Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 21. Ví Dụ Về Cái Cưa

(Kakacūpama Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một lần nọ, Đức Thế Tôn đang ở tại Sāvatthī (Xá Vệ) trong khu rừng Jeta (Kỳ Đà), vườn của ông Anāthapiṇ̣ika (Cấp Cô Độc).

2. Lúc bấy giờ, tôn giả Moliya Phagguna giao du quá nhiều với các vị tỳ kheo ni (bhikkhunīs - nữ tu sĩ Phật giáo). Ông giao du với các tỳ kheo ni nhiều đến nỗi nếu có vị tỳ kheo (bhikkhu - nam tu sĩ Phật giáo) nào nói lời không hay về các vị tỳ kheo ni đó trước mặt ông, ông sẽ trở nên giận dữ, khó chịu và quở trách vị tỳ kheo đó; và nếu có vị tỳ kheo nào nói lời không hay về tôn giả Moliya Phagguna trước mặt các vị tỳ kheo ni đó, họ sẽ trở nên giận dữ, khó chịu và quở trách vị tỳ kheo đó. Tôn giả Moliya Phagguna giao du với các tỳ kheo ni nhiều đến như vậy.

3. Rồi có một vị tỳ kheo đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ, vị ấy ngồi xuống một bên và bạch với Đức Thế Tôn những gì đang diễn ra.

4. Sau đó, Đức Thế Tôn nói với một vị tỳ kheo: “Này [123] tỳ kheo, hãy đến nói với tỳ kheo Moliya Phagguna rằng Thế Tôn cho gọi ông ấy.” - “Dạ, bạch Thế Tôn,” vị tỳ kheo kia trả lời, rồi đi đến gặp tôn giả Moliya Phagguna và nói: “Này đạo hữu Phagguna, Thế Tôn cho gọi đạo hữu.” - “Vâng, đạo hữu,” tôn giả trả lời, rồi đi đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ, ông ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn hỏi ông:

21. KINH VÍ DỤ CÁI CƯA

21. KINH VÍ DỤ CÁI CƯA (Kakacùpama Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo ni một cách quá độ. Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: Nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt Tôn giả Moliya Phagguna nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, Tôn giả Moliya Phagguna liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay; nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt các Tỷ-kheo ni ấy, nói xấu Tôn giả Moliya Phagguna, các Tỷ-kheo ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay. Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như vậy.

Có một Tỷ-kheo khác đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo ni một cách quá độ. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: Nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt Tôn giả Moliya Phagguna nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, Tôn giả Moliya Phagguna liền phẫn nộ, bất mãn và vấn tội ngay; nếu có Tỷ-kheo nào, trước mặt các Tỷ-kheo ni ấy, nói xấu Tôn giả Moliya Phagguna, các Tỷ-kheo-ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn và vấn tội ngay. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ như vậy.

Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo khác và bảo:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi, nhân danh Ta, cho gọi Tỷ-kheo Moliya Phagguna: “Hiền giả Phagguna bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.

– Bạch Thế Tôn, vâng!

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến chỗ Tôn giả Moliya Phagguna, khi đến xong, liền thưa Tôn giả Moliya Phagguna:

– Hiền giả Moliya Phagguna, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả.

– Vâng, Hiền giả.

Tỷ-kheo Moliya Phagguna vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Moliya Phagguna đang ngồi xuống một bên:

5. “Này Phagguna, có thật là ông giao du quá nhiều với các tỳ kheo ni, đến nỗi nếu có vị tỳ kheo nào nói lời không hay về các vị tỳ kheo ni đó trước mặt ông, ông sẽ trở nên giận dữ, khó chịu và quở trách vị ấy; và nếu có vị tỳ kheo nào nói lời không hay về ông trước mặt các vị tỳ kheo ni đó, họ sẽ trở nên giận dữ, khó chịu và quở trách vị ấy. Có phải ông giao du quá nhiều với các tỳ kheo ni như vậy không?” - “Dạ, bạch Thế Tôn.” - “Này Phagguna, có phải ông là một người gia chủ đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình vì lòng tin không?” - “Dạ, bạch Thế Tôn.”

6. "Này Phagguna, việc ông, một người gia chủ đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình vì lòng tin, lại giao du quá nhiều với các tỳ kheo ni là không thích hợp. Vì vậy, nếu có ai nói lời không hay về các vị tỳ kheo ni đó trước mặt ông, ông nên từ bỏ mọi ham muốn và mọi suy nghĩ dựa trên đời sống gia đình. Và ở đây, ông nên tu tập như vầy: ‘Tâm ta sẽ không bị dao động, và ta sẽ không nói lời ác; ta sẽ an trú với lòng từ bi vì lợi ích của người đó, với tâm từ ái, không có sân hận (ill will) bên trong.’ Đó là cách ông nên tu tập, này Phagguna.

