Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 12. Bài Kinh Đại Sư Tử Hống

(Mahāsīhanāda Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một lần nọ, Đức Phật (The Blessed One) đang ở tại Vesālī trong một khu rừng phía tây thành phố.

2. Lúc bấy giờ, Sunakkhatta, con trai của dòng họ Licchavis, vừa mới rời bỏ Pháp (Dhamma) và Luật (Discipline) này [^177]. Ông ta tuyên bố trước hội chúng Vesālī rằng: “Sa-môn (recluse) Gotama không có bất kỳ năng lực siêu nhiên nào, không có sự khác biệt nào về trí tuệ và tầm nhìn xứng đáng với bậc thánh nhân [^178]. Sa-môn Gotama chỉ dạy một Pháp (Dhamma) [chỉ đơn thuần] được tạo ra bằng lý luận, theo dòng suy nghĩ của riêng ông ấy, và khi ông ấy dạy Pháp cho bất kỳ ai, nó chỉ dẫn người thực hành đến sự diệt khổ hoàn toàn.”[^179]

3. Rồi, vào buổi sáng, tôn giả Sāriputta mặc y, mang bát và y ngoài, đi vào Vesālī để khất thực (alms). Rồi ông nghe Sunakkhatta, con trai của dòng họ Licchavis, tuyên bố điều này trước hội chúng Vesālī. Sau khi đi khất thực ở Vesālī và trở về, sau bữa ăn, ông đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên, kể lại cho Đức Phật những gì Sunakkhatta đã nói.

12. ÐẠI KINH SƯ TỬ HỐNG

12. ÐẠI KINH SƯ TỬ HỐNG (Mahàsìhanàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú tại Vesali (Tỳ-xá-ly), ở phía ngoài thành, trong một khu rừng phía Tây.

Lúc bấy giờ, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, nói lời nói như sau trong Hội chúng ở Vesali: “Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, và thuyết cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.

Lúc ấy Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) vào buổi sáng, đắp y, cầm bát, vào thành Vesali để khất thực. Tôn giả Sariputta nghe Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi nói như sau trong hội chúng ở Vesali: “Sa- môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm và thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.

Rồi Tôn giả Sariputta khất thực xong, sau khi ăn và đi khất thực trở về đến chỗ ở Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, nói lời nói như sau trong hội chúng Vesali: "“Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân… (như trên)… diệt tận khổ đau”.

4. [Đức Phật nói:] “Này Sāriputta, kẻ ngu si (misguided man) Sunakkhatta đang tức giận và những lời nói của ông ta xuất phát từ sự tức giận. Nghĩ rằng mình đang làm mất uy tín của Như Lai (Tathāgata), ông ta thực ra đang ca ngợi Như Lai; [69] vì đó là lời ca ngợi Như Lai khi nói về Như Lai rằng: ‘Khi Như Lai dạy Pháp cho bất kỳ ai, nó chỉ dẫn người thực hành đến sự diệt khổ hoàn toàn.’”

5. "Này Sāriputta, kẻ ngu si Sunakkhatta này sẽ không bao giờ suy luận về Như Lai theo Pháp (Dhamma) rằng: ‘Đức Phật (The Blessed One) ấy là bậc A-la-hán (accomplished), bậc Giác Ngộ hoàn toàn (fully enlightened), bậc hoàn hảo về trí tuệ và đức hạnh (perfect in true knowledge and conduct), bậc Thiện Thệ (sublime), bậc hiểu biết thế gian (knower of worlds), bậc Vô Thượng Sĩ (incomparable leader) dẫn dắt những người đáng được thuần hóa (to be tamed), bậc thầy của chư thiên và loài người (teacher of gods and humans), bậc Giác Ngộ (enlightened), bậc Thế Tôn (blessed).’[^180]

6. "Và ông ta sẽ không bao giờ suy luận về Như Lai theo Pháp rằng: ‘Đức Phật ấy có nhiều loại thần thông (supernormal power): từ một hóa thành nhiều; từ nhiều hóa thành một; Ngài hiện ra và biến mất; Ngài đi xuyên qua tường, qua rào, qua núi, như thể đi xuyên qua không gian; Ngài lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất như thể đó là nước; Ngài đi trên mặt nước mà không chìm như thể đó là đất; ngồi kiết già (cross-legged), Ngài bay trên không trung như một con chim; bằng tay mình, Ngài chạm và vuốt ve mặt trăng và mặt trời vốn rất mạnh mẽ và uy lực; Ngài điều khiển thân thể mình đến tận cõi Phạm Thiên (Brahma-world).’

7. "Và ông ta sẽ không bao giờ suy luận về Như Lai theo Pháp rằng: ‘Với thiên nhĩ thông (divine ear element), vốn thanh tịnh và vượt xa khả năng của con người, Đức Phật ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của chư thiên và của con người, những âm thanh ở xa cũng như ở gần.’

8. "Và ông ta sẽ không bao giờ suy luận về Như Lai theo Pháp rằng: ‘Đức Phật ấy thấu hiểu tâm trí của chúng sinh khác, của những người khác bằng chính tâm trí của mình. Ngài hiểu một tâm bị tham ái (lust) chi phối là bị tham ái chi phối và một tâm không bị tham ái chi phối là không bị tham ái chi phối; Ngài hiểu một tâm bị sân hận (hate) chi phối là bị sân hận chi phối và một tâm không bị sân hận chi phối là không bị sân hận chi phối; Ngài hiểu một tâm bị si mê (delusion) chi phối là bị si mê chi phối và một tâm không bị si mê chi phối là không bị si mê chi phối; Ngài hiểu một tâm bị thu hẹp (contracted) là bị thu hẹp và một tâm bị xao lãng (distracted) là bị xao lãng; Ngài hiểu một tâm cao thượng (exalted) là cao thượng và một tâm không cao thượng (unexalted) là không cao thượng; Ngài hiểu một tâm còn bị vượt qua (surpassed) là còn bị vượt qua và một tâm không còn bị vượt qua (unsurpassed) là không còn bị vượt qua; Ngài hiểu một tâm định tĩnh (concentrated) là định tĩnh và một tâm không định tĩnh (unconcentrated) là không định tĩnh; Ngài hiểu một tâm giải thoát (liberated) là giải thoát và một tâm không giải thoát (unliberated) là không giải thoát.’

– Này Sariputta, Sunakkhatta phẫn nộ và ngu si, do phẫn nộ nên nói lên lời ấy. Này Sariputta, Ông ta nghĩ: “Ta sẽ nói xấu”. Thế mà kẻ ngu Sunakkhatta lại nói lời tán thán Như Lai. Này Sariputta, ai nói như sau là tán thán Như Lai: “Pháp ấy được thuyết giảng cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.

Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: “Ðây là Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia, sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: “Ðây là Thế Tôn, vị đã chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách, qua thành, qua núi, như đi ngang hư không, độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không chìm như trên đất liền, ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên”. Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia sẽ không có tùy pháp này về Ta như sau: “Ðây là Thế Tôn với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân có thể nghe hai loại tiếng chư Thiên và loài Người, xa và gần”.

Này Sariputta, đối với Sunakkhatta ngu si kia sẽ không có tùy pháp nào về Ta như sau: "Ðây là Thế Tôn, sau khi đi sâu vào tâm chúng sanh, tâm loài Người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau: “Tâm có tham biết là tâm có tham. Hay tâm không tham biết là tâm không tham… tâm chuyên chú… tâm tán loạn… đại hành tâm… không phải đại hành tâm… tâm chưa vô thượng… tâm vô thượng… Tâm Thiền định… Tâm không Thiền định… tâm giải thoát… tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát”. Vị ấy biết như vậy.

(MƯỜI NĂNG LỰC CỦA NHƯ LAI)

9. "Này Sāriputta, Như Lai (Tathāgata) có mười năng lực này của Như Lai, nhờ đó Như Lai tuyên bố vị trí của người dẫn đầu, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển Pháp Luân (Wheel of Brahmā) [^181]. Mười năng lực đó là gì?

10. (1) "Ở đây, Như Lai hiểu đúng như thật (as it actually is) điều có thể là có thể và điều không thể là không thể [^182]. Và đó [70] là năng lực của Như Lai mà Như Lai có, nhờ đó Như Lai tuyên bố vị trí của người dẫn đầu, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển Pháp Luân.

