Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 1. Gốc Rễ Của Mọi Sự Vật

(Kinh Mūlapariyāya)

[1] 1. Tôi nghe như vầy. ^1 Một lần nọ, Đức Phật (The Blessed One) đang ở tại Ukkaṭthā, trong khu rừng Subhaga, dưới gốc cây sāla. Tại đó, Ngài nói với các tỳ kheo (bhikkhus): “Này các tỳ kheo.” Các vị ấy đáp: “Bạch Thế Tôn.” Đức Phật nói:

2. “Này các tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các con về gốc rễ của mọi sự vật. ^3 Hãy lắng nghe và chú tâm đến những gì Ta sẽ nói.” - “Vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo đáp. Đức Phật nói:

1. KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN

TẬP I 1. KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN (Mùlapariyàya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú tại (tụ lạc) Ukkattha, trong rừng Subhaga (rừng Hạnh phúc), dưới gốc cây Sa-la vương. Tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo!”. - “Bạch Thế Tôn”, những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: “Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ giảng cho các Người “Pháp môn căn bản tất cả pháp”. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói”. - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

(NGƯỜI PHÀM PHU)

3. "Ở đây, này các tỳ kheo, một người phàm phu (ordinary person) ít học, ^4 không kính trọng các bậc Thánh (noble ones), không hiểu rõ và không thực hành theo Giáo Pháp (Dhamma) của các bậc Thánh, không kính trọng các bậc chân nhân (true men), không hiểu rõ và không thực hành theo Giáo Pháp của các bậc chân nhân, nhận thức đất là đất. ^5 Khi đã nhận thức đất là đất, người ấy tưởng [mình là] đất, tưởng [mình] ở trong đất, tưởng [mình] tách rời khỏi đất, tưởng đất là ‘của tôi’, người ấy thích thú với đất. ^6 Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy. ^7

4. "Người ấy nhận thức nước là nước. Khi đã nhận thức nước là nước, người ấy tưởng [mình là] nước, tưởng [mình] ở trong nước, tưởng [mình] tách rời khỏi nước, tưởng nước là ‘của tôi’, người ấy thích thú với nước. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

5. "Người ấy nhận thức lửa là lửa. Khi đã nhận thức lửa là lửa, người ấy tưởng [mình là] lửa, tưởng [mình] ở trong lửa, tưởng [mình] tách rời khỏi lửa, tưởng lửa là ‘của tôi’, người ấy thích thú với lửa. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

6. "Người ấy nhận thức gió là gió. Khi đã nhận thức gió là gió, người ấy tưởng [mình là] gió, tưởng [mình] ở trong gió, tưởng [mình] tách rời khỏi gió, tưởng gió là ‘của tôi’, người ấy thích thú với gió. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy. [2]

7. "Người ấy nhận thức chúng sinh (beings) là chúng sinh. ^8 Khi đã nhận thức chúng sinh là chúng sinh, người ấy tưởng chúng sinh, tưởng [mình] ở trong chúng sinh, tưởng [mình] tách rời khỏi chúng sinh, tưởng chúng sinh là ‘của tôi’, người ấy thích thú với chúng sinh. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

8. "Người ấy nhận thức chư thiên (gods) là chư thiên. ^9 Khi đã nhận thức chư thiên là chư thiên, người ấy tưởng chư thiên, tưởng [mình] ở trong chư thiên, tưởng [mình] tách rời khỏi chư thiên, tưởng chư thiên là ‘của tôi’, người ấy thích thú với chư thiên. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

9. "Người ấy nhận thức Pajāpati là Pajāpati. ^10 Khi đã nhận thức Pajāpati là Pajāpati, người ấy tưởng Pajāpati, tưởng [mình] ở trong Pajāpati, tưởng [mình] tách rời khỏi Pajāpati, tưởng Pajāpati là ‘của tôi’, người ấy thích thú với Pajāpati. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

