Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 22. Ví Dụ Con Rắn

(Alagaddūpama Sutta)

(BỐI CẢNH)

[130] 1. Tôi nghe như vầy. [^248] Một thời, Đức Phật (Blessed One) đang ở tại Sāvatthī, trong khu rừng Jeta, vườn của ông Anāthapiṇ̣ika.

2. Lúc bấy giờ, một tà kiến (pernicious view - quan điểm sai lầm, độc hại) khởi lên trong một vị tỳ kheo (bhikkhu) tên là Aritṭha, trước đây làm nghề giết kền kền, như sau: “Theo như tôi hiểu Pháp (Dhamma) mà Đức Phật dạy, thì những thứ được Đức Phật gọi là chướng ngại (obstructions) không thể ngăn cản một người làm những điều đó.” [^249]

3. Một số tỳ kheo, sau khi nghe về điều này, đã đến gặp tỳ kheo Aritṭha và hỏi ông: “Này đạo hữu Aritṭha, có đúng là một tà kiến như vậy đã khởi lên trong ông không?”

“Đúng vậy, thưa các đạo hữu. Theo như tôi hiểu Pháp mà Đức Phật dạy, thì những thứ được Đức Phật gọi là chướng ngại không thể ngăn cản một người làm những điều đó.”

Sau đó, những vị tỳ kheo này, mong muốn tách ông ra khỏi tà kiến đó, đã thúc ép, chất vấn và tra hỏi ông như sau: “Này đạo hữu Arittha, đừng nói như vậy. Đừng xuyên tạc Đức Phật; xuyên tạc Đức Phật là không tốt. Đức Phật sẽ không nói như vậy. Vì trong nhiều bài giảng, Đức Phật đã nói rõ những thứ chướng ngại là chướng ngại như thế nào, và chúng có thể ngăn cản người làm những điều đó như thế nào. Đức Phật đã nói rõ dục lạc (sensual pleasures) mang lại ít sự thỏa mãn, nhiều đau khổ, và nhiều thất vọng, và nguy hiểm trong chúng lớn như thế nào. Với ví dụ về bộ xương… với ví dụ về miếng thịt… với ví dụ về ngọn đuốc cỏ… với ví dụ về hố than… với ví dụ về giấc mơ… với ví dụ về đồ mượn… với ví dụ về cây trĩu quả… với ví dụ về lò mổ… với ví dụ về cọc gươm… với ví dụ về đầu con rắn, Đức Phật đã nói rõ dục lạc mang lại ít sự thỏa mãn, nhiều đau khổ, và nhiều thất vọng, và nguy hiểm trong chúng lớn như thế nào.” [^250]

Tuy nhiên, mặc dù bị thúc ép, chất vấn và tra hỏi bởi họ theo cách này, tỳ kheo Aritṭha, trước đây làm nghề giết kền kền, vẫn ngoan cố bám vào tà kiến đó và tiếp tục khẳng định nó.

4. Vì các tỳ kheo không thể tách ông [131] ra khỏi tà kiến đó, họ đã đến gặp Đức Phật, và sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên và kể cho Ngài nghe tất cả những gì đã xảy ra, thêm rằng: “Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể tách tỳ kheo Aritṭha, trước đây làm nghề giết kền kền, ra khỏi tà kiến này, chúng con xin trình bày việc này lên Đức Thế Tôn.”

5. Sau đó, Đức Phật gọi một vị tỳ kheo và bảo: “Này tỳ kheo, hãy đến nói với tỳ kheo Aritṭha, trước đây làm nghề giết kền kền, rằng Thế Tôn gọi ông ấy.” - [132] “Dạ, bạch Thế Tôn,” vị ấy trả lời, và đi đến gặp tỳ kheo Aritṭha và nói với ông: “Thế Tôn gọi đạo hữu Aritṭha.”

“Vâng, đạo hữu,” ông trả lời, và đi đến gặp Đức Phật, và sau khi đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên. Đức Phật sau đó hỏi ông: “Aritṭha, có đúng là tà kiến sau đây đã khởi lên trong ông không: ‘Theo như tôi hiểu Pháp mà Đức Phật dạy, thì những thứ được Đức Phật gọi là chướng ngại không thể ngăn cản một người làm những điều đó’?”

“Đúng vậy, bạch Thế Tôn. Theo như tôi hiểu Pháp mà Đức Phật dạy, thì những thứ được Đức Phật gọi là chướng ngại không thể ngăn cản một người làm những điều đó.”

22. KINH VÍ DỤ CON RẮN

22. KINH VÍ DỤ CON RẮN (Alagaddùpama Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì”.

Một số đông Tỷ-kheo nghe như sau: "Tỷ-kheo tên Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì”. Rồi những Tỷ-kheo ấy đi đến chỗ Tỷ- kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng như sau:

– Này Hiền giả Arittha, có đúng sự thật rằng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu… thật sự không có chướng ngại gì”?

– Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu… không có chướng ngại gì.

Rồi những Tỷ-kheo ấy muốn Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận: --“Hiền giả Arittha, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Arittha, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương… Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như một miếng thịt… Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như bó đuốc cỏ khô… Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như hố than hừng… Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như cơn mộng… Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như vật dụng cho mượn… Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như trái cây… Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như lò thịt… Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như gậy nhọn… Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn”.

Tỷ-kheo Arittha xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, dầu được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, chất vấn thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy: “Thật sự là vậy, theo như tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng… không có chướng ngại gì”.

Vì các Tỷ-kheo không thể làm cho Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên họ đến chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng… không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, chúng con nghe: “Tỷ-kheo tên Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng… không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khi đến xong, liền nói với Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng: --"Này Hiền giả Arittha, có đúng sự thật chăng? Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu… thật sự không có chướng ngại gì”.

Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, nói với chúng con như sau: --"Thật sự là vậy. Chư Hiền, theo như tôi hiểu… thật sự không có chướng ngại gì.

Bạch Thế Tôn, chúng con muốn khiến Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, liền cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận: --"Hiền giả Arittha, chớ nói như vậy! Chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy, Hiền giả Arittha, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn, thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương… Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn.

Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, dầu được chúng con cật vấn, nạn vấn lý do, thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy: “Thật sự là vậy, theo tôi hiểu, pháp Thế Tôn thuyết giảng… không có chướng ngại gì”. Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, từ bỏ ác tà kiến ấy, nên chúng con đến hỏi Thế Tôn ý nghĩa này.

Rồi Thế Tôn cho gọi một Tỷ-kheo khác:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta gọi Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng rằng: “Hiền giả Arittha, bậc Ðạo Sư gọi Hiền giả”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, sau khi đến, liền nói với Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng:

– Hiền giả Arittha, bậc Ðạo sư gọi Hiền giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, đáp lời Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, đang ngồi xuống một bên:

– Này Arittha, có thật chăng, Ông khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo như tôi hiểu… thật sự không có chướng ngại gì”?

– Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu, thật sự không có chướng ngại gì.

