Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 24. Kinh Xe Tiếp Sức (Ratha-vinīta Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Đức Thế Tôn (the Blessed One) trú tại Rājagaha (Vương Xá thành), trong khu rừng Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc.

2. Rồi một số tỳ kheo (monks-bhikkhus) nhà sư từ quê hương của Đức Thế Tôn, sau khi an cư mùa mưa ở đó, đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn hỏi họ: “Này các tỳ kheo, ở quê hương [của ta], ai được các tỳ kheo, các bạn đồng tu (companions in the holy life) kính trọng vì những điều này: ‘Bản thân ít ham muốn (few wishes)và giảng về về sự ít ham muốn; bản thân biết đủ (content)và giảng về về sự biết đủ; bản thân sống ẩn dật (secluded)và giảng về về sự ẩn dật; bản thân sống xa lánh xã hội (aloof from society)và giảng về về sự xa lánh xã hội; bản thân tinh tấn (energetic)và giảng về về sự khơi dậy tinh tấn; bản thân đạt được giới hạnh (virtue)và giảng về về sự đạt được giới hạnh; bản thân đạt được định tâm (concentration)và giảng về về sự đạt được định tâm; bản thân đạt được trí tuệ (wisdom)và giảng về về sự đạt được trí tuệ; bản thân đạt được giải thoát (deliverance)và giảng về về sự đạt được giải thoát; bản thân đạt được tri kiến giải thoát (knowledge and vision of deliverance)và giảng về về sự đạt được tri kiến giải thoát; vị ấy là người khuyên bảo, thông báo, hướng dẫn, thúc giục, khơi dậy và khuyến khích các bạn đồng tu?’”

“Bạch Thế Tôn, Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta được các tỳ kheo ở quê hương của Đức Thế Tôn, các bạn đồng tu kính trọng vì những điều đó.”

3. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta (Xá Lợi Phất) đang ngồi gần Đức Thế Tôn. Tôn giả Sāriputta nghĩ: “Thật là một lợi ích cho Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta, một lợi ích lớn cho vị ấy khi các bạn đồng tu trí tuệ khen ngợi vị ấy từng điểm một trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn. Có lẽ một lúc nào đó chúng ta có thể gặp Tôn giả Punna Mantāniputta và đàm đạo với vị ấy.”

4. Sau đó, khi Đức Thế Tôn ở lại Rājagaha bao lâu tùy ý, Ngài du hành (wander by stages) đến Sāvatthī (Xá Vệ thành). Du hành từng chặng, cuối cùng Ngài đến Sāvatthī, và ở đó Ngài trú tại khu rừng Jeta, vườn của Anāthapiṇ̣ika (Cấp Cô Độc).

5. Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta nghe: “Đức Thế Tôn đã đến Sāvatthī và đang trú tại khu rừng Jeta, vườn của Anāthapiṇ̣ika.” Rồi Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta sắp xếp chỗ nghỉ ngơi, cầm y bát (outer robe and bowl), rồi du hành đến Sāvatthī. Du hành từng chặng, cuối cùng vị ấy đến Sāvatthī và đi đến khu rừng Jeta, vườn của Anāthapiṇ̣ika, để yết kiến Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, vị ấy ngồi xuống một bên và Đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thúc giục, khơi dậy và khuyến khích vị ấy bằng bài pháp thoại (talk on the Dhamma). Rồi Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta, được Đức Thế Tôn chỉ dạy, thúc giục, khơi dậy và khuyến khích bằng bài pháp thoại, hoan hỷ (delighting) và tùy hỷ (rejoicing) với lời của Đức Thế Tôn, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài (keeping him on his right), rồi đi đến khu rừng Blind Men’s Grove (rừng của những người mù) để an trú ban ngày (for the day’s abiding).

6. Rồi một vị tỳ kheo đến chỗ Tôn giả Sāriputta và nói: “Này Hiền giả (Friend) Sāriputta, vị tỳ kheo Puṇṇa Mantāniputta mà Hiền giả luôn ca ngợi, vừa được Đức Thế Tôn chỉ dạy, thúc giục, khơi dậy và khuyến khích bằng bài pháp thoại; sau khi hoan hỷ và tùy hỷ với lời của Đức Thế Tôn, vị ấy đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài, rồi đi đến khu rừng Blind Men’s Grove để an trú ban ngày.”

