DN 28. KINH NIỀM TIN TRONG SÁNG
(Sampasādanīyasutta)
Bản tóm tắt→
1. Tiếng rống sư tử của Sāriputta (Sāriputtasīhanāda)
Tôi nghe như vầy — một thời Thế Tôn trú tại Nāḷandā, trong rừng xoài Pāvārika. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta thưa với Thế Tôn điều này:
"Bạch Thế Tôn, con có niềm tin tuyệt đối (tịnh tín - niềm tin trong sáng / pasanno) vào Thế Tôn như thế này: không đã có, không sẽ có, và hiện tại không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ (thắng tri / abhiññā) cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn (chánh giác / sambodhi)."
"Này Sāriputta, lời nói này của ông thật lớn lao, dũng mãnh, ông đã nắm bắt một cách quả quyết, đã rống lên tiếng rống sư tử: 'Bạch Thế Tôn, con có niềm tin tuyệt đối vào Thế Tôn như thế này: không đã có, không sẽ có, và hiện tại không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn.'
Này Sāriputta, có phải ông đã dùng tâm mình để thấu hiểu tâm của tất cả các bậc A-la-hán, những bậc Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ, và biết rằng: 'Các Thế Tôn ấy có giới luật như thế này, các Thế Tôn ấy dạy Quy luật (pháp / dhamma) như thế này, các Thế Tôn ấy có trí tuệ như thế này, các Thế Tôn ấy có cách sinh sống như thế này, các Thế Tôn ấy có sự giải thoát như thế này' không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này Sāriputta, có phải ông đã dùng tâm mình để thấu hiểu tâm của tất cả các bậc A-la-hán, những bậc Chánh Đẳng Giác sẽ xuất hiện trong thời tương lai, và biết rằng: 'Các Thế Tôn ấy sẽ có giới luật như thế này, các Thế Tôn ấy dạy Quy luật... có trí tuệ... có cách sinh sống... các Thế Tôn ấy sẽ có sự giải thoát như thế này' không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này Sāriputta, có phải ông hiện tại đã dùng tâm mình để thấu hiểu tâm của Ta, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và biết rằng: 'Thế Tôn có giới luật như thế này, Thế Tôn dạy Quy luật... có trí tuệ... có cách sinh sống... Thế Tôn có sự giải thoát như thế này' không?"
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Này Sāriputta, ở đây ông không có khả năng đọc tâm trí người khác (tha tâm thông / cetopariyañāṇa) đối với các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tương lai và hiện tại. Vậy thì tại sao, này Sāriputta, ông lại thốt ra lời nói lớn lao, dũng mãnh, nắm bắt một cách quả quyết, rống lên tiếng rống sư tử: 'Bạch Thế Tôn, con có niềm tin tuyệt đối vào Thế Tôn như thế này: không đã có, không sẽ có, và hiện tại không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn'?"
"Bạch Thế Tôn, con không có khả năng đọc tâm trí người khác đối với các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, tương lai và hiện tại. Tuy nhiên, con đã biết được nguyên lý của Quy luật (pháp trạch / dhammanvaya). Giống như, bạch Thế Tôn, một thành phố biên ải của nhà vua, có nền móng vững chắc, có tường thành và tháp canh kiên cố, chỉ có một cổng duy nhất. Tại đó có một người gác cổng thông minh, tài giỏi, sáng suốt, ngăn chặn những người không quen biết và cho phép những người quen biết đi vào. Người ấy đi dọc theo con đường vòng quanh thành phố, không nhìn thấy một khe hở hay lỗ hổng nào trên tường thành, dù chỉ đủ cho một con mèo chui lọt. Người ấy suy nghĩ thế này: 'Bất cứ sinh vật lớn, có thể nhìn thấy nào đi vào hay đi ra khỏi thành phố này, tất cả chúng đều phải đi vào hay đi ra qua cánh cổng này.'
Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con đã biết được nguyên lý của Quy luật. Bạch Thế Tôn, tất cả các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ, các Thế Tôn ấy đều đã từ bỏ (đoạn trừ / pahāya) Năm điều làm mờ yếu (5 triền cái / pañca nīvaraṇe), những sự bám bẩn (tùy phiền não / upakkilese) của tâm làm suy yếu trí tuệ, đã thiết lập sự chú tâm ở bốn nơi vững chắc trong tâm (tứ niệm xứ / satipaṭṭhāna), đã phát triển đúng như thật Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ (thất giác chi / satta sambojjhaṅge), và đã thức tỉnh đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn vô thượng. Bạch Thế Tôn, tất cả các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sẽ xuất hiện trong thời tương lai, các Thế Tôn ấy cũng sẽ từ bỏ Năm điều làm mờ yếu, những sự bám bẩn của tâm làm suy yếu trí tuệ, sẽ thiết lập sự chú tâm ở bốn nơi vững chắc trong tâm, sẽ phát triển đúng như thật Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ, và sẽ thức tỉnh đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn vô thượng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, cũng đã từ bỏ Năm điều làm mờ yếu, những sự bám bẩn của tâm làm suy yếu trí tuệ, đã thiết lập chú tâm ở bốn nơi vững chắc trong tâm, đã phát triển đúng như thật Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ, và đã thức tỉnh đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn vô thượng.
