Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 19. Hai Loại Suy Nghĩ

(Dvedhāvitakka Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Có một lần Đức Phật (the Blessed One) đang ở tại Sāvatthī trong Rừng Jeta, Công viên của Anāthapiṇ̣ika. Ở đó, ngài nói với các tỳ kheo (bhikkhus - các nhà sư) rằng: “Này các tỳ kheo.” - “Bạch Thế Tôn,” họ đáp. Đức Phật nói điều này:

2. "Này các tỳ kheo, trước khi ta giác ngộ, khi ta vẫn còn là một Bồ Tát (Bodhisatta - người đang trên con đường tìm kiếm giác ngộ) chưa giác ngộ, ta đã nghĩ: ‘Giả sử ta chia suy nghĩ của mình thành hai loại.’ [^235] Sau đó, ta đặt sang một bên những suy nghĩ về dục vọng (sensual desire), những suy nghĩ về sân hận (ill will), và những suy nghĩ về sự tàn ác (cruelty), và ta đặt sang bên kia những suy nghĩ về sự từ bỏ (renunciation), những suy nghĩ về không sân hận (non-ill will), và những suy nghĩ về không tàn ác (non-cruelty). [^236]

3. "Khi ta sống như vậy, tinh tấn (diligent), nhiệt thành (ardent), và kiên định (resolute), [115] một ý nghĩ về dục vọng nảy sinh trong ta. Ta hiểu rằng: ‘Ý nghĩ về dục vọng này đã nảy sinh trong ta. Điều này dẫn đến sự khổ sở (affliction) cho chính ta, sự khổ sở cho người khác, và sự khổ sở cho cả hai; nó cản trở trí tuệ (wisdom), gây ra khó khăn, và dẫn ta rời xa Niết Bàn (Nibbāna).’ Khi ta suy xét: ‘Điều này dẫn đến sự khổ sở cho chính ta,’ nó lắng xuống trong ta; khi ta suy xét: ‘Điều này dẫn đến sự khổ sở cho người khác,’ nó lắng xuống trong ta; khi ta suy xét: ‘Điều này dẫn đến sự khổ sở cho cả hai,’ nó lắng xuống trong ta; khi ta suy xét: ‘Điều này cản trở trí tuệ, gây ra khó khăn, và dẫn ta rời xa Niết Bàn,’ nó lắng xuống trong ta. Bất cứ khi nào một ý nghĩ về dục vọng nảy sinh trong ta, ta liền từ bỏ nó, loại bỏ nó, chấm dứt nó.

4-5. "Khi ta sống như vậy, tinh tấn, nhiệt thành, và kiên định, một ý nghĩ về sân hận nảy sinh trong ta… một ý nghĩ về sự tàn ác nảy sinh trong ta. Ta hiểu rằng: ‘Ý nghĩ về sự tàn ác này đã nảy sinh trong ta. Điều này dẫn đến sự khổ sở cho chính ta, sự khổ sở cho người khác, và sự khổ sở cho cả hai; nó cản trở trí tuệ, gây ra khó khăn, và dẫn ta rời xa Niết Bàn.’ Khi ta suy xét như vậy… nó lắng xuống trong ta. Bất cứ khi nào một ý nghĩ về sự tàn ác nảy sinh trong ta, ta liền từ bỏ nó, loại bỏ nó, chấm dứt nó.

19. KINH SONG TẦM

19. KINH SONG TẦM (Dvedhàvitakka Sutta)

Tôi nghe như vầy:

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Chư Tỷ-kheo”. --“Thưa vâng”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

– Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm”. Chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai.

Chư Tỷ-kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: “Dục tầm này khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm này đưa đến tự hại”, dục tầm được biến mất, Chư Tỷ-kheo, khi ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại người”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại cả hai”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm.

Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sân tầm khởi lên… (như trên)… hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri: “Hại tầm này khởi lên nơi Ta, và hại tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Hại tầm này đưa đến tự hại”… “Hại tầm diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, hại tầm biến mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận hại tầm.

6. "Này các tỳ kheo, một tỳ kheo thường xuyên suy nghĩ và nghiền ngẫm về điều gì, điều đó sẽ trở thành khuynh hướng (inclination) của tâm trí người ấy. Nếu người ấy thường xuyên suy nghĩ và nghiền ngẫm về những ý nghĩ dục vọng, người ấy đã từ bỏ ý nghĩ về sự từ bỏ để nuôi dưỡng ý nghĩ về dục vọng, và rồi tâm trí của người ấy nghiêng về những ý nghĩ dục vọng. Nếu người ấy thường xuyên suy nghĩ và nghiền ngẫm về những ý nghĩ sân hận… về những ý nghĩ tàn ác, người ấy đã từ bỏ ý nghĩ về không tàn ác để nuôi dưỡng ý nghĩ về sự tàn ác, và rồi tâm trí của người ấy nghiêng về những ý nghĩ tàn ác.