7. Rồi Tôn giả Sāriputta nhanh chóng nhặt một tấm tọa cụ (mat) và đi theo sát phía sau Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta, vẫn nhìn thấy đầu của vị ấy. Rồi Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta vào khu rừng Blind Men’s Grove và ngồi xuống dưới gốc cây để an trú ban ngày. Tôn giả Sāriputta cũng vào khu rừng Blind Men’s Grove và ngồi xuống dưới gốc cây để an trú ban ngày.

8. Rồi, khi trời về chiều, Tôn giả Sāriputta ra khỏi thiền định (meditation), đến chỗ Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta, và chào hỏi nhau. Sau khi cuộc nói chuyện lịch sự và thân thiện kết thúc, Ngài ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Punna Mantaniputta:

24. KINH TRẠM XE

24. KINH TRẠM XE (Rathavinìta Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivapa.

Lúc ấy một số đông Tỷ-kheo người địa phương, sau khi an cư mùa mưa tại địa phương xong, liền đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:

– Này các Tỷ-kheo, ai ở tại địa phương được các Tỷ-kheo đồng phạm hạnh cùng một địa phương tán thán như sau: “Tự mình thiểu dục và giảng về thiểu dục cho các Tỷ-kheo; tự mình tri túc và giảng về tri túc cho các Tỷ-kheo; tự mình độc cư và giảng về độc cư cho các Tỷ-kheo; tự mình không ô nhiễm và giảng về không ô nhiễm cho các Tỷ-kheo; tự mình tinh cần, tinh tấn và giảng về tinh cần, tinh tấn cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giới hạnh và giảng về thành tựu giới hạnh cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu Thiền định và giảng về thành tựu Thiền định cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu trí tuệ và nói về thành tựu trí tuệ cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giải thoát và nói về thành tựu giải thoát cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và nói về thành tựu giải thoát tri kiến cho các Tỷ-kheo; vị giáo giới, vị khai thị, vị trình bày, vị khích lệ, vị làm cho phấn khởi, vị làm cho các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ?”.

– Bạch Thế Tôn, Tôn giả Punna Mantaniputta là Tỷ-kheo địa phương được các Tỷ-kheo đồng phạm hạnh cùng một địa phương tán thán như sau: “Tự mình thiểu dục và nói về thiểu dục cho các Tỷ-kheo… (như trên)… vị làm cho các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ.”

Lúc bấy giờ, Tôn giả Sariputta ngồi cách Thế Tôn không xa. Tôn giả Sariputta suy nghĩ như sau: “Hạnh phúc thay Tôn giả Punna Mantaniputta! Chơn hạnh phúc thay Tôn giả Punna Mantaniputta! Tôn giả đã được các vị đồng phạm hạnh có trí tán thán từng điểm một trước mặt bậc Ðạo Sư, và được bậc Ðạo Sư chấp nhận; có thể chúng ta sẽ gặp Tôn giả Punna Mantaniputta, tại một chỗ nào, trong một thời gian nào, có thể sẽ có một cuộc đàm luận với Tôn giả.”

Thế Tôn trú tại Rajagaha (Vương Xá) lâu cho đến khi vừa ý, rồi khởi hành đi Savatthi; Ngài tuần tự đi và đến Savatthi. Ở đây, Thế Tôn trú ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika.

Tôn giả Punna Mantaniputta được nghe: “Thế Tôn đã đến Savatthi, trú ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika”. Rồi Tôn giả Punna Mantaniputta thâu dọn lại sàng tọa, cầm y bát, khởi hành đi Savatthi. Tôn giả tuần tự đi đến Savatthi, Jetavana, vườn ông Anathapindika, đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho Tôn giả Punna Mantaniputta đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho hoan hỷ. Tôn giả Punna Mantaniputta, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, từ tạ đi Andhavana để nghỉ trưa.