"Nếu có ai đánh các vị tỳ kheo ni đó bằng tay, bằng cục đất, bằng gậy, hoặc bằng dao trước mặt ông, ông nên từ bỏ mọi ham muốn và mọi suy nghĩ dựa trên đời sống gia đình. Và ở đây ông nên tu tập như vầy: ‘Tâm ta sẽ không bị dao động…’ Nếu có ai nói lời không hay trước mặt ông, ông nên từ bỏ mọi ham muốn và mọi suy nghĩ dựa trên đời sống gia đình. Và ở đây ông nên tu tập như vầy: ‘Tâm ta sẽ không bị dao động…’ Nếu có ai đánh ông bằng tay, bằng cục đất, bằng gậy, hoặc bằng dao, [124] ông nên từ bỏ mọi ham muốn và mọi suy nghĩ dựa trên đời sống gia đình. Và ở đây ông nên tu tập như vầy: ‘Tâm ta sẽ không bị dao động, và ta sẽ không nói lời ác; ta sẽ an trú với lòng từ bi vì lợi ích của người đó, với tâm từ ái, không có sân hận bên trong.’ Đó là cách ông nên tu tập, này Phagguna.

– Này Phagguna, có đúng sự thật không, như lời người ta đồn là Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ. Người ta đồn Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như sau: “Nếu Tỷ-kheo nào, trước mặt Ông nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, Ông liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay; nếu Tỷ-kheo nào, trước mặt Tỷ-kheo-ni ấy, nói xấu Ông, các Tỷ-kheo-ni ấy liền phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay”. Này Phagguna, có phải Ông sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như vậy?

– Bạch Thế Tôn, có như vậy.

– Này Phagguna, có phải Ông là Thiện nam tử, vì lòng tin, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này Phagguna, thật không xứng đáng cho Ông, một Thiện nam tử, vì lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, mà sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni một cách quá độ như vậy. Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông, nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục. Này Phagguna, Ông phải học tập như sau: “Mong rằng tâm của ta sẽ không bi biến nhiễm! Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác ngữ! Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận!” Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy.

Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông, lấy tay đánh những Tỷ-kheo-ni ấy, lấy đất ném, lấy gậy đập, lấy gươm đánh, này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục… không ôm lòng sân hận. Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy. Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông nói xấu (ai), này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục… không ôm lòng sân hận. Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy. Do vậy, này Phagguna, nếu có ai trước mặt Ông lấy tay đánh, lấy đất ném, lấy gậy đập, lấy gươm đánh, này Phagguna, Ông phải từ bỏ những dục liên hệ đến thế tục, những tư duy liên hệ đến thế tục. Này Phagguna, Ông phải học tập như sau: “Mong rằng tâm của ta sẽ không bị biến nhiễm! Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác ngữ! Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận!” Này Phagguna, Ông phải học tập như vậy.

7. Rồi Đức Thế Tôn nói với các vị tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, đã có lần các tỳ kheo làm ta hài lòng. Ta đã nói với các tỳ kheo như vầy: ‘Này các tỳ kheo, ta ăn ngày một bữa. Nhờ vậy, ta không có bệnh tật và phiền não, và ta có được sức khỏe, sức mạnh, và an trú thoải mái. Này các tỳ kheo, hãy ăn ngày một bữa. Nhờ vậy, các ông sẽ không có bệnh tật và phiền não, và các ông sẽ có được sức khỏe, sức mạnh, và an trú thoải mái.’ Và ta không cần phải liên tục chỉ dạy các tỳ kheo đó; ta chỉ cần khơi dậy chánh niệm (mindfulness) trong họ. [^246] Ví như có một chiếc xe ngựa trên mặt đất bằng phẳng ở ngã tư đường, được thắng bằng những con ngựa thuần chủng, đang chờ đợi với cây roi đã sẵn sàng, để một người huấn luyện giỏi, một người đánh xe ngựa thuần thục, có thể lên xe, cầm dây cương ở tay trái và cây roi ở tay phải, có thể lái xe đi và về bất cứ con đường nào tùy thích. Cũng vậy, ta không cần phải liên tục chỉ dạy các tỳ kheo đó; ta chỉ cần khơi dậy chánh niệm trong họ.

Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, một thời các Tỷ-kheo của Ta có tâm rất thuần thục hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, ở đây, Ta bảo các Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, Ta theo hạnh nhất tọa thực. Chư Tỷ-kheo, sống theo hạnh nhất tọa thực, Ta cảm thấy không bệnh tật, không ốm đau, nhẹ nhàng, khang kiện và sảng khoái. Chư Tỷ-kheo, các Ngươi hãy sống theo hạnh nhất tọa thực. Chư Tỷ-kheo, các Ngươi theo hạnh nhất tọa thực thời các Ngươi sẽ cảm thấy không bệnh tật, không ốm đau, nhẹ nhàng, khang kiện và sảng khoái. Chư Tỷ-kheo, Ta không cần phải giảng dạy gì cho các Tỷ-kheo ấy; chư Tỷ-kheo, Ta chỉ cần khơi dậy ức niệm nơi các Tỷ-kheo ấy. Chư Tỷ-kheo, ví như trên đất bằng, tại chỗ ngã tư, có một chiếc xe đang đậu, thắng với ngựa hay, có roi ngựa đặt ngang sẵn sàng. Có người mã thuật sư thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm lấy dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui, tại chỗ nào và như thế nào, theo ý mình muốn. Cũng vậy chư Tỷ-kheo, Ta không cần phải giảng dạy gì cho các Tỷ-kheo ấy; chư Tỷ-kheo, Ta chỉ cần khơi dậy ức niệm nơi các Tỷ-kheo ấy.

8. "Vì vậy, này các tỳ kheo, hãy từ bỏ những gì bất thiện (unwholesome) và chuyên tâm vào các trạng thái thiện (wholesome), vì đó là cách các ông sẽ đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ và thành tựu trong Pháp (Dhamma) và Luật (Discipline) này. Ví như có một khu rừng cây sâla lớn gần một ngôi làng hoặc thị trấn, và nó bị nghẹt thở bởi những cây thầu dầu, và có một người xuất hiện mong muốn điều tốt, lợi ích và sự bảo vệ cho khu rừng. Người đó sẽ chặt bỏ và vứt đi những cây con cong queo hút hết nhựa sống, và người đó sẽ dọn dẹp sạch sẽ bên trong khu rừng và chăm sóc những cây con thẳng, đẹp, để khu rừng cây sâla sau này sẽ đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ và thành tựu. Cũng vậy, này các tỳ kheo, hãy từ bỏ những gì bất thiện và chuyên tâm vào các trạng thái thiện, [125] vì đó là cách các ông sẽ đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ và thành tựu trong Pháp và Luật này.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp, như vậy các Ngươi mới thành tựu sự trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh trong pháp luật này. Chư Tỷ-kheo, cũng như gần một thôn làng hay thị trấn nhỏ, có ngôi rừng cây tala lớn, ngôi rừng bị các cây leo y lan bao phủ. Có một người đến khu rừng này, muốn lợi ích cho ngôi rừng, muốn hạnh phúc, muốn an ổn khỏi các ách phược cho ngôi rừng. Người ấy chặt đứt các nhành cây cong thiếu hẳn sinh lực, vất chúng ra khỏi ngôi rừng, dọn dẹp trong rừng sạch sẽ. Người ấy săn sóc kỹ lưỡng các nhánh cây tala thẳng thắn, khéo mọc. Chư Tỷ-kheo, sau một thời gian, ngôi rừng như vậy được trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ bất thiện, hãy nỗ lực đối với các thiện pháp, như vậy các Ngươi mới thành tựu sự trưởng thành, hưng thịnh, lớn mạnh trong Pháp và Luật này.

9. "Ngày xưa, này các tỳ kheo, cũng tại Sâvatthî này, có một bà gia chủ tên là Vedehikâ. Và tiếng tốt về bà Vedehikâ đã lan truyền như vầy: ‘Bà Vedehikâ tốt bụng, bà Vedehikâ dịu dàng, bà Vedehikâ hiền hòa.’ Bà Vedehikâ có một người giúp việc tên là Kâlî, cô ấy thông minh, nhanh nhẹn và làm việc gọn gàng. Người giúp việc Kâlî nghĩ: ‘Tiếng tốt về bà chủ của ta đã lan truyền như vầy: “Bà Vedehikâ tốt bụng, bà Vedehikâ dịu dàng, bà Vedehikâ hiền hòa.” Vậy thì, trong khi bà ấy không tỏ ra giận dữ, liệu sự giận dữ đó có thực sự hiện diện trong bà ấy hay không? Hay là chỉ vì công việc của ta gọn gàng nên bà chủ ta không tỏ ra giận dữ mặc dù nó thực sự hiện diện trong bà ấy? Hay là ta thử bà chủ xem sao.’

"Vì vậy, người giúp việc Kâlî dậy muộn. Bà Vedehikâ nói: ‘Này, Kâlî!’ - ‘Dạ, thưa bà?’ - ‘Có chuyện gì mà con dậy muộn vậy?’ - ‘Không có chuyện gì cả, thưa bà.’ - ‘Không có chuyện gì cả, con bé hư đốn này, vậy mà con dậy muộn!’ và bà ấy giận dữ, khó chịu, và cau có. Rồi người giúp việc Kâlî nghĩ: ‘Thực tế là trong khi bà chủ ta không tỏ ra giận dữ, nó thực sự hiện diện trong bà ấy, không phải là không có; và chỉ vì công việc của ta gọn gàng nên bà chủ ta không tỏ ra giận dữ mặc dù nó thực sự hiện diện trong bà ấy, không phải là không có. Hay là ta thử bà chủ thêm chút nữa.’

