(THÂN KIẾN)
2. “Thưa sư cô, người ta thường nói ‘thân kiến, thân kiến’. Vậy Đức Thế Tôn gọi cái gì là thân kiến (sakkāya - personality - quan niệm sai lầm về một cái ‘tôi’ hay ‘ngã’ thường hằng liên quan đến năm uẩn)?”
“Này hiền hữu Visākha, năm uẩn bị chấp thủ (pañcupādānakkhandhā - five aggregates subject to clinging - năm nhóm yếu tố tạo thành kinh nghiệm bị dính mắc vào) này được Đức Thế Tôn gọi là thân kiến; đó là: sắc uẩn bị chấp thủ, thọ uẩn bị chấp thủ, tưởng uẩn bị chấp thủ, hành uẩn bị chấp thủ, và thức uẩn bị chấp thủ. Năm uẩn bị chấp thủ này được Đức Thế Tôn gọi là thân kiến.” [^460]
Nói: “Lành thay, thưa sư cô,” cư sĩ Visākha hoan hỷ và vui mừng với lời của tỳ kheo ni Dhammadinnā. Rồi ông hỏi thêm một câu nữa:
3. “Thưa sư cô, người ta thường nói ‘nguồn gốc của thân kiến, nguồn gốc của thân kiến’. Vậy Đức Thế Tôn gọi cái gì là nguồn gốc của thân kiến (sakkāya-samudaya - origin of personality - nguyên nhân làm phát sinh thân kiến)?”
“Này hiền hữu Visākha, đó chính là tham ái (taṇhā - craving - sự khao khát, ham muốn mãnh liệt), cái dẫn đến tái sinh, đi cùng với hỷ lạc và tham muốn, ưa thích cái này cái kia; đó là: dục ái (kāma-taṇhā - craving for sensual pleasures), hữu ái (bhava-taṇhā - craving for being), và phi hữu ái (vibhava-taṇhā - craving for non-being). Đây được Đức Thế Tôn gọi là nguồn gốc của thân kiến.”
4. “Thưa sư cô, người ta thường nói ‘sự đoạn diệt thân kiến, sự đoạn diệt thân kiến’. Vậy Đức Thế Tôn gọi cái gì là sự đoạn diệt thân kiến (sakkāya-nirodha - cessation of personality - sự chấm dứt hoàn toàn thân kiến)?”
“Này hiền hữu Visākha, đó là sự phai nhạt và đoạn diệt không còn dư tàn, sự từ bỏ, xả ly, buông bỏ, và khước từ (virāga-nirodha, cāga, paṭinissagga, mutti, anālaya - fading away and cessation without remainder, giving up, relinquishing, release, non-reliance - sự chấm dứt hoàn toàn không còn dấu vết, sự cho đi, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự không nương tựa) chính tham ái đó. Đây được Đức Thế Tôn gọi là sự đoạn diệt thân kiến.”
5. “Thưa sư cô, người ta thường nói ‘con đường đưa đến sự đoạn diệt thân kiến, con đường đưa đến sự đoạn diệt thân kiến’. Vậy Đức Thế Tôn gọi cái gì là con đường đưa đến sự đoạn diệt thân kiến (sakkāya-nirodha-gāminī paṭipadā - the path leading to the cessation of personality - con đường thực hành để chấm dứt thân kiến)?”
“Này hiền hữu Visākha, đó chính là Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) (ariya aṭṭhaṅgika magga - Noble Eightfold Path - con đường tám yếu tố đúng đắn dẫn đến giải thoát) này; đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.”
6. “Thưa sư cô, sự chấp thủ (upādāna - clinging/attachment - sự bám víu, dính mắc vào các đối tượng) đó có giống với năm uẩn bị chấp thủ này không, hay sự chấp thủ là một cái gì đó tách rời khỏi năm uẩn bị chấp thủ?”
“Này hiền hữu Visākha, sự chấp thủ đó không giống với năm uẩn bị chấp thủ này, [300] cũng không phải sự chấp thủ là một cái gì đó tách rời khỏi năm uẩn bị chấp thủ. Chính sự ham muốn và tham ái (chanda-rāga - desire and lust - sự ham muốn và đam mê) đối với năm uẩn bị chấp thủ mới là sự chấp thủ ở đó.” [^461]