Rồi một Tỷ-kheo khác đến chỗ Tôn giả Sariputta ở, sau khi đến, thưa với Tôn giả Sariputta: “Hiền giả Sariputta, Hiền giả luôn luôn tán dương Tỷ-kheo Punna Mantaniputta; vị này được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, từ tạ đi đến Andhavana để nghỉ trưa”.

Rồi Tôn giả Sariputta vội vã đem theo tọa cụ, đi theo sau lưng Tôn giả Punna Mantaniputta, đầu hướng về trước mặt (để theo dõi). Rồi Tôn giả Punna Mantaniputta đi sâu vào rừng Andhavana, và ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây. Tôn giả Sariputta, sau khi đi sâu vào rừng Andhavana, ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sariputta từ Thiền định độc cư đứng dậy, đến tại chỗ Tôn giả Punna Mantaniputta, sau khi đến nói lên với Tôn giả Punna Mantaniputta những lời chào đón, hỏi thăm, xã giao rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sariputta thưa với Tôn giả Punna Mantaniputta:

9. (Sāriputta):“Này Hiền giả, có phải đời sống phạm hạnh (holy life) được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn của chúng ta không?” - “Đúng vậy, Hiền giả.”

– “Nhưng, này Hiền giả, có phải vì mục đích thanh tịnh giới hạnh (purification of virtue) mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn không?” - “Không phải, Hiền giả.”

– “Vậy có phải vì mục đích thanh tịnh tâm (purification of mind) mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn không?” - “Không phải, Hiền giả.”

– “Vậy có phải vì mục đích thanh tịnh tri kiến (purification of view) mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn không?” - “Không phải, Hiền giả.”

– “Vậy có phải vì mục đích thanh tịnh bằng cách vượt qua nghi ngờ (purification by overcoming doubt - thanh tịnh hóa nghi ngờ) mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn không?” - “Không phải, Hiền giả.”

– “Vậy có phải vì mục đích thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đúng và con đường sai (purification by knowledge and vision of what is the path and what is not the path) mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn không?” - “Không phải, Hiền giả.”

– “Vậy có phải vì mục đích thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đạo (purification by knowledge and vision of the way) mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn không?” - “Không phải, Hiền giả.”

– “Vậy có phải vì mục đích thanh tịnh bằng tri kiến (purification by knowledge and vision) mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn không?” - “Không phải, Hiền giả.”

10. “Này Hiền giả, khi được hỏi: ‘Nhưng, này Hiền giả, có phải vì mục đích thanh tịnh giới hạnh mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn không?’ Hiền giả trả lời: ‘Không phải, Hiền giả.’ Khi được hỏi: ‘Vậy có phải vì mục đích thanh tịnh tâm… thanh tịnh tri kiến… thanh tịnh bằng cách vượt qua nghi ngờ… thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đúng và con đường sai… thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đạo… thanh tịnh bằng tri kiến mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn không?’ Hiền giả trả lời: ‘Không phải, Hiền giả.’ Vậy thì, này Hiền giả, vì mục đích gì mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn?”

– Hiền giả, có phải chúng ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn? – Thật như vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích giới thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tâm thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là mục đích kiến thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đoạn nghi thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đạo tri kiến thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tri kiến thanh tịnh? – Không phải vậy, Hiền giả.

– Hiền giả, khi hỏi “có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích giới thanh tịnh?”, Hiền giả trả lời “Không phải vậy”. Khi hỏi … tâm thanh tịnh? … kiến thanh tịnh?.. đoạn nghi thanh tịnh? … đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh? … đạo tri kiến thanh tịnh? … Khi hỏi “có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tri kiến thanh tịnh?”, Hiền giả trả lời “Không phải vậy”. Như vậy, Hiền giả, với mục đích gì, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?

(Punna):“Này Hiền giả, vì mục đích Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ (final Nibbāna without clinging - Niết Bàn không dính mắc) mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn.”

– Hiền giả, với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn, nên sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn.

