Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 23. Tổ Kiến

(Vammika Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một lần nọ, Đức Phật đang ở tại Sāvatthī, trong khu rừng Jeta, vườn của ông Anāthapiṇika. Lúc đó, ngài Kumāra Kassapa đang ở trong khu rừng của Người Mù. [^275]

Rồi, khi đêm đã khuya, một vị thần có vẻ ngoài xinh đẹp, tỏa sáng cả khu rừng của Người Mù, đến gặp ngài Kumāra Kassapa và đứng sang một bên. [^276] Đứng đó, vị thần nói với ngài:

2. "Tỳ kheo (Bhikkhu - nhà sư), tỳ kheo, tổ kiến này ban đêm bốc khói, ban ngày bốc lửa. [^277]

"Vị Bà La Môn (brahmin - người thuộc tầng lớp tu sĩ) nói: ‘Hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đào bằng dao, người trí tuệ thấy một thanh chắn: ‘Một thanh chắn, thưa ngài.’

"Vị Bà La Môn nói: ‘Vứt thanh chắn đi; hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đào bằng dao, người trí tuệ thấy một con cóc: ‘Một con cóc, thưa ngài.’

"Vị Bà La Môn nói: ‘Vứt con cóc đi; hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đào bằng dao, người trí tuệ thấy một cái nĩa: ‘Một cái nĩa, thưa ngài.’

"Vị Bà La Môn nói: ‘Vứt cái nĩa đi; hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đào bằng dao, người trí tuệ thấy một cái sàng: ‘Một cái sàng, thưa ngài.’

"Vị Bà La Môn nói: [143] ‘Vứt cái sàng đi; hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đào bằng dao, người trí tuệ thấy một con rùa: ‘Một con rùa, thưa ngài.’

"Vị Bà La Môn nói: ‘Vứt con rùa đi; hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đào bằng dao, người trí tuệ thấy một cái rìu và thớt: ‘Một cái rìu và thớt, thưa ngài.’

"Vị Bà La Môn nói: ‘Vứt cái rìu và thớt đi; hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đào bằng dao, người trí tuệ thấy một miếng thịt: ‘Một miếng thịt, thưa ngài.’

"Vị Bà La Môn nói: ‘Vứt miếng thịt đi; hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đào bằng dao, người trí tuệ thấy một con rắn Nāga: ‘Một con rắn Nāga, thưa ngài.’

"Vị Bà La Môn nói: ‘Hãy để con rắn Nāga yên; đừng làm hại con rắn Nāga; hãy tôn kính con rắn Nāga.’

“Tỳ kheo, ông nên đến gặp Đức Phật và hỏi ngài về câu đố này. Đức Phật nói với ông như thế nào, ông nên ghi nhớ như vậy. Tỳ kheo, ngoài Như Lai (Tathāgata - một danh hiệu khác của Đức Phật) hoặc đệ tử của Như Lai hoặc người đã học được điều đó từ họ, tôi không thấy ai trong thế giới này với các vị thần, Ma vương (Māras) và Phạm Thiên (Brahmās), trong thế hệ này với các ẩn sĩ và Bà La Môn, các hoàng tử và người dân, mà lời giải thích về câu đố này có thể làm hài lòng tâm trí.”

Đó là những gì vị thần nói, sau đó biến mất ngay lập tức.

23. KINH GÒ MỐI

23. KINH GÒ MỐI (Vammika Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kumara Kassapa trú tại Andhavana.

Rồi một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ Tôn giả Kumara Kassapa ở, sau khi đến, bèn đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Kumara Kassapa:

"Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng.

"Một Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm và đào lên”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một then cửa: “Thưa Tôn giả, một then cửa”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy then cửa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con nhái: “Thưa Tôn giả, một con nhái”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy đem con nhái lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con đường hai ngã: “Thưa Tôn giả, một con đường hai ngã”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí hãy lấy con đường hai ngã lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một đồ lọc sữa: “Thưa Tôn giả, một đồ lọc sữa”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Hãy lấy đồ lọc sữa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con rùa: “Thưa Tôn giả, một con rùa”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy con rùa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con dao phay: “Thưa Tôn giả, một con dao phay”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy con dao phay lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một miếng thịt: “Thưa Tôn giả một miếng thịt”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy miếng thịt lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con rắn hổ: “Thưa Tôn giả, con rắn hổ”.

"Vị Bà-la-môn nói: “Hãy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hãy đảnh lễ con rắn hổ”.