10. "Người ấy nhận thức Phạm Thiên (Brahmā) là Phạm Thiên. ^11 Khi đã nhận thức Phạm Thiên là Phạm Thiên, người ấy tưởng Phạm Thiên, tưởng [mình] ở trong Phạm Thiên, tưởng [mình] tách rời khỏi Phạm Thiên, tưởng Phạm Thiên là ‘của tôi’, người ấy thích thú với Phạm Thiên. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

11. "Người ấy nhận thức chư thiên Quang Âm (gods of Streaming Radiance) là chư thiên Quang Âm. ^12 Khi đã nhận thức chư thiên Quang Âm là chư thiên Quang Âm, người ấy tưởng chư thiên Quang Âm, tưởng [mình] ở trong chư thiên Quang Âm, tưởng [mình] tách rời khỏi chư thiên Quang Âm, tưởng chư thiên Quang Âm là ‘của tôi’, người ấy thích thú với chư thiên Quang Âm. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

12. "Người ấy nhận thức chư thiên Biến Tịnh (gods of Refulgent Glory) là chư thiên Biến Tịnh. ^13 Khi đã nhận thức chư thiên Biến Tịnh là chư thiên Biến Tịnh, người ấy tưởng chư thiên Biến Tịnh, tưởng [mình] ở trong chư thiên Biến Tịnh, tưởng [mình] tách rời khỏi chư thiên Biến Tịnh, tưởng chư thiên Biến Tịnh là ‘của tôi’, người ấy thích thú với chư thiên Biến Tịnh. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

13. "Người ấy nhận thức chư thiên Quảng Quả (gods of Great Fruit) là chư thiên Quảng Quả. ^14 Khi đã nhận thức chư thiên Quảng Quả là chư thiên Quảng Quả, người ấy tưởng chư thiên Quảng Quả, tưởng [mình] ở trong chư thiên Quảng Quả, tưởng [mình] tách rời khỏi chư thiên Quảng Quả, tưởng chư thiên Quảng Quả là ‘của tôi’, người ấy thích thú với chư thiên Quảng Quả. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

14. "Người ấy nhận thức Đấng Tối Thượng (the Overlord) là Đấng Tối Thượng. ^15 Khi đã nhận thức Đấng Tối Thượng là Đấng Tối Thượng, người ấy tưởng Đấng Tối Thượng, tưởng [mình] ở trong Đấng Tối Thượng, tưởng [mình] tách rời khỏi Đấng Tối Thượng, tưởng Đấng Tối Thượng là ‘của tôi’, người ấy thích thú với Đấng Tối Thượng. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

15. "Người ấy nhận thức Không Vô Biên Xứ (base of infinite space) là Không Vô Biên Xứ. ^16 Khi đã nhận thức Không Vô Biên Xứ là Không Vô Biên Xứ, người ấy tưởng [mình là] Không Vô Biên Xứ, tưởng [mình] ở trong Không Vô Biên Xứ, tưởng [mình] tách rời khỏi Không Vô Biên Xứ, tưởng Không Vô Biên Xứ là ‘của tôi’, người ấy thích thú với Không Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

16. "Người ấy nhận thức Thức Vô Biên Xứ (base of infinite consciousness) là Thức Vô Biên Xứ. Khi đã nhận thức Thức Vô Biên Xứ là Thức Vô Biên Xứ, [3] người ấy tưởng [mình là] Thức Vô Biên Xứ, tưởng [mình] ở trong Thức Vô Biên Xứ, tưởng [mình] tách rời khỏi Thức Vô Biên Xứ, tưởng Thức Vô Biên Xứ là ‘của tôi’, người ấy thích thú với Thức Vô Biên Xứ. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

17. "Người ấy nhận thức Vô Sở Hữu Xứ (base of nothingness) là Vô Sở Hữu Xứ. Khi đã nhận thức Vô Sở Hữu Xứ là Vô Sở Hữu Xứ, người ấy tưởng [mình là] Vô Sở Hữu Xứ, tưởng [mình] ở trong Vô Sở Hữu Xứ, tưởng [mình] tách rời khỏi Vô Sở Hữu Xứ, tưởng Vô Sở Hữu Xứ là ‘của tôi’, người ấy thích thú với Vô Sở Hữu Xứ. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