"Vì vậy, người giúp việc Kâlî dậy muộn hơn. Rồi bà Vedehikâ nói: ‘Này, Kâlî!’ - ‘Dạ, thưa bà?’ - ‘Có chuyện gì mà con dậy muộn hơn vậy?’ - ‘Không có chuyện gì cả, thưa bà.’ - ‘Không có chuyện gì cả, con bé hư đốn này, vậy mà con dậy muộn hơn!’ và bà ấy giận dữ, khó chịu, và nói những lời khó chịu. Rồi người giúp việc Kālī nghĩ: ‘Thực tế là trong khi bà chủ ta không tỏ ra giận dữ, nó thực sự hiện diện trong bà ấy, không phải là không có. Hay là ta thử bà chủ thêm chút nữa.’

"Vì vậy, người giúp việc Kālī dậy muộn hơn nữa. Rồi bà Vedehikā [126] nói: ‘Này, Kālī!’ - ‘Dạ, thưa bà?’ - ‘Có chuyện gì mà con dậy muộn hơn nữa vậy?’ - ‘Không có chuyện gì cả, thưa bà.’ - ‘Không có chuyện gì cả, con bé hư đốn này, vậy mà con dậy muộn hơn nữa!’ và bà ấy giận dữ, khó chịu, và bà ấy lấy cây cán bột, đánh vào đầu cô ấy, và làm cô ấy bị thương ở đầu.

"Rồi người giúp việc Kālī, với máu chảy từ vết thương trên đầu, tố cáo bà chủ của mình với những người hàng xóm: ‘Hãy xem, thưa các bà, việc làm của bà chủ tốt bụng! Hãy xem, thưa các bà, việc làm của bà chủ dịu dàng! Hãy xem, thưa các bà, việc làm của bà chủ hiền hòa! Làm sao bà ấy có thể trở nên giận dữ và khó chịu với người giúp việc duy nhất của mình chỉ vì dậy muộn? Làm sao bà ấy có thể lấy cây cán bột, đánh vào đầu cô ấy, và làm cô ấy bị thương ở đầu?’ Rồi sau đó, tiếng xấu về bà Vedehikā lan truyền như vầy: ‘Bà Vedehikā thô lỗ, bà Vedehikā hung bạo, bà Vedehikā tàn nhẫn.’

Chư Tỷ-kheo, thuở xưa, tại thành Savatthi này có nữ gia chủ tên là Vedehika. Chư Tỷ-kheo, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về nữ gia chủ Vedehika: "Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục, nữ gia chủ

Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa". Chư Tỷ-kheo, nữ gia chủ Vedehika có người nữ tỳ tên là Kali, người này khéo tay, siêng năng, và làm việc cẩn thận chu toàn. Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali khởi lên ý nghĩ: “Chủ của ta được tiếng đồn tốt đẹp khởi lên như sau: “Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục; nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa”. Không biết nữ chủ của ta có nội sân mà không tỏ lộ hay không có nội sân, hay vì công việc ta-làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ ta có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử nữ chủ của ta!”

Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng ngày sau dậy thật trễ. Chư Tỷ-kheo, nữ gia chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:

– Này Kali!

– Thưa Nữ chủ, có việc gì?

– Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?

– Thưa nữ chủ, có việc gì đâu?

– Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!"

Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, trừng mắt.

Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: “Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn, nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy Ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!”

Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali ngày sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỷ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:

– Này Kali!

– Thưa Nữ chủ, có việc gì?

– Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?

– Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?

– Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!

Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, thốt lên những lời bất mãn.

Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: “Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!”

Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỷ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:

– Này Kali!

– Thưa Nữ chủ, có việc gì?

– Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?

– Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?

– Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!

Rồi phẫn nộ, không hoan hỷ, nàng cầm cái then gài cửa, đánh một cú trên đầu nữ tỳ khiến bể đầu.

Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali, với đầu bể máu chảy, liền đi kể lể với các nhà láng giềng:

– Hãy xem việc làm của nữ chủ hiền thục! Hãy xem việc làm của nữ chủ nhu thuận! Hãy xem việc làm của nữ chủ ôn hòa! Sao nữ chủ nói với nữ tỳ độc nhất: “Hôm nay Ngươi dậy trễ”, rồi phẫn nộ, bất mãn, nàng cầm then gài cửa, đánh tôi một cú trên đầu khiến bể đầu".

Chư Tỷ-kheo, sau một thời gian, tiếng đồn xấu sau đây được khởi lên về nữ chủ Vedehika: “Nữ chủ Vedehika là độc ác! Nữ chủ Vedehika là không nhu thuận! Nữ chủ Vedehika là không ôn hòa!”