11. (2) "Hơn nữa, Như Lai hiểu đúng như thật kết quả của các hành động (actions) đã làm, trong quá khứ, tương lai và hiện tại, với những khả năng và nguyên nhân của chúng. Đó cũng là năng lực của Như Lai…[^183]

12. (3) "Hơn nữa, Như Lai hiểu đúng như thật những con đường dẫn đến tất cả các đích đến. Đó cũng là năng lực của Như Lai…[^184]

13. (4) "Hơn nữa, Như Lai hiểu đúng như thật thế gian với nhiều yếu tố khác nhau. Đó cũng là năng lực của Như Lai…[^185]

14. (5) "Hơn nữa, Như Lai hiểu đúng như thật chúng sinh có những khuynh hướng khác nhau như thế nào. Đó cũng là năng lực của Như Lai…[^186]

15. (6) "Hơn nữa, Như Lai hiểu đúng như thật khuynh hướng của các căn (faculties) của chúng sinh khác, của những người khác. Đó cũng là năng lực của Như Lai…[^187]

16. (7) "Hơn nữa, Như Lai hiểu đúng như thật sự ô nhiễm (defilement), sự thanh tịnh (cleansing), và sự xuất hiện liên quan đến các tầng thiền (jhānas), các sự giải thoát (liberations), các trạng thái định (concentrations), và các sự chứng đắc (attainments). Đó cũng là năng lực của Như Lai…[^188]

17. (8) "Hơn nữa, Như Lai nhớ lại vô số kiếp sống trong quá khứ của mình, đó là, một kiếp, hai kiếp…(như trong Kinh số 4, 827)…Như vậy, với các khía cạnh và chi tiết, Như Lai nhớ lại vô số kiếp sống trong quá khứ của mình. Đó cũng là năng lực của Như Lai…

18. (9) "Hơn nữa, với thiên nhãn thông (divine eye), vốn thanh tịnh và vượt xa khả năng của con người, Như Lai thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, thấp kém và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh…(như trong Kinh số 4, 829) [71]…và Ngài hiểu chúng sinh luân hồi theo nghiệp (actions) của họ như thế nào. Đó cũng là năng lực của Như Lai…

19. (10) "Hơn nữa, bằng cách tự mình chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp (direct knowledge), Như Lai ngay tại đây và bây giờ chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát (deliverance of mind) và tuệ giải thoát (deliverance by wisdom) không còn cấu uế (taintless) nhờ sự diệt tận các lậu hoặc (taints). Đó cũng là năng lực của Như Lai mà Như Lai có, nhờ đó Như Lai tuyên bố vị trí của người dẫn đầu, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển Pháp Luân.

20. "Như Lai có mười năng lực này của Như Lai, nhờ đó Như Lai tuyên bố vị trí của người dẫn đầu, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển Pháp Luân.

21. "Này Sāriputta, khi Như Lai biết và thấy như vậy, nếu có ai nói về Như Lai rằng: ‘Sa-môn Gotama không có bất kỳ năng lực siêu nhiên nào, không có sự khác biệt nào về trí tuệ và tầm nhìn xứng đáng với bậc thánh nhân. Sa-môn Gotama chỉ dạy một Pháp [chỉ đơn thuần] được tạo ra bằng lý luận, theo dòng suy nghĩ của riêng ông ấy’ - trừ khi người đó từ bỏ lời khẳng định đó và trạng thái tâm đó và từ bỏ quan điểm đó, nếu không thì [chắc chắn như thể người đó bị] mang đi và đặt ở đó, người đó sẽ rơi vào địa ngục [^189]. Cũng như một vị tỳ kheo (bhikkhu) có giới đức (virtue), định (concentration), và trí tuệ (wisdom) sẽ ngay tại đây và bây giờ chứng đắc trí tuệ cuối cùng (final knowledge), thì trong trường hợp này cũng vậy, Như Lai nói, trừ khi người đó từ bỏ lời khẳng định đó và trạng thái tâm đó và từ bỏ quan điểm đó, nếu không thì [chắc chắn như thể người đó bị] mang đi và đặt ở đó, người đó sẽ rơi vào địa ngục.

(Mười lực của Như Lai)

Này Sariputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực, chính nhờ thành tựu mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là mười?

(1) Ở đây, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là phi xứ (Tri thị xứ phi xứ lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là phi xứ. Như vậy là Như Lai lực của Như Lai. Chính nhờ Như Lai lực này Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống lên tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, và chuyển Phạm luân.

(2) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri quả báo tùy thuộc sở do, tùy theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại (Tri tam thế nghiệp báo lực.) Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(3) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri con đường đưa đến tất cả cảnh giới (Tri nhứt thiết đạo trí lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(4) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri thế giới với mọi cảnh giới, nhiều chủng loại, nhiều sai biệt (Tri thế gian chủng chủng tánh lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(5) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri chí hướng sai biệt của các loại hữu tình (Tri tha chúng sanh chưởng chưởng dục lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri … chuyển Phạm luân.

(6) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri những căn thượng hạ của các loài hữu tình, loài Người (Tri tha chúng sanh chư căn thượng hạ lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(7) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của các Thiền, chứng về Thiền, về giải thoát, về định (Tri chư Thiền tam muội lực). Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(8) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều thành hoại kiếp. Ngài nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, Như Lai nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(9) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Như Lai tuệ tri rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Các chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, về lời và về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Các chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, về lời và về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, Như Lai với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Như Lai tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Sariputta, Như Lai như thật tuệ tri… (như trên)… và chuyển Phạm luân.

(10) Lại nữa, này Sariputta, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc tự mình chứng tri, chứng ngộ, thành tựu và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Sariputta, Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân.

Này Sariputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực. Chính nhờ thành tựu mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân.

Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy mà còn nói: “Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm, thuyết pháp cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng, có thể hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”. Này Sariputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy; không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên. Này Sariputta, như Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh, thành tựu Thiền định, thành tựu trí tuệ có thể chứng được chánh trí ngay trong hiện tại. Này Sariputta, Ta nói như vậy là sự thành tựu như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

(BỐN LOẠI VÔ ÚY)

22. "Này Sāriputta, Như Lai có bốn loại vô úy (intrepidity) này, nhờ đó Như Lai tuyên bố vị trí của người dẫn đầu, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển Pháp Luân. Bốn loại đó là gì?

23. "Ở đây, Như Lai không thấy có lý do gì để bất kỳ sa-môn (recluse) hay bà-la-môn (brahmin) hay chư thiên (god) hay Ma vương (Māra) hay Phạm Thiên (Brahmā) hay bất kỳ ai khác trong thế gian có thể, theo đúng Pháp (Dhamma), buộc tội Như Lai như sau: ‘Trong khi Ngài tuyên bố là giác ngộ hoàn toàn (full enlightenment), Ngài không giác ngộ hoàn toàn về một số điều.’ [72] Và vì không thấy có lý do gì cho việc đó, Như Lai an trú trong sự an toàn, không sợ hãi, và vô úy.

24. "Như Lai không thấy có lý do gì để bất kỳ sa-môn…hay bất kỳ ai khác có thể buộc tội Như Lai như sau: ‘Trong khi Ngài tuyên bố đã diệt tận các lậu hoặc (taints), những lậu hoặc này vẫn chưa được Ngài diệt tận.’ Và vì không thấy có lý do gì cho việc đó, Như Lai an trú trong sự an toàn, không sợ hãi, và vô úy.

25. "Như Lai không thấy có lý do gì để bất kỳ sa-môn…hay bất kỳ ai khác có thể buộc tội Như Lai như sau: ‘Những điều mà Ngài gọi là chướng ngại (obstructions) không thể cản trở người thực hành chúng.’ Và vì không thấy có lý do gì cho việc đó, Như Lai an trú trong sự an toàn, không sợ hãi, và vô úy.

26. "Như Lai không thấy có lý do gì để bất kỳ sa-môn…hay bất kỳ ai khác có thể buộc tội Như Lai như sau: ‘Khi Ngài dạy Pháp cho ai đó, nó không dẫn người thực hành đến sự diệt khổ hoàn toàn.’ Và vì không thấy có lý do gì cho việc đó, Như Lai an trú trong sự an toàn, không sợ hãi, và vô úy.

27. "Như Lai có bốn loại vô úy này, nhờ đó Như Lai tuyên bố vị trí của người dẫn đầu, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển Pháp Luân.

28. "Này Sāriputta, khi Như Lai biết và thấy như vậy, nếu có ai nói về Như Lai…người đó sẽ rơi vào địa ngục.

