Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

43. Đại Kinh Hỏi Đáp

(Mahāvedalla Sutta)

[292] 1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sāvatthī (Xá-vệ), tại Rừng Jeta (Kỳ-đà), vườn ông Anāthapiṇ̣ika (Cấp Cô Độc).

Bấy giờ, vào buổi chiều, tôn giả Mahā Kotthita từ chỗ thiền tịnh đứng dậy, đi đến chỗ tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), và trao đổi lời chào hỏi. Sau khi những lời xã giao thân mật này kết thúc, ông ngồi xuống một bên và nói với tôn giả Sāriputta:

43. ÐẠI KINH PHƯƠNG QUẢNG

43. ÐẠI KINH PHƯƠNG QUẢNG (Mahàvedalla Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Kotthita (Ðại Câu-hy-la), vào buổi chiều, khi thiền định xong, đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sariputta ở, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sariputta những lời chào đón, hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Maha Kotthita nói với Tôn giả Sariputta:

(TRÍ TUỆ)

2. “Thưa hiền giả, người ta thường nói ‘người kém trí tuệ, người kém trí tuệ’ (vô trí/duppañño). Do điều kiện (duyên) gì mà nói là ‘người kém trí tuệ’?”

“Thưa hiền giả, ‘người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ, người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ’ (không tuệ tri/nappajānāti); đó là lý do tại sao nói là ‘người kém trí tuệ’. Và người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ điều gì? Người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ: ‘Đây là Đau khổ (khổ/dukkha)’; người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ: ‘Đây là nguyên nhân của Đau khổ’; người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ: ‘Đây là sự chấm dứt (diệt) của Đau khổ’; người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ: ‘Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt của Đau khổ’. ‘Người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ, người ấy không hiểu biết bằng trí tuệ’, thưa hiền giả; đó là lý do tại sao nói là ‘người kém trí tuệ’.”

Nói lời: “Lành thay, thưa hiền giả”, tôn giả Mahā Kotthita hoan hỷ và tín thọ lời của tôn giả Sāriputta. Rồi ông hỏi thêm một câu hỏi nữa:

3. “Thưa hiền giả, người ta thường nói ‘người có trí tuệ, người có trí tuệ’ (hữu trí/paññavā). Do điều kiện gì mà nói là ‘người có trí tuệ’?”

“Thưa hiền giả, ‘người ấy hiểu biết bằng trí tuệ, người ấy hiểu biết bằng trí tuệ’ (tuệ tri/pajānāti); đó là lý do tại sao nói là ‘người có trí tuệ’. Người ấy hiểu biết bằng trí tuệ điều gì? Người ấy hiểu biết bằng trí tuệ: ‘Đây là Đau khổ’; người ấy hiểu biết bằng trí tuệ: ‘Đây là nguyên nhân của Đau khổ’; người ấy hiểu biết bằng trí tuệ: ‘Đây là sự chấm dứt của Đau khổ’; người ấy hiểu biết bằng trí tuệ: ‘Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt của Đau khổ’. ‘Người ấy hiểu biết bằng trí tuệ, người ấy hiểu biết bằng trí tuệ’, thưa hiền giả; đó là lý do tại sao nói là ‘người có trí tuệ’.”

(Tuệ giác)

– Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ (Suppanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt tuệ?

– Này Hiền giả, vì không tuệ tri, không tuệ tri (Nappajanati), này Hiền giả nên được gọi là liệt tuệ. Không tuệ tri gì? Không tuệ tri: đây là Khổ, không tuệ tri: đây là Khổ tập, không tuệ tri: đây là Khổ diệt, không tuệ tri: đây là con đường đưa đến Khổ diệt. Vì không tuệ tri, không tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là liệt tuệ.

– Lành thay, Hiền giả!

Tôn giả Maha Kotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta nói, rồi hỏi Tôn giả Sariputta một câu hỏi nữa:

– Này Hiền giả, trí tuệ, trí tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào là được gọi là trí tuệ?

– Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ. Có tuệ tri gì? Có tuệ tri: đây là Khổ, có tuệ tri: đây là Khổ tập, có tuệ tri: đây là Khổ diệt, có tuệ tri: đây là Con đường đưa đến Khổ diệt. Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ.