6. “Kẻ ngu si kia, ngươi có bao giờ biết ta dạy Pháp theo cách đó không? Kẻ ngu si kia, trong nhiều bài giảng, ta đã chẳng nói rõ những thứ chướng ngại là chướng ngại như thế nào, và chúng có thể ngăn cản người làm những điều đó như thế nào sao? Ta đã nói rõ dục lạc mang lại ít sự thỏa mãn, nhiều đau khổ, và nhiều thất vọng, và nguy hiểm trong chúng lớn như thế nào. Với ví dụ về bộ xương… với ví dụ về miếng thịt… với ví dụ về ngọn đuốc cỏ… với ví dụ về hố than… với ví dụ về giấc mơ… với ví dụ về đồ mượn… với ví dụ về cây trĩu quả… với ví dụ về lò mổ… với ví dụ về cọc gươm… với ví dụ về đầu con rắn, ta đã nói rõ dục lạc mang lại ít sự thỏa mãn, nhiều đau khổ, và nhiều thất vọng, và nguy hiểm trong chúng lớn như thế nào. Nhưng ngươi, kẻ ngu si kia, đã xuyên tạc ta bằng sự hiểu sai của ngươi, làm hại chính mình và tích lũy nhiều điều bất thiện (demerit); vì điều này sẽ dẫn đến tổn hại và đau khổ cho ngươi trong một thời gian dài.” [^251]

7. Sau đó, Đức Phật nói với các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, các ông nghĩ gì? Tỳ kheo Aritṭha này, trước đây làm nghề giết kền kền, có khơi dậy được một tia trí tuệ (wisdom) nào trong Pháp và Luật (Dhamma and Discipline) này không?”

“Làm sao có thể, bạch Thế Tôn? Không, bạch Thế Tôn.”

Khi điều này được nói ra, tỳ kheo Aritṭha, trước đây làm nghề giết kền kền, ngồi im lặng, thất vọng, vai rũ xuống và đầu cúi gằm, ủ rũ, và không trả lời. Sau đó, biết được điều này, Đức Phật nói với ông: “Kẻ ngu si kia, ngươi sẽ bị nhận ra bởi chính tà kiến của mình. Ta sẽ hỏi các tỳ kheo về vấn đề này.”

8. Sau đó, Đức Phật nói với các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, [133] các ông có hiểu Pháp mà ta dạy như tỳ kheo Aritṭha này, trước đây làm nghề giết kền kền, khi ông ta xuyên tạc ta bằng sự hiểu sai của mình, làm hại chính mình và tích lũy nhiều điều bất thiện không?”

“Không, bạch Thế Tôn. Vì trong nhiều bài giảng, Đức Phật đã nói rõ những thứ chướng ngại là chướng ngại như thế nào, và chúng có thể ngăn cản người làm những điều đó như thế nào. Đức Phật đã nói rõ dục lạc mang lại ít sự thỏa mãn, nhiều đau khổ, và nhiều thất vọng, và nguy hiểm trong chúng lớn như thế nào. Với ví dụ về bộ xương… với ví dụ về đầu con rắn, Đức Phật đã nói rõ… nguy hiểm trong chúng lớn như thế nào.”

"Tốt lắm, các tỳ kheo. Thật tốt khi các ông hiểu Pháp mà ta dạy như vậy. Vì trong nhiều bài giảng, ta đã nói rõ những thứ chướng ngại là chướng ngại như thế nào, và chúng có thể ngăn cản người làm những điều đó như thế nào. Ta đã nói rõ dục lạc mang lại ít sự thỏa mãn, nhiều đau khổ, và nhiều thất vọng, và nguy hiểm trong chúng lớn như thế nào. Với ví dụ về bộ xương… với ví dụ về đầu con rắn, ta đã nói rõ… nguy hiểm trong chúng lớn như thế nào. Nhưng tỳ kheo Aritṭha này, trước đây làm nghề giết kền kền, xuyên tạc ta bằng sự hiểu sai của mình, làm hại chính mình và tích lũy nhiều điều bất thiện; vì điều này sẽ dẫn đến tổn hại và đau khổ cho kẻ ngu si này trong một thời gian dài.

9. "Này các tỳ kheo, một người có thể đắm mình trong dục lạc mà không có dục vọng (sensual desires), không có nhận thức về dục vọng (perceptions of sensual desire), không có ý nghĩ về dục vọng (thoughts of sensual desire) - điều đó là không thể. [^252]

– Này kẻ ngu si kia, sao Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại? Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục được ví như khúc xương… Ta đã thuyết các dục được ví như miếng thịt… được ví như bó đuốc cỏ khô… được ví như hố than hừng… được ví như cơn mộng… được ví như vật dụng cho mượn… được ví như trái cây… được ví như lò thịt… được ví như gậy nhọn… Ta đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Và này kẻ ngu si kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ ngu si kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này có thể khởi lên tia lửa sáng gì trong pháp luật này không?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể được! Không thể được, bạch Thế Tôn.

Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng. Rồi Thế Tôn, sau khi biết được Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng đang im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng:

– Này kẻ ngu si kia, người ta sẽ được biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ- kheo.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng, giống như Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này, không những đã xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, mà còn tự phá hoại mình và gây nên nhiều tổn đức?

– Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp; và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn, Thế Tôn đã thuyết các dục ví như khúc xương… (như trên)… Thế Tôn đã thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn.

– Lành thay, chư Tỷ-kheo! Lành thay, chư Tỷ-kheo! Các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Chư Tỷ-kheo, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp, và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục ví như khúc xương… (như trên)… Ta đã thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Nhưng Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, không những xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc mà còn tự phá hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu ngày cho kẻ ngu si ấy.

Thật sự, này các Tỷ-kheo, sự kiện này không xảy ra, người ta có thể thọ dụng các dục ngoài các dục, ngoài các dục tưởng, ngoài các dục tầm.

(VÍ DỤ CON RẮN)

10. "Này các tỳ kheo, ở đây, một số kẻ ngu si học Pháp - kinh, kệ, luận giải, kệ tụng, lời cảm thán, lời dạy, truyện tiền thân, những điều kỳ diệu, và trả lời câu hỏi - nhưng sau khi học Pháp, họ không xem xét ý nghĩa của những lời dạy đó bằng trí tuệ. Không xem xét ý nghĩa của những lời dạy đó bằng trí tuệ, họ không đạt được sự chấp nhận suy xét (reflective acceptance) về chúng. Thay vào đó, họ học Pháp chỉ để chỉ trích người khác và để chiến thắng trong các cuộc tranh luận, và họ không trải nghiệm được điều tốt đẹp mà vì nó họ đã học Pháp. Những lời dạy đó, bị họ nắm bắt sai, dẫn đến tổn hại và đau khổ cho họ trong một thời gian dài. [^253]

"Ví như một người cần một con rắn, tìm kiếm một con rắn, đi lang thang tìm kiếm một con rắn, thấy một con rắn lớn và nắm lấy khúc cuộn của nó hoặc đuôi của nó. Nó sẽ quay lại cắn vào tay hoặc cánh tay hoặc một trong các chi của anh ta, [134] và vì điều đó, anh ta sẽ chết hoặc chịu đau khổ đến chết. Tại sao vậy? Vì anh ta nắm bắt con rắn sai cách. Cũng vậy, ở đây, một số kẻ ngu si học Pháp… Những lời dạy đó, bị họ nắm bắt sai, dẫn đến tổn hại và đau khổ cho họ trong một thời gian dài.