(Bốn pháp vô sở úy)

Này Sariputta, có bốn pháp vô sở úy chính nhờ thành tựu bốn pháp này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sử tử trong các hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là bốn?

Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì, một Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Các pháp này chưa được chứng ngộ hoàn toàn, mà quý vị tự xưng đã chứng ngộ hoàn toàn”. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì… có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Các lậu hoặc này chưa được đoạn trừ mà quý vị tự xưng đã đoạn trừ”. Này Sariputta, vì Ta không thấy… đạt được vô úy.

Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì… có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Những pháp này được gọi là các chướng ngại pháp khi được thực hành thời không có gì gọi là chướng ngại pháp cả”. Này Sariputta, vì Ta không thấy… đạt được vô úy.

Này Sariputta, Ta thấy không có lý do gì một Sa-môn Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: “Pháp do quý vị thuyết giảng không đưa đến mục tiêu đặc biệt, không có khả năng hướng thượng, không có thể dẫn người thực hành đến diệt tận khổ đau”. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

Này Sariputta, có bốn pháp vô sở úy, chính nhờ thành tựu bốn pháp này, Như Lai tự nhận cho mình địa

vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sử tử trong các hội chúng và chuyển Phạm luân.

Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy… người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

(TÁM HỘI CHÚNG)

29. "Này Sāriputta, có tám hội chúng (assemblies) này. Tám hội chúng đó là gì? Hội chúng của các vị vua chúa (nobles), hội chúng của các bà-la-môn, hội chúng của các gia chủ (householders), hội chúng của các sa-môn, hội chúng của chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương (heaven of the Four Great Kings), hội chúng của chư thiên ở cõi Tam Thập Tam Thiên (heaven of the Thirty-three), hội chúng của quyến thuộc của Ma vương (Māra’s retinue), hội chúng của các Phạm Thiên. Nhờ có bốn loại vô úy này, Như Lai đến gần và tham dự tám hội chúng này.

30. "Như Lai nhớ đã từng đến gần nhiều trăm hội chúng của các vị vua chúa…nhiều trăm hội chúng của các bà-la-môn…nhiều trăm hội chúng của các gia chủ…nhiều trăm hội chúng của các sa-môn…nhiều trăm hội chúng của chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương…nhiều trăm hội chúng của chư thiên ở cõi Tam Thập Tam Thiên…nhiều trăm hội chúng của quyến thuộc của Ma vương…nhiều trăm hội chúng của các Phạm Thiên. Và trước đây Như Lai đã ngồi với họ ở đó và nói chuyện với họ và đàm luận với họ, nhưng Như Lai không thấy có lý do gì để nghĩ rằng sợ hãi hay rụt rè có thể xảy đến với Như Lai ở đó. Và vì không thấy có lý do gì cho việc đó, Như Lai an trú trong sự an toàn, không sợ hãi, và vô úy. [73]

31. "Này Sāriputta, khi Như Lai biết và thấy như vậy, nếu có ai nói về Như Lai…người đó sẽ rơi vào địa ngục.

(Tám hội chúng)

Này Sariputta, có tám Hội chúng này: Hội chúng Sát-đế-lị, Hội chúng Bà-la-môn, Hội chúng Gia chủ, Hội chúng Sa-môn, Hội chúng Tứ thiên vương, Hội chúng Tam thập tam thiên, Hội chúng Màra, Hội chúng Phạm thiên. Này Sariputta, có tám Hội chúng này. Này Sariputta, Như Lai thành tựu bốn pháp vô sở úy như vậy, đến gần và vào tám Hội chúng này.

Này Sariputta, Ta nhớ lại Ta đã đến hàng trăm Hội chúng Sát-đế-lị. Tuy vậy, trước khi Ta ngồi xuống tại chỗ ấy, trước khi Ta nói chuyện và trước khi Ta đàm luận; này Sariputta, ta thấy không có lý do gì để nghĩ rằng: “Chắc chắn sự sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ta”. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

Này Sariputta, Ta nhớ lại, Ta đã đến hàng trăm Hội chúng Bà-la-môn… (như trên)… Hội chúng Gia chủ… Hội chúng Sa-môn… Hội chúng Tứ thiên vương… Hội chúng Tam thập tam thiên… Hội chúng Màra… Hội chúng Phạm thiên. Tuy vậy, trước khi Ta ngồi xuống tại chỗ ấy, trước khi Ta nói chuyện và trước khi Ta đàm luận, này Sariputta, Ta thấy không có một lý do gì để nghĩ rằng: “Chắc chắn sự sợ hãi và run sợ sẽ đến ám ảnh Ta”. Này Sariputta, vì Ta thấy không có lý do gì như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hãi, đạt được vô úy.

Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy… người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục, như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

(BỐN LOẠI SINH)

32. "Này Sāriputta, có bốn loại sinh (generation) này. Bốn loại đó là gì? Sinh từ trứng (egg-born), sinh từ thai (womb-born), sinh từ nơi ẩm thấp (moisture-born), và hóa sinh (spontaneous generation).

33. "Sinh từ trứng là gì? Đó là những chúng sinh được sinh ra bằng cách phá vỡ vỏ trứng; đây được gọi là sinh từ trứng. Sinh từ thai là gì? Đó là những chúng sinh được sinh ra bằng cách phá vỡ màng ối; đây được gọi là sinh từ thai. Sinh từ nơi ẩm thấp là gì? Đó là những chúng sinh được sinh ra trong cá ươn, trong xác chết thối rữa, trong bột nhão bị hỏng, trong hố xí, hoặc trong cống rãnh; đây được gọi là sinh từ nơi ẩm thấp. Hóa sinh là gì? Đó là chư thiên và những chúng sinh ở địa ngục và một số người và một số chúng sinh ở các cõi thấp; đây được gọi là hóa sinh. Đây là bốn loại sinh.

34. "Này Sāriputta, khi Như Lai biết và thấy như vậy, nếu có ai nói về Như Lai…người đó sẽ rơi vào địa ngục.

(Bốn loại sanh)

Này Sariputta, có bốn loại sanh. Thế nào là bốn? Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh.

Này Sariputta, thế nào là noãn sanh? Này Sariputta, những loại chúng sanh nào phá vỏ trứng, mà sanh, này Sariputta như vậy gọi là noãn sanh. Và này Sariputta, thế nào là thai sanh? Này Sariputta, những loại chúng sanh nào phá màn da mỏng che chỗ kín mà sanh, này Sariputta, như vậy gọi là thai sanh. Và này Sariputta, thế nào là thấp sanh? Này Sariputta, những loại chúng sanh nào sanh ra từ cá thúi, từ xác chết thúi, từ cháo cơm thúi, hay trong hồ nước dơ hay trong ao nước nhớp. Này Sariputta, như vậy gọi là thấp sanh. Và này Sariputta, thế nào là hóa sanh? Chư Thiên, các chúng sanh ở địa ngục, một số thuộc loài người và một số thuộc đọa xứ. Này Sariputta, như vậy gọi là hóa sanh.

Này Sariputta có bốn loại sanh như vậy. Này Sariputta, nếu ai biết Ta như vậy… người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục, như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

(NĂM CÕI VÀ NIẾT-BÀN)

35. "Này Sāriputta, có năm cõi (destinations) này. Năm cõi đó là gì? Địa ngục (Hell), cõi súc sinh (animal realm), cõi ngạ quỷ (realm of ghosts), loài người (human beings), và chư thiên (gods).[^190]

36. (1) "Như Lai hiểu địa ngục, và con đường và đường lối dẫn đến địa ngục. Và Như Lai cũng hiểu người đi vào con đường này, sau khi thân hoại mạng chung (on the dissolution of the body, after death), sẽ tái sinh vào cõi dữ (state of deprivation), vào đường ác (unhappy destination), vào đọa xứ (perdition), vào địa ngục như thế nào.

(2) "Như Lai hiểu cõi súc sinh, và con đường và đường lối dẫn đến cõi súc sinh. Và Như Lai cũng hiểu người đi vào con đường này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào cõi súc sinh như thế nào.

(3) "Như Lai hiểu cõi ngạ quỷ, và con đường và đường lối dẫn đến cõi ngạ quỷ. Và Như Lai cũng hiểu người đi vào con đường này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào cõi ngạ quỷ như thế nào.

(4) "Như Lai hiểu loài người, và con đường và đường lối dẫn đến cõi người. Và Như Lai cũng hiểu người đi vào con đường này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào cõi người như thế nào.