(NHẬN BIẾT VÔ THỨC)

4. “Thưa hiền giả, người ta thường nói ‘Nhận Biết Vô Thức, Nhận Biết Vô Thức’ (thức/viññāṇa). Do điều kiện gì mà nói là ‘Nhận Biết Vô Thức’?”

“Thưa hiền giả, ‘nó nhận biết, nó nhận biết’ (liễu biệt/vijānāti); đó là lý do tại sao nói là ‘Nhận Biết Vô Thức’. Nó nhận biết điều gì? Nó nhận biết: ‘[Đây là] Dễ chịu (lạc)’; nó nhận biết: ‘[Đây là] Khó chịu (khổ)’; nó nhận biết: ‘[Đây là] Không Dễ Chịu Không Khó Chịu (bất khổ bất lạc)’. ‘Nó nhận biết, nó nhận biết’, thưa hiền giả; đó là lý do tại sao nói là ‘Nhận Biết Vô Thức’.”

5. “Thưa hiền giả, trí tuệ và Nhận Biết Vô Thức - các pháp này kết hợp hay tách rời? Và liệu có thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng không?”

“Thưa hiền giả, trí tuệ và Nhận Biết Vô Thức - các pháp này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng. Vì điều gì một người hiểu biết bằng trí tuệ, điều đó người ấy nhận biết, và điều gì người ấy nhận biết, điều đó người ấy hiểu biết bằng trí tuệ. [293] Đó là lý do tại sao các pháp này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng.”

6. “Thưa hiền giả, vậy sự khác biệt giữa trí tuệ và Nhận Biết Vô Thức, những pháp kết hợp và không tách rời này, là gì?”

“Thưa hiền giả, sự khác biệt giữa trí tuệ và Nhận Biết Vô Thức, những pháp kết hợp và không tách rời này, là thế này: trí tuệ cần được tu tập, còn Nhận Biết Vô Thức cần được hiểu biết thấu đáo (liễu tri).”

(Thức)

– Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như vậy, Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?

– Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này Hiền giả nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên được gọi là có thức.

– Nầy Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?

– Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.

– Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không kết hợp này?

– Này Hiền giả, Trí tuệ như vậy, thức như vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này.

(CẢM GIÁC)

7. “Thưa hiền giả, người ta thường nói ‘Cảm giác, Cảm giác’ (thọ/vedanā). Do điều kiện gì mà nói là ‘Cảm giác’?”

“Thưa hiền giả, ‘nó cảm thấy, nó cảm thấy’ (cảm thọ/vedeti); đó là lý do tại sao nói là ‘Cảm giác’. Nó cảm thấy gì? Nó cảm thấy dễ chịu, nó cảm thấy khó chịu, nó cảm thấy không dễ chịu không khó chịu. ‘Nó cảm thấy, nó cảm thấy’, thưa hiền giả, đó là lý do tại sao nói là ‘Cảm giác’.”

(Thọ)

– Cảm thọ, cảm thọ, này Hiền giả, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là cảm thọ?

– Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ (Vedeti), nên được gọi là cảm thọ. Và cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ bất khổ bất lạc thọ. Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ, nên được gọi là cảm thọ.

(NHẬN THỨC)

8. “Thưa hiền giả, người ta thường nói ‘Nhận Thức, Nhận Thức’ (tưởng/saññā). Do điều kiện gì mà nói là ‘Nhận Thức’?”

“Thưa hiền giả, ‘nó nhận ra, nó nhận ra’ (tưởng tri/sañjānāti); đó là lý do tại sao nói là ‘Nhận Thức’. Nó nhận ra điều gì? Nó nhận ra màu xanh, nó nhận ra màu vàng, nó nhận ra màu đỏ, và nó nhận ra màu trắng. ‘Nó nhận ra, nó nhận ra’, thưa hiền giả; đó là lý do tại sao nói là ‘Nhận Thức’.”

9. “Thưa hiền giả, Cảm giác, Nhận Thức, và Nhận Biết Vô Thức - các pháp này kết hợp hay tách rời? Và liệu có thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng không?”

“Thưa hiền giả, Cảm giác, Nhận Thức, và Nhận Biết Vô Thức - các pháp này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng. Vì điều gì một người cảm thấy, điều đó người ấy nhận ra; và điều gì người ấy nhận ra, điều đó người ấy nhận biết. Đó là lý do tại sao các pháp này kết hợp, không tách rời, và không thể tách biệt các pháp này khỏi nhau để mô tả sự khác biệt giữa chúng.”

