Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 4. Sợ hãi và Kinh hoàng

(Bhayabherava Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một lần nọ, Đức Thế Tôn đang ở tại Sāvatthī trong Rừng Jeta, Vườn của Anāthapiṇ̣ika.

2. Rồi Bà-la-môn Jāṇussoṇi [^56] đến gặp Đức Thế Tôn và trao đổi lời chào với Ngài. Sau khi cuộc nói chuyện lịch sự và thân thiện này kết thúc, ông ngồi xuống một bên và nói: "Thưa thầy Gotama, khi những người trong dòng tộc từ bỏ đời sống gia đình để trở thành người xuất gia không nhà cửa vì đức tin nơi thầy Gotama, có phải họ xem thầy Gotama là người lãnh đạo, người giúp đỡ và người hướng dẫn của họ không? Và những người này có noi theo gương của thầy Gotama không?"57

“Đúng vậy, này Bà-la-môn, đúng vậy. Khi những người trong dòng tộc từ bỏ đời sống gia đình để trở thành người xuất gia không nhà cửa vì đức tin nơi ta, họ xem ta là người lãnh đạo, người giúp đỡ và người hướng dẫn của họ. Và những người này noi theo gương của ta.”

“Nhưng, thưa thầy Gotama, những nơi ở ẩn sâu trong rừng rậm rất khó để chịu đựng, sống ẩn dật rất khó để thực hành, và rất khó để tận hưởng sự cô tịch. Người ta có thể nghĩ rằng rừng rậm hẳn sẽ cướp đi tâm trí của một vị tỳ kheo (bhikkhu), nếu vị ấy không có định tâm.” [17]

“Đúng vậy, này Bà-la-môn, đúng vậy. Những nơi ở ẩn sâu trong rừng rậm rất khó để chịu đựng, sống ẩn dật rất khó để thực hành, và rất khó để tận hưởng sự cô tịch. Người ta có thể nghĩ rằng rừng rậm hẳn sẽ cướp đi tâm trí của một vị tỳ kheo, nếu vị ấy không có định tâm.”

4. KINH SỢ HÃI KHIẾP ÐẢM

4. KINH SỢ HÃI KHIẾP ÐẢM (Bhayabherava Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Bà-la-môn Janussoni đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Janussoni bạch Thế Tôn:

– Tôn giả Gotama, có những Thiện nam tử, vì lòng tin Tôn giả Gotama, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðối với những vị này, Tôn giả Gotama là vị lãnh đạo. Ðối với những vị này, Tôn giả Gotama giúp ích rất nhiều. Ðối với những vị này, Tôn giả Gotama là vị khích lệ sách tấn. Các vị này chấp nhận tuân theo quan điểm của Tôn giả Gotama.

– Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, có những Thiện nam tử, vì lòng tin nơi Ta, đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ta là vị lãnh đạo của họ. Ta đã giúp ích rất nhiều cho họ. Ta là vị khích lệ sách tấn cho họ. Và các vị này chấp nhận tuân theo quan điểm của Ta.

– Tôn giả Gotama, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Con nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định.

– Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn, đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Ta nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định.

3. “Trước khi ta giác ngộ, khi ta vẫn còn là một vị Bồ Tát (Bodhisatta) chưa giác ngộ, ta cũng đã suy nghĩ như vầy: ‘Những nơi ở ẩn sâu trong rừng rậm rất khó để chịu đựng… rừng rậm hẳn sẽ cướp đi tâm trí của một vị tỳ kheo, nếu vị ấy không có định tâm.’”