(5) "Như Lai hiểu chư thiên, và con đường và đường lối dẫn đến cõi trời. Và Như Lai cũng hiểu người đi vào con đường này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào cõi thiện (happy destination), vào cõi trời (heavenly world) như thế nào. (6) "Như Lai hiểu Niết-bàn (Nibbāna), và con đường và đường lối dẫn đến Niết-bàn. [74] Và Như Lai cũng hiểu người đi vào con đường này, bằng cách tự mình chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp, ngay tại đây và bây giờ sẽ chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn cấu uế nhờ sự diệt tận các lậu hoặc như thế nào.

37. (1) "Bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình, Như Lai hiểu một người nào đó như sau: ‘Người này hành xử như vậy, cư xử như vậy, đã đi theo con đường như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người đó sẽ tái sinh vào cõi dữ, vào đường ác, vào đọa xứ, vào địa ngục.’ Và sau đó, với thiên nhãn thông, vốn thanh tịnh và vượt xa khả năng của con người, Như Lai thấy rằng sau khi thân hoại mạng chung, người đó đã tái sinh vào cõi dữ, vào đường ác, vào đọa xứ, vào địa ngục, và đang trải nghiệm những cảm giác cực kỳ[^191] đau đớn, thống khổ, nhức nhối. Ví dụ như có một hố than sâu hơn chiều cao của một người, chứa đầy than hồng rực không có lửa hay khói; và rồi một người bị thiêu đốt và kiệt sức bởi thời tiết nóng bức, mệt mỏi, khát nước, đi theo một con đường chỉ có một hướng và dẫn đến chính hố than đó. Rồi một người có thị lực tốt khi nhìn thấy người đó sẽ nói: ‘Người này hành xử như vậy, cư xử như vậy, đã đi theo con đường như vậy, người đó sẽ đến chính hố than này’; và sau đó người đó thấy rằng người kia đã rơi vào hố than đó và đang trải nghiệm những cảm giác cực kỳ đau đớn, thống khổ, nhức nhối. Cũng vậy, bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình…những cảm giác nhức nhối.

38. (2) "Bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình, Như Lai hiểu một người nào đó như sau: ‘Người này hành xử như vậy, cư xử như vậy, đã đi theo con đường như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người đó sẽ tái sinh vào cõi súc sinh.’ Và sau đó, với thiên nhãn thông, vốn thanh tịnh và vượt xa khả năng của con người, Như Lai thấy rằng sau khi thân hoại mạng chung, người đó đã tái sinh vào cõi súc sinh và đang trải nghiệm những cảm giác cực kỳ đau đớn, thống khổ, nhức nhối. Ví dụ như có một hố xí sâu hơn chiều cao của một người, chứa đầy chất thải; và rồi một người [75] bị thiêu đốt và kiệt sức bởi thời tiết nóng bức, mệt mỏi, khát nước, đi theo một con đường chỉ có một hướng và dẫn đến chính hố xí đó. Rồi một người có thị lực tốt khi nhìn thấy người đó sẽ nói: ‘Người này hành xử…người đó sẽ đến chính hố xí này’; và sau đó người đó thấy rằng người kia đã rơi vào hố xí đó và đang trải nghiệm những cảm giác cực kỳ đau đớn, thống khổ, nhức nhối. Cũng vậy, bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình…những cảm giác nhức nhối.

39. (3) "Bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình, Như Lai hiểu một người nào đó như sau: ‘Người này hành xử như vậy, cư xử như vậy, đã đi theo con đường như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người đó sẽ tái sinh vào cõi ngạ quỷ.’ Và sau đó…Như Lai thấy rằng…người đó đã tái sinh vào cõi ngạ quỷ và đang trải nghiệm nhiều cảm giác đau khổ. Ví dụ như có một cái cây mọc trên mặt đất không bằng phẳng với tán lá thưa thớt đổ bóng lốm đốm; và rồi một người bị thiêu đốt và kiệt sức bởi thời tiết nóng bức, mệt mỏi, khát nước, đi theo một con đường chỉ có một hướng và dẫn đến chính cái cây đó. Rồi một người có thị lực tốt khi nhìn thấy người đó sẽ nói: ‘Người này hành xử…người đó sẽ đến chính cái cây này’; và sau đó người đó thấy rằng người kia đang ngồi hoặc nằm dưới bóng cây đó và trải nghiệm nhiều cảm giác đau khổ. Cũng vậy, bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình…nhiều cảm giác đau khổ.

40. (4) "Bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình, Như Lai hiểu một người nào đó như sau: ‘Người này hành xử như vậy, cư xử như vậy, đã đi theo con đường như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người đó sẽ tái sinh vào cõi người.’ Và sau đó…Như Lai thấy rằng…người đó đã tái sinh vào cõi người và đang trải nghiệm nhiều cảm giác sung sướng. Ví dụ như có một cái cây mọc trên mặt đất bằng phẳng với tán lá rậm rạp đổ bóng râm mát; và rồi một người bị thiêu đốt và kiệt sức bởi thời tiết nóng bức, mệt mỏi, khát nước, đi theo một con đường chỉ có một hướng và dẫn đến chính cái cây đó. Rồi một người có thị lực tốt khi nhìn thấy người đó sẽ nói: ‘Người này hành xử…người đó sẽ đến chính cái cây này’; và sau đó người đó thấy rằng người kia đang ngồi hoặc nằm dưới bóng cây đó và trải nghiệm nhiều cảm giác sung sướng. Cũng vậy, bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình…nhiều cảm giác sung sướng. [76]

41. (5) "Bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình, Như Lai hiểu một người nào đó như sau: ‘Người này hành xử như vậy, cư xử như vậy, đã đi theo con đường như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người đó sẽ tái sinh vào cõi thiện, vào cõi trời.’ Và sau đó…Như Lai thấy rằng…người đó đã tái sinh vào cõi thiện, vào cõi trời, và đang trải nghiệm những cảm giác cực kỳ sung sướng. Ví dụ như có một tòa nhà, và nó có một căn phòng trên lầu được trát vữa bên trong và bên ngoài, kín đáo, được bảo vệ bằng các thanh chắn, với các cửa sổ có rèm che, và trong đó có một chiếc ghế dài trải thảm, chăn và ga trải giường, với một tấm phủ bằng da hươu, với một mái che cũng như gối màu đỏ thẫm cho cả [đầu và chân]; và rồi một người bị thiêu đốt và kiệt sức bởi thời tiết nóng bức, mệt mỏi, khát nước, đi theo một con đường chỉ có một hướng và dẫn đến chính tòa nhà đó. Rồi một người có thị lực tốt khi nhìn thấy người đó sẽ nói: ‘Người này hành xử…người đó sẽ đến chính tòa nhà này’; và sau đó người đó thấy rằng người kia đang ngồi hoặc nằm trong căn phòng trên lầu trong tòa nhà đó và trải nghiệm những cảm giác cực kỳ sung sướng. Cũng vậy, bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình…những cảm giác cực kỳ sung sướng.

42. (6) "Bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình, Như Lai hiểu một người nào đó như sau: ‘Người này hành xử như vậy, cư xử như vậy, đã đi theo con đường như vậy, bằng cách tự mình chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp, người đó ngay tại đây và bây giờ sẽ chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn cấu uế nhờ sự diệt tận các lậu hoặc.’ Và sau đó Như Lai thấy rằng bằng cách tự mình chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp, người đó ngay tại đây và bây giờ chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn cấu uế nhờ sự diệt tận các lậu hoặc, và đang trải nghiệm những cảm giác cực kỳ sung sướng.[^192] Ví dụ như có một cái ao với nước sạch, dễ chịu, mát mẻ, trong vắt, với bờ thoai thoải, dễ chịu, và gần đó là một khu rừng rậm; và rồi một người bị thiêu đốt và kiệt sức bởi thời tiết nóng bức, mệt mỏi, khát nước, đi theo một con đường chỉ có một hướng và dẫn đến chính cái ao đó. Rồi một người có thị lực tốt khi nhìn thấy người đó sẽ nói: ‘Người này hành xử…người đó sẽ đến chính cái ao này’; và sau đó người đó thấy rằng người kia đã lao xuống ao, tắm, uống, và giải tỏa mọi sự khó chịu, mệt mỏi, và nóng bức và đã đi ra ngoài và đang ngồi hoặc nằm trong khu rừng [77] và trải nghiệm những cảm giác cực kỳ sung sướng. Cũng vậy, bằng cách thấu hiểu tâm người khác bằng tâm mình…những cảm giác cực kỳ sung sướng. Đây là năm cõi.