(Tưởng)

– Này Hiền giả, tưởng, tưởng (Sanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là tưởng?

– Tưởng tri, tưởng tri (Sanjanati), này Hiền giả, nên được gọi là tưởng, Và tưởng tri gì? Tưởng tri màu xanh, tưởng tri màu vàng, tưởng tri màu đỏ, tưởng tri màu trắng. Tưởng tri, tưởng tri, này Hiền giả, nên được gọi là tưởng.

– Này Hiền giả, thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?

– Này Hiền giả, cảm thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì cảm thọ được là tưởng tri được, điều gì tưởng tri được là cảm thọ được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.

(CÁI BIẾT BỞI GIÁC QUAN NÃO)

10. “Thưa hiền giả, điều gì có thể được biết bởi sự Nhận Biết Của Não (ý thức) thanh tịnh đã thoát khỏi năm giác quan (căn)?”

“Thưa hiền giả, sự Nhận Biết Của Não thanh tịnh đã thoát khỏi năm giác quan là, cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ) có thể được biết như sau: ‘Không gian là vô tận’; cõi Nhận Biết là Vô Tận (thức vô biên xứ) có thể được biết như sau: ‘Nhận Biết Vô Thức là vô tận’; và cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ) có thể được biết như sau: ‘Không có vật gì cả’.”

11. “Thưa hiền giả, một người hiểu biết một pháp có thể được biết ấy bằng gì?”

“Thưa hiền giả, một người hiểu biết một pháp có thể được biết ấy bằng con mắt trí tuệ.”

12. “Thưa hiền giả, mục đích của trí tuệ là gì?”

“Thưa hiền giả, mục đích của trí tuệ là hiểu biết trực tiếp (thắng tri), mục đích của nó là hiểu biết thấu đáo (liễu tri), mục đích của nó là buông bỏ (xả).”

(Thắng tri)

– Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì?

– Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn, có thể đưa đến Hư không vô biên xứ; hư không là vô biên, có thể đưa đến Thức vô biên xứ; thức là vô biên, có thể đưa đến Vô sở hữu xứ, không có sự vật gì.

– Này Hiền giả, pháp gì đưa đến nhờ gì có thể tuệ tri được?

– Này Hiền giả, nhờ tuệ nhãn, pháp được đưa đến có thể tuệ tri.

– Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa gì?

– Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa là thắng tri (Abhinnattha), có nghĩa là liễu tri (Parinnattha), có nghĩa là đoạn tận (Pahanattha).

(THẤY ĐIỀU THIỆN)

[294] 13. “Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để Thấy điều thiện (chánh kiến) khởi lên?”

“Thưa hiền giả, có hai điều kiện để Thấy điều thiện khởi lên: qua lời nói của người khác và sự nghĩ đến tận gốc rễ (như lý tác ý). Đó là hai điều kiện để Thấy điều thiện khởi lên.”

14. “Thưa hiền giả, Thấy điều thiện cần thêm bao nhiêu yếu tồ hỗ trợ, thì có kết quả là tâm giải thoát, có kết quả và lợi ích là tâm giải thoát, có kết quả là tuệ giải thoát, có kết quả và lợi ích là tuệ giải thoát?”

“Thưa hiền giả, Thấy điều thiện cần thêm năm yếu tố hỗ trợ thì sẽ có kết quả là tâm giải thoát, có kết quả và lợi ích là tâm giải thoát, có kết quả là tuệ giải thoát, có kết quả và lợi ích là tuệ giải thoát. Ở đây, thưa hiền giả, Thấy điều thiện được hỗ trợ bởi nếp sống đạo đức (giới đức), học hỏi, thảo luận, tĩnh lặng (nội tĩnh) và quán sát. Thấy điều thiện được hỗ trợ bởi năm yếu tố này sẽ có tâm giải thoát là kết quả, có tâm giải thoát là kết quả và lợi ích; nó có tuệ giải thoát là kết quả, có tuệ giải thoát là kết quả và lợi ích.”

(Chánh kiến)

– Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi?

– Này Hiền giả, có hai duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi: Tiếng của người khác và như lý tác ý. Này Hiền giả, do hai duyên này, chánh tri kiến sanh khởi.

– Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi bao nhiêu chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, và tuệ giải thoát quả, tuệ giải thoát quả công đức?

– Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi năm chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức. Ở đây, này Hiền giả, chánh tri kiến có giới hỗ trợ, có văn (Suta) hỗ trợ, có thảo luận hỗ trợ, có chỉ (Samatha) hỗ trợ, có quán (Vipassana) hỗ trợ. Này Hiền giả, chánh tri kiến được hỗ trợ bởi năm chi phần này để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức.

(CÕI TỒN TẠI)

15. “Thưa hiền giả, có bao nhiêu cõi tồn tại (hữu)?”

“Thưa hiền giả, có ba cõi tồn tại này: cõi tồn tại Dục (Dục giới), cõi tồn tại vật chất (Sắc giới), và cõi tồn tại không vật chất (Vô sắc giớ)i.”

16. “Thưa hiền giả, sự tái sinh vào cõi tồn tại trong tương lai được tạo ra như thế nào?”

“Thưa hiền giả, sự tái sinh vào cõi tồn tại trong tương lai được tạo ra thông qua sự hỷ lạc trong chỗ này chỗ kia của các chúng sinh bị ngăn che bởi vô minh và bị trói buộc bởi tham ái.”

17. “Thưa hiền giả, làm thế nào sự tái sinh vào cõi tồn tại trong tương lai không được tạo ra?”

“Thưa hiền giả, với sự phai nhạt của vô minh, với sự khởi lên của minh, và với sự chấm dứt của tham ái, sự tái sinh vào cõi tồn tại trong tương lai không được tạo ra.”

(Hữu)

– Này Hiền giả, có bao nhiêu hữu (Bhava)?

– Này Hiền giả có ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu.

– Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai được xảy ra?

– Này Hiền giả, bị vô minh ngăn che, bị tham ái trói buộc, các loài hữu tình thích thú chỗ này chỗ kia, như vậy, sự tái sinh trong tương lai được xảy ra.

– Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai không xảy ra?

– Này Hiền giả, vô minh được xả ly, minh khởi, tham ái được đoạn diệt, như vậy sự tái sanh trong tương lai không xảy ra.

(THIỀN-NA THỨ NHẤT)

18. “Thưa hiền giả, thế nào là Thiền-na (thiền) thứ nhất?”

“Ở đây, thưa hiền giả, hoàn toàn rời xa khỏi các ham muốn (dục), rời xa khỏi các pháp không thiện (bất thiện pháp), một vị tỳ-kheo chứng và trú Thiền-na thứ nhất, một trạng thái đi kèm với khởi tạo ý nghĩ và duy trì quan sát (tầm và tứ), với phấn chấn (hỷ) và cảm giác dễ chịu (lạc) sinh ra do sự rời xa. Đây gọi là Thiền-na thứ nhất.”

19. “Thưa hiền giả, Thiền-na thứ nhất có bao nhiêu chi phần?”

“Thưa hiền giả, Thiền-na thứ nhất có năm chi phần. Ở đây, khi một vị tỳ-kheo đã chứng Thiền-na thứ nhất, có sự hiện khởi của khởi tạo ý nghĩ, duy trì quan sát, phấn chấn, dễ chịu, và tâm hợp thành một (nhất tâm). Đó là cách Thiền-na thứ nhất có năm chi phần.”

20. “Thưa hiền giả, trong Thiền-na thứ nhất, bao nhiêu chi phần bị từ bỏ (ly) và bao nhiêu chi phần được thành tựu?”

“Thưa hiền giả, trong Thiền-na thứ nhất, năm chi phần bị từ bỏ và năm chi phần được thành tựu. Ở đây, khi một vị tỳ-kheo đã chứng Thiền-na thứ nhất, ham muốn giác quan bị từ bỏ, sân hận bị từ bỏ, uể oảibuồn ngủ (hôn trầm thụy miên) bị từ bỏ, bồn chồnhối hận (trạo cử hối quá) [295] bị từ bỏ, và hoài nghi bị từ bỏ; và có sự hiện khởi của khởi tạo ý nghĩ, duy trì quan sát, phấn chấn, dễ chịu, và tâm hợp thành một. Đó là cách trong Thiền-na thứ nhất năm chi phần bị từ bỏ và năm chi phần được thành tựu.”

(Thiền-na thứ nhất)

– Này Hiền giả, thế nào là Thiền thứ nhất?

– Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Thiền thứ nhất.

– Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có bao nhiêu chi phần?

– Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất, có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần như vậy.

– Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ bao nhiêu chi phần và thành tựu bao nhiêu chi phần?

– Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần và thành tựu năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất từ bỏ tham dục, từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, như vậy Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần, và thành tựu năm chi phần.

(NĂM GIÁC QUAN)

21. “Thưa hiền giả, năm giác quan (căn) này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, và không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, đó là: giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, và giác quan thân. Nay đối với năm giác quan này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, thì cái gì là nơi quy về của chúng, cái gì kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của chúng?”

“Thưa hiền giả, năm giác quan này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, và không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, đó là: giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, và giác quan thân. Nay năm giác quan này, mỗi giác quan có một phạm vi riêng, một lĩnh vực riêng, không kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của nhau, có Giác quan Não (ý căn) là nơi quy về của chúng, và Giác quan Não kinh nghiệm phạm vi và lĩnh vực của chúng.”

22. “Thưa hiền giả, đối với năm giác quan này - tức là giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, và giác quan thân - năm giác quan này nương tựa vào cái gì?”

“Thưa hiền giả, đối với năm giác quan này - tức là giác quan mắt, giác quan tai, giác quan mũi, giác quan lưỡi, và giác quan thân - năm giác quan này nương tựa vào sức sống.”

“Thưa hiền giả, sức sống nương tựa vào cái gì?”

“Sức sống nương tựa vào hơi ấm.”

“Thưa hiền giả, hơi ấm nương tựa vào cái gì?”

“Hơi ấm nương tựa vào sức sống.”

“Vừa rồi, thưa hiền giả, chúng tôi hiểu tôn giả Sāriputta đã nói: ‘Sức sống nương tựa vào hơi ấm’; và bây giờ chúng tôi hiểu tôn giả nói: ‘Hơi ấm nương tựa vào sức sống’. Nên hiểu ý nghĩa của những tuyên bố này như thế nào?”

“Trong trường hợp đó, thưa hiền giả, tôi sẽ đưa ra một ví dụ, vì một số người trí ở đây hiểu ý nghĩa của một lời nói thông qua ví dụ. Giống như khi một ngọn đèn dầu đang cháy, ánh sáng của nó được thấy nương vào ngọn lửa và ngọn lửa của nó được thấy nương vào ánh sáng; cũng vậy, sức sống nương tựa vào hơi ấm và hơi ấm nương tựa vào sức sống.”

(Năm căn)

– Này Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới khác nhau, có hành giới khác nhau, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau. Tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có thọ lãnh cảnh giới, hành giới lẫn nhau, cái gì làm sở y cho chúng, cái gì lãnh thọ cảnh giới, hành giới của chúng?

– Nầy Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lãnh thọ cảnh giới, hành giới lẫn nhau, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau, ý làm sở y cho chúng, và ý lãnh thọ cảnh giới và hành giới của chúng.

– Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên gì mà chúng an trú?

– Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên tuổi thọ (Ayu) mà chúng an trú.

– Này Hiền giả, tuổi thọ do duyên gì mà an trú?

– Tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú.

– Này Hiền giả, hơi nóng do duyên gì mà an trú?

– Hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.

– Này Hiền giả, nay chúng tôi được biết từ lời nói của Tôn giả Sariputta là tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú. Nay chúng tôi lại được biết từ lời nói của Tôn giả Sariputta là hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú. Này Hiền giả, như thế nào, cần phải hiểu ý nghĩa lời nói này?

– Này Hiền giả, tôi sẽ cho một ví dụ. Nhờ ví dụ, ở đây, một số người có trí sẽ hiểu ý nghĩa lời nói. Này Hiền giả, ví như khi một cây đèn dầu được thắp sáng, duyên tim đèn, ánh sáng được hiện ra, do duyên ánh sáng, tim đèn được thấy. Cũng vậy này Hiền giả, tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú, và hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.