11. "Này các tỳ kheo, ở đây, một số người thuộc dòng dõi cao quý (clansmen) học Pháp - kinh… trả lời câu hỏi - và sau khi học Pháp, họ xem xét ý nghĩa của những lời dạy đó bằng trí tuệ. Xem xét ý nghĩa của những lời dạy đó bằng trí tuệ, họ đạt được sự chấp nhận suy xét về chúng. Họ không học Pháp để chỉ trích người khác và để chiến thắng trong các cuộc tranh luận, và họ trải nghiệm được điều tốt đẹp mà vì nó họ đã học Pháp. Những lời dạy đó, được họ nắm bắt đúng, dẫn đến lợi ích và hạnh phúc cho họ trong một thời gian dài.

"Ví như một người cần một con rắn, tìm kiếm một con rắn, đi lang thang tìm kiếm một con rắn, thấy một con rắn lớn và bắt nó đúng cách bằng một cây gậy chẻ đôi, và sau khi làm như vậy, nắm lấy nó đúng cách bằng cổ. Sau đó, mặc dù con rắn có thể quấn các vòng của nó quanh tay hoặc cánh tay hoặc các chi của anh ta, anh ta vẫn sẽ không chết hoặc chịu đau khổ chết người vì điều đó. Tại sao vậy? Vì anh ta nắm bắt con rắn đúng cách. Cũng vậy, ở đây, một số người thuộc dòng dõi cao quý học Pháp… Những lời dạy đó, được họ nắm bắt đúng, dẫn đến lợi ích và hạnh phúc cho họ trong một thời gian dài.

12. "Do đó, này các tỳ kheo, khi các ông hiểu ý nghĩa của những lời ta nói, hãy ghi nhớ nó theo đó; và khi các ông không hiểu ý nghĩa của những lời ta nói, thì hãy hỏi ta về nó hoặc những tỳ kheo có trí tuệ.

(Ví dụ con rắn)

Chư Tỷ-kheo, ở đây có một số người ngu si học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ không quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa không được trí tuệ quán sát, nên không trở thành rõ ràng. Họ học các pháp chỉ vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, chỉ vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy vì nắm giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nắm giữ sai lạc các pháp.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước, đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn, và người đó bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi. Con rắn ấy có thể quay lại cắn người đó nơi tay, nơi cánh tay hay ở một phần nào khác của cơ thể, và người đó có thể do

nhân này mà bị chết hay bị đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì nắm bắt con rắn một cách sai lạc. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, ở đây, một số người ngu si học pháp… Chư Tỷ-kheo, vì sự chấp thủ các pháp sai lạc.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, một số Thiện nam tử học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa được trí tuệ quán sát, nên trở thành rõ ràng. Họ học pháp không vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, không vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy, vì khéo nắm giữ, nên đưa họ đến hạnh phúc, an lạc lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn. Người đó có thể khéo đè con rắn nước với cây gậy có nạng. Sau khi khéo đè với cây gậy có nạng, người đó có thể khéo nắm giữ cổ rắn. Chư Tỷ-kheo, dầu cho con rắn nước ấy có thể cuốn thân nó xung quanh tay, hay cánh tay, hay một thân phần nào khác, người đó cũng không vì nhân duyên ấy đi đến chỗ chết hay đến sự đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ con rắn nước vậy.

Cũng vậy, chư Tỷ-kheo, ở đây, một số Thiện nam tử học pháp… chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp vậy. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng và thọ trì như vậy. Nếu có ai không hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng thì ở nơi đây, các Ông hãy hỏi Ta hay hỏi những bậc Tỷ-kheo trí thức.

(VÍ DỤ VỀ CHIẾC BÈ)

13. “Này các tỳ kheo, ta sẽ chỉ cho các ông thấy Pháp giống như một chiếc bè, dùng để vượt qua, không phải để nắm giữ. [^254] Hãy lắng nghe và chú ý kỹ đến những gì ta sẽ nói.” - “Dạ, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo trả lời. Đức Phật nói điều này:

“Này các tỳ kheo, ví như một người trong chuyến đi thấy một vùng nước rộng lớn, bờ gần thì nguy hiểm và đáng sợ, bờ xa thì an toàn và không có sợ hãi, nhưng không có thuyền phà hay cầu để đi đến bờ xa. [135] Sau đó, anh ta nghĩ: ‘Có vùng nước rộng lớn này, bờ gần thì nguy hiểm và đáng sợ, bờ xa thì an toàn và không có sợ hãi, nhưng không có thuyền phà hay cầu để đi đến bờ xa. Giả sử ta thu thập cỏ, cành cây, nhánh cây, và lá cây và buộc chúng lại thành một chiếc bè, và dựa vào chiếc bè và nỗ lực bằng tay và chân, ta sẽ qua được bờ xa an toàn.’ Và sau đó, người đó thu thập cỏ, cành cây, nhánh cây, và lá cây và buộc chúng lại thành một chiếc bè, và dựa vào chiếc bè và nỗ lực bằng tay và chân, anh ta đã qua được bờ xa an toàn. Sau đó, khi anh ta đã qua được và đến bờ xa, anh ta có thể nghĩ như sau: ‘Chiếc bè này đã rất hữu ích cho ta, vì dựa vào nó và nỗ lực bằng tay và chân, ta đã qua được bờ xa an toàn. Giả sử ta đội nó lên đầu hoặc chất nó lên vai, và sau đó đi bất cứ nơi nào ta muốn.’ Này các tỳ kheo, các ông nghĩ gì? Bằng cách làm như vậy, người đó có đang làm điều nên làm với chiếc bè đó không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

"Bằng cách làm gì thì người đó sẽ làm điều nên làm với chiếc bè đó? Này các tỳ kheo, khi người đó qua được và đến bờ xa, anh ta có thể nghĩ như sau: Chiếc bè này đã rất hữu ích cho ta, vì dựa vào nó và nỗ lực bằng tay và chân, ta đã qua được bờ xa an toàn. Giả sử ta kéo nó lên đất liền hoặc thả nó trôi trên mặt nước, và sau đó đi bất cứ nơi nào ta muốn.’ Này các tỳ kheo, chính bằng cách làm như vậy mà người đó sẽ làm điều nên làm với chiếc bè đó. Vì vậy, ta đã chỉ cho các ông thấy Pháp giống như một chiếc bè, dùng để vượt qua, không phải để nắm giữ.