43. "Này Sāriputta, khi Như Lai biết và thấy như vậy, nếu có ai nói về Như Lai rằng: ‘Sa-môn Gotama không có bất kỳ năng lực siêu nhiên nào, không có sự khác biệt nào về trí tuệ và tầm nhìn xứng đáng với bậc thánh nhân. Sa-môn Gotama chỉ dạy một Pháp [chỉ đơn thuần] được tạo ra bằng lý luận, theo dòng suy nghĩ của riêng ông ấy’ - trừ khi người đó từ bỏ lời khẳng định đó và trạng thái tâm đó và từ bỏ quan điểm đó, nếu không thì [chắc chắn như thể người đó bị] mang đi và đặt ở đó, người đó sẽ rơi vào địa ngục. Cũng như một vị tỳ kheo có giới đức, định, và trí tuệ sẽ ngay tại đây và bây giờ chứng đắc trí tuệ cuối cùng, thì trong trường hợp này cũng vậy, Như Lai nói, trừ khi người đó từ bỏ lời khẳng định đó và trạng thái tâm đó và từ bỏ quan điểm đó, nếu không thì [chắc chắn như thể người đó bị] mang đi và đặt ở đó, người đó sẽ rơi vào địa ngục.

(Năm sanh thú và Niết bàn)

Này Sariputta, có năm loại sanh thú này. Thế nào là năm? Ðịa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, loài Người, chư Thiên.

(1) Này Sariputta, Ta tuệ tri địa ngục, con đường đưa đến địa ngục và hành lộ đưa đến địa ngục. Tùy theo hạnh nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, sự việc này ta cũng tuệ tri.

(2) Và này Sariputta, Ta tuệ tri bàng sanh, con đường đưa đến bàng sanh và hành lộ đưa đến bàng sanh. Tùy theo hạnh nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào bàng sanh, sự việc này Ta cũng tuệ tri.

(3) Và này Sariputta, Ta tuệ tri ngạ quỷ, con đường đưa đến ngạ quỷ và hành lộ đưa đến ngạ quỷ. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào ngạ quỷ, sự việc này Ta cũng tuệ tri.

(4) Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri loài Người, con đường đưa đến thế giới loài Người và hành lộ đưa đến thế giới loài Người. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào loài Người, sự việc này Ta cũng tuệ tri.

(5) Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri chư Thiên, con đường đưa đến Thiên giới và hành lộ đưa đến Thiên giới. Tùy theo hành nghiệp, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới, thế giới này, sự việc này Ta cũng tuệ tri.

Và này Sariputta, Ta cũng tuệ tri Niết-bàn, con đường đưa đến Niết-bàn và hành lộ đưa đến Niết-bàn. Tùy theo hành nghiệp, do đoạn trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, sự việc này, Ta cũng tuệ tri.

(1) Này Sariputta, ở đây, với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người. Do hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục như vậy. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng như có một hố than sâu hơn thân người, đầy vun than hừng, không có lửa ngọn, không có khói, và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi khô cổ, đắng họng, khát nước, và đi thẳng đến hố than ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy, có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hố than kia”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia rơi vào hố than ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục như vậy”. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy người ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt.

(2) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào bàng sanh”. Sau một thời gian, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy kẻ ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào bàng sanh, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng như có một hố phân, sâu hơn thân người, đầy những phẩn uế, và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến hố phân ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hố phân ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia rơi vào hố phân ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta… (như trên)… thống khổ, khốc liệt.

(3) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy… sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào ngạ quỷ, phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt”. Này Sariputta, cũng như có một cây sống trên miếng đất không bằng phẳng, với lá thưa thớt, với bóng che từng đám lưa thưa. Và một người đi đến bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến cây ấy chỉ bằng một con

đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến cây ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia ngồi hay nằm dưới bóng cây ấy và phải cảm thọ những cảm giác cực khổ, thống khổ, khốc liệt. Này Sariputta, cũng vậy ở đây với tâm của Ta… (như trên)… thống khổ, khốc liệt.

(4) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta biết tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy… sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào loài người”. Sau một thời gian… Ta thấy người ấy sanh vào loài người, và cảm thọ được nhiều cảm giác lạc thọ. Này Sariputta, cũng như có một cây sống trên miếng đất bằng phẳng với lá sum sê, với bóng cây rậm rạp. Và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến cây ấy chỉ bằng một con đường. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ của người này như vậy và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến cây ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia, ngồi hay nằm dưới bóng cây ấy và cảm thọ được nhiều cảm giác lạc thọ. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây, với tâm của Ta… được nhiều cảm giác lạc thọ.

(5) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy… sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này”. Sau một thời gian… Ta thấy người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này và cảm thọ những cảm giác cực lạc. Này Sariputta, giống như một ngôi lầu, có gác nhọn, có tô vôi cả trong lẫn ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín. Tại đây có một sàng tọa, trải nệm lông dài, trải nệm màu trắng, trải nệm bông có thêu hoa, trải nệm bằng da sơn dương gọi là kadali, có nệm với khuôn màu treo phía trên, có gối dài màu đỏ cả hai đầu. Và một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến ngôi lầu ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến ngôi lầu ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia ngồi hay nằm trong ngôi lầu ấy, trong gác nhọn ấy, trên sàng tọa ấy và cảm thọ được nhiều cảm thọ cực lạc. Này Sariputta, cũng vậy, ở đây với tâm của Ta… được nhiều cảm giác lạc thọ.

(6) Này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát như vậy”. Sau một thời gian, Ta thấy vị ấy đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, cảm thọ những cảm giác cực lạc. Này Sariputta, giống như một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ, và không xa hồ ấy có khu rừng rậm rạp. Một người đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước và đi thẳng đến hồ sen ấy. Một người có mắt thấy người ấy có thể nói: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, và bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đi đến hồ sen ấy”. Sau một thời gian, người ấy sẽ thấy người kia, sau khi tẩm mình vào hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước và làm cho dịu bớt mọi ưu tư, mệt mỏi, phiền não, sau khi ra khỏi hồ liền qua ngồi hay nằm trong rừng cây rậm rạp ấy và cảm thọ những cảm giác cực lạc. Cũng vậy, này Sariputta, ở đây với tâm của Ta, Ta tuệ tri tâm của một số người: “Hành nghiệp của người này như vậy, cử chỉ như vậy, bước vào đạo lộ như vậy, sẽ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát như vậy”. Sau một thời gian, Ta thấy vị ấy đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, cảm thọ những cảm giác cực lạc.

Này Sariputta, năm loại này là năm sanh thú. Này Sariputta, có ai biết Ta như vậy, thấy Ta như vậy, và nói: “Sa-môn Gotama không có pháp Thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuộc trắc nghiệm”. Này Sariputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy, thì người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên. Này Sariputta, Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh, thành tựu thiền định, thành tựu trí tuệ, có thể chứng được chánh trí ngay trong hiện tại. Này Sariputta, Ta nói như vậy là sự thành tựu như vậy. Nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy, thì người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.

(Những Sự Khổ Hạnh Của Bồ Tát)

44. "Này Sāriputta, Ta nhớ lại đã từng sống một đời sống thánh thiện với bốn yếu tố. Ta đã thực hành khổ hạnh - khổ hạnh đến tột cùng; Ta đã thực hành sự thô kệch - thô kệch đến tột cùng; Ta đã thực hành sự cẩn trọng - cẩn trọng đến tột cùng; Ta đã thực hành sự ẩn dật - ẩn dật đến tột cùng.