18. "Người ấy nhận thức Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (base of neither-perception-nor-nonperception) là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Khi đã nhận thức Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, người ấy tưởng [mình là] Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tưởng [mình] ở trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tưởng [mình] tách rời khỏi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, tưởng Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là ‘của tôi’, người ấy thích thú với Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

19. "Người ấy nhận thức cái thấy (the seen) là cái thấy. ^17 Khi đã nhận thức cái thấy là cái thấy, người ấy tưởng [mình là] cái thấy, tưởng [mình] ở trong cái thấy, tưởng [mình] tách rời khỏi cái thấy, tưởng cái thấy là ‘của tôi’, người ấy thích thú với cái thấy. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

20. "Người ấy nhận thức cái nghe (the heard) là cái nghe. Khi đã nhận thức cái nghe là cái nghe, người ấy tưởng [mình là] cái nghe, tưởng [mình] ở trong cái nghe, tưởng [mình] tách rời khỏi cái nghe, tưởng cái nghe là ‘của tôi’, người ấy thích thú với cái nghe. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

21. "Người ấy nhận thức cái cảm giác (the sensed) là cái cảm giác. Khi đã nhận thức cái cảm giác là cái cảm giác, người ấy tưởng [mình là] cái cảm giác, tưởng [mình] ở trong cái cảm giác, tưởng [mình] tách rời khỏi cái cảm giác, tưởng cái cảm giác là ‘của tôi’, người ấy thích thú với cái cảm giác. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

22. "Người ấy nhận thức cái nhận thức (the cognized) là cái nhận thức. Khi đã nhận thức cái nhận thức là cái nhận thức, người ấy tưởng [mình là] cái nhận thức, tưởng [mình] ở trong cái nhận thức, tưởng [mình] tách rời khỏi cái nhận thức, tưởng cái nhận thức là ‘của tôi’, người ấy thích thú với cái nhận thức. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

23. "Người ấy nhận thức cái duy nhất (unity) là cái duy nhất. ^18 Khi đã nhận thức cái duy nhất là cái duy nhất, người ấy tưởng [mình là] cái duy nhất, tưởng [mình] ở trong cái duy nhất, tưởng [mình] tách rời khỏi cái duy nhất, tưởng cái duy nhất là ‘của tôi’, người ấy thích thú với cái duy nhất. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

24. "Người ấy nhận thức cái đa dạng (diversity) là cái đa dạng. Khi đã nhận thức cái đa dạng là cái đa dạng, người ấy tưởng [mình là] cái đa dạng, tưởng [mình] ở trong cái đa dạng, tưởng [mình] tách rời khỏi cái đa dạng, tưởng cái đa dạng là ‘của tôi’, người ấy thích thú với cái đa dạng. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

25. "Người ấy nhận thức tất cả (all) là tất cả. ^19 Khi đã nhận thức tất cả là tất cả, người ấy tưởng [mình là] tất cả, [4] tưởng [mình] ở trong tất cả, tưởng [mình] tách rời khỏi tất cả, tưởng tất cả là ‘của tôi’, người ấy thích thú với tất cả. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

26. "Người ấy nhận thức Niết Bàn (Nibbāna) là Niết Bàn. ^20 Khi đã nhận thức Niết Bàn là Niết Bàn, người ấy tưởng [mình là] Niết Bàn, tưởng [mình] ở trong Niết Bàn, tưởng [mình] tách rời khỏi Niết Bàn, tưởng Niết Bàn là ‘của tôi’, người ấy thích thú với Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì người ấy chưa hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

(Phàm phu)

– Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: “Ðịa đại là của ta” - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.

Người ấy tưởng tri thủy đại là thủy đại. Vì tưởng tri thủy đại là thủy đại, người ấy nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) như là thủy đại, người ấy nghĩ: “Thủy đại là của ta” - dục hỷ thủy đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại.