(CÁC HOẠT ĐỘNG DUY TRÌ SỰ SỐNG)

23. “Thưa hiền giả, các hoạt động duy trì sự sống (hành/saṅkhārā) có phải là các trạng thái Cảm giác không, hay các hoạt động duy trì sự sống là một chuyện và các trạng thái Cảm giác là chuyện khác?” [296]

“Thưa hiền giả, các hoạt động duy trì sự sống không phải là các trạng thái Cảm giác. Nếu các hoạt động duy trì sự sống là các trạng thái Cảm giác, thì khi một vị tỳ-kheo đã chứng sự chấm dứt của Nhận ThứcCảm giác, vị ấy sẽ không được thấy là xuất khỏi trạng thái đó. Bởi vì các hoạt động duy trì sự sống là một chuyện và các trạng thái Cảm giác là chuyện khác, nên khi một vị tỳ-kheo đã chứng sự chấm dứt của Nhận ThứcCảm giác, vị ấy có thể được thấy là xuất khỏi trạng thái đó.”

24. “Thưa hiền giả, khi thân này thiếu vắng bao nhiêu pháp thì nó bị quăng bỏ và lìa bỏ, nằm vô tri giác như một khúc gỗ?”

“Thưa hiền giả, khi thân này thiếu vắng ba pháp - sức sống, hơi ấm, và Nhận Biết Vô Thức - thì nó bị quăng bỏ và lìa bỏ, nằm vô tri giác như một khúc gỗ.”

25. “Thưa hiền giả, sự khác biệt giữa một người đã chết, đã mệnh chung, và một vị tỳ-kheo đã chứng sự chấm dứt của Nhận ThứcCảm giác là gì?”

“Thưa hiền giả, đối với người đã chết, đã mệnh chung, các hoạt động (hành) của thân đã chấm dứt và lắng xuống, các hoạt động của lời nói đã chấm dứt và lắng xuống, các hoạt động của tâm đã chấm dứt và lắng xuống, sức sống đã cạn kiệt, hơi ấm đã tiêu tan, và các giác quan đã hoàn toàn hoại diệt. Đối với vị tỳ-kheo đã chứng sự chấm dứt của Nhận ThứcCảm giác, các hoạt động của thân đã chấm dứt và lắng xuống, các hoạt động của lời nói đã chấm dứt và lắng xuống, các hoạt động của tâm đã chấm dứt và lắng xuống, nhưng sức sống chưa cạn kiệt, hơi ấm chưa tiêu tan, và các giác quan trở nên cực kỳ trong sáng. Đây là sự khác biệt giữa một người đã chết, đã mệnh chung, và một vị tỳ-kheo đã chứng sự chấm dứt của Nhận ThứcCảm giác.”

(Pháp thọ hành)

– Này Hiền giả, những pháp thọ hành (Ayusankhara) này là những pháp được cảm thọ (Vedaniya) này, hay những pháp thọ hành này khác với những pháp được cảm thọ này?

– Này Hiền giả, những pháp thọ hành này không phải là những pháp được cảm thọ này. Này Hiền giả, nếu những pháp thọ hành này là những pháp được cảm thọ này thì không thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định. Này Hiền giả, vì rằng những pháp thọ hành khác, những pháp được cảm thọ khác nên có thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định.

– Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào có bao nhiêu pháp được từ bỏ, thì thân này được nằm xuống, quăng đi, vất bỏ, như một khúc gỗ vô tri?

– Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào ba pháp được từ bỏ: Tuổi thọ, hơi nóng và thức, thì thân này nằm xuống, được quăng đi, vất bỏ như một khúc gỗ vô tri.

– Này Hiền giả, có sự sai khác gì giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định?

– Này Hiền giả, vật chết, mạng chung này, thân hành của nó chấm dứt, dừng lại, khẩu hành chấm dứt, dừng lại, tâm hành chấm dứt, dừng lại, tuổi thọ diệt tận, hơi nóng tiêu diệt, các căn bị bại hoại. Còn vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định, thì thân hành của vị này được chấm dứt, được dừng lại, khẩu hành được chấm dứt, được dừng lại, tâm hành được chấm dứt, được dừng lại, nhưng tuổi thọ không diệt tận, hơi nóng không tiêu diệt, các căn được sáng suốt. Này Hiền giả, như vậy là sự sai khác giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định.

(TÂM GIẢI THOÁT)

26. “Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để đạt được tâm giải thoát Không Dễ Chịu Không Khó Chịu?”

“Thưa hiền giả, có bốn điều kiện để đạt được tâm giải thoát Không Dễ Chịu Không Khó Chịu: ở đây, với sự từ bỏ dễ chịukhó chịu, và với sự biến mất trước đó của thanh thản (hỷ/somanassa) và ưu phiền (ưu/domanassa), một vị tỳ-kheo chứng và trú Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu và có sự thanh tịnh của Niệm thiện (chánh niệm) nhờ tâm quân bình (xả). Đây là bốn điều kiện để đạt được tâm giải thoát Không Dễ Chịu Không Khó Chịu.”