4. “Ta đã suy nghĩ như vầy: ‘Bất cứ khi nào những ẩn sĩ hoặc Bà-la-môn có hành vi thân thể không thanh tịnh đến ở những nơi ẩn sâu trong rừng rậm, thì do khiếm khuyết về hành vi thân thể không thanh tịnh của họ, những ẩn sĩ và Bà-la-môn tốt này sẽ gợi lên nỗi sợ hãi và kinh hoàng không lành mạnh. Nhưng ta không đến ở những nơi ẩn sâu trong rừng rậm với hành vi thân thể không thanh tịnh. Ta có hành vi thân thể thanh tịnh. Ta đến ở những nơi ẩn sâu trong rừng rậm như một trong những bậc thánh nhân có hành vi thân thể thanh tịnh.’ Nhìn thấy sự thanh tịnh trong hành vi thân thể của mình, ta tìm thấy sự an ủi lớn lao khi sống trong rừng.”

Này Bà-la-môn, xưa kia khi Ta chưa chứng ngộ chánh đẳng giác, khi còn là Bồ-tát, Ta nghĩ như sau: “Thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn, đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Ta nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định!”

Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, thân nghiệp không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Thân nghiệp Ta thanh tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với thân nghiệp thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát thân nghiệp hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

5-7. “Ta đã suy nghĩ như vầy: ‘Bất cứ khi nào những ẩn sĩ hoặc Bà-la-môn có hành vi lời nói không thanh tịnh… có hành vi tâm ý không thanh tịnh… có sinh kế không thanh tịnh đến ở những nơi ẩn sâu trong rừng rậm… họ sẽ gợi lên nỗi sợ hãi và kinh hoàng không lành mạnh. Nhưng… ta có sinh kế thanh tịnh. Ta đến ở những nơi ẩn sâu trong rừng rậm như một trong những bậc thánh nhân có sinh kế thanh tịnh.’ Nhìn thấy sự thanh tịnh trong sinh kế của mình, ta tìm thấy sự an ủi lớn lao khi sống trong rừng.”

8. "Ta đã suy nghĩ như vầy: ‘Bất cứ khi nào những ẩn sĩ hoặc Bà-la-môn tham lam và đầy dục vọng… ta không tham lam…’ [18]

9. "‘…với tâm sân hận (ill will) và ý định thù hằn… ta có tâm từ bi…’

10. "‘…bị hôn trầm và thụy miên (sloth and torpor) chế ngự… ta không bị hôn trầm và thụy miên…’

11. "‘…bị trạo cử (restless) và tâm không an tịnh chế ngự… ta có tâm an tịnh…’

12. "‘…hoài nghi và do dự… ta đã vượt qua hoài nghi…’

13. "‘[19]… thích tự khen mình và chê bai người khác… ta không thích tự khen mình và chê bai người khác…’

14. "‘…dễ bị hoảng sợ và kinh hãi… ta không còn sợ hãi…’

15. "‘…ham muốn lợi lộc, danh vọng và tiếng tăm… ta ít ham muốn…’

16. "‘…lười biếng và thiếu tinh tấn… ta tinh tấn…’

17. "‘…[20] thất niệm (unmindful) và không tỉnh giác… ta an trú trong chánh niệm…’

18. "‘…không định tâm và tâm tán loạn… ta có định tâm…’

19. “Ta đã suy nghĩ như vầy: ‘Bất cứ khi nào những ẩn sĩ hoặc Bà-la-môn không có trí tuệ, nói năng nhảm nhí, đến ở những nơi ẩn sâu trong rừng rậm, thì do khiếm khuyết về việc không có trí tuệ và nói năng nhảm nhí, những ẩn sĩ và Bà-la-môn tốt này sẽ gợi lên nỗi sợ hãi và kinh hoàng không lành mạnh. Nhưng ta không đến ở những nơi ẩn sâu trong rừng rậm mà không có trí tuệ, nói năng nhảm nhí. Ta có trí tuệ. [^58] Ta đến ở những nơi ẩn sâu trong rừng rậm như một trong những bậc thánh nhân có trí tuệ.’ Nhìn thấy sự đầy đủ trí tuệ này của mình, ta tìm thấy sự an ủi lớn lao khi sống trong rừng.”