7. "Giống như vào tháng cuối cùng của mùa mưa, vào mùa thu, khi mùa màng trở nên dày đặc, một người chăn bò sẽ bảo vệ đàn bò của mình bằng cách liên tục gõ và thúc chúng ở bên này và bên kia bằng một cây gậy để kiểm tra và kiềm chế chúng. Tại sao vậy? Bởi vì người ấy thấy rằng mình có thể bị đánh đòn, bị bỏ tù, bị phạt tiền, hoặc bị khiển trách [nếu để chúng đi lạc vào ruộng]. Cũng vậy, ta thấy trong những trạng thái bất thiện (unwholesome states - những trạng thái không tốt, không lành mạnh) sự nguy hiểm, sự suy thoái (degradation), và sự ô nhiễm (defilement), và trong những trạng thái thiện (wholesome states - những trạng thái tốt, lành mạnh) là phước lành của sự từ bỏ, khía cạnh của sự thanh lọc (cleansing). [116]

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối vấn đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về dục tầm, vị ấy từ bỏ ly dục tầm. Khi tâm đã nặng về dục tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư quán sát nhiều về sân tầm… (như trên)… về hại tầm, vị ấy từ bỏ vô hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về hại tầm thời tâm vị ấy có khuynh hướng về hại tầm.

Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa mưa, về mùa thu, khi lúa đã trổ hạt, một người mục đồng chăn giữ bò, cầm roi đánh các con bò bên này, đánh bên kia, chế ngự chúng, ngăn chận chúng. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì người mục đồng thấy do nhân duyên này, đưa đến sự chết, sự tù tội, sự đánh đập hay sự trách móc. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Ta đã thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, sự uế nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp.

8. "Khi ta sống như vậy, tinh tấn, nhiệt thành, và kiên định, một ý nghĩ về sự từ bỏ nảy sinh trong ta. Ta hiểu rằng: ‘Ý nghĩ về sự từ bỏ này đã nảy sinh trong ta. Điều này không dẫn đến sự khổ sở cho chính ta, hoặc cho người khác, hoặc cho cả hai; nó hỗ trợ trí tuệ, không gây ra khó khăn, và dẫn đến Niết Bàn. Nếu ta suy nghĩ và nghiền ngẫm về ý nghĩ này thậm chí trong một đêm, thậm chí trong một ngày, thậm chí trong một ngày và đêm, ta không thấy có gì đáng sợ từ nó. Nhưng với việc suy nghĩ và nghiền ngẫm quá nhiều, ta có thể làm cơ thể mình mệt mỏi, và khi cơ thể mệt mỏi, tâm trí trở nên xáo trộn (disturbed), và khi tâm trí bị xáo trộn, nó ở rất xa sự định tâm (concentration).’ Vì vậy, ta làm cho tâm trí mình vững vàng (steadied) ở bên trong, làm cho nó yên tĩnh (quieted), đưa nó đến sự nhất tâm (singleness), và tập trung (concentrated) nó. Tại sao vậy? Để tâm trí của ta không bị xáo trộn. [^237]

9-10. "Khi ta sống như vậy, tinh tấn, nhiệt thành, và kiên định, một ý nghĩ về không sân hận nảy sinh trong ta… một ý nghĩ về không tàn ác nảy sinh trong ta. Ta hiểu rằng: ‘Ý nghĩ về không tàn ác này đã nảy sinh trong ta. Điều này không dẫn đến sự khổ sở cho chính ta, hoặc cho người khác, hoặc cho cả hai; nó hỗ trợ trí tuệ, không gây ra khó khăn, và dẫn đến Niết Bàn. Nếu ta suy nghĩ và nghiền ngẫm về ý nghĩ này thậm chí trong một đêm, thậm chí trong một ngày, thậm chí trong một ngày và đêm, ta không thấy có gì đáng sợ từ nó. Nhưng với việc suy nghĩ và nghiền ngẫm quá nhiều, ta có thể làm cơ thể mình mệt mỏi, và khi cơ thể mệt mỏi, tâm trí trở nên xáo trộn, và khi tâm trí bị xáo trộn, nó ở rất xa sự định tâm.’ Vì vậy, ta làm cho tâm trí mình vững vàng ở bên trong, làm cho nó yên tĩnh, đưa nó đến sự nhất tâm, và tập trung nó. Tại sao vậy? Để tâm trí của ta không bị xáo trộn.

