Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 20. Phương Pháp Loại Bỏ Những Suy Nghĩ Gây Xao Nhãng

(Vitakkasaṇthāna Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. [^238] Một lần nọ, Đức Phật (The Blessed One) đang ở tại Sāvatthī, trong khu rừng Jeta, tu viện của ông Anāthapindika. Tại đó, ngài nói với các vị tỳ kheo (bhikkhus - các nhà sư) như sau: “Này các tỳ kheo.” - “Bạch Thế Tôn,” [119] họ đáp. Đức Phật nói điều này:

2. "Này các tỳ kheo, khi một vị tỳ kheo đang tu tập thiền định (pursuing the higher mind - theo đuổi tâm trí cao hơn), thỉnh thoảng vị ấy nên chú ý đến năm dấu hiệu. [^239] Năm dấu hiệu đó là gì?

20. KINH AN TRÚ TẦM

20. KINH AN TRÚ TẦM (Vtakkasanthàna Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Chư Tỷ-kheo”. – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

– Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn thực tu tăng thượng tâm cần phải thường thường tác ý năm tướng. Thế nào là năm?

3. (i) "Ở đây, này các tỳ kheo, khi một vị tỳ kheo đang chú ý đến một dấu hiệu (nimitta / sign: Các đối tượng hoặc hiện tượng được sử dụng làm nền tảng cho sự chú tâm trong thiền định) nào đó, và do dấu hiệu đó, trong vị ấy khởi lên những suy nghĩ bất thiện (unwholesome thoughts - những suy nghĩ không tốt) liên quan đến tham (desire), sân (hate), và si (delusion), thì vị ấy nên chú ý đến một dấu hiệu khác liên quan đến điều thiện (wholesome - tốt lành). [^240] Khi vị ấy chú ý đến một dấu hiệu khác liên quan đến điều thiện, thì bất kỳ suy nghĩ bất thiện nào liên quan đến tham, sân, và si đều được loại bỏ và lắng xuống. Với việc loại bỏ chúng, tâm của vị ấy trở nên vững vàng (steadied) ở bên trong, tĩnh lặng (quieted), đạt đến nhất tâm (brought to singleness), và tập trung (concentrated). Giống như một người thợ mộc lành nghề hoặc người học việc của anh ta có thể đóng, loại bỏ, và nhổ một cái chốt thô bằng một cái chốt nhỏ, tương tự như vậy… khi một vị tỳ kheo chú ý đến một dấu hiệu khác liên quan đến điều thiện… tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, và tập trung.

Ở đây, Tỷ-kheo y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện không phải tướng kia. Nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, ví như một người thợ mộc thiện xảo hay đệ tử một người thợ mộc, dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác; chư Tỷ-kheo, cũng vậy, khi một Tỷ-kheo y cứ một tướng nào, tác ý một tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ- kheo ấy cần phải tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, không phải tướng kia. Nhờ tác ý một tướng khác liên hệ đến thiện, khác với tướng kia, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

4. (ii) "Nếu, trong khi vị ấy đang chú ý đến một dấu hiệu khác liên quan đến điều thiện, mà trong vị ấy vẫn khởi lên những suy nghĩ bất thiện liên quan đến tham, sân, và si, thì vị ấy nên xem xét sự nguy hiểm trong những suy nghĩ đó như sau: 'Những suy nghĩ này là bất thiện, chúng đáng trách, chúng dẫn đến khổ đau. [^241] Khi vị ấy xem xét sự nguy hiểm trong những suy nghĩ đó, thì bất kỳ suy nghĩ bất thiện nào liên quan đến tham, sân, và si đều được loại bỏ và lắng xuống. Với việc loại bỏ chúng, tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, và tập trung. Giống như một người đàn ông hay một người phụ nữ, trẻ trung, thích đồ trang sức, sẽ kinh hoàng, xấu hổ và ghê tởm nếu xác của một con rắn, một con chó hoặc một con người [120] bị treo quanh cổ của họ, tương tự như vậy… khi một vị tỳ kheo xem xét sự nguy hiểm trong những suy nghĩ đó… tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, và tập trung.

Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy khi tác ý một tướng khác với tướng kia, liên hệ đến thiện, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy: “Ðây là những tầm bất thiện, đây là những tầm có tội, đây là những tầm có khổ báo”. Nhờ quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, ví như một người đàn bà hay người đàn ông trẻ tuổi, trong tuổi thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, hay xác chó, hay xác người được quàng vào cổ, người ấy phải lo âu, xấu hổ, ghê tởm. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy nhờ quán sát… nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

5. (iii) "Nếu, trong khi vị ấy đang xem xét sự nguy hiểm trong những suy nghĩ đó, mà trong vị ấy vẫn khởi lên những suy nghĩ bất thiện liên quan đến tham, sân, và si, thì vị ấy nên cố gắng quên đi những suy nghĩ đó và không nên chú ý đến chúng. Khi vị ấy cố gắng quên đi những suy nghĩ đó và không chú ý đến chúng, thì bất kỳ suy nghĩ bất thiện nào liên quan đến tham, sân, và si đều được loại bỏ và lắng xuống. Với việc loại bỏ chúng, tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, và tập trung. Giống như một người có mắt sáng, không muốn nhìn thấy những hình ảnh trong tầm mắt, sẽ nhắm mắt lại hoặc nhìn đi chỗ khác, tương tự như vậy… khi một vị tỳ kheo cố gắng quên đi những suy nghĩ đó và không chú ý đến chúng… tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, và tập trung.

Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi quán sát các nguy hiểm của những tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời này chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải không ức niệm, không tác ý những tầm ấy. Nhờ không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, ví như một người có mắt, không muốn thấy các sắc pháp nằm trong tầm mắt của mình, người ấy nhắm mắt lại hay ngó qua một bên. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy, trong khi không ức niệm, không tác ý… được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

6. (iv) "Nếu, trong khi vị ấy đang cố gắng quên đi những suy nghĩ đó và không chú ý đến chúng, mà trong vị ấy vẫn khởi lên những suy nghĩ bất thiện liên quan đến tham, sân, và si, thì vị ấy nên chú ý đến việc làm lắng dịu sự hình thành suy nghĩ (thought-formation) của những suy nghĩ đó. [^242] Khi vị ấy chú ý đến việc làm lắng dịu sự hình thành suy nghĩ của những suy nghĩ đó, thì bất kỳ suy nghĩ bất thiện nào liên quan đến tham, sân, và si đều được loại bỏ và lắng xuống. Với việc loại bỏ chúng, tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, và tập trung. Giống như một người đang đi nhanh có thể suy nghĩ: ‘Tại sao mình lại đi nhanh? Hay là mình đi chậm lại?’ và người ấy sẽ đi chậm lại; sau đó người ấy có thể suy nghĩ: ‘Tại sao mình lại đi chậm? Hay là mình đứng lại?’ và người ấy sẽ đứng lại; sau đó người ấy có thể suy nghĩ: ‘Tại sao mình lại đứng? Hay là mình ngồi xuống?’ và người ấy sẽ ngồi xuống; sau đó người ấy có thể suy nghĩ: ‘Tại sao mình lại ngồi? Hay là mình nằm xuống?’ và người ấy sẽ nằm xuống. Bằng cách làm như vậy, người ấy sẽ thay thế mỗi tư thế thô kệch hơn bằng một tư thế tinh tế hơn. Tương tự như vậy… khi một vị tỳ kheo chú ý đến việc làm lắng dịu sự hình thành suy nghĩ của những suy nghĩ đó… tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, và tập trung.

Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên. Chư Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy. Nhờ tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục… được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh. Ví như một người đang đi mau, suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi mau? Ta hãy đi chậm lại”. Trong khi đi chậm, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi chậm? Ta hãy dừng lại”. Trong khi dừng lại, người ấy suy nghĩ: “Tại sao Ta lại dừng lại? Ta hãy ngồi xuống”. Trong khi ngồi, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại ngồi? Ta hãy nằm xuống”. Chư Tỷ-kheo, như vậy người ấy bỏ dần các cử chỉ thô cứng nhất và làm theo các cử chỉ tế nhị nhất. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy tác ý đến… (như trên)… được an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

7. (v) "Nếu, trong khi vị ấy đang chú ý đến việc làm lắng dịu sự hình thành suy nghĩ của những suy nghĩ đó, mà trong vị ấy vẫn khởi lên những suy nghĩ bất thiện liên quan đến tham, sân, và si, thì, vị ấy nghiến răng và ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm (mind) để đè nén, chế ngự, và nghiền nát tâm. [^243] [121] Khi vị ấy nghiến răng và ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm để đè nén, chế ngự, và nghiền nát tâm, thì bất kỳ suy nghĩ bất thiện nào liên quan đến tham, sân, và si đều được loại bỏ và lắng xuống. Với việc loại bỏ chúng, tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, và tập trung. Giống như một người khỏe mạnh có thể nắm lấy đầu hoặc vai của một người yếu hơn và đè nén, chế ngự, và nghiền nát người đó, tương tự như vậy… khi một vị tỳ kheo nghiến răng và ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm để đè nén, chế ngự, và nghiền nát tâm… tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, và tập trung.

Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý đến hành tướng các tầm và sự an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ… đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục… liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong… được an trú, an tịnh nhất tâm, định tĩnh. Ví như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu, hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục, và đánh bại. Chư Tỷ- kheo, cũng vậy, nếu Tỷ-kheo ấy trong khi tác ý hành tướng các tầm và sự an trú các tầm ấy, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si vẫn khởi lên, thời chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ trừ diệt chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

8. “Này các tỳ kheo, khi một vị tỳ kheo đang chú ý đến một dấu hiệu nào đó, và do dấu hiệu đó, trong vị ấy khởi lên những suy nghĩ bất thiện liên quan đến tham, sân, và si, thì khi vị ấy chú ý đến một dấu hiệu khác liên quan đến điều thiện, bất kỳ suy nghĩ bất thiện nào như vậy đều được loại bỏ và lắng xuống, và với việc loại bỏ chúng, tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, đạt đến nhất tâm, và tập trung. Khi vị ấy xem xét sự nguy hiểm trong những suy nghĩ đó… Khi vị ấy cố gắng quên đi những suy nghĩ đó và không chú ý đến chúng… Khi vị ấy chú ý đến việc làm lắng dịu sự hình thành suy nghĩ của những suy nghĩ đó… Khi vị ấy nghiến răng và ép lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm để đè nén, chế ngự, và nghiền nát tâm, bất kỳ suy nghĩ bất thiện nào như vậy đều được loại bỏ… và tâm của vị ấy trở nên vững vàng ở bên trong, tĩnh lặng, [122] đạt đến nhất tâm, và tập trung. Vị tỳ kheo này sau đó được gọi là bậc thầy về các đường lối của suy nghĩ (courses of thought). Vị ấy sẽ nghĩ bất kỳ suy nghĩ nào vị ấy muốn nghĩ và vị ấy sẽ không nghĩ bất kỳ suy nghĩ nào mà vị ấy không muốn nghĩ. Vị ấy đã cắt đứt ái dục (craving), vứt bỏ các xiềng xích (fetters), và với sự thấu hiểu hoàn toàn về ngã mạn (conceit), vị ấy đã chấm dứt khổ đau.” [^244]

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Các vị tỳ kheo hoan hỷ và hài lòng với lời dạy của Đức Phật.

Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, trong khi y cứ tướng nào, tác ý tướng nào, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si sanh khởi. Tỷ-kheo ấy tác ý một tướng khác, liên hệ đến thiện, khác với tướng kia, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được diệt trừ, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy, nhờ quán sát sự nguy hiểm các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy, nhờ không ức niệm, không tác ý các tầm ấy, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy tác ý hành tướng các tầm và an trú các tầm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Tỷ-kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã an trú trong đạo tầm pháp môn. Vị ấy có thể tác ý đến tầm nào vị ấy muốn, có thể không tác ý đến tầm nào vị ấy không muốn; vị ấy đã đoạn trừ khát ái, đã giải thoát các kiết sử, khéo chinh phục kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Đức Phật / Blessed One: Người đã giác ngộ, ở đây chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
  • Tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Nhà sư, người tu hành theo Phật giáo.
  • Dấu hiệu / nimitta / sign: Các đối tượng hoặc hiện tượng được sử dụng làm nền tảng cho sự chú tâm trong thiền định.
  • Tham / rāga / desire: Ham muốn, khao khát.
  • Sân / dosa / hate: Sự giận dữ, thù hận.
  • Si / moha / delusion: Sự mê mờ, thiếu hiểu biết đúng đắn.
  • Bất thiện / akusala / unwholesome: Không tốt, không lành mạnh, dẫn đến khổ đau.
  • Thiện / kusala / wholesome: Tốt, lành mạnh, dẫn đến hạnh phúc.
  • Nhất tâm / ekaggatā / singleness: Trạng thái tâm tập trung vào một điểm duy nhất.
  • Sự hình thành suy nghĩ / vitakka-saṇṭhāna / thought-formation: Quá trình suy nghĩ hình thành và phát triển.
  • Tâm / citta / mind: Ý thức, khả năng suy nghĩ và cảm nhận.
  • Ái dục/ taṇhā / craving: Sự thèm muốn, khao khát mãnh liệt.
  • Xiềng xích / saṃyojana / fetters: Những ràng buộc tinh thần trói buộc con người trong vòng luân hồi.
  • Ngã mạn / māna / conceit: Sự tự cao, tự đại, cho mình là quan trọng.