45. "Sāriputta, sự khổ hạnh của ta đến mức ta đi chân trần, không màng đến các quy ước xã hội, liếm tay mình, không đến khi được gọi, không dừng lại khi được bảo dừng; Ta không nhận thức ăn được mang đến, thức ăn được làm riêng, hay lời mời dùng bữa; Ta không nhận bất cứ thứ gì từ nồi, từ bát, qua ngưỡng cửa, qua cây gậy, qua cái chày, từ hai người đang ăn cùng nhau, từ người phụ nữ mang thai, từ người phụ nữ đang cho con bú, từ người phụ nữ đang nằm với đàn ông, từ nơi phát đồ ăn, từ nơi có chó đang đợi, từ nơi ruồi nhặng bu quanh; Ta không ăn cá hay thịt, Ta không uống rượu, rượu vang, hay đồ uống lên men. Ta chỉ ở một nhà, ăn một miếng; Ta ở hai [78] nhà, ăn hai miếng;…Ta ở bảy nhà, ăn bảy miếng. Ta sống bằng một đĩa nhỏ thức ăn mỗi ngày, hai đĩa nhỏ thức ăn mỗi ngày…bảy đĩa nhỏ thức ăn mỗi ngày; Ta ăn một lần một ngày, hai ngày một lần…bảy ngày một lần, và cứ như vậy cho đến hai tuần một lần; Ta sống theo cách chỉ ăn vào những khoảng thời gian nhất định. Ta ăn rau xanh, hạt kê, gạo hoang, vỏ trấu, rêu, cám gạo, bọt gạo, bột vừng, cỏ, hay phân bò. Ta sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng; Ta ăn trái cây rụng. Ta mặc quần áo bằng cây gai dầu, vải trộn gai dầu, vải liệm, giẻ rách, vỏ cây, da linh dương, những dải da linh dương, vải cỏ kusa, vải vỏ cây, vải gỗ vụn, len tóc, len động vật, cánh cú. Ta nhổ tóc và râu, thực hành việc nhổ tóc và râu. Ta đứng liên tục, không ngồi. Ta ngồi xổm liên tục, chuyên tâm duy trì tư thế ngồi xổm. Ta dùng nệm gai; Ta làm giường bằng nệm gai. Ta thực hành việc tắm ba lần mỗi ngày, kể cả buổi tối. Bằng nhiều cách khác nhau như vậy, ta đã thực hành việc hành hạ và làm khổ thân xác. Đó là sự khổ hạnh của ta.

46. "Sāriputta, sự thô kệch của ta đến mức, giống như thân cây tindukā, tích tụ qua nhiều năm, đóng vảy và bong ra, bụi bẩn cũng vậy, tích tụ qua nhiều năm, đóng vảy trên cơ thể ta và bong ra. Ta chưa bao giờ nghĩ: ‘Ôi, hãy để ta dùng tay chà sạch lớp bụi bẩn này, hoặc để người khác dùng tay chà sạch lớp bụi bẩn này’ - ta chưa bao giờ nghĩ như vậy. Đó là sự thô kệch của ta.

47. "Sāriputta, sự cẩn trọng của ta đến mức ta luôn chánh niệm (mindful) khi bước tới và bước lui. Ta tràn đầy lòng thương xót ngay cả với [chúng sinh trong] một giọt nước: ‘Mong rằng ta không làm hại những sinh vật nhỏ bé trong các kẽ đất.’ Đó là sự cẩn trọng của ta.

48. "Sāriputta, sự ẩn dật của ta đến mức [79] ta đi sâu vào một khu rừng và sống ở đó. Và khi ta thấy một người chăn bò, một người chăn cừu, một người nhặt cỏ hay củi, hoặc một người tiều phu, ta sẽ chạy trốn từ lùm cây này sang lùm cây khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ chỗ trũng này sang chỗ trũng khác, từ gò đất này sang gò đất khác. Tại sao vậy? Để họ không thấy ta và ta không thấy họ. Giống như một con nai rừng, khi thấy người, chạy trốn từ lùm cây này sang lùm cây khác, từ bụi rậm này sang bụi rậm khác, từ chỗ trũng này sang chỗ trũng khác, từ gò đất này sang gò đất khác, ta cũng vậy, khi ta thấy một người chăn bò hay một người chăn cừu… Đó là sự ẩn dật của ta.

49. "Ta bò bằng bốn chân đến chuồng bò khi bò đã ra ngoài và người chăn bò đã rời đi, và ta ăn phân của những con bê con đang bú. Chừng nào phân và nước tiểu của ta còn, ta ăn phân và nước tiểu của chính mình. Đó là sự méo mó khủng khiếp trong việc ăn uống của ta.

50. "Ta đi sâu vào một khu rừng đáng sợ và sống ở đó - một khu rừng đáng sợ đến nỗi thường sẽ khiến người ta dựng tóc gáy nếu người đó không thoát khỏi dục vọng. Khi những đêm mùa đông lạnh giá đến trong ‘khoảng thời gian tám ngày sương giá’, ta sống ngoài trời vào ban đêm và trong rừng vào ban ngày. Trong tháng cuối cùng của mùa nóng, ta sống ngoài trời vào ban ngày và trong rừng vào ban đêm. Và tự nhiên ta thốt lên bài kệ này chưa từng nghe trước đây:

'Lạnh cóng về đêm và thiêu đốt ban ngày,
Một mình trong những khu rừng đáng sợ,
Trần truồng, không có lửa để ngồi cạnh,
Nhà hiền triết vẫn theo đuổi mục tiêu của mình.'

51. "Ta làm giường trong một bãi tha ma với xương của người chết làm gối. Và những cậu bé chăn bò đến, nhổ nước bọt vào ta, tè lên người ta, ném đất vào ta, và chọc gậy vào tai ta. Nhưng ta không nhớ rằng ta đã từng nảy sinh một ý nghĩ xấu xa [hận thù] nào đối với họ. Đó là sự an trú trong tâm xả (equanimity) của ta.

(Khổ hạnh của Bồ-tát)

Này Sariputta, Ta thắng tri phạm hạnh, đầy đủ bốn hạnh: về khổ hạnh, Ta khổ hạnh đệ nhất; về bần uế, Ta bần uế đệ nhất; về yểm ly, Ta yểm ly đệ nhất; về độc cư, Ta độc cư đệ nhất.

Này Sariputta, ở đây, khổ hạnh của Ta như sau: Ta sống lõa thể, phóng túng, không theo khuôn phép, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Ta chỉ nhận đồ ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay chỉ nhận ăn tại bảy nhà, chỉ nhận ăn bảy miếng. Ta nuôi sống chỉ với một chén, nuôi sống chỉ với hai chén, nuôi sống chỉ với bảy chén. Ta chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy Ta sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Ta chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivara, ăn da vụn, ăn trấu, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Ta mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc áo phấn tảo y, mặc vỏ cây tititaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Ta sống nhổ râu tóc, Ta theo tập tục sống nhổ râu tóc, Ta theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi, Ta là người ngồi chỏ hỏ, sống tinh tấn theo hạnh ngồi chỏ hỏ. Ta dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dính thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy, sống ăn các uế vật, sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm. Như vậy Ta sống theo hạnh hành hạ, dày vò thân thể theo nhiều cách. Này Sariputta, như vậy là khổ hạnh của Ta.

Này Sariputta, ở đây hạnh bần uế của Ta như sau: Trên thân Ta, bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Như gốc cây tinduka bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng; cũng vậy, này Sariputta, trên thân Ta bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Này Sariputta, Ta không nghĩ rằng: “Với tay của Ta, Ta hãy phủi sạch bụi bặm này đi, hay những người khác với tay của họ hãy phủi sạch bụi bặm này đi cho Ta”. Này Sariputta, Ta không có nghĩ như vậy. Này Sariputta, như vậy là sự bần uế của Ta.

Này Sariputta, như thế này là sự yểm ly của Ta. Này Sariputta, tỉnh giác, Ta đi tới; tỉnh giác Ta đi lui, Ta an trú lòng từ cho đến trong một giọt nước với tâm tư: “Mong rằng Ta không làm hại một chúng sanh nhỏ nào trong những ác đạo của họ!” Này Sariputta, như vậy là sự yểm ly của Ta.

Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: “Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!” Này Sariputta, giống như một con thú rừng thấy người liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi

cao khác. Cũng vậy, này Sariputta, khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi, hay người tiều phu, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: “Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!” Này Sariputta, như vậy là hạnh độc cư của Ta.

Này Sariputta, rồi Ta bò bốn chân đến các chuồng bò, khi các con bò cái đã bỏ đi, khi các người chăn bò không có mặt, rồi Ta ăn phân các con bò con, các con bò còn trẻ, các con bò còn bú. Khi nước tiểu và phân của Ta còn tồn tại, Ta tự nuôi sống với các loại ấy. Này Sariputta, như vậy là hạnh đại bất tịnh thực của Ta.

Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng rậm rạp kinh hoàng và an trú tại chỗ ấy. Này Sariputta, tại khu rừng rậm rạp kinh hoàng này, những ai còn tham ái đi vào khu rừng rậm rạp ấy, thời lông tóc người ấy dựng ngược. Này Sariputta, rồi Ta trong những đêm đông lạnh lẽo, giữa những ngày mồng tám, khi có tuyết rơi, trong những đêm như vậy, Ta sống giữa trời, và ban ngày sống trong khu rừng rậm rạp. Ta sống trong những ngày cuối tháng hè, ban ngày thì sống giữa trời, còn ban đêm trong khu rừng rậm rạp. Rồi này Sariputta, những bài kệ kỳ diệu từ trước chưa từng được nghesau đây được khởi lên:

Nay bị thiêu đốt, bị buốt lạnh,
Cô độc sống trong rừng kinh hoàng,
Trần truồng, Ta ngồi không lửa ấm,
Ẩn sĩ, trong lý tưởng đăm chiêu.

Này Sariputta, Ta nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương. Này Sariputta, những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên Ta, rắc bụi trên Ta và lấy que đâm vào lỗ tai. Này Sariputta, và Ta biết Ta không khởi ác tâm đối với chúng. Này Sariputta, như vậy là hạnh trú xả của Ta.

52. "Sāriputta, có một số ẩn sĩ và Bà-la-môn có giáo lý và quan điểm như sau: ‘Sự thanh tịnh có được nhờ thức ăn.’ Họ nói: ‘Chúng ta hãy sống bằng quả kola,’ và họ ăn quả kola, họ ăn bột quả kola, họ uống nước quả kola, và họ làm nhiều loại thức ăn từ quả kola. Ta nhớ lại đã từng ăn một quả kola mỗi ngày. Sāriputta, con có thể nghĩ rằng quả kola lúc đó to hơn, nhưng con không nên nghĩ như vậy: quả kola lúc đó cũng chỉ to bằng bây giờ. Vì ăn một quả kola mỗi ngày, cơ thể ta trở nên cực kỳ hốc hác. Vì ăn quá ít, chân tay ta trở nên giống như các đoạn thân cây nho hoặc thân cây tre. Vì ăn quá ít, mông ta trở nên giống như móng guốc của lạc đà. Vì ăn quá ít, xương sống của ta nhô ra như những hạt chuỗi. Vì ăn quá ít, xương sườn của ta nhô ra gầy guộc như những thanh xà nhà xiêu vẹo của một nhà kho cũ không mái. Vì ăn quá ít, ánh mắt ta trũng sâu trong hốc mắt, trông giống như ánh nước đã chìm sâu trong một cái giếng sâu. Vì ăn quá ít, da đầu ta nhăn nheo và teo tóp như một quả mướp đắng xanh nhăn nheo và teo tóp trong gió và nắng. Vì ăn quá ít, da bụng ta dính vào xương sống; vì vậy nếu ta chạm vào da bụng, ta chạm vào xương sống, và nếu ta chạm vào xương sống, ta chạm vào da bụng. Vì ăn quá ít, nếu ta cố gắng xoa dịu cơ thể bằng cách xoa bóp chân tay, tóc, đã mục ở chân tóc, rụng khỏi cơ thể ta khi ta xoa.

53-55. "Sāriputta, có một số ẩn sĩ và Bà-la-môn có giáo lý và quan điểm như sau: ‘Sự thanh tịnh có được nhờ thức ăn.’ Họ nói: ‘Chúng ta hãy sống bằng đậu,’…‘Chúng ta hãy sống bằng vừng,’…‘Chúng ta hãy sống bằng gạo,’ và họ ăn gạo, họ ăn bột gạo, [81] họ uống nước gạo, và họ làm nhiều loại thức ăn từ gạo. Ta nhớ lại đã từng ăn một hạt gạo mỗi ngày. Sāriputta, con có thể nghĩ rằng hạt gạo lúc đó to hơn, nhưng con không nên nghĩ như vậy: hạt gạo lúc đó cũng chỉ to bằng bây giờ. Vì ăn một hạt gạo mỗi ngày, cơ thể ta trở nên cực kỳ hốc hác. Vì ăn quá ít…tóc, đã mục ở chân tóc, rụng khỏi cơ thể ta khi ta xoa.

56. "Tuy nhiên, Sāriputta, bằng cách hành xử như vậy, bằng cách thực hành như vậy, bằng cách thực hiện những khổ hạnh như vậy, ta đã không đạt được bất kỳ trạng thái siêu nhân nào, bất kỳ sự xuất sắc nào trong tri thức và tuệ giác xứng đáng với bậc thánh nhân. Tại sao vậy? Bởi vì ta đã không đạt được trí tuệ cao quý (noble wisdom) mà khi đạt được thì cao quý và giải thoát, và dẫn người thực hành theo nó đến sự diệt khổ hoàn toàn.

57. "Sāriputta, có một số ẩn sĩ và Bà-la-môn có giáo lý và quan điểm như sau: ‘Sự thanh tịnh có được nhờ vòng luân hồi.’ Nhưng không thể tìm thấy một cõi nào trong vòng luân hồi mà ta chưa từng [82] trải qua trong hành trình dài này, ngoại trừ chư thiên ở cõi Tịnh Cư (Pure Abodes); và nếu ta đã trải qua vòng luân hồi như một vị thiên ở cõi Tịnh Cư, ta sẽ không bao giờ trở lại thế giới này.

58. "Có một số ẩn sĩ và Bà-la-môn có giáo lý và quan điểm như sau: ‘Sự thanh tịnh có được nhờ [một loại] tái sinh [cụ thể].’ Nhưng không thể tìm thấy một loại tái sinh nào mà ta chưa từng tái sinh trong hành trình dài này, ngoại trừ chư thiên ở cõi Tịnh Cư…

59. "Có một số ẩn sĩ và Bà-la-môn có giáo lý và quan điểm như sau: ‘Sự thanh tịnh có được nhờ [một] nơi cư trú [cụ thể].’ Nhưng không thể tìm thấy một loại nơi cư trú nào mà ta chưa từng sống…ngoại trừ chư thiên ở cõi Tịnh Cư…

60. "Có một số ẩn sĩ và Bà-la-môn có giáo lý và quan điểm như sau: ‘Sự thanh tịnh có được nhờ tế lễ.’ Nhưng không thể tìm thấy một loại tế lễ nào mà ta chưa từng dâng cúng trong hành trình dài này, khi ta là một vị vua cao quý được xức dầu hoặc một Bà-la-môn giàu có.

61. "Có một số ẩn sĩ và Bà-la-môn có giáo lý và quan điểm như sau: ‘Sự thanh tịnh có được nhờ thờ lửa.’ Nhưng không thể tìm thấy một loại lửa nào mà ta chưa từng thờ cúng trong hành trình dài này, khi ta là một vị vua cao quý được xức dầu hoặc một Bà-la-môn giàu có.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn”. Họ nói: “Chúng ta sống nhờ trái táo”, và họ ăn trái táo, họ ăn bột táo, họ uống nước trái táo dưới nhiều hình thức. Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một trái táo. Này Sariputta, có thể các Người nghĩ như sau: “Trái táo thời ấy to lớn”. Này Sariputta, chớ có hiểu như vậy. Vì trái táo thời ấy giống với trái táo hiện tại. Này Sariputta, trong khi Ta sống chỉ ăn một trái táo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, các xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát. Vì ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: “Ta hãy sờ da bụng” chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: “Ta hãy sờ xương sống”, thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: “Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện”, thì Ta ngã qu?úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn thoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn”. Họ nói: “Chúng ta sống nhờ đậu xanh… (như trên)… chúng ta sống nhờ vừng mè… (như trên)… chúng ta sống nhờ hột gạo”, và họ ăn hột gạo, họ ăn hột gạo nghiền thành bột, họ uống nước gạo, và họ ăn hột gạo dưới nhiều hình thức. Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một hột gạo. Này Sariputta, có thể các Người nghĩ như sau: “Hột gạo thời ấy to lớn”. Này Sariputta, chớ có hiểu như vậy. Vì hột gạo thời ấy giống với hột gạo hiện tại. Này Sariputta, trong khi Ta chỉ sống ăn một hột gạo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành

như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo, khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo, khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: “Ta hãy sờ da bụng”, thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: “Ta hãy rờ xương sống”, thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: “Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện”, thì Ta ngã qu? úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thời này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.