11. "Này các tỳ kheo, một tỳ kheo thường xuyên suy nghĩ và nghiền ngẫm về điều gì, điều đó sẽ trở thành khuynh hướng của tâm trí người ấy. Nếu người ấy thường xuyên suy nghĩ và nghiền ngẫm về những ý nghĩ từ bỏ, người ấy đã từ bỏ ý nghĩ về dục vọng để nuôi dưỡng ý nghĩ về sự từ bỏ, và rồi tâm trí của người ấy nghiêng về những ý nghĩ từ bỏ. Nếu người ấy thường xuyên suy nghĩ và nghiền ngẫm về những ý nghĩ không sân hận… về những ý nghĩ không tàn ác, người ấy đã từ bỏ ý nghĩ về sự tàn ác để nuôi dưỡng ý nghĩ về không tàn ác, và rồi tâm trí của người ấy nghiêng về những ý nghĩ không tàn ác.

12. "Giống như vào tháng cuối cùng của mùa nóng, khi tất cả mùa màng đã được đưa vào trong làng, [117] một người chăn bò sẽ bảo vệ đàn bò của mình khi ở dưới gốc cây hoặc ở ngoài trời, vì người ấy chỉ cần chánh niệm (mindful - tỉnh giác, nhớ nghĩ) rằng đàn bò đang ở đó; cũng vậy, ta chỉ cần chánh niệm rằng những trạng thái đó đang ở đó.

Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi ly dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri như vầy: “Ly dục tầm này khởi lên nơi Ta và ly dục tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm) không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban ngày Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm, ban ngày, Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Và Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động; khi tâm bị dao động thì tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động.

Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khi vô sân tầm khởi lên… (như trên)… vô hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri như vậy: “Vô hại tầm này khởi lên nơi Ta và vô hại tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm… không phải từ nhân duyên ấy, mà Ta thấy sợ hãi. Và nếu Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi; khi thân Ta mệt mỏi thì tâm bị dao động, khi tâm bị dao động, tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động.

Chư Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vấn đề gì thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về ly dục tầm, vị ấy từ bỏ dục tầm. Khi tâm đã đặt nặng về ly dục tầm, tâm vị ấy có khuynh hướng về ly dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vô sân tầm… (như trên)… nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về bất hại tầm, vị ấy từ bỏ hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về bất hại tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về bất hại tầm.

Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng hè, khi tất cả lúa gạo đã cất vào kho thóc, một người mục đồng chăn giữ các con bò. Khi người mục đồng ở dưới gốc cây hay ở ngoài trời, người ấy có thể nghĩ đến có việc cần phải làm, và người ấy nghĩ: “Ðây là những con bò”. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy ở đây, có việc cần phải làm, và Ta nghĩ: “Ðây là những pháp”.

13. "Năng lượng không mệt mỏi (tireless energy) đã được khơi dậy trong ta và chánh niệm không ngừng (unremitting mindfulness) đã được thiết lập, cơ thể ta tĩnh lặng (tranquil) và không xao động (untroubled), tâm trí ta định tâm và hợp nhất (unified).

14-23. "Hoàn toàn tách biệt khỏi những thú vui dục lạc (sensual pleasures), tách biệt khỏi những trạng thái bất thiện, ta đã nhập vào và an trú trong sơ thiền (first jhāna - tầng thiền thứ nhất)…(như Kinh số 4, §§23-32)…Ta trực tiếp biết rằng: ‘Sự tái sinh (birth) đã bị phá hủy, đời sống thánh thiện (holy life) đã được sống, những gì phải làm đã được làm xong, không còn trở lại bất kỳ trạng thái nào nữa.’

24. "Đây là trí tuệ chân thật (true knowledge) thứ ba mà ta đạt được trong canh ba của đêm. Vô minh (ignorance) đã bị xua tan và trí tuệ chân thật đã phát sinh, bóng tối đã bị xua tan và ánh sáng đã phát sinh, như xảy ra ở một người sống tinh tấn, nhiệt thành, và kiên định.

Chư Tỷ-kheo, Ta phát tâm dõng mãnh, tinh tấn, không có tiêu cực, niệm không tán loạn được an trú, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm.

Chư Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly ác, bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba. Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí về chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.

Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: “Ðây là khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của khổ”, thắng tri như thật: “Ðây là khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc”, thắng tri như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, thắng tri như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.

Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần.