“Này Tỷ-kheo, hãy đến chỗ Thế Tôn ở và hỏi những câu hỏi ấy. Thế Tôn trả lời Tôn giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, Ta không thấy ai trên cõi đời, với chư Thiên, các Ma vương, với Phạm thiên, các chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể hướng tâm để trả lời những câu hỏi ấy, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai hay những ai đã được nghe hai vị này”.

Vị thiên ấy nói như vậy. Sau khi nói xong như vậy, vị ấy biến mất ở nơi đây.

3. Sau đó, khi đêm đã qua, ngài Kumāra Kassapa đến gặp Đức Phật. Sau khi đảnh lễ ngài, ngài ngồi xuống một bên và kể cho Đức Phật nghe những gì đã xảy ra. Rồi ngài hỏi: “Bạch Thế Tôn, tổ kiến là gì, bốc khói ban đêm là gì, bốc lửa ban ngày là gì? Ai là Bà La Môn, ai là người trí tuệ? Cái dao là gì, việc đào là gì, thanh chắn là gì, con cóc là gì, cái nĩa là gì, cái sàng là gì, con rùa là gì, cái rìu và thớt là gì, miếng thịt là gì, con rắn Nāga là gì?” [144]

4. "Này tỳ kheo, tổ kiến là biểu tượng cho thân thể này, được tạo thành từ vật chất (sắc), bao gồm bốn yếu tố chính (đất, nước, gió, lửa), được sinh ra bởi cha mẹ, lớn lên nhờ cơm gạo, [^278] và chịu sự vô thường (không bền vững), bị hao mòn, tan rã và phân hủy.

"Những gì người ta suy nghĩ và nghiền ngẫm vào ban đêm dựa trên những hành động của mình vào ban ngày là ‘bốc khói ban đêm.’

"Những hành động mà người ta thực hiện vào ban ngày bằng thân, khẩu và ý sau khi suy nghĩ và nghiền ngẫm vào ban đêm là ‘bốc lửa ban ngày.’

"Bà La Môn là biểu tượng cho Như Lai, bậc giác ngộ hoàn toàn. Người trí tuệ là biểu tượng cho một tỳ kheo đang tu tập. Cái dao là biểu tượng cho trí tuệ cao quý. Việc đào là biểu tượng cho sự nỗ lực.

"Thanh chắn là biểu tượng cho vô minh (ignorance - sự thiếu hiểu biết). [^279] ‘Vứt thanh chắn đi: từ bỏ vô minh. Hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đây là ý nghĩa.

"Con cóc là biểu tượng cho sự tuyệt vọng do tức giận. ‘Vứt con cóc đi: từ bỏ sự tuyệt vọng do tức giận. Hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đây là ý nghĩa.

"Cái nĩa là biểu tượng cho sự nghi ngờ (doubt - sự không chắc chắn, phân vân). [^280] ‘Vứt cái nĩa đi: từ bỏ sự nghi ngờ. Hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đây là ý nghĩa.

"Cái sàng là biểu tượng cho năm chướng ngại (năm triền cái), đó là: tham dục (ham muốn những thứ vui thú), sân hận (ác ý), lười biếng và buồn ngủ, trạo cử (tâm không yên) và hối hận, và nghi ngờ. ‘Vứt cái sàng đi: từ bỏ năm chướng ngại. Hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đây là ý nghĩa.

"Con rùa là biểu tượng cho năm nhóm (năm uẩn) bị ảnh hưởng bởi sự bám víu (clinging - sự gắn bó, không muốn rời bỏ), [^281] đó là: sắc uẩn (thân thể), thọ uẩn (cảm giác), tưởng uẩn (nhận thức), hành uẩn (suy nghĩ, ý chí) và thức uẩn (ý thức). ‘Vứt con rùa đi: từ bỏ năm nhóm bị ảnh hưởng bởi sự bám víu. Hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đây là ý nghĩa.

"Cái rìu và thớt là biểu tượng cho năm sợi dây của dục lạc [^282] - hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm mà người ta mong muốn, ưa thích, liên quan đến ham muốn, [145] và kích thích sự thèm muốn. ‘Vứt cái rìu và thớt đi: từ bỏ năm sợi dây của dục lạc. Hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đây là ý nghĩa.

"Miếng thịt là biểu tượng cho sự thích thú và ham muốn (delight and lust - niềm vui và sự ham muốn mạnh mẽ). [^283] ‘Vứt miếng thịt đi: từ bỏ sự thích thú và ham muốn. Hãy đào bằng dao, hỡi người trí tuệ.’ Đây là ý nghĩa.

“Con rắn Nāga là biểu tượng cho một tỳ kheo đã diệt trừ được các lậu hoặc (taints - những ô nhiễm, phiền não). [^284] ‘Hãy để con rắn Nāga yên; đừng làm hại con rắn Nāga; hãy tôn kính con rắn Nāga.’ Đây là ý nghĩa.”