Người ấy tưởng tri hỏa đại là hỏa đại. Vì tưởng tri hỏa đại là hỏa đại, người ấy nghĩ đến hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là hỏa đại, người ấy nghĩ: “Hỏa đại là của ta”- dục hỷ hỏa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri hỏa đại.

Người ấy tưởng tri phong đại là phong đại. Vì tưởng tri phong đại là phong đại, người ấy nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với phong đại, nghĩ đến (tự ngã) như là phong đại, người ấy nghĩ: “Phong đại là của ta”- dục hỷ phong đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri phong đại.

Người ấy tưởng tri Sanh vật là Sanh vật… Người ấy tưởng tri chư Thiên là chư Thiên… Người ấy tưởng tri Sanh chủ là Sanh chủ… Người ấy tưởng tri Phạm thiên là Phạm thiên… Người ấy tưởng tri Quang âm thiên là Quang âm thiên… Người ấy tưởng tri Biến tịnh thiên là Biến tịnh thiên… Người ấy tưởng tri Quảng quả thiên là Quảng quả thiên… Người ấy tưởng tri Abhibhù (Thắng Giả) là Abhibhù…

Người ấy tưởng tri Không vô biên xứ là Không vô biên xứ… Người ấy tưởng tri Thức vô biên xứ là Thức vô biên xứ… Người ấy tưởng tri Vô sở hữu xứ là Vô sở hữu xứ… Người ấy tưởng tri Phi tưởng phi phi tưởng xứ là Phi tưởng phi phi tưởng xứ…

Người ấy tưởng tri sở kiến là sở kiến… Người ấy tưởng tri sở văn là sở văn… Người ấy tưởng tri sở tư niệm là sở tư niệm… Người ấy tưởng tri sở tri là sở tri…

Người ấy tưởng tri đồng nhất là đồng nhất… Người ấy tưởng tri sai biệt là sai biệt… Người ấy tưởng tri tất cả là tất cả…

Người ấy tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn, người ấy nghĩ đến Niết-bàn, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn. Nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, người ấy nghĩ: “Niết-bàn là của ta” - dục hỷ Niết-bàn, Vì sao vậy? Ta nói: Người ấy không liễu tri Niết-bàn.

(VỊ ĐỆ TỬ ĐANG TU TẬP CAO HƠN)

27. "Này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo đang tu tập cao hơn, ^21 tâm chưa đạt đến mục tiêu, và vẫn đang hướng tới sự an toàn tối thượng khỏi sự trói buộc, trực tiếp biết đất là đất. ^22 Khi đã trực tiếp biết đất là đất, vị ấy không nên tưởng [mình là] đất, không nên tưởng [mình] ở trong đất, không nên tưởng [mình] tách rời khỏi đất, không nên tưởng đất là ‘của tôi’, không nên thích thú với đất. Vì sao vậy? Để vị ấy có thể hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy. ^23

28-49. "Vị ấy trực tiếp biết nước là nước…Vị ấy trực tiếp biết tất cả là tất cả…

28. "Vị ấy trực tiếp biết Niết Bàn là Niết Bàn. Khi đã trực tiếp biết Niết Bàn là Niết Bàn, vị ấy không nên tưởng [mình là] Niết Bàn, không nên tưởng [mình] ở trong Niết Bàn, không nên tưởng [mình] tách rời khỏi Niết Bàn, không nên tưởng Niết Bàn là ‘của tôi’, không nên thích thú với Niết Bàn. Vì sao vậy? Để vị ấy có thể hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

(Vị hữu học)

Này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, đã không nghĩ: “Ðịa đại là của ta”, - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại.