Này Sariputta, dầu Ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo khổ hạnh như vậy, Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được pháp thượng nhân với Thánh trí tuệ. Chính Thánh trí tuệ này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ luân hồi”. Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự luân hồi mà xưa kia Ta không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên (Suddhavasa). Này Sariputta, nếu Ta luân hồi tại Tịnh cư thiên thì Ta đã không trở lại đời này nữa.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ sanh khởi”. Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự sanh khởi mà xưa kia Ta không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên. Này Sariputta, nếu Ta sanh khởi tại Tịnh cư thiên, thì Ta đã không trở lại đời này nữa.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ an trú”. Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự an trú mà xưa kia Ta không trải qua trong một thời gian khá dài, trừ phi với các vị Tịnh cư thiên. Này Sariputta, nếu Ta an trú tại Tịnh cư thiên, thì Ta đã không trở lại đời này nữa.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ tế tự”. Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự tế tự mà xưa kia Ta không làm trong một thời gian khá dài khi ta-là vị vua Sát-đế-lị có làm lễ quán đảnh hay làm vị Bà-la-môn giàu có.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Sự thanh tịnh chứng đạt được nhờ thờ lửa”. Này Sariputta, thật không dễ gì tìm được sự thờ lửa mà xưa kia Ta không làm trong một thời gian khá dài, khi Ta là vị vua Sát-đế-l?có làm lễ quán đảnh, hay làm vị Bà-la-môn giàu có.

62. "Sāriputta, có một số ẩn sĩ và Bà-la-môn có giáo lý và quan điểm như sau: ‘Chừng nào người này còn trẻ, một thanh niên tóc đen với phước lành của tuổi trẻ, ở độ tuổi sung sức, chừng đó anh ta hoàn hảo trong trí tuệ sáng suốt của mình. Nhưng khi người này già, cao tuổi, gánh nặng tuổi tác, đã đi đến cuối cuộc đời, tám mươi, chín mươi, hoặc một trăm tuổi, thì sự sáng suốt của trí tuệ của anh ta bị mất.’ Nhưng không nên nghĩ như vậy. Ta bây giờ đã già, cao tuổi, gánh nặng tuổi tác, đã đi đến cuối cuộc đời: ta đã tám mươi tuổi. Giả sử ta có bốn đệ tử sống một trăm tuổi, hoàn hảo về chánh niệm (mindfulness), khả năng ghi nhớ, trí nhớ và sự sáng suốt của trí tuệ. Giống như một cung thủ lành nghề, được huấn luyện, luyện tập và kiểm tra, có thể dễ dàng bắn một mũi tên nhẹ qua bóng của một cây cọ, giả sử họ hoàn hảo về chánh niệm, khả năng ghi nhớ, [83] trí nhớ và sự sáng suốt của trí tuệ đến mức đó. Giả sử họ liên tục hỏi ta về bốn nền tảng của chánh niệm (four foundations of mindfulness) và ta trả lời họ khi được hỏi, và họ nhớ từng câu trả lời của ta và không bao giờ hỏi một câu hỏi phụ hoặc dừng lại ngoại trừ để ăn, uống, tiêu thụ thức ăn, nếm, đi tiểu, đại tiện, và nghỉ ngơi để loại bỏ buồn ngủ và mệt mỏi. Tuy nhiên, sự giảng giải của Như Lai (Tathāgata) về Pháp (Dhamma), những lời giải thích của ngài về các yếu tố của Pháp, và những câu trả lời của ngài cho các câu hỏi sẽ không kết thúc, nhưng trong khi đó, bốn đệ tử của ta với tuổi thọ một trăm năm sẽ chết khi hết một trăm năm đó. Sāriputta, ngay cả khi con phải khiêng ta trên giường, sự sáng suốt trong trí tuệ của Như Lai vẫn sẽ không thay đổi.

63. "Nói một cách đúng đắn, nếu nói về ai đó: ‘Một chúng sinh không bị mê lầm (delusion) đã xuất hiện trên thế gian vì lợi ích và hạnh phúc của nhiều người, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi và hạnh phúc của chư thiên và loài người,’ thì chính là nói về ta.

64. Lúc đó, tôn giả Nāgasamāla đang đứng sau Đức Phật (Blessed One) quạt cho ngài. Sau đó, ngài nói với Đức Phật: “Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật phi thường! Khi con nghe bài pháp (Dhamma) này, lông trên cơ thể con dựng đứng. Bạch Thế Tôn, bài pháp này tên là gì?”

“Về điều đó, Nāgasamāla, con có thể nhớ bài pháp này là ‘Bài Pháp Dựng Tóc Gáy.’”

Đó là những gì Đức Phật nói. Tôn giả Nāgasamāla hoan hỷ và hài lòng với lời của Đức Phật.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: “Khi một thiếu niên còn trẻ tuổi, tóc đen nhánh, huyết khí sung mãn, trong tuổi thanh xuân, người ấy thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng. Nhưng khi người ấy già cả, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi đến đoạn cuối cuộc đời, khi đã tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi, khi ấy trí tuệ biện tài tối thượng ấy bị đoạn trừ”. Này Sariputta, chớ có quan niệm như vậy. Này Sariputta, nay Ta đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi dến đoạn cuối cuộc đời, tuổi Ta nay đã đến tám mươi. Này Sariputta, ở đây Ta có bốn vị đệ tử, tuổi thọ đến một trăm, đã sống một trăm tuổi, thành tựu chánh niệm đệ nhất, thành tựu chuyên tâm đệ nhất, thành tựu tinh cần đệ nhất và đầy đủ trí tuệ biện tài tối thượng. Này Sariputta, ví như một người bắn cung thiện xảo, có huấn luyện, khéo tay, thuần thục, với một mũi tên nhẹ, có thể dễ dàng bắn ngang qua bóng một cây ta-la. Cũng vậy, những vị này với chánh niệm đệ nhất như vậy, được thành tựu trí tuệ biện tài tối thượng như vậy, nếu những vị này hỏi Ta nhiều lần một câu hỏi về Bốn Niệm xứ, và nếu Ta, được hỏi nhiều lần như vậy, phải giải thích cho họ hiểu và nếu họ được Ta giải thích như vậy, có thể hiểu như đã giải thích, và nếu họ không hỏi Ta về những vấn đề phụ thuộc và các vấn đề khác, trừ khi ăn, uống, nhai, nếm, trừ khi đi đại tiện, tiểu tiện, trừ khi ngủ để lấy lại sức. Này Sariputta, dầu vậy, sự thuyết pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự giải thích cú pháp của Như Lai cũng chưa hoàn tất, sự trả lời các câu hỏi của Như Lai cũng chưa hoàn tất, khi mà bốn đệ tử của Ta, tuổi thọ đến một trăm tuổi, đã sống một trăm tuổi, đã từ trần sau một trăm tuổi. Này Sariputta, nếu Ông có gánh Ta trên giường đi chỗ này chỗ kia, thật sự trí tuệ biện tài của Như Lai không có gì thay đổi.

Này Sariputta, những ai nói một cách chân chánh sẽ nói như sau: “Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”. Vị ấy sẽ nói về Ta một cách chân chánh như sau: “Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người”.

Lúc bấy giờ Tôn giả Nagasamala đứng sau lưng Thế Tôn và quạt cho Ngài! Tôn giả Nagasamala bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Sau khi nghe pháp môn này, lông tóc con dựng ngược. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì?

– Này Nagasamala, do vậy pháp môn này gọi là “Pháp môn Lông tóc dựng ngược”. Ông hãy như vậy thọ trì.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Nagasamala hoan hỷ, tín thọ lời dạy Thế Tôn.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Chánh niệm / sati / mindfulness: khả năng ghi nhớ, tập trung vào hiện tại.
  • Tâm xả / upekkhā / equanimity: trạng thái tâm bình thản, không bị dao động bởi các cảm xúc.
  • Trí tuệ cao quý / ariyapaññā / noble wisdom: trí tuệ giúp giải thoát khỏi khổ đau.
  • Cõi Tịnh Cư / suddhāvāsa / Pure Abodes: cõi trời cao, nơi chỉ có các vị thánh A-na-hàm (Anāgāmi) tái sinh.
  • Như Lai / tathāgata / Tathāgata: một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “người đã đến như vậy” hoặc “người đã đi như vậy”.
  • Pháp / dhamma / Dhamma: giáo lý của Đức Phật, chân lý, quy luật tự nhiên.
  • Đức Phật / bhagavā / Blessed One: người đã giác ngộ, đạt được giải thoát.
  • Mê lầm / moha / delusion: sự thiếu hiểu biết, ảo tưởng, một trong ba gốc rễ của khổ đau.
  • Bốn nền tảng của chánh niệm / cattāro satipaṭṭhānā / four foundations of mindfulness: bốn đối tượng để thực hành chánh niệm: thân, thọ, tâm, pháp.