25. "Giả sử, này các tỳ kheo, trong một khu rừng có một đầm lầy lớn nằm thấp, gần đó có một đàn nai lớn sinh sống. Rồi một người xuất hiện mong muốn sự tàn lụi (ruin), gây hại (harm), và trói buộc (bondage) chúng, và người ấy đóng con đường an toàn và tốt đẹp dẫn đến hạnh phúc của chúng, và người ấy mở ra một con đường sai lầm, và người ấy đặt ra một mồi nhử (decoy) và dựng lên một hình nộm (dummy) để đàn nai lớn sau này có thể gặp phải tai họa (calamity), thảm họa (disaster), và mất mát (loss). Nhưng một người khác đến mong muốn điều tốt đẹp, phúc lợi (welfare), và sự bảo vệ (protection) cho chúng, và người ấy mở lại con đường an toàn và tốt đẹp dẫn đến hạnh phúc của chúng, và người ấy đóng con đường sai lầm, và người ấy loại bỏ mồi nhử và phá hủy hình nộm, để đàn nai lớn sau này có thể phát triển, tăng trưởng, và viên mãn (fulfilment).

26. "Này các tỳ kheo, ta đã đưa ra ví dụ này để truyền đạt một ý nghĩa. [118] Đây là ý nghĩa: ‘Đầm lầy lớn nằm thấp’ là một thuật ngữ cho những thú vui dục lạc. ‘Đàn nai lớn’ là một thuật ngữ cho chúng sinh (beings). ‘Người mong muốn sự tàn lụi, gây hại, và trói buộc chúng’ là một thuật ngữ cho Ác Ma (Māra the Evil One). ‘Con đường sai lầm’ là một thuật ngữ cho bát tà đạo (wrong eightfold path), đó là: tà kiến (wrong view), tà tư duy (wrong intention), tà ngữ (wrong speech), tà nghiệp (wrong action), tà mạng (wrong livelihood), tà tinh tấn (wrong effort), tà niệm (wrong mindfulness), và tà định (wrong concentration). ‘Mồi nhử’ là một thuật ngữ cho sự thích thú (delight) và ham muốn (lust). ‘Hình nộm’ là một thuật ngữ cho vô minh. ‘Người mong muốn điều tốt đẹp, phúc lợi, và sự bảo vệ cho chúng’ là một thuật ngữ cho Như Lai (Tathāgata), bậc thành tựu (accomplished) và giác ngộ hoàn toàn (fully enlightened). ‘Con đường an toàn và tốt đẹp dẫn đến hạnh phúc của chúng’ là một thuật ngữ cho Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) (Noble Eightfold Path), đó là: chánh kiến (right view), chánh tư duy (right intention), chánh ngữ (right speech), chánh nghiệp (right action), chánh mạng (right livelihood), chánh tinh tấn (right effort), chánh niệm (right mindfulness), và chánh định (right concentration).

"Vì vậy, này các tỳ kheo, con đường an toàn và tốt đẹp dẫn đến hạnh phúc đã được ta mở lại, con đường sai lầm đã bị đóng lại, mồi nhử đã bị loại bỏ, hình nộm đã bị phá hủy.

27. “Những gì nên được làm cho các đệ tử của mình vì lòng từ bi (compassion) bởi một người thầy tìm kiếm phúc lợi cho họ và có lòng từ bi đối với họ, điều đó ta đã làm cho các ngươi, này các tỳ kheo. Có những gốc cây này, những túp lều trống này. Hãy thiền định (Meditate), này các tỳ kheo, đừng trì hoãn (delay) kẻo sau này các ngươi sẽ hối hận. Đây là lời chỉ dạy (instruction) của chúng ta cho các ngươi.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các tỳ kheo hoan hỷ (satisfied) và thích thú (delighted) với lời của Đức Phật.

Chư Tỷ-kheo, giống như trong khu rừng rậm rạp có một hồ nước lớn thâm sâu, và một đoàn nai lớn sống gần một bên. Có một người đến, không muốn chúng được lợi ích, không muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được an toàn, đưa đến hoan hỷ, người ấy sẽ chận đóng con đường này lại, sẽ mở con đường nguy hiểm, sẽ đặt con mồi đực, sẽ đặt con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy, sau một thời gian đoàn nai lớn ấy gặp ách nạn và hao mòn dần. Chư Tỷ-kheo, có một người đến, muốn đoàn nai ấy được lợi ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được an toàn, người ấy sẽ mở con đường này, sẽ đóng con đường nguy hiểm lại, sẽ đem con mồi đực đi, sẽ hủy bỏ con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy đoàn nai lớn ấy sau một thời gian sẽ được tăng trưởng, hưng thịnh, thành mãn.