10. "Cũng vậy, này các tỳ kheo, có một số tỳ kheo cực kỳ tốt bụng, cực kỳ dịu dàng, cực kỳ hiền hòa, chừng nào những lời nói khó nghe không chạm đến họ. Nhưng chỉ khi những lời nói khó nghe chạm đến họ thì mới có thể hiểu được liệu vị tỳ kheo đó có thực sự tốt bụng, dịu dàng và hiền hòa hay không. Ta không gọi một vị tỳ kheo là dễ khuyên bảo hay người tự làm cho mình dễ khuyên bảo trong điều kiện có đầy đủ y áo, đồ ăn khất thực, chỗ ở, và thuốc men. Tại sao vậy? Bởi vì vị tỳ kheo đó có thể không dễ khuyên bảo và không tự làm cho mình dễ khuyên bảo khi không có được y áo, đồ ăn khất thực, chỗ ở, và thuốc men. Nhưng khi một vị tỳ kheo dễ khuyên bảo và tự làm cho mình dễ khuyên bảo vì vị ấy tôn kính, tôn trọng và kính trọng Pháp (Dhamma), ta gọi vị ấy là dễ khuyên bảo. Vì vậy, này các tỳ kheo, các ông nên tu tập như vầy: ‘Chúng ta sẽ dễ khuyên bảo và tự làm cho mình dễ khuyên bảo vì chúng ta tôn kính, tôn trọng và kính trọng Pháp.’ Đó là cách các ông nên tu tập, này các tỳ kheo.

11. "Này các tỳ kheo, có năm cách nói mà người khác có thể dùng khi họ nói chuyện với các ông: lời nói của họ có thể đúng lúc hoặc không đúng lúc, thật hoặc không thật, dịu dàng hoặc thô lỗ, liên quan đến điều tốt hoặc điều xấu, được nói với tâm từ ái hoặc với sân hận bên trong. Khi người khác nói chuyện với các ông, lời nói của họ có thể đúng lúc hoặc không đúng lúc; khi người khác nói chuyện với các ông, lời nói của họ có thể thật hoặc không thật; khi người khác nói chuyện với các ông, lời nói của họ có thể dịu dàng hoặc thô lỗ; khi người khác nói chuyện với các ông, lời nói của họ có thể liên quan đến điều tốt [127] hoặc điều xấu; khi người khác nói chuyện với các ông, lời nói của họ có thể được nói với tâm từ ái hoặc với sân hận bên trong. Ở đây, này các tỳ kheo, các ông nên tu tập như vầy: ‘Tâm chúng ta sẽ không bị dao động, và chúng ta sẽ không nói lời ác; chúng ta sẽ an trú với lòng từ bi vì lợi ích của họ, với tâm từ ái, không có sân hận bên trong. Chúng ta sẽ an trú, thấm nhuần người đó bằng tâm từ ái, và bắt đầu từ người đó, [^247] chúng ta sẽ an trú, thấm nhuần toàn thế giới bằng tâm từ ái, rộng lớn, cao thượng, không đo lường được, không có thù hận và không có ác ý.’ Đó là cách các ông nên tu tập, này các tỳ kheo.

12. “Này các tỳ kheo, ví như có một người đến với một cái cuốc và một cái giỏ và nói: ‘Ta sẽ làm cho trái đất vĩ đại này trở thành không có đất.’ Người đó sẽ đào ở đây và ở đó, rải đất ở đây và ở đó, khạc nhổ ở đây và ở đó, và đi tiểu ở đây và ở đó, nói: ‘Hãy không có đất, hãy không có đất!’ Các ông nghĩ gì, này các tỳ kheo? Người đó có thể làm cho trái đất vĩ đại này trở thành không có đất không?” - “Không, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Bởi vì trái đất vĩ đại này sâu và rộng lớn; không thể nào làm cho nó trở thành không có đất. Cuối cùng người đó sẽ chỉ gặt hái được sự mệt mỏi và thất vọng.”

13. "Cũng vậy, này các tỳ kheo, có năm cách nói này… (như trong §11)… Ở đây, này các tỳ kheo, các ông nên tu tập như vầy: ‘Tâm chúng ta sẽ không bị dao động… và bắt đầu từ người đó, chúng ta sẽ an trú, thấm nhuần toàn thế giới bằng tâm giống như trái đất, rộng lớn, cao thượng, không đo lường được, không có thù hận và không có ác ý.’ Đó là cách các ông nên tu tập, này các tỳ kheo.

14. “Này các tỳ kheo, ví như có một người đến với màu đỏ thẫm, nghệ, màu chàm, hoặc màu đỏ son và nói: ‘Ta sẽ vẽ tranh và làm cho tranh xuất hiện trên không trung.’ Các ông nghĩ gì, này các tỳ kheo? Người đó có thể vẽ tranh và làm cho tranh xuất hiện trên không trung không?” - “Không, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Bởi vì không trung không có hình dạng và vô hình; người đó không thể nào vẽ tranh ở đó hoặc làm cho tranh xuất hiện ở đó. [128] Cuối cùng người đó sẽ chỉ gặt hái được sự mệt mỏi và thất vọng.”