11. (Sāriputta):“Nhưng, này Hiền giả, thanh tịnh giới hạnh có phải là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ không?” - “Không phải, Hiền giả.” - “Vậy thanh tịnh tâm có phải là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ không?” - “Không phải, Hiền giả.” - “Vậy thanh tịnh tri kiến có phải là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ không?” - “Không phải, Hiền giả.” - “Vậy thanh tịnh bằng cách vượt qua nghi ngờ có phải là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ không?” - “Không phải, Hiền giả.” - “Vậy thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đúng và con đường sai có phải là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ không?” - “Không phải, Hiền giả.” - “Vậy thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đạo có phải là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ không?” - “Không phải, Hiền giả.” - “Vậy thanh tịnh bằng tri kiến có phải là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ không?” - “Không phải, Hiền giả.” - “Nhưng, này Hiền giả, Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ có thể đạt được mà không cần những trạng thái này không?” - “Không phải, Hiền giả.”

12. “Khi được hỏi: ‘Nhưng, này Hiền giả, thanh tịnh giới hạnh có phải là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ không?’ Hiền giả trả lời: ‘Không phải, Hiền giả.’ Khi được hỏi: ‘Vậy thanh tịnh tâm… thanh tịnh tri kiến… thanh tịnh bằng cách vượt qua nghi ngờ… thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đúng và con đường sai… thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đạo… thanh tịnh bằng tri kiến có phải là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ không?’ Hiền giả trả lời: ‘Không phải, Hiền giả.’ Và khi được hỏi: ‘Nhưng, này Hiền giả, Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ có thể đạt được mà không cần những trạng thái này không?’ Hiền giả trả lời: ‘Không phải, Hiền giả.’ Nhưng, này Hiền giả, ý nghĩa của những lời tuyên bố này nên được hiểu như thế nào?”

– Hiền giả, có phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải tâm thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải đoạn nghi thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải đạo tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, có phải cái gì ngoài các pháp này là vô thủ trước Bát-niết-bàn? – Hiền giả, không phải vậy.

– Hiền giả, khi hỏi “có phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?”, Hiền giả trả lời: "Không phải vậy. Khi hỏi “có phải tâm thanh tịnh …? … có phải kiến thanh tịnh …? … có phải đoạn nghi thanh tịnh …? … có phải đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh …? … có phải đạo tri kiến thanh tịnh là …? … có phải tri kiến thanh tịnh …? … có phải cái gì ngoài các pháp này là vô thủ trước Bát-niết-bàn?”, Hiền giả trả lời: “Không phải vậy.” Hiền giả, vậy ý nghĩa lời nói này cần phải được hiểu như thế nào?

13. (Punna): "Này Hiền giả, nếu Đức Thế Tôn mô tả thanh tịnh giới hạnh là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ, thì Ngài đã mô tả cái vẫn còn đi kèm với chấp thủ (accompanied by clinging - dính mắc) là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ. Nếu Đức Thế Tôn mô tả thanh tịnh tâm… thanh tịnh tri kiến… thanh tịnh bằng cách vượt qua nghi ngờ… thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đúng và con đường sai… thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đạo… thanh tịnh bằng tri kiến là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ, thì Ngài đã mô tả cái vẫn còn đi kèm với chấp thủ là Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ. Và nếu Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ có thể đạt được mà không cần những trạng thái này, thì một người phàm phu (ordinary person) đã đạt được Niết-bàn tối hậu, vì người phàm phu không có những trạng thái này.

14. “Về điều đó, này Hiền giả, tôi sẽ đưa ra cho Hiền giả một ví dụ, vì một số người trí tuệ hiểu ý nghĩa của một lời tuyên bố thông qua ví dụ. Giả sử vua Pasenadi xứ Kosala khi đang ở Sāvatthī có một việc khẩn cấp cần giải quyết tại Sāketa, và giữa Sāvatthī và Sāketa có bảy cỗ xe tiếp sức (relay chariots) được chuẩn bị sẵn cho ngài. Rồi vua Pasenadi xứ Kosala, rời Sāvatthī qua cửa cung điện bên trong, sẽ lên cỗ xe tiếp sức đầu tiên, và nhờ cỗ xe tiếp sức đầu tiên, ngài sẽ đến cỗ xe tiếp sức thứ hai; rồi ngài sẽ xuống cỗ xe đầu tiên và lên cỗ xe thứ hai, và nhờ cỗ xe thứ hai, ngài sẽ đến cỗ xe thứ ba… nhờ cỗ xe thứ ba, ngài sẽ đến cỗ xe thứ tư… nhờ cỗ xe thứ tư, ngài sẽ đến cỗ xe thứ năm… nhờ cỗ xe thứ năm, ngài sẽ đến cỗ xe thứ sáu… nhờ cỗ xe thứ sáu, ngài sẽ đến cỗ xe thứ bảy, và nhờ cỗ xe thứ bảy, ngài sẽ đến cửa cung điện bên trong ở Sāketa. Rồi, khi ngài đến cửa cung điện bên trong, bạn bè và người quen, bà con và họ hàng của ngài, sẽ hỏi ngài: ‘Tâu Bệ hạ, có phải Bệ hạ đã đi từ Sāvatthī đến cửa cung điện bên trong ở Sāketa bằng cỗ xe tiếp sức này không?’ Vậy thì vua Pasenadi xứ Kosala nên trả lời như thế nào để trả lời đúng?”