14. "Này các tỳ kheo, khi các ông biết Pháp giống như một chiếc bè, các ông nên từ bỏ cả những trạng thái tốt (good states), huống chi là những trạng thái xấu (bad states). [^255]

(Ví dụ chiếc bè)

Chư Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, ví như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

– Này các Tỷ-kheo, ví như có người đang đi trên con đường lớn dài, đến một vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Người đó tự suy nghĩ: “Ðây là vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá, cột lại thành chiếc bè, và dựa trên chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”. Chư Tỷ-kheo, rồi người đó thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá cột lại thành chiếc bè, và nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi qua bờ bên kia rồi, Người đó suy nghĩ: “Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta, nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân để vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy đội chiếc bè này trên đầu hay vác nó trên vai, và đi đến chỗ nào ta muốn”. Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Chư Tỷ-kheo, nếu người đó làm như vậy, thì có làm đúng với sở dụng của chiếc bè chăng?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Chư Tỷ-kheo, người đó phải làm thế nào cho đúng sở dụng của chiếc bè? Ở đây, chư Tỷ-kheo, người đó sau khi vượt qua bờ bên kia, có thể suy nghĩ: "Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta. Nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này lên trên bờ

đất khô, hay nhận chìm xuống nước, và đi đến chỗ nào ta muốn". Chư Tỷ-kheo, làm như vậy, người đó làm đúng sở dụng chiếc bè ấy. Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy.

Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp.

(NHỮNG QUAN ĐIỂM)

15. "Này các tỳ kheo, có sáu quan điểm (standpoints for views) này. [^256] Sáu quan điểm đó là gì? Ở đây, này các tỳ kheo, một người phàm phu (ordinary person) không được dạy dỗ, không kính trọng các bậc thánh nhân (noble ones) và không thành thạo và không được rèn luyện trong Pháp của họ, không kính trọng những người chân chính (true men) và không thành thạo và không được rèn luyện trong Pháp của họ, coi sắc (material form) như sau: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta.’ [^257] Anh ta coi thọ (feeling) như sau: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta.’ Anh ta coi tưởng (perception) như sau: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta.’ Anh ta coi hành (formations) như sau: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta.’ Anh ta coi những gì được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức, gặp gỡ, tìm kiếm, suy nghĩ trong tâm như sau: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta.’ [^258] Và quan điểm này, cụ thể là, ‘Cái này là tự ngã, cái này là thế giới; sau khi chết, ta sẽ thường còn, vĩnh viễn, vĩnh cửu, không bị thay đổi; [136] ta sẽ tồn tại mãi mãi’ - điều này anh ta cũng coi như sau: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta.’ [^259]

16. "Này các tỳ kheo, một vị thánh đệ tử (noble disciple) được dạy dỗ kỹ, kính trọng các bậc thánh nhân và thành thạo và được rèn luyện trong Pháp của họ, kính trọng những người chân chính và thành thạo và được rèn luyện trong Pháp của họ, coi sắc như sau: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’ Anh ta coi thọ như sau: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’ Anh ta coi tưởng như sau: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’ Anh ta coi hành như sau: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’ Anh ta coi những gì được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức, gặp gỡ, tìm kiếm, suy nghĩ trong tâm như sau: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’ Và quan điểm này, cụ thể là, ‘Cái này là tự ngã, cái này là thế giới; sau khi chết, ta sẽ thường còn, vĩnh viễn, vĩnh cửu, không bị thay đổi; ta sẽ tồn tại mãi mãi’ - điều này anh ta cũng coi như sau: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’

17. "Vì anh ta coi chúng như vậy, anh ta không lo lắng (agitated) về những gì không tồn tại. [^260]

(Các kiến xứ)

Này các Tỷ-kheo, có sáu kiến xứ. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu, không đi đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem cảm thọ: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem tưởng: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem các hành: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”, và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”, xem như vậy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.

Và này chư Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục các pháp bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem cảm thọ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem tưởng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem các hành: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”, xem như vậy là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Vị này do quán sát như vậy, đối với sự vật chẳng thật có nên không có lo âu, phiền muộn.

(LO LẮNG)

18. Khi điều này được nói ra, một vị tỳ kheo hỏi Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, có thể có sự lo lắng về những gì không tồn tại bên ngoài không?”

“Có thể, này tỳ kheo,” Đức Phật nói. “Ở đây, này tỳ kheo, một người nghĩ như sau: ‘Than ôi, ta đã có nó! Than ôi, ta không còn nó nữa! Than ôi, ước gì ta có nó! Than ôi, ta không có được nó!’ Sau đó, anh ta sầu, bi, than, khóc, đấm ngực và trở nên quẫn trí. Đó là cách có sự lo lắng về những gì không tồn tại bên ngoài.”

19. “Bạch Thế Tôn, có thể không có sự lo lắng về những gì không tồn tại bên ngoài không?”

“Có thể, này tỳ kheo,” Đức Phật nói. “Ở đây, này tỳ kheo, một người không nghĩ như sau: ‘Than ôi, ta đã có nó! Than ôi, ta không còn nó nữa! Than ôi, ước gì ta có nó! Than ôi, ta không có được nó!’ Sau đó, anh ta không sầu, bi, than, khóc, không đấm ngực và trở nên quẫn trí. Đó là cách không có sự lo lắng về những gì không tồn tại bên ngoài.”

20. “Bạch Thế Tôn, có thể có sự lo lắng về những gì không tồn tại bên trong không?”

“Có thể, này tỳ kheo,” Đức Phật nói. “Ở đây, này tỳ kheo, một người có quan điểm: ‘Cái này là tự ngã, cái này là thế giới; sau khi chết, ta sẽ thường còn, vĩnh viễn, vĩnh cửu, không bị thay đổi; ta sẽ tồn tại mãi mãi.’ Anh ta nghe Như Lai (Tathāgata) hoặc một đệ tử của Như Lai giảng Pháp để loại bỏ tất cả các quan điểm, quyết định, ám ảnh, bám chấp, và khuynh hướng tiềm ẩn, để làm lắng dịu tất cả các hành, để từ bỏ tất cả các dính mắc, để diệt trừ tham ái, để ly tham, để chấm dứt, để Niết Bàn (Nibbāna). Anh ta [137] nghĩ như sau: ‘Vậy là ta sẽ bị tiêu diệt! Vậy là ta sẽ diệt vong! Vậy là ta sẽ không còn nữa!’ Sau đó, anh ta sầu, bi, than, khóc, đấm ngực và trở nên quẫn trí. Đó là cách có sự lo lắng về những gì không tồn tại bên trong.”

21. “Bạch Thế Tôn, có thể không có sự lo lắng về những gì không tồn tại bên trong không?”