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn, hay Bà-la-môn nào, có khẩu nghiệp không thanh tịnh… (như trên)… có ý nghiệp không thanh tịnh… (như trên)… có mạng sống không thanh tịnh sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước mạng sống không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có mạng sống không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Mạng sống Ta thanh tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với mạng sống thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát mạng sống hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tham dục, có ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước tham dục, có ái dục cường liệt, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có tham dục, ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu. Ta không có tham dục, Ta là một trong những bậc Thánh, không có tham dục, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có tham dục như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có tâm sân hận ác ý, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, có tâm sân hận ác ý, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có tâm sân hận, ác ý, sống tại các trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu. Ta có từ tâm. Ta là một trong những bậc Thánh có từ tâm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta có từ tâm như vậy, Ta cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị hôn trầm thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị hôn trầm thụy miên chi phối, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không bị hôn trầm thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có hôn trầm thụy miên. Ta là một trong những bậc Thánh không có hôn trầm thụy miên, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có hôn trầm thụy miên như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào dao động, tâm không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị dao động, tâm không an tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có dao động, tâm không phải không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có dao động, tâm được an tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh không có dao động, tâm được an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta được an tịnh như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào nghi hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước nghi hoặc, do dự, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có nghi hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta diệt trừ được do dự. Ta là một trong những bậc Thánh diệt trừ được nghi hoặc, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta diệt trừ được nghi hoặc như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào khen mình, chê người sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước khen mình, chê người, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có khen mình, chê người, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có khen mình, không có chê người, Ta là một trong những bậc Thánh không có khen mình, không có chê người, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta không có khen mình, không có chê người như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào run rẩy, sợ hãi sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước run rẩy, sợ hãi, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có run rẩy, sợ hãi, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có lông tóc dựng ngược, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có lông tóc dựng ngược, Ta là một trong những bậc Thánh, không có lông tóc dựng ngược như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta là người ít dục. Ta là một trong những bậc Thánh ít dục, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta là người ít dục như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biếng nhác, kém tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước biếng nhác, kém tinh tấn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có biếng nhác, kém tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta siêng năng, tinh tấn. Ta là một trong những bậc Thánh siêng năng, tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta siêng năng, tinh tấn như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thất niệm, không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước thất niệm, không tỉnh giác, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thất niệm, không phải không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta an trú niệm. Ta là một trong những bậc Thánh an trú niệm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta quán sát Ta an trú niệm như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không định tĩnh, tâm bị tán loạn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước không định tĩnh, tâm bị tán loạn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta được định tĩnh, tâm không bị tán loạn sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu định tâm. Ta là một trong những bậc Thánh thành tựu định tâm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu định tâm như vậy, từ cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Do nguyên nhân nhiễm trước liệt tuệ, đần độn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu trí tuệ. Ta là một trong những bậc Thánh thành tựu trí tuệ, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu trí tuệ như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

20. "Ta đã suy nghĩ như vầy: ‘Có những đêm đặc biệt tốt lành như ngày mười bốn, mười lăm và mùng tám âm lịch. [^59] Vậy thì, vào những đêm như thế này, ta sẽ đến ở những nơi đáng sợ, kinh hoàng như miếu thờ trong vườn cây, miếu thờ trong rừng, và miếu thờ dưới gốc cây? Có lẽ ta có thể gặp nỗi sợ hãi và kinh hoàng đó.’ Và sau đó, vào những đêm đặc biệt tốt lành như ngày mười bốn, mười lăm và mùng tám âm lịch, ta đã đến ở những nơi đáng sợ, kinh hoàng như miếu thờ trong vườn cây, miếu thờ trong rừng, và miếu thờ dưới gốc cây. Và trong khi ta ở đó, một con thú hoang sẽ đến gần ta, hoặc một con công [21] sẽ làm rơi một cành cây, hoặc gió sẽ làm xào xạc lá cây. Ta nghĩ: ‘Có lẽ đây là nỗi sợ hãi và kinh hoàng đang đến?’ Ta nghĩ: ‘Tại sao ta lại luôn sống trong sự mong đợi sợ hãi và kinh hoàng mà không gì khác? Sao ta không thử chế ngự nỗi sợ hãi và kinh hoàng đó bằng cách vẫn giữ nguyên tư thế mà ta đang ở khi nó đến với ta?’ [^60]