“Để trả lời đúng, này Hiền giả, ngài ấy nên trả lời như sau: ‘Ở đây, khi đang ở Sāvatthī, ta có một việc khẩn cấp cần giải quyết tại Sāketa, và giữa Sāvatthī và Sāketa có bảy cỗ xe tiếp sức được chuẩn bị sẵn cho ta. Rồi, rời Sāvatthī qua cửa cung điện bên trong, ta lên cỗ xe tiếp sức đầu tiên, và nhờ cỗ xe tiếp sức đầu tiên, ta đến cỗ xe tiếp sức thứ hai; rồi ta xuống cỗ xe đầu tiên và lên cỗ xe thứ hai, và nhờ cỗ xe thứ hai, ta đến cỗ xe thứ ba… thứ tư… thứ năm… thứ sáu… thứ bảy, và nhờ cỗ xe thứ bảy, ta đến cửa cung điện bên trong ở Sāketa.’ Để trả lời đúng, ngài ấy nên trả lời như vậy.”

15. “Cũng vậy, này Hiền giả, thanh tịnh giới hạnh là để đạt đến thanh tịnh tâm; thanh tịnh tâm là để đạt đến thanh tịnh kiến; thanh tịnh kiến là để đạt đến thanh tịnh bằng cách vượt qua nghi ngờ; thanh tịnh bằng cách vượt qua nghi ngờ là để đạt đến thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đúng và con đường sai; thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đúng và con đường sai là để đạt đến thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đạo; thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đạo là để đạt đến thanh tịnh bằng tri kiến; thanh tịnh bằng tri kiến là để đạt đến Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ. Chính vì mục đích Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn.”

– Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn. Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố tâm thanh tịnh… Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố kiến thanh tịnh… Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đoạn nghi thanh tịnh… Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh… Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đạo tri kiến thanh tịnh… Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết- bàn. Hiền giả, và nếu Thế Tôn tuyên bố cái gì ngoài các pháp ấy là vô thủ trước Bát-niết-bàn, thì kẻ phàm phu có thể Bát-niết-bàn, vì này Hiền giả, phàm phu là ngoài các pháp ấy.

Hiền giả, tôi sẽ cho Hiền giả một ví dụ, ở đây, một số kẻ có trí, nhờ ví dụ để hiểu ý nghĩa của lời nói. Hiền giả, như vua Pasenadi xứ Kosala trong khi ở tại Savatthi, có công việc khẩn cấp khởi lên ở Saketa, và bảy trạm xe được sắp đặt cho vua giữa Savatthi và Saketa. Hiền giả, rồi vua Pasenadi xứ Kosala, từ cửa nội thành ra khỏi Savatthi, leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm thứ nhất đến được trạm xe thứ hai; từ bỏ trạm xe thứ nhất, leo lên trạm xe thứ hai, nhờ trạm xe thứ hai đến được trạm xe thứ ba; từ bỏ trạm xe thứ hai… đến được trạm xe thứ tư; từ bỏ trạm xe thứ ba… đến được trạm xe thứ năm, từ bỏ trạm xe thứ tư, leo lên trạm xe thứ năm, nhờ trạm xe thứ năm đến được trạm xe thứ sáu; từ bỏ trạm thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; từ bỏ trạm xe thứ sáu, leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy đến được Saketa, tại cửa nội thành. Khi vua đến tại cửa nội thành, các bộ trưởng cận thần, các thân thích cùng huyết thống hỏi như sau:“-- Tâu Ðại vương có phải với trạm xe này, Bệ hạ đi từ Savatthi đến Saketa tại cửa nội thành?” Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế nào mới gọi là trả lời đúng đắn?

– Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế này mới trả lời đúng đắn: “-- Ở đây, trong khi ta ở Savatthi, có công việc khẩn cấp khởi lên ở Saketa, và bảy trạm xe được sắp đặt cho ta, giữa Savatthi và Saketa. Ta từ cửa nội thành ra khỏi Savatthi, leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm xe thứ nhất, ta đến được trạm xe thứ hai; từ bỏ trạm xe thứ nhất, ta leo lên trạm xe thứ hai; và nhờ trạm xe thứ hai, ta đến được trạm xe thứ ba; từ bỏ trạm xe thứ hai… đến được trạm xe thứ tư; từ bỏ trạm xe thứ ba… đến được trạm xe thứ năm; từ bỏ trạm xe thứ tư… đến được trạm xe thứ sáu; từ bỏ trạm xe thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; từ bỏ trạm xe thứ sáu… leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy, Ta đến được Saketa, tại cửa nội thành”. Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala trả lời như vậy mới trả lời một cách đúng đắn.

– Cũng vậy, này Hiền giả, giới thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) kiến thanh tịnh; kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đoạn nghi thanh tịnh; đoạn nghi thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh; đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo tri kiến thanh tịnh; đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tri kiến thanh tịnh; tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) vô thủ trước Bát-niết-bàn. Này Hiền giả, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn là với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn.

16. Khi điều này được nói ra, Tôn giả Sāriputta hỏi Tôn giả Puṇṇa Mantāṇiputta: “Tôn giả tên là gì, và các bạn đồng tu biết Tôn giả như thế nào?”

“Tên tôi là Puṇṇa, này Hiền giả, và các bạn đồng tu biết tôi là Mantāṇiputta.” “Thật kỳ diệu, này Hiền giả, thật phi thường! Mỗi câu hỏi sâu sắc đã được Tôn giả Punna Mantāniputta trả lời, từng điểm một, như một vị đệ tử uyên bác hiểu đúng Giáo Pháp (Teacher’s Dispensation) của Đức Thế Tôn. Đó là một lợi ích cho các bạn đồng tu của vị ấy, một lợi ích lớn cho họ khi họ có cơ hội được gặp và tôn kính Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta. Ngay cả khi các bạn đồng tu của Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta đội vị ấy trên đầu bằng một tấm đệm để có cơ hội được gặp và tôn kính vị ấy, thì đó cũng là một lợi ích cho họ, một lợi ích lớn cho họ. Và đó là một lợi ích cho chúng tôi, một lợi ích lớn cho chúng tôi khi chúng tôi có cơ hội được gặp và tôn kính Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta.”

17. Khi điều này được nói ra, Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta hỏi Tôn giả Sāriputta: “Tôn giả tên là gì, và các bạn đồng tu biết Tôn giả như thế nào?”

“Tên tôi là Upatissa, này Hiền giả, và các bạn đồng tu biết tôi là Sāriputta.”

“Thật vậy, này Hiền giả, chúng tôi không biết rằng chúng tôi đang nói chuyện với Tôn giả Sāriputta, vị đệ tử giống như chính Đức Thế Tôn. Nếu chúng tôi biết rằng đây là Tôn giả Sāriputta, chúng tôi đã không nói nhiều như vậy. Thật kỳ diệu, này Hiền giả, thật phi thường! Mỗi câu hỏi sâu sắc đã được Tôn giả Sāriputta đặt ra, từng điểm một, như một vị đệ tử uyên bác hiểu đúng Giáo Pháp của Đức Thế Tôn. Đó là một lợi ích cho các bạn đồng tu của vị ấy, một lợi ích lớn cho họ khi họ có cơ hội được gặp và tôn kính Tôn giả Sāriputta. Ngay cả khi các bạn đồng tu của Tôn giả Sāriputta đội vị ấy trên đầu bằng một tấm đệm để có cơ hội được gặp và tôn kính vị ấy, thì đó cũng là một lợi ích cho họ, một lợi ích lớn cho họ. Và đó là một lợi ích cho chúng tôi, một lợi ích lớn cho chúng tôi khi chúng tôi có cơ hội được gặp và tôn kính Tôn giả Sāriputta.”