“Có thể, này tỳ kheo,” Đức Phật nói. "Ở đây, này tỳ kheo, một người không có quan điểm: ‘Cái này là tự ngã… ta sẽ tồn tại mãi mãi.’ Anh ta nghe Như Lai hoặc một đệ tử của Như Lai giảng Pháp để loại bỏ tất cả các quan điểm, quyết định, ám ảnh, bám chấp, và khuynh hướng tiềm ẩn, để làm lắng dịu tất cả các hành, để từ bỏ tất cả các dính mắc, để diệt trừ tham ái, để ly tham, để chấm dứt, để Niết Bàn. Anh ta không nghĩ như sau: ‘Vậy là ta sẽ bị tiêu diệt! Vậy là ta sẽ diệt vong! Vậy là ta sẽ không còn nữa!’ Sau đó, anh ta không sầu, bi, than, khóc, không đấm ngực và trở nên quẫn trí. Đó là cách không có sự lo lắng về những gì không tồn tại bên trong.

(Lo âu)

Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:

– Có thể có cái gì không thực có ở ngoài, có thể gây lo âu phiền muộn?

Thế Tôn đáp:

– Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người nghĩ như sau: “Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy”. Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này Tỷ-kheo, như vậy, có cái không thực có ở ngoài, có thể gây lo âu, phiền muộn.

– Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở ngoài, có thể không gây lo âu phiền muộn?

Thế Tôn đáp:

– Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, này Tỷ-kheo, có người không nghĩ như sau: “Cái gì chắc chắn đã là của tôi, nay chắc chắn không còn là của tôi. Cái gì chắc chắn có thể là của tôi, chắc chắn tôi không được cái ấy”. Người đó không sầu muộn, than vãn, khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Như vậy, này Tỷ-kheo, có cái không thực có ở ngoài, không gây lo âu phiền muộn.

– Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong có thể gây ra lo âu phiền muộn?

Thế Tôn đáp:

– Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, này Tỷ-kheo, có người có (tà) kiến như sau: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú không biến chuyển. Tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chỉ mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Người đó có thể nghĩ như sau: “Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại”. Người đó sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong có thể gây ra lo âu phiền muộn.

– Bạch Thế Tôn, có thể có cái gì không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn?

Thế Tôn đáp:

– Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người không có (tà) kiến như sau: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chi mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái để đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Vị ấy không nghĩ như sau: “Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại”. Vị ấy không sầu muộn, than vãn, khóc lóc; vị ấy không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn.

(VÔ THƯỜNG VÀ VÔ NGÃ)

22. “Này các tỳ kheo, các ông có thể có được sở hữu (possession) thường còn, vĩnh viễn, vĩnh cửu, không bị thay đổi, và có thể tồn tại mãi mãi. [^261] Nhưng các ông có thấy bất kỳ sở hữu nào như vậy không, này các tỳ kheo?” - “Không, bạch Thế Tôn.” - "Tốt lắm, các tỳ kheo. Ta cũng không thấy bất kỳ sở hữu nào thường còn, vĩnh viễn, vĩnh cửu, không bị thay đổi, và có thể tồn tại mãi mãi.

23. “Này các tỳ kheo, các ông có thể bám vào học thuyết về tự ngã (doctrine of self) mà không gây ra sầu, bi, khổ, ưu, não cho người bám vào nó. [^262] Nhưng các ông có thấy bất kỳ học thuyết về tự ngã nào như vậy không, này các tỳ kheo?” - “Không, bạch Thế Tôn.” - "Tốt lắm, các tỳ kheo. Ta cũng không thấy bất kỳ học thuyết về tự ngã nào mà không gây ra sầu, bi, khổ, ưu, não cho người bám vào nó.

24. “Này các tỳ kheo, các ông có thể lấy quan điểm (view) làm chỗ dựa mà không gây ra sầu, bi, khổ, ưu, não cho người lấy nó làm chỗ dựa. [^263] Nhưng các ông có thấy bất kỳ chỗ dựa quan điểm nào như vậy không, này các tỳ kheo?” - “Không, bạch Thế Tôn.” - "Tốt lắm, các tỳ kheo. Ta cũng không thấy bất kỳ chỗ dựa quan điểm [138] nào mà không gây ra sầu, bi, khổ, ưu, não cho người lấy nó làm chỗ dựa.

25. "Này các tỳ kheo, nếu có tự ngã (self), thì có cái gì thuộc về tự ngã của ta không?"264 - “Có, bạch Thế Tôn.” - “Hoặc, nếu có cái gì thuộc về tự ngã, thì có tự ngã của ta không?” - “Có, bạch Thế Tôn.” - “Này các tỳ kheo, vì tự ngã và cái gì thuộc về tự ngã không được nhận thức là thật và chắc chắn, thì quan điểm này, cụ thể là, ‘Cái này là tự ngã, cái này là thế giới; sau khi chết, ta sẽ thường còn, vĩnh viễn, vĩnh cửu, không bị thay đổi; ta sẽ tồn tại mãi mãi’ - đó chẳng phải là một giáo lý hoàn toàn ngu ngốc sao?”

“Còn có thể là gì khác, bạch Thế Tôn? Đó sẽ là một giáo lý hoàn toàn ngu ngốc.”

26. “Này các tỳ kheo, các ông nghĩ gì? Sắc là thường hay vô thường?” - “Vô thường, bạch Thế Tôn.” - “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” - “Khổ, bạch Thế Tôn.” - “Cái gì vô thường, khổ, và bị thay đổi, có thích hợp để được coi như sau: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta’ không?” - “Không, bạch Thế Tôn.”

“Này các tỳ kheo, các ông nghĩ gì? Thọ… Tưởng… Hành… Thức là thường hay vô thường?” - “Vô thường, bạch Thế Tôn.” - “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” - “Khổ, bạch Thế Tôn.” - “Cái gì vô thường, khổ, và bị thay đổi, có thích hợp để được coi như sau: ‘Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta’ không?” - “Không, bạch Thế Tôn.”

27. "Do đó, này các tỳ kheo, bất kỳ loại sắc nào, dù quá khứ, tương lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, [139] thô hay tế, thấp kém hay cao quý, xa hay gần, tất cả sắc nên được thấy như nó thực sự là với trí tuệ đúng đắn (proper wisdom) như sau: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’ Bất kỳ loại thọ nào… Bất kỳ loại tưởng nào… Bất kỳ loại hành nào… Bất kỳ loại thức nào, dù quá khứ, tương lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao quý, xa hay gần, tất cả thức nên được thấy như nó thực sự là với trí tuệ đúng đắn như sau: ‘Cái này không phải là của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta.’

28. "Thấy như vậy, này các tỳ kheo, một vị thánh đệ tử được dạy dỗ kỹ trở nên nhàm chán (disenchanted) với sắc, nhàm chán với thọ, nhàm chán với tưởng, nhàm chán với hành, nhàm chán với thức.

29. "Vì nhàm chán, vị ấy trở nên ly tham (dispassionate). Nhờ ly tham, [tâm] vị ấy được giải thoát (liberated). [^265] Khi tâm được giải thoát, có trí tuệ khởi lên: ‘Tâm đã được giải thoát.’ Vị ấy hiểu: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’

(Vô thường và vô ngã)

Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nắm giữ một vật sở hữu gì, và vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi không? Chư Tỷ-kheo, các Ông có thể thấy một vật sở hữu nào được nắm giữ và vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi không?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Lành thay, này các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy một vật sở hữu được nắm giữ nào, mà vật sở hữu được nắm giữ ấy sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không chuyển biến, có thể trú như thế này mãi mãi. Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể chấp thủ Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Bạch Thế Tôn không.