Vị ấy thắng tri thủy đại… hỏa đại… phong đại… Sanh vật… chư Thiên… Sanh chủ… Phạm thiên… Quang âm thiên… Biến tịnh thiên… Quảng quả thiên… Abhibhù (Thắng Giả)… Không vô biên xứ… Thức vô biên xứ… Vô sở hữu xứ… Phi tưởng phi phi tưởng xứ… sở kiến… sở văn… sở tư niệm… sở tri… đồng nhất… sai biệt… tất cả…

Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn; vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy đã không nghĩ đến Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) như là Niết-bàn, đã không nghĩ: “Niết-bàn là của ta” - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri Niết-bàn.

(BẬC A-LA-HÁN - I)

29. "Này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo là bậc A-la-hán (arahant) đã diệt trừ các lậu hoặc (taints), đã sống đời sống phạm hạnh (holy life), đã làm xong những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục tiêu chân thật, đã phá hủy các xiềng xích của sự tồn tại, và hoàn toàn giải thoát nhờ trí tuệ cuối cùng, ^24 trực tiếp biết đất là đất. Khi đã trực tiếp biết đất là đất, vị ấy không tưởng [mình là] đất, không tưởng [mình] ở trong đất, không tưởng [mình] tách rời khỏi đất, không tưởng đất là ‘của tôi’, không thích thú với đất. Vì sao vậy? Vì vị ấy đã hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy. ^25

52-74. "Vị ấy trực tiếp biết nước là nước…Niết Bàn là Niết Bàn…Vì sao vậy? Vì vị ấy đã hiểu rõ hoàn toàn về nó, Ta nói vậy.

(BẬC A-LA-HÁN - II)

75. "Này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo là bậc A-la-hán…hoàn toàn giải thoát nhờ trí tuệ cuối cùng, [5] trực tiếp biết đất là đất. Khi đã trực tiếp biết đất là đất, vị ấy không tưởng [mình là] đất, không tưởng [mình] ở trong đất, không tưởng [mình] tách rời khỏi đất, không tưởng đất là ‘của tôi’, không thích thú với đất. Vì sao vậy? Vì vị ấy đã thoát khỏi tham ái (lust) nhờ sự diệt trừ tham ái. ^26

76-98. "Vị ấy trực tiếp biết nước là nước…Niết Bàn là Niết Bàn…Vì sao vậy? Vì vị ấy đã thoát khỏi tham ái nhờ sự diệt trừ tham ái.

(BẬC A-LA-HÁN - III)

99. "Này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo là bậc A-la-hán…hoàn toàn giải thoát nhờ trí tuệ cuối cùng, trực tiếp biết đất là đất. Khi đã trực tiếp biết đất là đất, vị ấy không tưởng [mình là] đất, không tưởng [mình] ở trong đất, không tưởng [mình] tách rời khỏi đất, không tưởng đất là ‘của tôi’, không thích thú với đất. Vì sao vậy? Vì vị ấy đã thoát khỏi sân hận (hate) nhờ sự diệt trừ sân hận.

100-122. "Vị ấy trực tiếp biết nước là nước…Niết Bàn là Niết Bàn…Vì sao vậy? Vì vị ấy đã thoát khỏi sân hận nhờ sự diệt trừ sân hận.

(BẬC A-LA-HÁN - IV)

123. "Này các tỳ kheo, một vị tỳ kheo là bậc A-la-hán…hoàn toàn giải thoát nhờ trí tuệ cuối cùng, trực tiếp biết đất là đất. Khi đã trực tiếp biết đất là đất, vị ấy không tưởng [mình là] đất, không tưởng [mình] ở trong đất, không tưởng [mình] tách rời khỏi đất, không tưởng đất là ‘của tôi’, không thích thú với đất. Vì sao vậy? Vì vị ấy đã thoát khỏi si mê (delusion) nhờ sự diệt trừ si mê.

124-146. "Vị ấy trực tiếp biết nước là nước…Niết Bàn là Niết Bàn…Vì sao vậy? Vì vị ấy đã thoát khỏi si mê nhờ sự diệt trừ si mê.