15. "Cũng vậy, này các tỳ kheo, có năm cách nói này… Ở đây, này các tỳ kheo, các ông nên tu tập như vầy: ‘Tâm chúng ta sẽ không bị dao động… và bắt đầu từ người đó, chúng ta sẽ an trú, thấm nhuần toàn thế giới bằng tâm giống như không trung, rộng lớn, cao thượng, không đo lường được, không có thù hận và không có ác ý.’ Đó là cách các ông nên tu tập, này các tỳ kheo.

16. “Này các tỳ kheo, ví như có một người đến với một bó đuốc cỏ đang cháy và nói: ‘Ta sẽ sưởi ấm và đốt cháy sông Hằng bằng bó đuốc cỏ đang cháy này.’ Các ông nghĩ gì, này các tỳ kheo? Người đó có thể sưởi ấm và đốt cháy sông Hằng bằng bó đuốc cỏ đang cháy đó không?” - “Không, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Bởi vì sông Hằng sâu và rộng lớn; không thể nào sưởi ấm và đốt cháy nó bằng một bó đuốc cỏ đang cháy. Cuối cùng người đó sẽ chỉ gặt hái được sự mệt mỏi và thất vọng.”

17. "Cũng vậy, này các tỳ kheo, có năm cách nói này… Ở đây, này các tỳ kheo, các ông nên tu tập như vầy: ‘Tâm chúng ta sẽ không bị dao động… và bắt đầu từ người đó, chúng ta sẽ an trú, thấm nhuần toàn thế giới bằng tâm giống như sông Hằng, rộng lớn, cao thượng, không đo lường được, không có thù hận và không có ác ý.’ Đó là cách các ông nên tu tập, này các tỳ kheo.

18. “Này các tỳ kheo, ví như có một cái túi da mèo đã được chà xát, chà xát kỹ, chà xát rất kỹ, mềm, mượt, không có tiếng sột soạt, không có tiếng lách cách, và một người đến với một cây gậy hoặc một mảnh gốm và nói: ‘Có cái túi da mèo này đã được chà xát… không có tiếng sột soạt, không có tiếng lách cách. Ta sẽ làm cho nó sột soạt và lách cách.’ Các ông nghĩ gì, này các tỳ kheo? Người đó có thể làm cho nó sột soạt hoặc lách cách bằng cây gậy hoặc mảnh gốm đó không?” - “Không, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Bởi vì cái túi da mèo đó đã được chà xát… không có tiếng sột soạt, không có tiếng lách cách, không thể nào làm cho nó sột soạt hoặc lách cách bằng cây gậy hoặc mảnh gốm. Cuối cùng người đó sẽ chỉ gặt hái được sự mệt mỏi và thất vọng.”

19. "Cũng vậy, này các tỳ kheo, có năm cách nói mà người khác có thể dùng khi họ nói chuyện với các ông: lời nói của họ có thể đúng lúc [129] hoặc không đúng lúc, thật hoặc không thật, dịu dàng hoặc thô lỗ, liên quan đến điều tốt hoặc điều xấu, được nói với tâm từ ái hoặc với sân hận bên trong. Khi người khác nói chuyện với các ông, lời nói của họ có thể đúng lúc hoặc không đúng lúc; khi người khác nói chuyện với các ông, lời nói của họ có thể thật hoặc không thật; khi người khác nói chuyện với các ông, lời nói của họ có thể dịu dàng hoặc thô lỗ; khi người khác nói chuyện với các ông, lời nói của họ có thể liên quan đến điều tốt hoặc điều xấu; khi người khác nói chuyện với các ông, lời nói của họ có thể được nói với tâm từ ái hoặc với sân hận bên trong. Ở đây, này các tỳ kheo, các ông nên tu tập như vầy: ‘Tâm chúng ta sẽ không bị dao động, và chúng ta sẽ không nói lời ác; chúng ta sẽ an trú với lòng từ bi vì lợi ích của họ, với tâm từ ái, không có sân hận bên trong. Chúng ta sẽ an trú, thấm nhuần người đó bằng tâm từ ái; và bắt đầu từ người đó, chúng ta sẽ an trú, thấm nhuần toàn thế giới bằng tâm giống như một cái túi da mèo, rộng lớn, cao thượng, không đo lường được, không có thù hận và không có ác ý.’ Đó là cách các ông nên tu tập, này các tỳ kheo.