– Lành thay, này các Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy Ngã luận thủ nào mà Ngã luận thủ

ấy được chấp thủ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Này các Tỷ-kheo, các Ông có kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không?

– Bạch Thế Tôn, không

– Lành thay, này các Tỷ-kheo! Này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy một kiến y nào, mà kiến y ấy được y chỉ như vậy, lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Chư Tỷ-kheo, nếu có ngã thời có ngã sở thuộc của tôi không?

– Bạch Thế Tôn, có.

– Chư Tỷ-kheo, nếu có ngã sở thuộc, thời có ngã của tôi không?

– Bạch Thế Tôn, có.

– Chư Tỷ-kheo, nếu ngã và ngã sở thuộc không thể được chấp nhận là thường còn, thường hằng, thì kiến xứ này: “Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thành thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi”. Này các Tỷ-kheo, kiến xứ ấy là hoàn toàn, triệt để chẳng ngu si không?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể hoàn toàn, triệt để chẳng ngu si được!

– Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Bạch Thế Tôn, khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Chư Tỷ-kheo, cảm thọ là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, là vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Bạch Thế Tôn, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại thì có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi… tự ngã của tôi”?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Chư Tỷ-kheo, tưởng là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, vô thường.

– Cái gì vô thường…?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Chư Tỷ-kheo, các hành là thường hay vô thường… chư Tỷ-kheo, thức là thường hay vô thường?

– Bạch Thế Tôn, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Bạch Thế Tôn, khổ.

  • Cái gì vô thường, khổ thì có hợp lý chăng, khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

– Bạch Thế Tôn, không.

– Do vậy, này các Tỷ-kheo, bất cứ các sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc pháp là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là của tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ. Bất cứ cảm thọ nào… Bất cứ tưởng nào… Bất cứ hành nào… Bất cứ thức nào, quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, cần phải như thật quán với chánh trí tuệ.

Chư Tỷ-kheo, nhờ thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly đối với sắc, yểm ly đối với thọ, yểm ly đối với tưởng, yểm ly đối với hành, yểm ly đối với thức, do yểm ly nên ly tham, do ly tham, nên được giải thoát, trong sự giải thoát có trí khởi lên, biết được đã giải thoát. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui tại đây với một đời sống khác”.

(BẬC A-LA-HÁN)

30. "Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là người có cán đã được nhấc lên, có hào đã được lấp đầy, có cột trụ đã được nhổ lên, người không có chướng ngại, một bậc thánh nhân (noble one) có cờ đã được hạ xuống, có gánh nặng đã được hạ xuống, người không còn bị ràng buộc (unfettered).

31. "Và vị tỳ kheo là người có cán đã được nhấc lên là như thế nào? Ở đây, vị tỳ kheo đã từ bỏ vô minh (ignorance), đã cắt đứt nó tận gốc, làm cho nó giống như gốc cây thốt nốt, loại bỏ nó, để nó không còn bị sinh ra trong tương lai nữa. Đó là cách vị tỳ kheo là người có cán đã được nhấc lên.

32. "Và vị tỳ kheo là người có hào đã được lấp đầy là như thế nào? Ở đây, vị tỳ kheo đã từ bỏ vòng luân hồi (round of births) mang lại sự tái sinh, đã cắt đứt nó tận gốc… để nó không còn bị sinh ra trong tương lai nữa. Đó là cách vị tỳ kheo là người có hào đã được lấp đầy.

33. "Và vị tỳ kheo là người có cột trụ đã được nhổ lên là như thế nào? Ở đây, vị tỳ kheo đã từ bỏ tham ái (craving), đã cắt đứt nó tận gốc… để nó không còn bị sinh ra trong tương lai nữa. Đó là cách vị tỳ kheo là người có cột trụ đã được nhổ lên.

34. "Và vị tỳ kheo là người không có chướng ngại là như thế nào? Ở đây, vị tỳ kheo đã từ bỏ năm hạ phần kiết sử (five lower fetters), đã cắt đứt chúng tận gốc… để chúng không còn bị sinh ra trong tương lai nữa. Đó là cách vị tỳ kheo là người không có chướng ngại.

35. "Và vị tỳ kheo là một bậc thánh nhân có cờ đã được hạ xuống, có gánh nặng đã được hạ xuống, người không còn bị ràng buộc là như thế nào? Ở đây, một vị tỳ kheo đã từ bỏ ngã mạn (conceit ‘I am’), đã cắt đứt nó tận gốc [140]… để nó không còn bị sinh ra trong tương lai nữa. Đó là cách vị tỳ kheo là một bậc thánh nhân có cờ đã được hạ xuống, có gánh nặng đã được hạ xuống, người không còn bị ràng buộc.

36. "Này các tỳ kheo, khi các vị trời cùng với Indra, với Brahmā và với Pajāpati tìm kiếm một vị tỳ kheo có tâm giải thoát như vậy, họ không tìm thấy [bất cứ điều gì mà họ có thể nói]: ‘Thức (consciousness) của một người như vậy (one thus gone) được hỗ trợ bởi cái này.’ Tại sao vậy? Ta nói, một người như vậy là không thể truy tìm được ngay ở đây và bây giờ. [^266]

(Bậc A-la-hán)

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị đã vất bỏ đi các chướng ngại vật, là vị đã lấp đầy các thông hào, là vị đã nhổ lên cột trụ, là vị đã mở tung các lề khóa, là bậc Thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.

Và thế nào là Tỷ-kheo đã vất bỏ đi các chướng ngại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, là đã đoạn trừ vô minh, cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã vất bỏ đi các chướng ngại.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã lấp đầy các thông hào? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ tái sanh và sự luân chuyển sanh tử, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã lấp đầy thông hào.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ khát ái, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã nhổ lên cột trụ.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã mở tung các lề khóa? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta-la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo đã mở tung các lề khóa.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn trừ ngã mạn, đã cắt tận gốc rễ, làm cho như cây ta- la bị chặt đầu, khiến không thể tái sanh trong tương lai, không có khả năng sanh khởi. Chư Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo bậc Thánh, đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì hệ lụy.

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã giải thoát như vậy, thì chư Thiên ở Ðế thích Thiên giới, Phạm thiên giới, Sanh chủ giới sẽ không tìm được dấu vết của Tỷ-kheo ấy, nếu nghĩ rằng: “Y ở đây, có thức của Như Lai”. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, Ta nói ngay ở hiện tại, một Như Lai không thể tìm thấy dấu vết".