(ĐỨC PHẬT - I)

147. "Này các tỳ kheo, Đức Như Lai (Tathāgata), ^27 bậc giác ngộ (accomplished) và hoàn toàn giác ngộ (fully enlightened), trực tiếp biết đất là đất. Khi đã trực tiếp biết đất là đất, Ngài không tưởng [mình là] đất, không tưởng [mình] ở trong đất, không tưởng [mình] tách rời khỏi đất, không tưởng đất là ‘của tôi’, không thích thú với đất. [6] Vì sao vậy? Vì Đức Như Lai đã hiểu rõ hoàn toàn về nó cho đến tận cùng, Ta nói vậy. ^28

148-170. "Ngài trực tiếp biết nước là nước…Niết Bàn là Niết Bàn…Vì sao vậy? Vì Đức Như Lai đã hiểu rõ hoàn toàn về nó cho đến tận cùng, Ta nói vậy.

(ĐỨC PHẬT - II)

171. "Này các tỳ kheo, Đức Như Lai, bậc giác ngộ và hoàn toàn giác ngộ, trực tiếp biết đất là đất. Khi đã trực tiếp biết đất là đất, Ngài không tưởng [mình là] đất, không tưởng [mình] ở trong đất, không tưởng [mình] tách rời khỏi đất, không tưởng đất là ‘của tôi’, không thích thú với đất. Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là gốc rễ của khổ (suffering), và rằng với sự tồn tại (being) [làm điều kiện] thì có sinh, và rằng đối với bất cứ thứ gì đã sinh ra thì có già và chết. ^29 Do đó, này các tỳ kheo, nhờ sự diệt trừ hoàn toàn, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự từ bỏ, và sự buông bỏ các tham ái (cravings), Đức Như Lai đã giác ngộ (awakened) sự giác ngộ hoàn toàn tối thượng, Ta nói vậy. ^30

172-194. “Ngài trực tiếp biết nước là nước…Niết Bàn là Niết Bàn…Vì sao vậy? Vì Ngài đã hiểu rằng thích thú là gốc rễ của khổ, và rằng với sự tồn tại [làm điều kiện] thì có sinh, và rằng đối với bất cứ thứ gì đã sinh ra thì có già và chết. Do đó, này các tỳ kheo, nhờ sự diệt trừ hoàn toàn, sự phai nhạt, sự chấm dứt, sự từ bỏ, và sự buông bỏ các tham ái, Đức Như Lai đã giác ngộ sự giác ngộ hoàn toàn tối thượng, Ta nói vậy.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Nhưng các tỳ kheo đó đã không hoan hỷ với lời của Đức Phật. ^31

(Bậc A-la-hán - I)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: “Ðịa đại là của ta” - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri địa đại.

Vị ấy thắng tri thủy đại… hỏa đại… phong đại… sanh vật… chư Thiên… Sanh chủ… Phạm thiên… Quang âm thiên… Biến tịnh thiên… Quảng quả thiên… Abhibhù (Thắng Giả)… Không vô biên xứ… Thức vô biên xứ… Vô sở hữu xứ… Phi tưởng phi phi tưởng xứ… sở kiến… sở văn… sở tư niệm… sở tri… đồng nhất… sai biệt… tất cả… Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: “Niết-bàn là của ta” - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri Niết-bàn".

(Bậc A-la-hán - II)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng trí địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: “Ðịa đại là của ta” - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại… hỏa đại… Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết- bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: “Niết-bàn là của ta” - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.

(Bậc A-la-hán - III)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại,

không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: “Ðịa đại là của ta” - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại… hỏa đại… Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết- bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: “Niết-bàn là của ta” - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.

(Bậc A-la-hán - IV)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng trí địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: “Ðịa đại là của ta” - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại… hỏa đại… Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết- bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: “Niết-bàn là của ta” - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.

(Ðấng Như Lai - I)

Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Ngài không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: “Ðịa đại là của ta” - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vì Như Lai đã liễu tri địa đại.