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Ngài Kumāra Kassapa hoan hỷ và hài lòng với những lời của Đức Phật.

Rồi Tôn giả Kumara Kassapa, sau khi đêm ấy đã mãn, đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Kumarakassapa bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, đêm nay, một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ con ở, sau khi đến liền đứng một bên. Khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với con: “Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này, ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng. Một vị Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm đào lên”. Người có trí cầm gươm, đào lên thấy một then cửa… (như trên)… đệ tử Như Lai hay những ai đã được nghe hai vị này”. Bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói như vậy, nói xong liền biến mất tại chỗ ấy.

Bạch Thế Tôn, gò mối là gì, cái gì phun khói ban đêm, cái gì chiếu sáng ban ngày, ai là Bà-la-môn, ai là người có trí, cái gì là cây gươm, cái gì là đào lên, cái gì là then cửa, cái gì là con nhái, cái gì là con đường hai ngã, cái gì là đồ lọc sữa, cái gì là con rùa, cái gì là con dao phay, cái gì là miếng thịt, cái gì là con rắn hổ?

– Này Tỷ-kheo, gò mối là đồng nghĩa với cái thân do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt.

Này Tỷ-kheo, cái gì thuộc về công việc ban ngày, ban đêm suy tầm, suy nghĩ, như vậy là ban đêm phun khói.

Này Tỷ-kheo, cái gì sau khi suy tầm, suy tư ban đêm, ban ngày đem ra thực hành, về thân, về lời nói, về ý, như vậy là ban ngày chói sáng.

Này Tỷ-kheo, Bà-la-môn là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tỷ-kheo, người có trí là đồng nghĩa với Tỷ-kheo hữu học. Này Tỷ-kheo, cái gươm là đồng nghĩa với trí tuệ của bậc Thánh. Này Tỷ-kheo, đào lên là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.

Này Tỷ-kheo, cái then cửa là đồng nghĩa với vô minh; đem then cửa lên là từ bỏ vô minh; này kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, con nhái là đồng nghĩa với phẫn nộ hiềm hận; đem con nhái lên là từ bỏ phẫn nộ hiềm hận; này kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, con đường hai ngã là đồng nghĩa với nghi hoặc; đem con đường hai ngã lên là từ bỏ nghi hoặc; này kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, đồ lọc sữa là đồng nghĩa với năm triền cái: dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi hoặc triền cái; đem bỏ đồ lọc sữa lên là từ bỏ năm triền cái; này kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, con rùa là đồng nghĩa với năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn; đem con rùa lên là từ bỏ năm thủ uẩn; này kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, con dao phay là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng, tức là các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… Các hương do mũi nhận thức… Các vị do lưỡi nhận thức… Các xúc do thân cảm xúc, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục hấp dẫn; lấy con dao phay lên là từ bỏ năm dục trưởng dưỡng; này kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, miếng thịt là đồng nghĩa với hỷ tham; lấy miếng thịt lên là từ bỏ hỷ tham; này kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.

Này Tỷ-kheo, con rắn hổ là đồng nghĩa với vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc; hãy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hãy đảnh lễ con rắn hổ, là ý nghĩa này.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Đức Phật / Blessed One: Bậc đáng kính, thường dùng để chỉ Đức Phật.
  • Tỳ kheo / Bhikkhu: Nhà sư.
  • Bà La Môn / Brahmin: Người thuộc tầng lớp tu sĩ.
  • Như Lai / Tathāgata: Một danh hiệu khác của Đức Phật.
  • Vô minh / Ignorance: Sự thiếu hiểu biết.
  • Nghi ngờ / Doubt: Sự không chắc chắn, phân vân.
  • Năm chướng ngại / Five hindrances: năm triền cái: tham, sân, si (lười biếng, buồn ngủ), trạo hối (trạo cử, hối hận), nghi.
  • Bám víu / Clinging: Sự gắn bó, không muốn rời bỏ.
  • Năm uẩn / five aggregates: Sắc (thân thể), thọ (cảm giác), tưởng (nhận thức), hành (suy nghĩ, ý chí) và thức (ý thức).
  • Dục lạc / sensual pleasure: Những thứ vui thú liên quan đến giác quan.
  • Thích thú và ham muốn / Delight and lust: Niềm vui và sự ham muốn mạnh mẽ.
  • Lậu hoặc / Taints: Những ô nhiễm, phiền não.
  • Vô thường / Impermanence: Không thường hằng, luôn thay đổi.