(XUYÊN TẠC NHƯ LAI)

37. "Nói như vậy, này các tỳ kheo, tuyên bố như vậy, ta đã bị một số sa môn (recluses) và bà la môn (brahmins) xuyên tạc một cách vô căn cứ, vô ích, sai sự thật, và sai lầm như sau: ‘Sa môn Gotama là người dẫn dắt sai đường; ông ta dạy sự tiêu diệt, sự hủy diệt, sự diệt vong của một chúng sinh hiện hữu.’ [^267] Vì ta không như vậy, vì ta không tuyên bố như vậy, nên ta đã bị một số sa môn và bà la môn xuyên tạc một cách vô căn cứ, vô ích, sai sự thật, và sai lầm như sau: ‘Sa môn Gotama là người dẫn dắt sai đường; ông ta dạy sự tiêu diệt, sự hủy diệt, sự diệt vong của một chúng sinh hiện hữu.’

38. "Này các tỳ kheo, cả trước đây và bây giờ, những gì ta dạy là khổ (suffering) và sự chấm dứt khổ. [^268] Nếu những người khác lăng mạ, chửi rủa, mắng nhiếc, và quấy rối Như Lai vì điều đó, Như Lai vì điều đó không cảm thấy khó chịu, cay đắng, hoặc chán nản trong lòng. Và nếu những người khác tôn kính, tôn trọng, tôn kính, và tôn kính Như Lai vì điều đó, Như Lai vì điều đó không cảm thấy vui mừng, hoan hỷ, hoặc phấn khởi trong lòng. Nếu những người khác tôn kính, tôn trọng, tôn kính, và tôn kính Như Lai vì điều đó, Như Lai vì điều đó nghĩ như sau: ‘Họ thực hiện những việc phụng sự như vậy vì lợi ích của những gì trước đây đã được hiểu rõ hoàn toàn.’ [^269]

39. "Do đó, này các tỳ kheo, nếu những người khác lăng mạ, chửi rủa, mắng nhiếc, và quấy rối các ông, vì điều đó, các ông không nên có bất kỳ sự khó chịu, cay đắng, hoặc chán nản nào trong lòng. Và nếu những người khác tôn kính, tôn trọng, tôn kính, và tôn kính các ông, vì điều đó, các ông không nên có bất kỳ sự vui mừng, hoan hỷ, hoặc phấn khởi nào trong lòng. Nếu những người khác tôn kính, tôn trọng, tôn kính, và tôn kính các ông, vì điều đó, các ông nên nghĩ như sau: ‘Họ thực hiện những việc phụng sự như vậy vì lợi ích của những gì trước đây đã được hiểu rõ hoàn toàn.’

(Xuyên tạc Như Lai)

Chư Tỷ-kheo, Ta nói như vậy, thuyết như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn xuyên tạc Ta một cách phi chơn, hồ đồ, hư vọng, không thực: “Sa-môn Gotama chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình”. Nhưng này các Tỷ-kheo, Ta không là như vậy, Ta không nói như vậy, Ta không như các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đã xuyên tạc một cách phi chơn, hồ đồ, hư vọng, không thật: “Sa- môn Gotama chủ trương chủ nghĩa hư vô, đề cao đoạn diệt, hủy diệt, sự tiêu diệt các hữu tình”.

Chư Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ. Chư Tỷ-kheo, nếu ở đây những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho Như Lai tức giận, thì này các Tỷ-kheo, ở đây, Như Lai không có sân hận, không có bất mãn, tâm không phẫn nộ. Chư Tỷ-kheo, nếu ở đây, những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai không có hoan hỷ, sung sướng, Tâm không thích thú. Chư Tỷ-kheo, nếu những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường Như Lai, thì này các Tỷ-kheo, ở đây Như Lai suy nghĩ: “Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ: ở đây là trách nhiệm Ta phải làm”.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác nhiếc mắng, phỉ báng, làm cho các Ông tức giận, ở đây các Ông chớ có sân hận, bất mãn, tâm chớ khởi phẫn nộ. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông chớ có hoan hỷ, sung sướng, tâm sanh thích thú. Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác cung kính, tôn trọng, lễ bái cúng dường các Ông, thì ở đây, các Ông hãy suy nghĩ: “Ðây là điều xưa kia đã từng biết rõ, đây là những trách nhiệm ta phải làm”.

(KHÔNG PHẢI CỦA ÔNG)

40. "Do đó, này các tỳ kheo, bất cứ thứ gì không phải của các ông, hãy từ bỏ nó; khi các ông đã từ bỏ nó, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc cho các ông trong một thời gian dài. Cái gì không phải của các ông? Sắc không phải của các ông. Hãy từ bỏ nó. Khi các ông đã từ bỏ nó, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc cho các ông trong một thời gian dài.

Thọ không phải của các ông. [141] Hãy từ bỏ nó. Khi các ông đã từ bỏ nó, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc cho các ông trong một thời gian dài. Tưởng không phải của các ông. Hãy từ bỏ nó. Khi các ông đã từ bỏ nó, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc cho các ông trong một thời gian dài. Hành không phải của các ông. Hãy từ bỏ chúng. Khi các ông đã từ bỏ chúng, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc cho các ông trong một thời gian dài. Thức không phải của các ông. Hãy từ bỏ nó. Khi các ông đã từ bỏ nó, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc cho các ông trong một thời gian dài. [^270]

41. “Này các tỳ kheo, các ông nghĩ gì? Nếu mọi người lấy đi cỏ, gậy, cành cây, và lá cây trong khu rừng Jeta này, hoặc đốt chúng, hoặc làm bất cứ điều gì họ thích với chúng, các ông có nghĩ: ‘Mọi người đang lấy đi chúng ta hoặc đốt chúng ta hoặc làm bất cứ điều gì họ thích với chúng ta’ không?” - “Không, bạch Thế Tôn. Tại sao không? Vì đó không phải là tự ngã của chúng con cũng không phải là cái gì thuộc về tự ngã của chúng con.” - "Cũng vậy, này các tỳ kheo, bất cứ thứ gì không phải của các ông, hãy từ bỏ nó; khi các ông đã từ bỏ nó, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc cho các ông trong một thời gian dài. Cái gì không phải của các ông? Sắc không phải của các ông… Thọ không phải của các ông… Tưởng không phải của các ông… Hành không phải của các ông… Thức không phải của các ông. Hãy từ bỏ nó. Khi các ông đã từ bỏ nó, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc cho các ông trong một thời gian dài.

(Không sở hữu)

Do vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ không phải của các Ông, hãy từ bỏ thọ. Các Ông từ bỏ thọ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, tưởng không phải của các Ông, hãy từ bỏ tưởng. Các Ông từ bỏ tưởng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, các hành không phải của các Ông, hãy từ bỏ các hành. Các Ông từ bỏ các hành sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.

Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Trong rừng Jetavana này, nếu có người thâu lượm cỏ, cây, nhành, lá rồi đốt hay làm với chúng tùy theo ý muốn, các Ông có nghĩ chăng? Người ấy thâu lượm chúng ta, đốt chúng ta hay làm với chúng ta tùy theo ý muốn?

– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì nó không phải tự ngã hay không phải sở thuộc của ngã.