“Trong khi ta đang đi, nỗi sợ hãi và kinh hoàng ập đến với ta; ta không đứng, không ngồi, không nằm cho đến khi ta chế ngự được nỗi sợ hãi và kinh hoàng đó. Trong khi ta đang đứng, nỗi sợ hãi và kinh hoàng ập đến với ta; ta không đi, không ngồi, không nằm cho đến khi ta chế ngự được nỗi sợ hãi và kinh hoàng đó. Trong khi ta đang ngồi, nỗi sợ hãi và kinh hoàng ập đến với ta; ta không đi, không đứng, không nằm cho đến khi ta chế ngự được nỗi sợ hãi và kinh hoàng đó. Trong khi ta đang nằm, nỗi sợ hãi và kinh hoàng ập đến với ta; ta không đi, không đứng, không ngồi cho đến khi ta chế ngự được nỗi sợ hãi và kinh hoàng đó.”

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: “Trong những đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nửa tháng, trong những đêm như vậy, Ta hãy đến ở tại các trú xứ hãi hùng, lông tóc dựng ngược, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại các cây cối, để Ta có thể thấy sự sợ hãi khiếp đảm ấy”. Này Bà-la-môn, sau một thời gian, trong những đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nữa tháng, trong những đêm như vậy, Ta đến ở tại các trú xứ hãi hùng, lông tóc dựng ngược như vậy, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại các cây cối. Này Bà-la-môn, trong khi ta ở tại các chỗ ấy, một con thú có thể đến, hay một con công làm rơi một cành cây, hay gió làm rung động các lá rơi; Ta khởi lên ý nghĩ: “Nay sự sợ hãi khiếp đảm ấy đã đến!”. Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: “Sao Ta ở đây, chỉ để mong đợi sự sợ hãi khiếp đảm chớ không gì khác? Trong bất cứ hành vi cử chỉ nào của Ta mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, trong hành vi cử chỉ ấy, Ta hãy trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy”.

Này Bà-la-môn trong khi Ta đi kinh hành qua lại mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không đứng, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đi kinh hành qua lại. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang đứng mà sự sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la- môn, Ta không kinh hành qua lại, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang đứng. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang ngồi mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không nằm, Ta không đứng, Ta không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang ngồi. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang nằm mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không ngồi, Ta không đứng, Ta không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang nằm.

21. “Này Bà-la-môn, có một số ẩn sĩ và Bà-la-môn nhận thức ngày là đêm và đêm là ngày. Ta nói rằng về phần họ, đây là sự sống trong mê lầm (delusion). Nhưng ta nhận thức đêm là đêm và ngày là ngày. Nói một cách đúng đắn, nếu nói về một ai đó: ‘Một chúng sinh không bị mê lầm đã xuất hiện trên thế gian vì lợi ích và hạnh phúc của nhiều người, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người,’ thì chính là nói về ta.”

Này Bà-la-môn, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nghĩ rằng ngày giống như đêm, nghĩ rằng đêm giống như ngày. Như vậy, Ta nói rằng những Sa-môn, Bà-la-môn ấy sống trong si ám. Này Bà-la-môn, Ta nghĩ rằng đêm là đêm, nghĩ rằng ngày là ngày. Này Bà-la-môn, ai nói một cách chơn chánh sẽ nói như sau: "Vị hữu tình nào không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Vị ấy khi nói một cách chân chánh về Ta sẽ nói như sau: “Là vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”.