20. "Này các tỳ kheo, ngay cả khi những tên cướp hung ác cưa các ông từng khúc một bằng một cái cưa hai tay, người nào khởi tâm sân hận đối với chúng sẽ không thực hành lời dạy của ta. Ở đây, này các tỳ kheo, các ông nên tu tập như vầy: ‘Tâm chúng ta sẽ không bị dao động, và chúng ta sẽ không nói lời ác; chúng ta sẽ an trú với lòng từ bi vì lợi ích của họ, với tâm từ ái, không có sân hận bên trong. Chúng ta sẽ an trú, thấm nhuần họ bằng tâm từ ái; và bắt đầu từ họ, chúng ta sẽ an trú, thấm nhuần toàn thế giới bằng tâm từ ái, rộng lớn, cao thượng, không đo lường được, không có thù hận và không có ác ý.’ Đó là cách các ông nên tu tập, này các tỳ kheo.

21. “Này các tỳ kheo, nếu các ông luôn ghi nhớ lời khuyên về ví dụ cái cưa này, các ông có thấy bất kỳ cách nói nào, dù nhỏ nhặt hay thô thiển, mà các ông không thể chịu đựng được không?” - “Không, bạch Thế Tôn.” - “Vì vậy, này các tỳ kheo, các ông nên luôn ghi nhớ lời khuyên về ví dụ cái cưa này. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho các ông.”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã nói. Các vị tỳ kheo hoan hỷ và hài lòng với lời dạy của Đức Thế Tôn.

Cũng vậy chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa trong khi chưa bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm. Và chư Tỷ-kheo, chỉ khi nào Tỷ-kheo bị những lời nói bất khả ý, xúc phạm mà vị ấy vẫn hết sức hiền lành, hết sức nhu thuận, hết sức ôn hòa, khi ấy vị ấy mới được xem là hiền lành, mới được xem là nhu thuận, mới được xem là ôn hòa. Chư Tỷ-kheo, Ta không gọi một Tỷ-kheo là dễ nói, khi vị ấy dễ nói về các vật dụng như y áo, món ăn, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khi vị ấy thành tựu được tánh dễ nói. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy khi không được các vật dụng như y áo, thức ăn, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, không còn là dễ nói, không còn thành tựu tánh dễ nói. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói, vị ấy Ta mới gọi là dễ nói. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy suy nghĩ: “Chỉ vì tôn trọng Pháp, cung kính Pháp, sùng kính Pháp chúng ta sẽ trở thành dễ nói, thành tựu tánh dễ nói”. Chư Tỷ-kheo, các Ngươi phải học tập như vậy.

Chư Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Ngươi có thể dùng khi nói với các người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói đúng thời hay phi thời. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời chơn thực hay nói lời không chơn thực. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời nhu nhuyến hay nói lời thô bạo. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỷ- kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm xẻng và thúng, nói như sau: “Tôi sẽ làm cho đất lớn này không thành đất nữa”, và người ấy đào chỗ này chỗ kia, rải đất chỗ này chỗ kia, nhổ nước miếng chỗ này chỗ kia, đi tiểu tiện chỗ này chỗ kia, với ý nghĩ: “Ngươi trở thành không phải đất, Ngươi trở thành không phải đất”. Chư Tỷ-kheo, nghĩ thế nào? Người ấy có thể làm cho đất lớn này trở thành không phải đất chăng?

– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Vì đất lớn này thâm sâu và vô lượng, không dễ gì khiến cho đất lớn này trở thành không phải đất, trước khi người ấy bị mệt nhoài và bị thất bại.

– Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ này mà các Ông có thể nói với người khác: “Ðúng thời hay phi thời… hay với sân tâm”. Các Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ông có thể nói: “Ðúng thời… hay với sân tâm”. Các Tỷ-kheo, ở tại đây, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận; chúng ta sẽ sống biến mãn người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới, với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”. Các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm màu sơn, màu vàng, màu xanh sẫm hay màu đỏ tía; người ấy có thể nói như sau: “Ta sẽ viết các hình sắc trên hư không này. Ta sẽ làm cho các hình sắc hiển hiện”. Các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể viết các hình sắc trên hư không và làm cho các hình sắc hiển hiện được không?

– Bạch Thế Tôn, không thể được. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, hư không là vô sắc, không thể thấy được. Ở đây, không dễ gì viết các hình sắc và làm hình sắc hiển hiện, trước khi người ấy bị mệt nhoài và bị thất bại.

– Cũng vậy, này Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ này mà các Ông có thể nói với người khác: “Ðúng thời hay phi thời… hay với sân tâm… (như trên)… Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người đến, cầm một bó cỏ khô đang cháy và nói như sau: "Ta với bó cỏ khô đang cháy này sẽ hâm nóng và đun sôi sông Hằng này. Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy, với bỏ cỏ khô đang cháy có thể hâm nóng và đun sôi sông Hằng được không?

– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì sông Hằng thâm sâu và vô lượng, không dễ gì với bó cỏ khô đang cháy có thể hâm nóng và đun sôi sông Hằng được, trước khi người ấy mệt nhoài và bị thất bại.

– Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ này mà các Ông có thể nói với các người khác: “Ðúng thời hay phi thời… hay với sân tâm”. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ông có thể nói: “Ðúng thời… hay với sân tâm… (như trên)… Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy.

– Chư Tỷ-kheo, ví như một cái bị bằng da mèo, đã được thuộc chín, khéo thuộc, khéo thuộc cùng khắp, nhu nhuyến, như bông, không còn tiếng xì tiếng xọp, và một người đến, cầm gậy hay cầm mẻ sành và nói như sau: “Ta sẽ lấy cái gậy hay với cái mẻ sành làm cho cái bị bằng da mèo này, đã được thuộc chín, khéo thuộc, khéo thuộc cùng khắp, nhu nhuyễn, như bông, không còn tiếng xì, tiếng xọp, phát ra tiếng xì, tiếng xọp”. Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể, với cái gậy hay với cái mẻ sành làm cho cái bị bằng da mèo này đã được thuộc chín, khéo thuộc, khéo thuộc cùng khắp, nhu nhuyễn, như bông, không còn tiếng xì, tiếng xọp, phát ra tiếng xì, tiếng xọp được không?

– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, cái bị bằng da mèo này đã được thuộc chín, khéo thuộc, khéo thuộc cùng khắp, nhu nhuyễn, như bông, không còn tiếng xì, tiếng xọp, không dễ gì làm cho cái bị ấy phát ra tiếng xì, tiếng xọp được, trước khi người ấy bị mệt nhoài và bị thất bại.

– Cũng vậy, chư Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Ông có thể dùng khi nói với các người khác: “Ðúng thời hay phi thời, chơn thực, hay không chơn thực, nhu nhuyễn hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm”. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ông có thể nói đúng thời hay phi thời. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ông có thể nói lời chơn thực hay nói lời không chơn thực. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ông có thể nói lời nhu nhuyễn hay nói lời thô bạo. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ông có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Ông có thể nói với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỷ-kheo, ở tại đây, các Ông cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống biến mãn người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân” Chư Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy.

Chư Tỷ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỷ-kheo các Ông phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy.

Và này chư Tỷ-kheo, nếu các Ông luôn luôn suy tư lời dạy ví dụ cái cưa này, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy loại ngôn ngữ nào, dầu tế nhị hay thô bạo mà các Ông không kham nhẫn được chăng?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Chư Tỷ-kheo, do vậy, hãy luôn luôn suy tư lời dạy ví như cái cưa này, và các Ông sẽ được hạnh phúc an lạc lâu ngày.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Danh hiệu tôn kính của Đức Phật, có nghĩa là “Người có phúc”, “Người đáng tôn kính”.
  • Sāvatthī / Sāvatthī / Sāvatthī: Một thành phố cổ ở Ấn Độ, nơi Đức Phật thường an cư và thuyết pháp.
  • Jeta / Jeta / Jeta’s Grove: Khu rừng do thái tử Jeta hiến tặng cho Đức Phật và tăng đoàn.
  • Anāthapiṇ̣ika / Anāthapiṇḍika / Anāthapiṇ̣ika’s Park: Khu vườn do trưởng giả Cấp Cô Độc (Anāthapiṇ̣ika) mua lại và xây dựng tịnh xá dâng lên Đức Phật.
  • Tỳ kheo ni / bhikkhunī / bhikkhunīs: Nữ tu sĩ Phật giáo.
  • Tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Nam tu sĩ Phật giáo.
  • Chánh niệm / sati / mindfulness: Khả năng ghi nhớ, chú tâm, nhận biết rõ ràng những gì đang xảy ra trong thân và tâm.
  • Bất thiện / akusala / unwholesome: Những hành động, lời nói, suy nghĩ không tốt, gây hại cho bản thân và người khác.
  • Thiện / kusala / wholesome: Những hành động, lời nói, suy nghĩ tốt, mang lại lợi ích cho bản thân và người khác.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Giáo lý của Đức Phật, bao gồm những lời dạy về chân lý, đạo đức, và con đường giải thoát.
  • Luật / Vinaya / Discipline: Những quy định, giới luật dành cho các tu sĩ Phật giáo.
  • Sân hận / byāpāda/ ill will: Một trạng thái tâm tiêu cực, bao gồm sự tức giận, thù hận, ác ý.
  • Từ ái / mettā / loving-kindness: Một trạng thái tâm tích cực, bao gồm tình yêu thương, lòng tốt, sự quan tâm đến hạnh phúc của người khác.
  • Tâm / citta / mind: Chỉ chung cho các hoạt động tinh thần, bao gồm suy nghĩ, cảm xúc, ý chí, v.v.
  • Ví dụ về cái cưa / Kakacūpama / Simile of the Saw: Một ví dụ được Đức Phật sử dụng để dạy về cách đối phó với những lời nói và hành động tiêu cực từ người khác.
  • गृह chủ / gahapati / house wife: Người phụ nữ chủ gia đình