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, và cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ- kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ… (như trên)… Chư Tỷ-kheo tưởng… (như trên)… Chư Tỷ-kheo, hành… Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông.

(TRONG PHÁP NÀY)

42. "Này các tỳ-kheo, Pháp (Dhamma) được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy là trong sáng, cởi mở, rõ ràng và không có chắp vá. [^271] Trong Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy, trong sáng, cởi mở, rõ ràng và không có chắp vá, không có vòng luân hồi [tương lai] nào đối với những tỳ-kheo là A-la-hán đã diệt trừ các lậu hoặc (taints), đã sống đời sống phạm hạnh, đã làm những gì cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục tiêu chân chính, đã phá hủy các kiết sử của sự tồn tại, và hoàn toàn giải thoát nhờ trí tuệ tối thượng. [^272]

43. "Này các tỳ-kheo, Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy là trong sáng… không có chắp vá. Trong Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy, trong sáng… không có chắp vá, những tỳ-kheo đã từ bỏ năm hạ phần kiết sử đều sẽ tái sinh hóa sinh [ở cõi Tịnh Cư (Pure Abodes)] và ở đó nhập Niết-bàn (Nibbāna) cuối cùng, không bao giờ trở lại thế giới đó nữa.

44. "Này các tỳ-kheo, Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy là trong sáng… không có chắp vá. Trong Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy, trong sáng… không có chắp vá, những tỳ-kheo đã từ bỏ ba hạ phần kiết sử và làm suy yếu tham, sân và si đều là bậc Nhất Lai (once-returners), trở lại thế giới này một lần nữa để chấm dứt khổ.

45. "Này các tỳ-kheo, Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy là trong sáng… không có chắp vá. Trong Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy, trong sáng… không có chắp vá, những tỳ-kheo đã từ bỏ ba kiết sử đều là bậc Dự Lưu (stream-enterers), không còn bị đọa lạc, [142] chắc chắn [giải thoát] và hướng đến giác ngộ.

46. "Này các tỳ-kheo, Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy là trong sáng… không có chắp vá. Trong Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy, trong sáng… không có chắp vá, những tỳ-kheo là Pháp Tùy Hành (Dhamma-followers) hoặc Tín Tùy Hành (faith-followers) đều hướng đến giác ngộ. [^273]

47. “Này các tỳ-kheo, Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy là trong sáng, cởi mở, rõ ràng và không có chắp vá. Trong Pháp được Ta tuyên bố rõ ràng như vậy, trong sáng, cởi mở, rõ ràng và không có chắp vá, những tỳ-kheo có đủ niềm tin nơi Ta, đủ tình yêu thương đối với Ta, đều hướng đến cõi trời.” [^274]

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã nói. Các tỳ-kheo hoan hỷ và tán thán lời dạy của Đức Thế Tôn.

(Pháp khéo giảng)

Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, lý tưởng đã thành đạt, hữu kiết sử đã đoạn trừ, được giải thoát nhờ chánh trí, vòng luân chuyển (sanh tử) của những vị này không thể chỉ bày.

Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng… được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, thì những vị này thành các vị hóa sanh, nhập diệt tại đây, không còn phải trở lui vào đời này nữa.

Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng… được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng… được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham sân si, thì tất cả những vị ấy thành bậc Nhất lai, chỉ đến đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau.

Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng… được loại trừ các vãi quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng… được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào đoạn trừ ba kiết sử, thì tất cả những vị ấy trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc ác thú, quyết định hướng đến chánh giác.

Chư Tỷ-kheo, như vậy, pháp được Ta khéo giảng… được loại trừ các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được ta khéo giảng… được loại trừ các vải quấn cũ, nên những Tỷ-kheo nào là những vị tùy pháp hành, tùy tín hành, thì tất cả những vị này sẽ hướng về chánh giác.

Chư Tỷ-kheo, như vậy pháp được Ta khéo giảng… được loại trừ khỏi các vải quấn cũ. Chư Tỷ-kheo, vì pháp được Ta khéo giảng, làm cho tỏ lộ, làm cho khai thông, làm cho khai thị, được loại trừ các vải quấn cũ, nên những vị nào chỉ đủ lòng tin nơi Ta, chỉ đủ lòng thương mến đối với Ta, thì tất cả những vị ấy được hướng về chư Thiên.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Những Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • A-la-hán / arahant / Arahant: Bậc thánh đã diệt trừ hoàn toàn phiền não, đạt giải thoát.
  • Vô minh / avijjā / ignorance: Sự thiếu hiểu biết về Tứ Diệu Đế, là gốc rễ của khổ.
  • Luân hồi / saṃsāra / the round of births: Vòng sinh tử luân hồi, sự tái sinh liên tục.
  • Tham ái / taṇhā / craving: Sự ham muốn, khao khát, nguyên nhân chính của khổ.
  • Năm hạ phần kiết sử / pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ / five lower fetters: Năm loại ràng buộc ở cõi Dục: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham dục, sân hận.
  • Ngã mạn / asmimāna / conceit ‘I am’: Sự chấp vào cái “tôi”, cho rằng có một bản ngã thường hằng.
  • Đế Thích / Sakka / Indra: Vua của chư thiên ở cõi trời Đao Lợi.
  • Phạm Thiên / Brahmā / Brahmā: Vị thần cao nhất trong Bà-la-môn giáo, được Phật giáo xem là một vị Hộ pháp.
  • Thức / viññāṇa / consciousness: Một trong năm uẩn, khả năng nhận biết.
  • Như Lai / tathāgata / Tathāgata: Một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”.
  • Khổ / dukkha / suffering: Cảm giác đau khổ, không thỏa mãn, bất toại nguyện.
  • Sắc / rūpa / material form: Yếu tố vật chất, một trong năm uẩn.
  • Thọ / vedanā / feeling: Cảm giác, một trong năm uẩn.
  • Tưởng / saññā / perception: Sự nhận thức, một trong năm uẩn.
  • Hành / saṅkhāra / formations: Các hành động tạo tác, một trong năm uẩn.
  • Pháp / dhamma / Dhamma: Giáo lý của Đức Phật, chân lý, quy luật tự nhiên.
  • Lậu hoặc / āsava / taints: Các phiền não làm ô nhiễm tâm, bao gồm dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
  • Tịnh Cư / suddhāvāsa / Pure Abodes: Cõi trời của các vị Bất Lai.
  • Niết-bàn / nibbāna / Nibbāna: Trạng thái chấm dứt hoàn toàn khổ đau, giải thoát.
  • Nhất Lai / sakadāgāmī / once-returner: Bậc thánh sẽ tái sinh trở lại cõi người một lần nữa trước khi đạt Niết-bàn.
  • Dự Lưu / sotāpanna / stream-enterer: Bậc thánh đã nhập dòng, chắc chắn sẽ đạt giác ngộ trong tương lai.
  • Pháp Tùy Hành / dhammānusārī / Dhamma-follower: Người thực hành theo giáo pháp.
  • Tín Tùy Hành / saddhānusārī / faith-follower: Người đi theo bằng niềm tin.