22. "Năng lượng không mệt mỏi đã được khơi dậy trong ta và chánh niệm không gián đoạn đã được thiết lập, thân thể ta an tịnh và không xao động, tâm ta định tĩnh và nhất tâm. [^61]

23. "Hoàn toàn xa lìa các dục lạc, xa lìa các trạng thái bất thiện, ta chứng nhập và an trú vào tầng thiền (jhāna) thứ nhất, một trạng thái có tầm và tứ (applied and sustained thought), với hỷ (rapture) và lạc (pleasure) sinh ra từ sự ly dục. [^62]

24. "Với sự lắng dịu của tầm và tứ, ta chứng nhập và an trú vào tầng thiền thứ hai, một trạng thái có sự tự tin và nhất tâm [22] không có tầm và tứ, với hỷ và lạc sinh ra từ định.

25. "Với sự phai nhạt của hỷ, ta an trú vào xả (equanimity), chánh niệm và tỉnh giác, vẫn cảm thấy lạc bằng thân, ta chứng nhập và an trú vào tầng thiền thứ ba, mà các bậc thánh nhân gọi là: ‘Vị ấy có một sự an trú dễ chịu, có xả và chánh niệm.’

26. “Với sự từ bỏ lạc và khổ, và với sự biến mất trước đó của hỷ và ưu, ta chứng nhập và an trú vào tầng thiền thứ tư, một trạng thái không có khổ-không có lạc và thanh tịnh của chánh niệm nhờ xả.”

Này Bà-la-môn, Ta tinh cần, tinh tấn, không lười biếng. Ta an trú chánh niệm, không có loạn, thân được khinh an, không có dao động, tâm được định tĩnh, chuyên nhất.

Này Bà-la-môn, Ta ly dục, ly các ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ.

Diệt tầm, diệt tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba.

Xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

27. “Khi tâm định tĩnh của ta được thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, ta hướng nó đến trí tuệ về sự hồi tưởng về các kiếp sống quá khứ (túc mạng minh). [^63] Ta nhớ lại vô số kiếp sống quá khứ của mình, đó là, một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp, mười kiếp, hai mươi kiếp, ba mươi kiếp, bốn mươi kiếp, năm mươi kiếp, một trăm kiếp, một ngàn kiếp, một trăm ngàn kiếp, nhiều kiếp thế giới hoại, nhiều kiếp thế giới thành, nhiều kiếp thế giới hoại và thành: ‘Ở đó ta có tên như vậy, thuộc dòng tộc như vậy, với hình dáng như vậy, thức ăn của ta như vậy, kinh nghiệm về lạc và khổ của ta như vậy, tuổi thọ của ta như vậy; và khi chết ở đó, ta tái sinh ở nơi khác; và ở đó ta cũng có tên như vậy, thuộc dòng tộc như vậy, với hình dáng như vậy, thức ăn của ta như vậy, kinh nghiệm về lạc và khổ của ta như vậy, tuổi thọ của ta như vậy; và khi chết ở đó, ta tái sinh ở đây.’ Như vậy, với các khía cạnh và chi tiết, ta nhớ lại vô số kiếp sống quá khứ của mình.”

28. “Đây là trí tuệ chân thật đầu tiên mà ta đạt được trong canh đầu của đêm. Vô minh (ignorance) bị xua tan và trí tuệ chân thật khởi sinh, bóng tối bị xua tan và ánh sáng khởi sinh, như xảy ra với một người sống tinh tấn, nhiệt tâm và kiên định.”

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Này Bà-la-môn, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

29. “Khi tâm định tĩnh của ta được thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, ta hướng nó đến trí tuệ về sự chết và tái sinh của chúng sinh (thiên nhãn minh). [^64] Với thiên nhãn (divine eye), thanh tịnh và vượt qua mắt người thường, ta thấy chúng sinh chết và tái sinh, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh. Ta hiểu cách chúng sinh trôi lăn theo nghiệp của họ như sau: ‘Những chúng sinh có hành vi xấu ác về thân, khẩu, ý, phỉ báng các bậc thánh nhân, tà kiến, thực hiện hành động theo tà kiến, khi thân hoại mạng chung, đã tái sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, thậm chí địa ngục; nhưng những chúng sinh có hành vi tốt đẹp về thân, [23] khẩu, ý, không phỉ báng các bậc thánh nhân, chánh kiến, thực hiện hành động theo chánh kiến, khi thân hoại mạng chung, đã tái sinh vào cõi thiện, thậm chí cõi trời.’ Như vậy, với thiên nhãn, thanh tịnh và vượt qua mắt người thường, ta thấy chúng sinh chết và tái sinh, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh, và ta hiểu cách chúng sinh trôi lăn theo nghiệp của họ.”