Như Lai thắng tri thủy đại… hỏa đại… Như Lai thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: “Niết-bàn là của ta” - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vì Như Lai đã liễu tri Niết-bàn.

(Ðấng Như Lai - II)

Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Như Lai không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: “Ðịa đại là của ta” - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: “Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già và chết đến với loài sinh vật”. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói vì Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự từ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Như Lai thắng tri thủy đại… hỏa đại… Như Lai thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: “Niết-bàn là của Ta” – không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: “Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già chết đến với loài sinh vật”. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự trừ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác."

Như vậy, Thế Tôn thuyết giảng. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Đức Phật / Blessed One: Người đã giác ngộ, ở đây chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
  • Tỳ kheo / bhikkhu / ভিক্ষু: Nhà sư, người tu hành theo Phật giáo.
  • Thế Tôn / Venerable sir: Cách gọi tôn kính Đức Phật.
  • Người phàm phu / puthujjana / ordinary person: Người chưa giác ngộ, còn trong vòng luân hồi.
  • Bậc Thánh / ariya / noble ones: Những người đã đạt được các cấp độ giác ngộ khác nhau.
  • Giáo Pháp / Dhamma / धर्म: Lời dạy của Đức Phật.
  • Chân nhân / sappurisa / true men: Người có đạo đức, sống theo Chánh Pháp.
  • Chúng sinh / sattā / beings: Tất cả các loài có sinh mạng.
  • Chư thiên / devatā / gods: Các vị thần trong các cõi trời.
  • Phạm Thiên / Brahmā / ब्रह्मा: Vị thần cao nhất trong một số truyền thống Ấn Độ.
  • Quang Âm / Ābhassara / gods of Streaming Radiance: Một loại chư thiên.
  • Biến Tịnh / Subhakiṇṇā / gods of Refulgent Glory: Một loại chư thiên.
  • Quảng Quả / Vehapphalā / gods of Great Fruit: Một loại chư thiên.
  • Đấng Tối Thượng / abhibhū / the Overlord: Một vị thần có quyền lực lớn.
  • Không Vô Biên Xứ / ākāsānañcāyatana / base of infinite space: Một trạng thái thiền định.
  • Thức Vô Biên Xứ / viññāṇañcāyatana / base of infinite consciousness: Một trạng thái thiền định.
  • Vô Sở Hữu Xứ / ākiñcaññāyatana / base of nothingness: Một trạng thái thiền định.
  • Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ / nevasaññānāsaññāyatana / base of neither-perception-nor-nonperception: Một trạng thái thiền định.
  • Cái thấy / diṭṭha / the seen: Những gì được nhìn thấy.
  • Cái nghe / suta / the heard: Những gì được nghe.
  • Cái cảm giác / muta / the sensed: Những gì được cảm nhận qua xúc giác, vị giác, khứu giác.
  • Cái nhận thức / viññāta / the cognized: Những gì được nhận thức qua ý thức.
  • Cái duy nhất / ekatta / unity: Sự hợp nhất.
  • Cái đa dạng / nānattā / diversity: Sự khác biệt.
  • Tất cả / sabba / all: Toàn bộ.
  • Niết Bàn / Nibbāna / निर्वाण: Trạng thái giải thoát hoàn toàn khỏi khổ đau.
  • A-la-hán / arahant / अर्हत्: Bậc thánh đã diệt trừ hoàn toàn phiền não.
  • Lậu hoặc / āsava / taints: Các phiền não làm ô nhiễm tâm.
  • Phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Đời sống tu hành thanh tịnh.
  • Như Lai / Tathāgata / तथागत: Một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”.
  • Tham ái / taṇhā / craving: Sự ham muốn, khao khát.
  • Giác ngộ / bodhi / enlightenment: Sự hiểu biết hoàn toàn về sự thật.
  • Khổ / dukkha / suffering: Sự không hài lòng, bất toại nguyện.
  • Sự tồn tại / bhava / being: Trạng thái còn trong vòng luân hồi.