Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 45. Kinh Tiểu Về Cách Thọ Trì Pháp

(Cūḷadhammasamādāna Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), khu vườn của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Ngài gọi các tỳ kheo (monks-bhikkhus-nhà sư): “Này các tỳ kheo”. - “Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Thế Tôn nói điều này:

2. "Này các tỳ kheo, có bốn trạng thái thọ trì pháp này. Bốn cách ấy là gì? Có cách thọ trì pháp hiện tại thì vui sướng nhưng tương lai kết quả là đau khổ. Có cách thọ trì pháp hiện tại thì đau khổ và tương lai kết quả cũng là đau khổ. Có cách thọ trì pháp hiện tại thì đau khổ nhưng tương lai kết quả là vui sướng. Có cách thọ trì pháp hiện tại thì vui sướng và tương lai kết quả cũng là vui sướng.

3. "Này các tỳ kheo, thế nào là cách thọ trì pháp hiện tại thì vui sướng nhưng tương lai kết quả là đau khổ? Này các tỳ kheo, có những vị sa môn và bà la môn chủ trương và thấy rằng: ‘Không có lỗi gì trong các dục lạc (sensual pleasures - niềm vui thích qua các giác quan)’. Họ đắm mình ngấu nghiến trong dục lạc và vui chơi với các nữ du sĩ búi tóc. Họ nói rằng: ‘Các vị sa môn và bà la môn tốt lành kia thấy mối nguy hại tương lai nào trong dục lạc mà lại nói về việc từ bỏ dục lạc và mô tả sự hiểu biết toàn diện về dục lạc? Thật dễ chịu làm sao khi chạm vào cánh tay mềm mại, mịn màng, tơ non của nữ du sĩ này!’ Cứ thế, họ đắm mình ngấu nghiến trong dục lạc, và sau khi làm vậy, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ tái sanh vào cõi thiếu thốn, vào nơi đến bất hạnh, vào đọa xứ (perdition - nơi khổ đau, sa đọa), thậm chí vào địa ngục. Ở đó, họ cảm nhận những cảm giác đau đớn, giày vò, nhức nhối. Họ nói rằng: ‘Đây chính là mối nguy hại tương lai mà các vị sa môn và bà la môn tốt lành kia đã thấy trong dục lạc khi họ nói về việc từ bỏ dục lạc và mô tả sự hiểu biết toàn diện về dục lạc. Chính vì dục lạc, [306] do dục lạc, mà giờ đây chúng ta đang cảm nhận những cảm giác đau đớn, giày vò, nhức nhối.’

4. "Này các tỳ kheo, ví như vào tháng cuối mùa nóng, một quả dây leo māluvā nứt ra và một hạt dây leo māluvā rơi xuống gốc cây sāla (sala). Khi ấy, vị thiên nhân (deity - vị trời, thần linh) sống trong cây đó trở nên sợ hãi, lo lắng, kinh hoàng; nhưng bạn bè, người thân, quyến thuộc của vị ấy – các vị thiên nhân ở vườn, ở công viên, ở cây cối, và các vị thiên nhân trú ngụ trong dược thảo, cỏ cây, và các cây chúa tể rừng xanh – tụ tập lại và trấn an vị thiên nhân đó rằng: ‘Thưa ngài, đừng sợ, đừng sợ. Có lẽ con công sẽ nuốt hạt dây leo māluvā đó, hoặc thú rừng sẽ ăn nó, hoặc lửa rừng sẽ thiêu rụi nó, hoặc tiều phu sẽ mang nó đi, hoặc mối sẽ ăn nó, hoặc có thể nó không nảy mầm được.’ Nhưng không con công nào nuốt hạt giống đó, không thú rừng nào ăn nó, không lửa rừng nào thiêu rụi nó, không tiều phu nào mang nó đi, không mối nào ăn nó, và thực tế là nó có thể nảy mầm. Rồi, được thấm ướt bởi mưa từ đám mây mang mưa, hạt giống đó đúng thời điểm nảy mầm và tua dây leo māluvā mềm mại, mịn màng, tơ non quấn quanh cây sāla đó. Khi ấy, vị thiên nhân sống trong cây sāla nghĩ rằng: ‘Bạn bè, người thân, quyến thuộc của ta… đã thấy mối nguy hại tương lai nào trong hạt dây leo māluvā đó khi họ tụ tập lại và trấn an ta như vậy? Thật dễ chịu làm sao khi chạm vào tua dây leo māluvā mềm mại, mịn màng, tơ non này!’ Rồi dây leo bao phủ cây sāla, tạo thành một tán che trên ngọn, phủ một bức màn xung quanh, và làm nứt cả những cành chính của cây. Vị thiên nhân sống trong cây đó lúc ấy mới nhận ra: ‘Đây chính là mối nguy hại tương lai mà họ đã thấy trong hạt dây leo māluvā đó. [307] Chính vì hạt dây leo māluvā đó mà giờ đây ta đang cảm nhận những cảm giác đau đớn, giày vò, nhức nhối.’