27. “Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để đạt được Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng (vô tướng tâm giải thoát)?”

“Thưa hiền giả, có hai điều kiện để đạt được Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng: không tác ý đến tất cả các hình tướng (tướng) và tác ý đến yếu tố không chạy theo hình tướng (vô tướng giới). Đây là hai điều kiện để đạt được Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng.”

28. “Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để duy trì Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng?”

“Thưa hiền giả, có ba điều kiện để duy trì Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng: [297] không tác ý đến tất cả các hình tướng, tác ý đến yếu tố không chạy theo hình tướng, và sự định tâm trước [về thời gian duy trì]. Đây là ba điều kiện để duy trì Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng.”

29. “Thưa hiền giả, có bao nhiêu điều kiện để xuất khỏi Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng?”

“Thưa hiền giả, có hai điều kiện để xuất khỏi Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng: tác ý đến tất cả các hình tướng và không tác ý đến yếu tố không chạy theo hình tướng. Đây là hai điều kiện để xuất khỏi Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng.”

30. “Thưa hiền giả, tâm giải thoát không giới hạn (vô lượng), tâm giải thoát qua cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu), tâm giải thoát qua tánh không, và Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng: những pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi, hay chúng đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi?”

"Thưa hiền giả, tâm giải thoát không giới hạn, tâm giải thoát qua cõi Không Có Vật Gì, tâm giải thoát qua tánh không, và Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng: có một cách mà theo đó các pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi, và có một cách mà theo đó chúng đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi.

31. "Thưa hiền giả, cách nào mà theo đó các pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi? Ở đây, một vị tỳ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần tâm yêu thương (từ), cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy cùng khắp trên dưới, bề ngang, bề dọc, và khắp tất cả mọi nơi, vị ấy an trú biến mãn cùng khắp thế giới với tâm thấm nhuần tâm yêu thương, quảng đại, cao thượng, không giới hạn, không hận thù và không sân hận. Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần tâm thương cảm (bi)… Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần tâm cùng vui (hỉ)… Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm thấm nhuần tâm quân bình (xả), cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư; như vậy cùng khắp trên dưới, bề ngang, bề dọc, và khắp tất cả mọi nơi, vị ấy an trú biến mãn cùng khắp thế giới với tâm thấm nhuần tâm quân bình, quảng đại, cao thượng, không giới hạn, không hận thù và không sân hận. Đây gọi là tâm giải thoát không giới hạn.

32. "Và thưa hiền giả, thế nào là tâm giải thoát qua cõi Không Có Vật Gì? Ở đây, với sự vượt qua hoàn toàn cõi Nhận Biết là Vô Tận, nhận thức rằng ‘không có vật gì cả’, một vị tỳ-kheo chứng và trú cõi Không Có Vật Gì. Đây gọi là tâm giải thoát qua cõi Không Có Vật Gì.

33. "Và thưa hiền giả, thế nào là tâm giải thoát qua tánh không? Ở đây, một vị tỳ-kheo đi đến khu rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc đến ngôi nhà trống, suy ngẫm như sau: ‘Đây là trống không, không có tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã’. [298] Đây gọi là tâm giải thoát qua tánh không.

34. "Và thưa hiền giả, thế nào là Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng? Ở đây, với sự không tác ý đến tất cả các hình tướng, một vị tỳ-kheo chứng và trú Định trong trạng thái tâm không chạy theo hình tướng (vô tướng tâm định). Đây gọi là Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng. Đây là cách mà theo đó các pháp này khác nhau về nghĩa và khác nhau về tên gọi.

35. "Và thưa hiền giả, cách nào mà theo đó các pháp này đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi? Tham là kẻ tạo ra giới hạn, sân là kẻ tạo ra giới hạn, si là kẻ tạo ra giới hạn. Nơi một vị tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những thứ này đã bị buông bỏ (xả), bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ, bị làm cho không còn hiện hữu, không còn sinh khởi trong tương lai. Trong tất cả các loại tâm giải thoát không giới hạn, bất động tâm giải thoát được tuyên bố là tối thượng. Và bất động tâm giải thoát ấy là trống không khỏi tham, trống không khỏi sân, trống không khỏi si.