30. “Đây là trí tuệ chân thật thứ hai mà ta đạt được trong canh giữa của đêm. Vô minh bị xua tan và trí tuệ chân thật khởi sinh, bóng tối bị xua tan và ánh sáng khởi sinh, như xảy ra với một người sống tinh tấn, nhiệt tâm và kiên định.”

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí về chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.

Này Bà-la-môn, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

31. "Khi tâm định tĩnh của ta được thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, thoát khỏi ô nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, ta hướng nó đến trí tuệ về sự diệt trừ các lậu hoặc (lậu tận minh). Ta trực tiếp biết như thật: ‘Đây là khổ’; ta trực tiếp biết như thật: ‘Đây là nguyên nhân của khổ’; ta trực tiếp biết như thật: ‘Đây là sự chấm dứt khổ’; ta trực tiếp biết như thật: ‘Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ.’ Ta trực tiếp biết như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’; ta trực tiếp biết như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’; ta trực tiếp biết như thật: ‘Đây là sự chấm dứt các lậu hoặc’; ta trực tiếp biết như thật: 'Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt các lậu hoặc. [^165]

32. "Khi ta biết và thấy như vậy, tâm ta giải thoát khỏi lậu hoặc dục, lậu hoặc hữu, và lậu hoặc vô minh. Khi tâm được giải thoát, liền có trí tuệ: 'Tâm đã giải thoát. [^166] Ta trực tiếp biết: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa. [^167]

33. “Đây là trí tuệ chân thật thứ ba mà ta đạt được trong canh cuối của đêm. Vô minh bị xua tan và trí tuệ chân thật khởi sinh, bóng tối bị xua tan và ánh sáng khởi sinh, như xảy ra với một người sống tinh tấn, nhiệt tâm và kiên định.”

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: “Ðây là khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.

Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Này Bà-la-môn trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần.

34. “Này Bà-la-môn, có thể ông nghĩ: ‘Có lẽ ẩn sĩ Gotama ngày nay vẫn chưa thoát khỏi tham, sân và si, đó là lý do tại sao ông ấy vẫn đến ở những nơi ẩn sâu trong rừng rậm.’ Nhưng ông không nên nghĩ như vậy. Chính vì ta thấy hai lợi ích mà ta vẫn đến ở những nơi ẩn sâu trong rừng rậm: Ta thấy một sự an trú dễ chịu cho chính mình ngay trong hiện tại, và ta có lòng từ bi đối với các thế hệ tương lai.” [^68]

35. “Thật vậy, chính vì thầy Gotama là một bậc Ứng Cúng (Accomplished One), một bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn (Fully Enlightened One), mà Ngài có lòng từ bi đối với các thế hệ tương lai. [24] Thật tuyệt vời, thưa thầy Gotama! Thật tuyệt vời, thưa thầy Gotama! Thầy Gotama đã làm sáng tỏ Giáo Pháp (Dhamma) bằng nhiều cách, như thể Ngài đang dựng đứng lại những gì đã bị đổ, phơi bày những gì bị che giấu, chỉ đường cho người bị lạc, hoặc cầm đèn trong bóng tối cho những người có mắt để thấy các hình sắc. Con xin quy y thầy Gotama, quy y Giáo Pháp và quy y Tăng đoàn (Sangha) của các tỳ kheo. Từ hôm nay, xin thầy Gotama hãy nhớ đến con như một người cư sĩ đã quy y Ngài trọn đời.”