"Cũng vậy, này các tỳ kheo, có những vị sa môn và bà la môn chủ trương và thấy rằng: ‘Không có lỗi gì trong các dục lạc.’… Họ nói rằng: ‘Đây chính là mối nguy hại tương lai mà các vị sa môn và bà la môn tốt lành kia đã thấy trong dục lạc… mà giờ đây chúng ta đang cảm nhận những cảm giác đau đớn, giày vò, nhức nhối.’ Đây gọi là cách thọ trì pháp hiện tại thì vui sướng nhưng tương lai kết quả là đau khổ.

5. "Và này các tỳ kheo, thế nào là cách thọ trì pháp hiện tại thì đau khổ và tương lai kết quả cũng là đau khổ? Ở đây, này các tỳ kheo, có người đi lõa thể, từ bỏ quy ước xã hội, liếm tay, được mời không đến, được bảo dừng không dừng… (như trong Kinh số 12, đoạn 45) [308]… Người ấy sống theo đuổi việc thực hành tắm nước ba lần mỗi ngày kể cả buổi tối. Cứ như thế, bằng nhiều cách khác nhau, người ấy sống theo đuổi việc thực hành hành hạ và ép xác (mortifying the body - làm khổ thân xác). Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sanh vào cõi thiếu thốn, vào nơi đến bất hạnh, vào đọa xứ, thậm chí vào địa ngục. Đây gọi là cách thọ trì pháp hiện tại thì đau khổ và tương lai kết quả cũng là đau khổ.

6. "Và này các tỳ kheo, thế nào là cách thọ trì pháp hiện tại thì đau khổ nhưng tương lai kết quả là vui sướng? Ở đây, này các tỳ kheo, có người tự tánh vốn nhiều tham ái (lust - ham muốn mạnh mẽ), và người ấy thường xuyên trải qua đau khổ và sầu muộn sinh khởi từ tham ái; tự tánh vốn nhiều sân hận (hate - ghét bỏ, thù hằn mạnh mẽ), và người ấy thường xuyên trải qua đau khổ và sầu muộn sinh khởi từ sân hận; tự tánh vốn nhiều si mê (delusion - sự mê mờ, không hiểu biết đúng sự thật), và người ấy thường xuyên trải qua đau khổ và sầu muộn sinh khởi từ si mê. Tuy vậy, trong đau khổ và sầu muộn, khóc lóc với gương mặt đẫm lệ, người ấy vẫn sống đời sống phạm hạnh (holy life - đời sống trong sạch, hướng đến giải thoát) hoàn hảo và thanh tịnh. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sanh vào nơi đến hạnh phúc, thậm chí vào cõi trời (heavenly world - cảnh giới an vui của chư thiên). Đây gọi là cách thọ trì pháp hiện tại thì đau khổ nhưng tương lai kết quả là vui sướng.

7. “Và này các tỳ kheo, thế nào là cách thọ trì pháp hiện tại thì vui sướng và tương lai kết quả cũng là vui sướng? Ở đây, này các tỳ kheo, có người tự tánh vốn không nhiều tham ái, và người ấy không thường xuyên trải qua đau khổ và sầu muộn sinh khởi từ tham ái; tự tánh vốn không nhiều sân hận, và người ấy không thường xuyên trải qua đau khổ và sầu muộn sinh khởi từ sân hận; tự tánh vốn không nhiều si mê, [309] và người ấy không thường xuyên trải qua đau khổ và sầu muộn sinh khởi từ si mê. Hoàn toàn ly dục (secluded from sensual pleasures - xa lìa các ham muốn giác quan), ly bất thiện pháp (secluded from unwholesome states - xa lìa các trạng thái tâm xấu ác), người ấy chứng và trú thiền thứ nhất (first jhāna - tầng thiền định thứ nhất)… Với sự chấm dứt tầm và tứ (applied and sustained thought - sự suy nghĩ hướng tâm và sự duy trì tâm trên đối tượng), người ấy chứng và trú thiền thứ hai… Với sự phai nhạt của hỷ (rapture - niềm vui thích, phấn khởi)… người ấy chứng và trú thiền thứ ba… Với sự xả bỏ lạc và khổ (abandoning of pleasure and pain - từ bỏ cảm giác dễ chịu và khó chịu)… người ấy chứng và trú thiền thứ tư… Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người ấy tái sanh vào nơi đến hạnh phúc, thậm chí vào cõi trời. Đây gọi là cách thọ trì pháp hiện tại thì vui sướng và tương lai kết quả cũng là vui sướng. Này các tỳ kheo, đó là bốn cách thọ trì pháp.”