Bạch Thế Tôn, ở đây con đã đi đến chỗ Thế Tôn để nghe về những Quy luật. Thế Tôn đã dạy Quy luật cho con, từ thấp đến cao, ngày càng tinh tế, phần đen và phần trắng đối chiếu nhau. Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn dạy Quy luật cho con từ thấp đến cao, ngày càng tinh tế, với sự phân biệt phần đen và phần trắng đối chiếu nhau như thế nào, thì theo đó con đạt được sự hiểu hết toàn bộ về Quy luật, đạt đến sự hoàn tất với Quy luật ấy trong các Quy luật; con có niềm tin tuyệt đối vào Bậc Đạo Sư: 'Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Quy luật được Thế Tôn khéo giảng dạy, Tăng chúng đệ tử đang thực hành đúng đắn.'
1.1. Giảng dạy về những điều thiện (Kusaladhammadesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về những điều thiện (pháp thiện / kusalesu dhammesu). Ở đây, những điều thiện là như sau — thiết lập chú tâm ở bốn nơi, bốn Siêng năng thiện (tứ chánh cần / sammappadhānā), bốn cổng thần thông (tứ như ý túc / iddhipādā), năm năng lực tinh thần (ngũ căn / pañcindriyāni), năm sức mạnh (ngũ lực / pañca balāni), Bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ, Tám Bước Thiện (bát chánh đạo / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo). Ở đây, bạch Thế Tôn, vị tỳ kheo nhờ cạn kiệt (đoạn tận / khayā) các nguồn ác (lậu hoặc / āsava), tự mình hiểu hết toàn bộ và chứng ngộ ngay trong hiện tại sự giải thoát của tâm không còn nguồn ác, sự giải thoát qua trí tuệ, và an trú trong đó. Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong những điều thiện. Thế Tôn hiểu hết toàn bộ điều đó không sót chút nào; khi Thế Tôn đã hiểu hết toàn bộ không sót chút nào, thì không còn gì cao hơn để hiểu hết toàn bộ nữa, không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về điều này, tức là về những điều thiện.
1.2. Giảng dạy về sự gọi tên các trường giao tiếp (Āyatanapaṇṇattidesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về sự gọi tên các trường giao tiếp (xứ thi thiết / āyatanapaṇṇattīsu). Bạch Thế Tôn, có sáu trường (xứ / āyatana) bên trong và bên ngoài này. Mắt và hình ảnh, tai và âm thanh, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và Xúc, giác quan trí não (ý căn / mano) và mọi Điều (pháp / dhammā). Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong sự gọi tên các trường giao tiếp. Thế Tôn hiểu hết toàn bộ điều đó không sót chút nào; khi Thế Tôn đã hiểu hết toàn bộ không sót chút nào, thì không còn gì cao hơn để hiểu hết toàn bộ nữa, không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về điều này, tức là về sự gọi tên các trường giao tiếp.
1.3. Giảng dạy về sự đi vào bào thai (Gabbhāvakkantidesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về sự đi vào bào thai (thai tạng nhập / gabbhāvakkantīsu). Bạch Thế Tôn, có bốn sự đi vào bào thai này.
Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không nhận biết rõ ràng (asampajāno) khi đi vào bụng mẹ; không nhận biết rõ ràng khi ở trong bụng mẹ; không nhận biết rõ ràng khi chui ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự đi vào bào thai thứ nhất.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người nhận biết rõ ràng (sampajāno) khi đi vào bụng mẹ; không nhận biết rõ ràng khi ở trong bụng mẹ; không nhận biết rõ ràng khi chui ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự đi vào bào thai thứ hai.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người nhận biết rõ ràng khi đi vào bụng mẹ; nhận biết rõ ràng khi ở trong bụng mẹ; không nhận biết rõ ràng khi chui ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự đi vào bào thai thứ ba.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người nhận biết rõ ràng khi đi vào bụng mẹ; nhận biết rõ ràng khi ở trong bụng mẹ; nhận biết rõ ràng khi chui ra khỏi bụng mẹ. Đây là sự đi vào bào thai thứ tư.
Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong sự đi vào bào thai.