36. "Tham là một cái gì đó (chướng ngại), sân là một cái gì đó, si là một cái gì đó. Nơi một vị tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những thứ này đã bị buông bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ, bị làm cho không còn hiện hữu, không còn sinh khởi trong tương lai. Trong tất cả các loại tâm giải thoát qua cõi Không Có Vật Gì, bất động tâm giải thoát được tuyên bố là tối thượng. Và bất động tâm giải thoát ấy là trống không khỏi tham, trống không khỏi sân, trống không khỏi si.

37. “Tham là kẻ tạo ra hình tướng, sân là kẻ tạo ra hình tướng, si là kẻ tạo ra hình tướng. Nơi một vị tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, những thứ này đã bị buông bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cọ, bị làm cho không còn hiện hữu, không còn sinh khởi trong tương lai. Trong tất cả các loại Giải thoát qua tâm không chạy theo hình tướng, bất động tâm giải thoát được tuyên bố là tối thượng. Và bất động tâm giải thoát ấy là trống không khỏi tham, trống không khỏi sân, trống không khỏi si. Đây là cách mà theo đó các pháp này đồng nghĩa và chỉ khác nhau về tên gọi.”

Đó là những gì tôn giả Sāriputta đã nói. Tôn giả Mahā Kotthita hài lòng và hoan hỷ với lời của tôn giả Sāriputta.

(Tâm giải thoát)

– Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc?

– Này Hiền giả, có bốn duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ- kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, do bốn duyên này mà chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc.

– Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát?

– Này Hiền giả, có hai duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát: không có tác ý nhất thiết tướng và tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà chứng nhập vô tướng tâm giải thoát.

– Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát?

– Này Hiền giả, có ba duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát: không tác ý nhất thiết tướng, tác ý vô tướng giới, và một sự sửa soạn trước. Này Hiền giả, do ba duyên này mà an trú vô tướng tâm giải thoát.

– Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát?

– Này Hiền giả, có hai duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát: tác ý nhất thiết tướng và không tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà xuất khởi vô tướng tâm giải thoát.

– Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát này, vô sở hữu tâm giải thoát này, không tâm giải thoát này và vô tướng tâm giải thoát này, những pháp này nghĩa sai biệt và danh sai biệt, hay nghĩa đồng nhất và danh sai biệt.

– Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát và vô tướng tâm giải thoát này, có một pháp môn, này Hiền giả, do pháp môn này, các pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt. Và này Hiền giả, lại có một pháp môn, do pháp môn này, các pháp ấy có nghĩa đồng nhất và danh sai biệt. Này Hiền giả, thế nào là có pháp môn, do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa sai khác và có danh sai khác? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô lượng tâm giải thoát.

Và này Hiền giả, thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Vô sở hữu tâm giải thoát.

Và này Hiền giả, thế nào là không tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống và suy nghĩ như sau: “Ðây trống không, không có tự ngã hay không có ngã sở”. Như vậy, này Hiền giả, gọi là không tâm giải thoát.

Và này Hiền giả, thế nào là vô tướng tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo không tác ý với nhất thiết tướng, đạt và an trú vô tướng tâm định. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô tướng tâm giải thoát. Như vậy là có pháp môn và do pháp môn này những pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt.

Và này Hiền giả, thế nào là có pháp môn và do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa đồng nhất nhưng danh sai biệt. Tham, này Hiền giả, là nguyên nhân của hạn lượng; sân là nguyên nhân của hạn lượng; si là nguyên nhân của hạn lượng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc và tham, sân, si này đã được chặt tận gốc như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô lượng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát không có tham, không có sân, không có si.

Tham, này Hiền giả, là một vật gì (chướng ngại), sân là một vật gì (chướng ngại), si là một vật gì (chướng ngại). Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này đã được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô sở hữu, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát ấy không có tham, không có sân, không có si.

Tham, này Hiền giả, là nhân tạo ra tướng, sân là nhân tạo ra tướng, si là nhân tạo ra tướng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô tướng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát này không có tham, không có sân, không có si. Như vậy, này Hiền giả, là pháp môn này, những pháp ấy là đồng nghĩa nhưng danh sai biệt.

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Tôn giả Maha Kotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta dạy.

-ooOoo-