Từ ngữ:

  • Tỳ kheo / bhikkhu / monk / Nhà sư nam trong Phật giáo.
  • Định tâm / samādhi / concentration / Khả năng tập trung tư tưởng vào một đối tượng duy nhất.
  • Bồ Tát / bodhisatta / bodhisattva / Người đang trên con đường tu tập để đạt giác ngộ hoàn toàn.
  • Thánh nhân / ariya / noble ones / Những người đã đạt được một trong bốn cấp độ giác ngộ.
  • Sân hận / byāpāda / ill will / Trạng thái tâm lý tiêu cực, bao gồm sự tức giận, thù hận và ác ý.
  • Tâm từ bi / mettā / loving-kindness / Tình yêu thương không điều kiện, mong muốn hạnh phúc cho tất cả chúng sinh.
  • Hôn trầm và thụy miên / thīna-middha / sloth and torpor / Trạng thái uể oải, lười biếng, thiếu năng lượng và buồn ngủ.
  • Trạo cử / uddhacca / restless / Trạng thái tâm lý không yên, bồn chồn, lo lắng.
  • Chánh niệm / sati / mindfulness / Khả năng ghi nhớ, chú ý và nhận biết rõ ràng những gì đang xảy ra trong hiện tại.
  • Dục lạc / kāma / sensual pleasures / Những thú vui liên quan đến năm giác quan (nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm).
  • Thiền / jhāna / jhana / Trạng thái tập trung sâu của tâm, thường được chia thành bốn cấp độ (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền).
  • Tầm và tứ / vitakka-vicāra / applied and sustained thought / Suy nghĩ ban đầu hướng đến đối tượng thiền và suy nghĩ duy trì trên đối tượng đó.
  • Hỷ và lạc / pīti-sukha / rapture and pleasure / Cảm giác hân hoan, phấn khởi và cảm giác dễ chịu, thoải mái.
  • Xả / upekkhā / equanimity / Trạng thái tâm bình thản, không bị dao động bởi các cảm xúc tích cực hay tiêu cực.
  • Kiếp sống quá khứ / pubbenivāsa / past lives / Các kiếp sống trước đây của một người.
  • Vô minh / avijjā / Ignorance / Sự thiếu hiểu biết về Tứ diệu đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo).
  • Thiên nhãn / dibbacakkhu / divine eye / Khả năng nhìn thấy những điều vượt quá tầm nhìn của mắt thường, chẳng hạn như thấy được sự tái sinh của chúng sinh.
  • Lậu hoặc / āsava / taints / Những ô nhiễm tinh thần gây ra khổ đau và luân hồi, bao gồm dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
  • Dục lậu / kāmāsava / taint of sensual desire / Sự ô nhiễm do ham muốn các dục lạc.
  • Hữu lậu / bhavāsava / taint of being / Sự ô nhiễm do ham muốn được tồn tại, được trở thành.
  • Vô minh lậu / avijjāsava / taint of ignorance / Sự ô nhiễm do thiếu hiểu biết về thực tại.
  • Ứng Cúng / arahant / Accomplished One / Bậc đã diệt trừ hoàn toàn các lậu hoặc, đạt được giác ngộ hoàn toàn.
  • Giác Ngộ Hoàn Toàn / sammā-sambuddha / Fully Enlightened One / Bậc tự mình giác ngộ, không cần thầy chỉ dạy.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dharma / Lời dạy của Đức Phật, chân lý về thực tại.
  • Tăng đoàn / Saṅgha / Sangha / Cộng đồng các tu sĩ Phật giáo.

Này Bà-la-môn, Ông có thể có tư tưởng như sau: “Nay Sa-môn Gotama chưa diệt trừ tham, chưa diệt trừ sân, chưa diệt trừ si, nên sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, chớ có hiểu như vậy. Do Ta quán sát hai mục đích mà Ta sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Tự thấy sự hiện tại lạc trú và vì lòng thương tưởng chúng sanh trong tương lai.

– Chúng sanh trong tương lai được Tôn giả Gotama thương tưởng, vì Tôn giả là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!.. Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử; từ này trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-