8. Thế Tôn đã nói như vậy. Các tỳ kheo đã hoan hỷ và tín thọ lời Thế Tôn dạy.

45. TIỂU KINH PHÁP HÀNH

45. TIỂU KINH PHÁP HÀNH (Cùladhammasamàdàna Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo !

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Những vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:

– Này các Tỷ-kheo, có bốn loại pháp hành này. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại lạc, và tương lai quả báo cũng lạc.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là loại pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ? Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn thuyết như sau, có sở kiến như sau: “Không có lỗi trong các dục”. Những vị này đắm mình trong các dục, hoan lạc với các cô gái lang thang có tóc quấn trên đầu. Họ nói như sau: “Làm sao các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn kia thấy sự sợ hãi tương lai của các dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Khoái lạc thay, sự xúc chạm với bàn tay có lông mịn của các cô gái lang thang trẻ trung này!” Sau khi đắm mình trong các dục, khi thân hoại mạng chung, các vị ấy phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ở đây, họ cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt. Họ nói như sau: “Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự sợ hãi tương lai của các dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Nhưng chúng ta, do các dục này làm nhân, do các dục này làm duyên, phải cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt”.

Này các Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa nóng, một bẹ hột giống cây leo nứt ra và này các Tỷ-kheo, một hột giống cây leo rơi dưới gốc một cây sala. Này các Tỷ-kheo, các vị thần ở trên cây sala ấy lo sợ, run sợ, và hoảng sợ. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống các vị thần trên cây sala ấy, thần vườn, thần rừng, thần cây, thần các dược thảo, cỏ, rừng hội họp lại, an ủi như sau: “Này Tôn giả, chớ có sợ hãi! Này Tôn giả, chớ có sợ hãi! Vì hạt giống ấy, con khổng tước có thể nuốt, con nai có thể ăn, lửa rừng có thể đốt, người làm rừng có thể nhặt đi, các loài mối có thể ăn, hay hạt giống có thể không nẩy mầm”. Nhưng này các Tỷ-kheo, hạt giống ấy, con khổng tước không nuốt, con nai không ăn, lửa rừng không đốt, người làm rừng không nhặt đi, các loài mối không ăn, và hạt giống có thể nẩy mầm. Ðược mưa lớn nhờ các làn mây đúng mùa, hạt giống ấy được lớn lên, và một dây leo trẻ, mềm mại, có lông, chậm chậm mọc lên và bám dính cây sala ấy. Này các Tỷ-kheo, các vị thần trên cây sala ấy suy nghĩ như sau: “Không hiểu vì sao các Tôn giả bạn bè thân hữu, bà con huyết thống ấy, các thần vườn, thần rừng, thần cây, các vị thần trên các dược thảo, cỏ, rừng, thấy sự sợ hãi tương lai trong hột giống, hội họp lại, an ủi như sau: “Này Tôn giả, chớ có sợ hãi! Này Tôn giả chớ có sợ hãi! Vì hột giống ấy, con khổng tước có thể nuốt, con nai có thể ăn, lửa rừng có thể đốt, những người làm rừng có thể nhặt đi, các loài mối có thể ăn, hay hạt giống có thể không nẩy mầm”. Khoái lạc thay sự xúc chạm của cây leo trẻ trung mềm mại, có lông đang bám vào!” Cây leo ấy có thể bao trùm cây sala ấy, sau khi bao trùm, liền làm thành một tàn che trên cây ấy, và ở dưới khởi lên cả một lùm cây rậm rạp. Khi ở dưới khởi lên cả một lùm cây rậm rạp, các cành lớn của cây sala ấy có thể bị bóp nghẹt. Rồi này các Tỷ-kheo, các thần trú trên cây sa la ấy suy như sau: "Chính vì thấy sự sợ hãi tương lai này, trong hột giống cây leo ấy mà những Tôn giả, bạn bè thân hữu, bà con huyết thống ấy, các thần vườn, thần rừng, thần cây, các vị thần ở trên các dược thảo, cỏ, rừng, đã hội họp lại và an ủi như sau: "Này Tôn giả chớ có sợ hãi! Này Tôn giả, chớ sợ hãi! Vì hạt

giống ấy, con khổng tước có thể nuốt, con nai có thể ăn, lửa rừng có thể đốt, những người làm rừng có thể nhặt đi, các loài mối có thể ăn, hay hạt giống có thể không nẩy mầm". Và nay ta, vì nguyên nhân hạt giống cây leo, cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt".