1.4. Giảng dạy về cách thức đọc tâm (Ādesanavidhādesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về cách thức đọc tâm (tha tâm thông / ādesanavidhāsu). Bạch Thế Tôn, có bốn cách thức đọc tâm này.
Ở đây, bạch Thế Tôn, có người đọc tâm thông qua dấu hiệu (nimitta): 'Ý nghĩ của ông như thế này, ý nghĩ của ông như thế kia, trạng thái tâm của ông là như vậy.' Dù người ấy có đọc tâm nhiều lần, thì nó vẫn đọc đúng, không khác được. Đây là cách thức đọc tâm thứ nhất.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người không đọc tâm thông qua dấu hiệu. Nhưng sau khi nghe âm thanh của con người, phi nhân, hay chư thiên, người ấy đọc tâm: 'Ý nghĩ của ông như thế này, ý nghĩ của ông như thế kia, trạng thái tâm của ông là như vậy.' Dù người ấy có đọc tâm nhiều lần, thì nó vẫn đọc đúng, không khác được. Đây là cách thức đọc tâm thứ hai.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người không đọc tâm thông qua dấu hiệu, cũng không đọc tâm sau khi nghe âm thanh của con người, phi nhân, hay chư thiên. Nhưng sau khi nghe rung động nảy sinh từ quá trình suy nghĩ của một người đang chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / vitakkayato vicārayato), người ấy đọc tâm: 'Ý nghĩ của ông như thế này, ý nghĩ của ông như thế kia, trạng thái tâm của ông là như vậy.' Dù người ấy có đọc tâm nhiều lần, thì nó vẫn đọc đúng, không khác được. Đây là cách thức đọc tâm thứ ba.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có người không đọc tâm thông qua dấu hiệu, không đọc tâm sau khi nghe âm thanh của con người, phi nhân, hay chư thiên, cũng không đọc tâm sau khi nghe rung động nảy sinh từ quá trình suy nghĩ của một người đang chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý. Nhưng bằng tâm của mình, người ấy thấu hiểu tâm của một người đã nhập vào Định không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), và biết rõ: 'Các hoạt động của tâm ý (ý hành / manosaṅkhāra) của vị này được hướng đến đâu, thì ngay sau trạng thái tâm ý này, vị ấy sẽ khởi lên tư duy có tên gọi này.'. Dù người ấy có đọc tâm nhiều lần, thì nó vẫn đọc đúng, không khác được. Đây là cách thức đọc tâm thứ tư.
Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong cách thức đọc tâm.
1.5. Giảng dạy về sự thành tựu về khả năng quan sát (Dassanasamāpattidesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về sự thành tựu về khả năng quan sát (kiến đạt / dassanasamāpattīsu). Bạch Thế Tôn, có bốn sự thành tựu về khả năng quan sát này.
Ở đây, bạch Thế Tôn, có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm, nhờ nỗ lực, nhờ chuyên cần, nhờ sáng suốt (không phóng dật / appamāda), nhờ tìm hiểu bản chất (sammāmanasikāra) mà chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi lớp da, chứa đầy đủ loại bất tịnh: 'Trong cơ thể này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột non, ruột già, thức ăn trong dạ dày, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu.' Đây là sự thành tựu về khả năng quan sát thứ nhất.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm... [...lặp lại...] ...chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi lớp da, chứa đầy đủ loại bất tịnh: 'Trong cơ thể này có tóc, lông... [...lặp lại...] ...dịch khớp, nước tiểu.' Vượt qua điều đó, người ấy quan sát bộ xương cùng với da, thịt, máu của con người. Đây là sự thành tựu về khả năng quan sát thứ hai.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm... [...lặp lại...] ...chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi lớp da, chứa đầy đủ loại bất tịnh: 'Trong cơ thể này có tóc, lông... [...lặp lại...] ...dịch khớp, nước tiểu.' Vượt qua điều đó, người ấy quan sát bộ xương cùng với da, thịt, máu của con người. Và người ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti) dòng chảy của nhận thức('Cái Biết') (thức lưu / viññāṇasota) của con người, không bị đứt đoạn ở cả hai đầu, được thiết lập ở thế giới này và được thiết lập ở thế giới khác. Đây là sự thành tựu về khả năng quan sát thứ ba.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm... [...lặp lại...] ...chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy quan sát chính cơ thể này, từ lòng bàn chân trở lên, từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi lớp da, chứa đầy đủ loại bất tịnh: 'Trong cơ thể này có tóc, lông... [...lặp lại...] ...dịch khớp, nước tiểu.' Vượt qua điều đó, người ấy quan sát bộ xương cùng với da, thịt, máu của con người. Và người ấy biết rõ dòng chảy của nhận thức('Cái Biết') của con người, không bị đứt đoạn ở cả hai đầu, không được thiết lập ở thế giới này và cũng không được thiết lập ở thế giới khác. Đây là sự thành tựu về khả năng quan sát thứ tư.
Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong sự thành tựu về khả năng quan sát.
1.6. Giảng dạy về sự phân loại người (Puggalapaṇṇattidesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về sự phân loại người (nhân thi thiết / puggalapaṇṇattīsu). Bạch Thế Tôn, có bảy hạng người này: người được giải thoát cả hai phần (ubhatobhāgavimutta), người được giải thoát qua trí tuệ (paññāvimutta), người chứng nghiệm qua cơ thể (kāyasakkhi), người đạt đến qua quan điểm (diṭṭhippatta), người được giải thoát qua niềm tin (saddhāvimutta), người đi theo Quy luật (dhammānusārī), người đi theo niềm tin (saddhānusārī). Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong sự phân loại người.
1.7. Giảng dạy về sự nỗ lực (Padhānadesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về sự nỗ lực (tinh cần / padhānesu). Bạch Thế Tôn, có bảy Dấu hiệu Của Giác ngộ (thất giác chi) này: dấu hiệu chú tâm (niệm giác chi), dấu hiệu khả năng tìm hiểu-phân tích (trạch pháp giác chi), dấu hiệu Nỗ Lực (tinh tấn giác chi), dấu hiệu sự hân hoan (hỷ giác chi), dấu hiệu cơ thể lắng dịu (khinh an giác chi), dấu hiệu Định (định giác chi), dấu hiệu Tâm cân bằng (xả giác chi). Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong sự nỗ lực.
1.8. Giảng dạy về cách thức thực hành (Paṭipadādesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về cách thức thực hành (hành đạo / paṭipadāsu).
Bạch Thế Tôn, có bốn cách thức thực hành này:
- Thực hành đau khổ (khổ / dukkhā) với hiểu hết toàn bộ chậm chạp,
- Thực hành đau khổ với hiểu hết toàn bộ nhanh chóng,
- Thực hành hạnh phúc (lạc / sukhā) với hiểu hết toàn bộ chậm chạp,
- Thực hành hạnh phúc với hiểu hết toàn bộ nhanh chóng.
Trong đó, bạch Thế Tôn, cách thức thực hành nào đau khổ với hiểu hết toàn bộ chậm chạp, thì cách thức thực hành này, bạch Thế Tôn, được gọi là thấp kém ở cả hai mặt: vì tính chất đau khổ và vì tính chất chậm chạp. Trong đó, bạch Thế Tôn, cách thức thực hành nào đau khổ với hiểu hết toàn bộ nhanh chóng, thì cách thức thực hành này, bạch Thế Tôn, được gọi là thấp kém vì tính chất đau khổ. Trong đó, bạch Thế Tôn, cách thức thực hành nào hạnh phúc với hiểu hết toàn bộ chậm chạp, thì cách thức thực hành này, bạch Thế Tôn, được gọi là thấp kém vì tính chất chậm chạp. Trong đó, bạch Thế Tôn, cách thức thực hành nào hạnh phúc với hiểu hết toàn bộ nhanh chóng, thì cách thức thực hành này, bạch Thế Tôn, được gọi là thù thắng ở cả hai mặt: vì tính chất hạnh phúc và vì tính chất nhanh chóng.
Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong cách thức thực hành.
1.9. Giảng dạy về cách cư xử trong lời nói và các điều khác (Bhassasamācārādidesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về cách cư xử trong lời nói (ngôn ngữ sở hành / bhassasamācāre). Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không nói lời dính líu đến nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời vu khống, không nói lời sinh ra từ sự tranh cãi với mong muốn chiến thắng; người ấy suy nghĩ kỹ lưỡng rồi mới nói lời nói có giá trị lưu giữ, đúng thời điểm. Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong cách cư xử trong lời nói.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về cách cư xử đạo đức của con người (purisasīlasamācāre). Ở đây, bạch Thế Tôn, có người chân thật và có niềm tin, không lừa đảo, không nịnh hót, không bóng gió, không chê bai, không dùng lợi lộc để tìm kiếm lợi lộc, bảo vệ (thu thúc / guttadvāro) các giác quan, biết chừng mực trong ăn uống, làm việc cân bằng, chuyên tâm vào sự tỉnh thức, không lười biếng, nỗ lực kiên trì, hay hành Thiền, có chú tâm, có khả năng ứng đối tốt, có trí tuệ nhanh nhạy, có sự kiên định, có sự hiểu biết, không thèm khát (giddho) sự dễ chịu giác quan, có chú tâm và sáng suốt. Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong cách cư xử đạo đức của con người.
