân / dosa) và sự u mê (si / moha), họ trở thành bậc Nhất lai, chỉ quay lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt đau khổ.

Những ai không thấu hiểu trọn vẹn giáo pháp, một số do diệt trừ hoàn toàn ba Xiềng Xích, họ trở thành bậc Dự lưu, không còn rơi vào cõi dữ, chắc chắn hướng đến sự giác ngộ.

Như vậy, này Pañcasikha, sự xuất gia của tất cả những thiện nam tử này không phải là vô ích, không phải là trống rỗng, mà có kết quả, có lợi ích."

Thế Tôn đã nói như vậy. Nhạc thần Pañcasikha hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn nói, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh ngài rồi biến mất ngay tại chỗ.

Kết thúc kinh Mahāgovinda, kinh thứ sáu.