Chư Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ ấy để giải thích ý nghĩa như sau: Chư Tỷ-kheo, hồ nước lớn, thâm sâu chỉ cho các dục. Chư Tỷ-kheo, đoàn nai lớn chỉ cho các loài hữu tình. Chư Tỷ-kheo, con người không muốn chúng được lợi ích, không muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn chỉ cho ác ma. Chư Tỷ-kheo, con đường nguy hiểm chỉ cho con đường tà đạo có tám ngành, tức là tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Chư Tỷ-kheo, con mồi đực chỉ cho hỷ và tham. Chư Tỷ-kheo, con mồi cái chỉ cho vô minh. Chư Tỷ-kheo, còn người muốn chúng được lợi ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an ổn khỏi các ách nạn chỉ cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Con đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ chỉ cho con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta mở con đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ, Ta đóng con đường nguy hiểm, Ta mang đi con mồi đực, Ta hủy bỏ con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, những gì vị Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì lòng thương tưởng họ, những điều ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng các Người. Chư Tỷ-kheo, đây là các gốc cây, đây là các chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Bồ Tát / Bodhisatta / Bodhisatta: Người đang trên con đường tìm kiếm giác ngộ.
  • Dục vọng / / sensual desire: ham muốn, thèm khát những thứ liên quan đến giác quan (nhìn, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm).
  • Sân hận / / ill will: cảm giác tức giận, thù hằn, không ưa thích.
  • Tàn ác / / cruelty: hành động, suy nghĩ gây đau khổ cho người khác.
  • Từ bỏ / / renunciation: sự buông bỏ, không còn dính mắc vào những thứ gây đau khổ.
  • Không sân hận / / non-ill will: trạng thái tâm không có sự tức giận, thù hằn.
  • Không tàn ác / / non-cruelty: trạng thái tâm không có ý định làm hại người khác.
  • Tinh tấn / / diligent: siêng năng, nỗ lực không ngừng.
  • Nhiệt thành / / ardent: hăng hái, nhiệt tình, có động lực mạnh mẽ.
  • Kiên định / / resolute: quyết tâm, không thay đổi ý định.
  • Khổ sở / / affliction: sự đau đớn, phiền não về thể xác hoặc tinh thần.
  • Trí tuệ / / wisdom: khả năng hiểu biết đúng đắn về bản chất của sự vật, sự việc.
  • Niết Bàn / Nibbāna / Nibbāna: trạng thái chấm dứt hoàn toàn khổ đau, đạt được sự giải thoát.
  • Khuynh hướng / / inclination: xu hướng, chiều hướng mà tâm trí thường nghiêng về.
  • Bất thiện / / unwholesome: những hành động, suy nghĩ, lời nói không tốt, không lành mạnh, gây ra đau khổ.
  • Thiện / / wholesome: những hành động, suy nghĩ, lời nói tốt, lành mạnh, mang lại hạnh phúc.
  • Suy thoái / / degradation: sự xuống cấp, trở nên tồi tệ hơn.
  • Ô nhiễm / / defilement: những yếu tố làm cho tâm trí trở nên không trong sạch, không thanh tịnh.
  • Thanh lọc / / cleansing: quá trình làm cho tâm trí trở nên trong sạch, loại bỏ những ô nhiễm.
  • Xáo trộn / / disturbed: trạng thái tâm không yên ổn, bị dao động bởi những suy nghĩ, cảm xúc.
  • Định tâm / / concentration: khả năng tập trung tâm trí vào một đối tượng duy nhất.
  • Vững vàng / / steadied: làm cho tâm trí trở nên ổn định, không bị lung lay.
  • Yên tĩnh / / quieted: làm cho tâm trí trở nên शांत, không còn ồn ào.
  • Nhất tâm / / singleness: trạng thái tâm tập trung vào một điểm duy nhất, không bị phân tán.
  • Chánh niệm / / mindful: tỉnh giác, nhớ nghĩ, chú tâm vào hiện tại.
  • Sơ thiền / jhāna / first jhāna: tầng thiền thứ nhất, trạng thái tâm an lạc, tĩnh lặng.
  • Vô minh / / ignorance: sự thiếu hiểu biết đúng đắn về sự thật.
  • Ác Ma / Māra / Māra the Evil One: thế lực tượng trưng cho những chướng ngại trên con đường tu tập.
  • Bát tà đạo / / wrong eightfold path: tám con đường sai lầm, dẫn đến khổ đau.
  • Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) / / Noble Eightfold Path: tám con đường đúng đắn, dẫn đến giải thoát.
  • Như Lai / Tathāgata / Tathāgata: một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “người đã đến như vậy” hoặc “người đã đi như vậy”.
  • Từ bi / / compassion: lòng thương xót, mong muốn chúng sinh thoát khỏi khổ đau.