1.10. Giảng dạy về cách thức hướng dẫn (Anusāsanavidhādesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về cách thức hướng dẫn (giáo giới / anusāsanavidhāsu). Bạch Thế Tôn, có bốn cách thức hướng dẫn này —
Bằng sự phân tích tận gốc rễ (yonisomanasikāra), Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: 'Người này khi thực hành theo đúng như được hướng dẫn, qua việc cạn kiệt ba Xiềng Xích, sẽ trở thành bậc Nhập lưu (sotāpanno), không còn khả năng rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến sự giác ngộ hoàn toàn.'
Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: 'Người này khi thực hành theo đúng như được hướng dẫn, qua việc cạn kiệt ba Xiềng Xích và làm nhẹ sự đắm nhiễm (tham / rāga), ám ảnh khó chịu (sân / dosa), và Sự u mê (si / moha), sẽ trở thành bậc Nhất lai (sakadāgāmī), chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt đau khổ.'
Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: 'Người này khi thực hành theo đúng như được hướng dẫn, qua việc cạn kiệt phần dưới năm Xiềng Xích trói buộc (hạ phần kiết sử), sẽ sinh ra tự nhiên (hóa sanh / opapātiko), nhập Niết-bàn tại đó, không còn quay trở lại từ thế giới ấy nữa.'
Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: 'Người này khi thực hành theo đúng như được hướng dẫn, do cạn kiệt các nguồn ác, sẽ tự mình hiểu hết toàn bộ và chứng ngộ ngay trong hiện tại sự giải thoát của tâm không còn nguồn ác, sự giải thoát qua trí tuệ, và an trú trong đó.'
Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong cách thức hướng dẫn.
1.11. Giảng dạy về Trí biết sự giải thoát của người khác (Parapuggalavimuttiñāṇadesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Điều về Trí tuệ biết sự giải thoát của người khác (parapuggalavimuttiñāṇe).
Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: 'Người này đã cạn kiệt ba Xiềng Xích, sẽ trở thành bậc Nhập lưu, không còn khả năng rơi vào cõi ác, chắc chắn hướng đến sự giác ngộ hoàn toàn.'
Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: 'Người này do cạn kiệt ba Xiềng Xích và làm mỏng nhẹ sự đắm nhiễm, ám ảnh khó chịu, và Sự u mê, sẽ trở thành bậc Nhất lai, chỉ trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt đau khổ.'
Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: 'Người này do cạn kiệt năm Xiềng Xích trói buộc cõi dưới, sẽ sinh ra tự nhiên, nhập Niết-bàn tại đó, không còn quay trở lại từ thế giới ấy nữa.'
Bằng sự phân tích tận gốc rễ, Thế Tôn đánh giá cá nhân một người và biết rõ: 'Người này do cạn kiệt các nguồn ác, sẽ tự mình hiểu hết toàn bộ và chứng ngộ ngay trong hiện tại sự giải thoát của tâm không còn nguồn ác, sự giải thoát qua trí tuệ, và an trú trong đó.' Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong 'cái biết' về sự giải thoát của người khác.
1.12. Giảng dạy về quan điểm tồn tại mãi mãi (Sassatavādadesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về quan điểm tồn tại mãi mãi (thường kiến / sassatavādesu). Bạch Thế Tôn, có ba quan điểm tồn tại mãi mãi này.
Ở đây, bạch Thế Tôn, có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm... [...lặp lại...] ...chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Cụ thể là — một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều trăm đời, nhiều ngàn đời, nhiều trăm ngàn đời: 'Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở nơi nọ; tại nơi nọ, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở đây.' Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Người ấy nói thế này: 'Ta biết thời quá khứ — thế giới co rút lại hay thế giới giãn nở ra. Ta biết thời tương lai — thế giới sẽ co rút lại hay thế giới sẽ giãn nở ra. Bản ngã và thế giới là tồn tại mãi mãi, không sinh sản, đứng vững như đỉnh núi, trụ vững như cột trụ. Còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi, sinh lại, nhưng bản ngã và thế giới thì vẫn tồn tại mãi mãi.' Đây là quan điểm tồn tại mãi mãi thứ nhất.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm... [...lặp lại...] ...chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Cụ thể là — một chu kỳ co rút-giãn nở, hai chu kỳ co rút-giãn nở, ba chu kỳ... bốn chu kỳ... năm chu kỳ... mười chu kỳ co rút-giãn nở: 'Tại nơi kia, ta có tên như thế này... [...lặp lại...] ...sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở đây.' Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Người ấy nói thế này: 'Ta biết thời quá khứ — thế giới co rút lại hay thế giới giãn nở ra. Ta biết thời tương lai — thế giới sẽ co rút lại hay thế giới sẽ giãn nở ra. Bản ngã và thế giới là tồn tại mãi mãi, không sinh sản, đứng vững như đỉnh núi, trụ vững như cột trụ. Còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi, sinh lại, nhưng bản ngã và thế giới thì vẫn tồn tại mãi mãi.' Đây là quan điểm tồn tại mãi mãi thứ hai.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, ở đây có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm... [...lặp lại...] ...chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Cụ thể là — mười chu kỳ co rút-giãn nở, hai mươi chu kỳ... ba mươi chu kỳ... bốn mươi chu kỳ co rút-giãn nở: 'Tại nơi kia, ta có tên như thế này... [...lặp lại...] ...sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở đây.' Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Người ấy nói thế này: 'Ta biết thời quá khứ — thế giới co rút lại và thế giới giãn nở ra; ta biết thời tương lai — thế giới sẽ co rút lại và thế giới sẽ giãn nở ra. Bản ngã và thế giới là tồn tại mãi mãi, không sinh sản, đứng vững như đỉnh núi, trụ vững như cột trụ. Còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi, sinh lại, nhưng bản ngã và thế giới thì vẫn tồn tại mãi mãi.' Đây là quan điểm tồn tại mãi mãi thứ ba.
Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong các quan điểm tồn tại mãi mãi.
1.13. Giảng dạy về Trí tuệ nhớ lại đời sống quá khứ (Pubbenivāsānussatiñāṇadesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về Trí tuệ nhớ lại đời sống quá khứ (túc mạng trí / pubbenivāsānussatiñāṇe). Ở đây, bạch Thế Tôn, có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm... [...lặp lại...] ...chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau. Cụ thể là — một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều chu kỳ co rút, nhiều chu kỳ giãn nở, nhiều chu kỳ co rút-giãn nở: 'Tại nơi kia, ta có tên như thế này... [...lặp lại...] ...sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở đây.' Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Bạch Thế Tôn, có những chư thiên mà tuổi thọ của họ không thể tính đếm bằng phép đếm hay phép tính. Tuy nhiên, dù người ấy đã từng sinh sống trong bất kỳ hình thể nào, dù là có vật chất (sắc / rūpīsu) hay không có vật chất (vô sắc / arūpīsu), dù là có nhận thức (hữu tưởng / saññīsu) hay không có nhận thức (vô tưởng / asaññīsu), hay Không Phải "Có Nhận Thức"; Cũng Không Phải "Mất Nhận Thức" (phi tưởng phi phi tưởng / nevasaññīnāsaññīsu). Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết. Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong Trí tuệ nhớ lại đời sống quá khứ.
1.14. Giảng dạy về Trí tuệ về sự chết và tái sinh (Cutūpapātañāṇadesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về Trí tuệ về sự chết và tái sinh của chúng sinh (sinh tử trí / cutūpapātañāṇe). Ở đây, bạch Thế Tôn, có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm... [...lặp lại...] ...chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, với mắt thần thanh tịnh vượt quá khả năng của con người, người ấy nhìn thấy các chúng sinh đang chết đi và sinh lại, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, có số phận tốt và số phận xấu, người ấy biết rõ các chúng sinh đi theo hành động (nghiệp) của mình: 'Thật vậy, những chúng sinh này có hành động xấu của thân, hành động xấu của lời nói, hành động xấu của ý nghĩ, phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm sai (tà kiến / micchādiṭṭhikā), hành động theo quan điểm sai. Sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ sinh vào cõi dữ, số phận xấu, cõi đọa đày, địa ngục. Còn những chúng sinh này có hành động tốt của thân, hành động tốt của lời nói, hành động tốt của ý nghĩ, không phỉ báng các bậc thánh, có Nhìn thấy Thiện (chánh kiến / sammādiṭṭhikā), hành động theo Nhìn thấy Thiện. Sau khi cơ thể tan rã, sau khi chết, họ sinh vào số phận tốt, thế giới cõi trời.' Như vậy, với mắt thần thanh tịnh vượt quá khả năng của con người, người ấy nhìn thấy các chúng sinh đang chết đi và sinh lại, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, có số phận tốt và số phận xấu, người ấy biết rõ các chúng sinh đi theo hành động của mình. Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong Trí tuệ về sự chết và tái sinh của chúng sinh.