Như vậy, hai bậc đại nhân (great beings) này đã hoan hỷ với những lời tốt đẹp của nhau.

Khi được nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với Tôn giả Punna Mantaniputta:

– Tôn giả tên là gì? Và các vị đồng phạm hạnh biết Tôn giả như thế nào?

– Hiền giả, tên tôi là Punna và các vị đồng phạm hạnh biết tôi là Mantaniputta.

– Thật hy hữu thay, Hiền giả! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được trả lời từng điểm một bởi một đệ tử nghe nhiều, đã biết rõ giáo lý của bậc Ðạo Sư, và vị đệ tử ấy là Tôn giả Punna Mantaniputta. Thật hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh! Thật chơn hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Punna Mantaniputta! Nếu các vị đồng phạm hạnh đội Tôn giả Punna Mantaniputta trên đầu với một cuộn vải làm khăn để được thăm viếng, để được thân cận, thì thật là hạnh phúc cho các vị ấy, thật là chơn hạnh phúc cho các vị ấy! Thật hạnh phúc cho chúng tôi, thật chơn hạnh phúc cho chúng tôi được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Punna Mantaniputta!

Khi được nói vậy, Tôn giả Punna Mantaniputta nói với Tôn giả Sariputta:

– Tôn giả tên là gì, và các vị đồng phạm hạnh biết Tôn giả như thế nào?

– Hiền giả, tôi tên là Upatissa, và các vị đồng phạm hạnh biết tôi là Sariputta.

– Tôi đang luận bàn với bậc đệ tử được xem là ngang hàng với bậc Ðạo Sư mà không được biết là Tôn giả Sariputta. Nếu chúng tôi được biết là Tôn giả Sariputta, thì chúng tôi đã không nói nhiều như vậy. Thật hy hữu thay, Hiền giả! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được trả lời từng điểm một, bởi một đệ tử nghe nhiều, đã biết rõ giáo lý của bậc Ðạo Sư. Và vị đệ tử ấy là Tôn giả Sariputta. Thật hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh! Thật chơn hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh… được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Sariputta! Nếu các vị đồng phạm hạnh đội Tôn giả Sariputta trên đầu với một cuộn vải làm khăn để được thăm viếng, được thân cận, thì thật hạnh phúc cho các vị ấy, thật chơn hạnh phúc cho các vị ấy! Thật hạnh phúc cho chúng tôi, thật chơn hạnh phúc cho chúng tôi được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Sariputta!