1.15. Giảng dạy về các loại thần thông (Iddhividhadesanā)
Lại nữa, bạch Thế Tôn, đây là điều vô thượng: cách Thế Tôn dạy Quy luật về các loại thần thông (thần túc thông / iddhividhāsu). Bạch Thế Tôn, có hai loại thần thông này — có loại thần thông, bạch Thế Tôn, đi kèm với nguồn ác, còn bám víu (hữu y / saupadhikā), được gọi là 'không thuộc về bậc thánh'. Có loại thần thông, bạch Thế Tôn, không có nguồn ác, không còn bám víu (vô y / anupadhikā), được gọi là 'thuộc về bậc thánh'.
Thế nào là loại thần thông đi kèm với nguồn ác, còn bám víu, được gọi là 'không thuộc về bậc thánh'? Ở đây, bạch Thế Tôn, có sa-môn hay bà-la-môn nhờ nhiệt tâm... [...lặp lại...] ...chạm đến trạng thái Định của tâm; khi tâm được Định như vậy, người ấy trải nghiệm nhiều loại thần thông khác nhau — từ một người biến thành nhiều người, từ nhiều người biến thành một người; hiện hình, tàng hình; đi xuyên qua tường, qua rào, qua núi mà không bị cản trở như đi trong không gian; lặn xuống và trồi lên từ mặt đất như ở trong nước; đi trên nước mà không chìm như đi trên đất; ngồi kiết già bay trong không gian như con chim có cánh; chạm và xoa vuốt mặt trăng mặt trời vốn có sức mạnh và uy lực lớn như vậy bằng bàn tay; kiểm soát cơ thể cho đến tận cõi Phạm thiên. Đây là loại thần thông, bạch Thế Tôn, đi kèm với nguồn ác, còn bám víu, được gọi là 'không thuộc về bậc thánh'.
Còn thế nào là loại thần thông không có nguồn ác, không còn bám víu, được gọi là 'thuộc về bậc thánh'? Ở đây, bạch Thế Tôn, nếu vị tỳ kheo mong muốn: 'Mong sao ta an trú với nhận thức không ghê tởm đối với điều đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với nhận thức không ghê tởm đối với điều đó. Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong sao ta an trú với nhận thức ghê tởm đối với điều không đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với nhận thức ghê tởm đối với điều đó. Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong sao ta an trú với nhận thức không ghê tởm đối với cả điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với nhận thức không ghê tởm đối với điều đó. Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong sao ta an trú với nhận thức ghê tởm đối với cả điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm', thì vị ấy an trú với nhận thức ghê tởm đối với điều đó. Nếu vị ấy mong muốn: 'Mong sao ta loại bỏ cả điều đáng ghê tởm và điều không đáng ghê tởm, an trú với Tâm bình thản (xả / upekkhā), có chú tâm và nhận biết rõ ràng', thì vị ấy an trú với Tâm bình thản đối với điều đó, có chú tâm và nhận biết rõ ràng. Đây là loại thần thông, bạch Thế Tôn, không có nguồn ác, không còn bám víu, được gọi là 'thuộc về bậc thánh'.
Đây là điều vô thượng, bạch Thế Tôn, trong các loại thần thông. Thế Tôn hiểu hết toàn bộ điều đó không sót chút nào; khi Thế Tôn đã hiểu hết toàn bộ không sót chút nào, thì không còn gì cao hơn để hiểu hết toàn bộ nữa, không có một sa-môn hay bà-la-môn nào khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về điều này, tức là về các loại thần thông.
1.16. Thấy rõ các phẩm chất khác của Bậc Đạo Sư (Aññathāsatthuguṇadassana)
Bạch Thế Tôn, những gì mà một người con trai gia đình có niềm tin cần phải đạt được bằng nỗ lực kiên trì, bằng sức mạnh, bằng sức mạnh của con người, bằng nỗ lực của con người, bằng sự dũng cảm của con người, bằng sự gánh vác của con người, thì Thế Tôn đã đạt được điều đó. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không đắm chìm trong sự dễ chịu giác quan, không chạy theo sự đam mê dục lạc — vốn thấp kém, phàm tục, thuộc về người thường, không thuộc về bậc thánh, không mang lại lợi ích; Thế Tôn cũng không chạy theo sự tự hành xác — vốn đau khổ, không thuộc về bậc thánh, không mang lại lợi ích. Thế Tôn là người đạt được theo ý muốn, đạt được không khó khăn, đạt được không mệt nhọc bốn trạng thái Thiền-na thuộc về tâm trí cao thượng, mang lại sự an trú hạnh phúc ngay trong hiện tại.
1.17. Cách thức trả lời khi bị chất vấn (Anuyogadānappakāra)
Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con thế này: 'Này bạn Sāriputta, có phải trong thời quá khứ đã có những sa-môn hay bà-la-môn khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?', khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là 'Không'. 'Này bạn Sāriputta, có phải trong thời tương lai sẽ có những sa-môn hay bà-la-môn khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?', khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là 'Không'. 'Này bạn Sāriputta, có phải hiện tại có sa-môn hay bà-la-môn khác có hiểu hết toàn bộ cao hơn Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?', khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là 'Không'.
Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con thế này: 'Này bạn Sāriputta, có phải trong thời quá khứ đã có những sa-môn hay bà-la-môn khác ngang bằng với Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?', khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là 'Có'. 'Này bạn Sāriputta, có phải trong thời tương lai sẽ có những sa-môn hay bà-la-môn khác ngang bằng với Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?', khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là 'Có'. 'Này bạn Sāriputta, có phải hiện tại có những sa-môn hay bà-la-môn khác ngang bằng với Thế Tôn về sự giác ngộ hoàn toàn không?', khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời là 'Không'.
Nhưng bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con thế này: 'Tại sao Tôn giả Sāriputta lại thừa nhận một điều và không thừa nhận một điều khác?', khi bị hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ giải thích như sau: 'Này bạn, tôi đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp từ Thế Tôn: "Trong thời quá khứ đã có các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ngang bằng với Ta về sự giác ngộ hoàn toàn." Này bạn, tôi đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp từ Thế Tôn: "Trong thời tương lai sẽ có các bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác ngang bằng với Ta về sự giác ngộ hoàn toàn." Này bạn, tôi đã nghe trực tiếp từ Thế Tôn, đã ghi nhận trực tiếp từ Thế Tôn: "Không có chỗ, không có khả năng để trong cùng một hệ thống thế giới lại có hai bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện cùng lúc, không trước không sau, điều đó không thể xảy ra."'
Bạch Thế Tôn, khi bị hỏi như vậy và giải thích như vậy, con có phải là người nói đúng lời của Thế Tôn, không xuyên tạc Thế Tôn bằng điều không thật, giải thích Quy luật thuận theo Quy luật, và không có một người bạn đồng tu nào có thể tìm ra lý do chính đáng để chê trách không?"
"Chắc chắn rồi, này Sāriputta, khi bị hỏi như vậy và giải thích như vậy, ông là người nói đúng lời của Ta, không xuyên tạc Ta bằng điều không thật, giải thích Quy luật thuận theo Quy luật, và không có một người bạn đồng tu nào có thể tìm ra lý do chính đáng để chê trách."
2. Điều kỳ diệu và phi thường (Acchariyaabbhuta)
Khi được nói như vậy, Tôn giả Udāyī thưa với Thế Tôn điều này: "Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật phi thường, bạch Thế Tôn! Sự ít mong muốn (ít dục / appicchatā), sự biết đủ (tri túc / santuṭṭhitā), sự gọt giũa (khổ hạnh / sallekhatā) của Như Lai. Mặc dù Như Lai có thần thông lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy, nhưng Ngài không hề phô trương bản thân. Bạch Thế Tôn, nếu các du sĩ ngoại đạo tìm thấy ở bản thân họ dù chỉ một Điều trong số những Điều này, họ sẽ giương cờ đi khắp nơi. Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật phi thường, bạch Thế Tôn! Sự ít mong muốn, sự biết đủ, sự gọt giũa của Như Lai. Mặc dù Như Lai có thần thông lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy, nhưng Ngài không hề phô trương bản thân."
"Này Udāyī, hãy xem sự ít mong muốn, sự biết đủ, sự gọt giũa của Như Lai. Mặc dù Như Lai có thần thông lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy, nhưng Ngài không hề phô trương bản thân. Này Udāyī, nếu các du sĩ ngoại đạo tìm thấy ở bản thân họ dù chỉ một Điều trong số những Điều này, họ sẽ giương cờ đi khắp nơi. Này Udāyī, hãy xem sự ít mong muốn, sự biết đủ, sự gọt giũa của Như Lai. Mặc dù Như Lai có thần thông lớn như vậy, có uy lực lớn như vậy, nhưng Ngài không hề phô trương bản thân."
Sau đó, Thế Tôn gọi Tôn giả Sāriputta: "Vì vậy, này Sāriputta, ông nên thường xuyên giảng dạy bài kinh này cho các tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Này Sāriputta, đối với những kẻ ngu muội nào có sự nghi ngờ hay phân vân về Như Lai, sau khi nghe bài kinh này, sự nghi ngờ hay phân vân của họ về Như Lai sẽ bị từ bỏ."
Như vậy, Tôn giả Sāriputta đã bày tỏ sự trong sáng ngay trước mặt Thế Tôn. Do đó, bài giảng này được gọi là "Làm cho niềm tin trong sáng" (Sampasādanīya).
Kinh Làm cho niềm tin trong sáng kết thúc, là bài kinh thứ năm.