Như vậy, hai bậc cao đức ấy cùng nhau thiện thuyết, cùng nhau tùy hỷ.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Tỳ kheo / bhikkhu / monk: Người xuất gia nam, tu hành theo giới luật Phật giáo, sống trong tăng đoàn.
  • Thế Tôn / Blessed One / Bhagavant: Một danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật, người đã đạt được giác ngộ hoàn toàn.
  • Đời sống phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Đời sống tu hành thanh tịnh, hướng đến giải thoát, bao gồm việc giữ giới, tu tập thiền định và phát triển trí tuệ.
  • Thanh tịnh giới hạnh / sīlavisuddhi / purification of virtue: Sự trong sạch về đạo đức, hành vi, lời nói và ý nghĩ, thông qua việc giữ gìn giới luật.
  • Thanh tịnh tâm / cittavisuddhi / purification of mind: Sự trong sạch của tâm, không bị ô nhiễm bởi tham, sân, si, thông qua việc tu tập thiền định.
  • Thanh tịnh kiến / diṭṭhivisuddhi / purification of view: Sự trong sạch về nhận thức, hiểu biết đúng đắn về thực tại, không bị tà kiến chi phối.
  • Thanh tịnh bằng cách vượt qua nghi ngờ / kaṅkhāvitaraṇavisuddhi / purification by overcoming doubt: Sự trong sạch đạt được bằng cách loại bỏ mọi nghi ngờ về Phật, Pháp, Tăng, về con đường tu tập, thông qua việc học hỏi, thực hành và chứng nghiệm.
  • Thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đúng và con đường sai / maggāmaggañāṇadassanavisuddhi / purification by knowledge and vision of what is the path and what is not the path: Sự trong sạch đạt được bằng cách nhận biết rõ ràng con đường dẫn đến giải thoát và con đường không dẫn đến giải thoát.
  • Thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đạo / paṭipadāñāṇadassanavisuddhi / purification by knowledge and vision of the way: Sự trong sạch đạt được bằng cách hiểu rõ phương pháp tu tập cụ thể để đạt đến giải thoát.
  • Thanh tịnh bằng tri kiến / ñāṇadassanavisuddhi / purification by knowledge and vision: Sự trong sạch đạt được bằng trí tuệ thấy rõ bản chất của thực tại, thấy rõ sự khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ.
  • Niết-bàn tối hậu không còn chấp thủ / anupādā parinibbāna / final Nibbāna without clinging: Trạng thái giải thoát hoàn toàn, không còn bất kỳ sự dính mắc, chấp thủ nào vào các pháp, chấm dứt hoàn toàn khổ đau và luân hồi.
  • Chấp thủ / upādāna / clinging: Sự dính mắc, bám víu vào các đối tượng của giác quan, vào các quan điểm, tư tưởng, vào bản ngã.
  • Người phàm phu / puthujjana / ordinary person: Người chưa đạt được bất kỳ thánh quả nào, còn bị vô minh và phiền não chi phối.
  • Xe tiếp sức / rathavinīta / relay chariot: Một cỗ xe được chuẩn bị sẵn để thay thế cho cỗ xe trước đó, giúp cho hành trình được liên tục và nhanh chóng.
  • Du hành / carati / to wander: Đi từ nơi này đến nơi khác, thường là không có mục đích cụ thể, trong bối cảnh Phật giáo, thường chỉ việc đi khất thực hoặc đi truyền bá giáo pháp.
  • Y bát / outer robe and bowl: Vật dụng cần thiết của một vị tỳ kheo, bao gồm y (áo cà sa) và bát (để đựng thức ăn khất thực).
  • An trú ban ngày / divāvihāra / day’s abiding: Việc ở lại một nơi nào đó trong thời gian ban ngày để nghỉ ngơi, thiền định hoặc thực hiện các công việc khác.
  • Tọa cụ / nisīdana / mat: Một tấm vải hoặc vật liệu khác dùng để ngồi, thường dùng trong khi thiền định.
  • Thiền định / samādhi / meditation: Sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, nhằm đạt được sự tĩnh lặng và sáng suốt.
  • Hiền giả / āvuso / friend: Cách xưng hô thân mật giữa các tỳ kheo.
  • Đại nhân / mahāpurisa / great beings: Chỉ những người có phẩm chất cao quý, có trí tuệ và đức hạnh vượt trội.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dispensation: Lời dạy của Đức Phật, bao gồm các nguyên lý, giáo lý và phương pháp tu tập để đạt đến giải thoát.

7 “Cỗ xe” đề cập trong bài (so sánh từ ngữ):

  • giới thanh tịnh = thanh tịnh giới hạnh (purification of virtue)
  • tâm thanh tịnh = thanh tịnh tâm (purification of mind)
  • kiến thanh tịnh = thanh tịnh kiến (purification of view)
  • đoạn nghi thanh tịnh = thanh tịnh bằng cách vượt qua nghi ngờ (purification by overcoming doubt - thanh tịnh hóa nghi ngờ)
  • đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh = thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đúng và con đường sai (purification by knowledge and vision of what is the path and what is not the path)
  • đạo tri kiến thanh tịnh = thanh tịnh bằng tri kiến về con đường đạo (purification by knowledge and vision of the way)
  • tri kiến thanh tịnh = thanh tịnh bằng tri kiến (purification by knowledge and vision)