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như sau, có sở kiến như sau: “Không có lỗi trong các dục”. Những vị này đắm mình trong các dục, họ hoan lạc với các cô gái lang thang có tóc quấn trên đầu. Họ nói như sau: “Làm sao các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy thấy sự sợ hãi tương lai của các dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Khoái lạc thay, sự xúc chạm với bàn tay có lông mịn của cô gái lang thang trẻ trung này!” Sau khi đắm mình trong các dục, khi thân hoại mạng chung, họ phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ở đây, họ cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt. Họ nói như sau: “Các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy thấy sự sợ hãi tương lai của các dục, nói đến sự đoạn trừ các dục, nêu lên sự hiểu biết về các dục. Nhưng chúng ta, vì nhân các dục này, vì duyên các dục này, phải cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt”. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ? Ở đây, này các Tỷ- kheo, có người sống lõa thể, sống phóng túng, không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng lại, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo, không nhận đồ ăn đặt tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men, cháo cám. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại bảy nhà, vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivara, ăn da vụn, ăn cám, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tikitaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người tập tục sống nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi, là người ngồi chò hỏ, sống theo hạnh ngồi chò hỏ một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dấu thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy, sống ăn các uế vật, theo hạnh ăn các uế vật, sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy, vị ấy sống theo hạnh hành hạ xác thân dưới nhiều hình thức như vậy. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự tánh sanh ra quá nặng về tham ái, luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do tham ái sanh; có người tự tánh sanh ra quá nặng về sân hận, luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do sân hận sanh; có người tự tánh sanh ra quá nặng về si mê, luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do si mê sanh. Với khổ và với ưu, với mặt đầy nước mắt và khóc than, vị ấy sống theo phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc? Ở đây, này các Tỷ- kheo, có người tự tánh sanh ra không quá nặng về tham ái, không luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do tham ái sanh; có người tự tánh sanh ra không quá nặng về sân hận, không luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do sân hận sanh; có người tự tánh sanh ra không quá nặng về si mê, không luôn luôn cảm thọ những cảm giác khổ ưu do si mê sanh. Vị ấy ly dục, ly các pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ; diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm; ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba; xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc. Này các Tỷ-kheo, như vậy là bốn loại pháp hành.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Nhà sư Phật giáo đã thọ giới cụ túc (giới luật đầy đủ của một vị sư).
  • dục lạc / kāma / sensual pleasures: Niềm vui, sự thích thú phát sinh từ sự tiếp xúc của các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) với đối tượng của chúng (hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, vật chạm). Thường mang ý nghĩa tiêu cực trong đạo Phật vì dẫn đến dính mắc và khổ đau.
  • đọa xứ / apāya / perdition, state of deprivation: Cảnh giới khổ đau, nơi chúng sanh tái sanh do ác nghiệp, bao gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la.
  • thiên nhân / deva / deity: Chúng sanh sống ở các cõi trời, có phước báo và tuổi thọ dài hơn con người, nhưng vẫn còn trong vòng luân hồi sinh tử.
  • ép xác / attakilamathanuyoga / self-mortification: Sự hành hạ, làm khổ thân xác với niềm tin sai lầm rằng điều đó dẫn đến thanh tịnh hay giải thoát. Đức Phật đã từ bỏ lối tu khổ hạnh này.
  • tham ái / rāga (hoặc lobha) / lust, greed: Sự ham muốn, thèm khát mạnh mẽ đối với các đối tượng dục lạc hoặc sự tồn tại. Một trong ba gốc rễ của bất thiện (tham, sân, si).
  • sân hận / dosa (hoặc paṭigha) / hate, aversion: Sự ghét bỏ, chống đối, thù hằn đối với người hoặc vật không vừa ý. Một trong ba gốc rễ của bất thiện.
  • si mê / moha (hoặc avijjā) / delusion, ignorance: Sự mê mờ, không thấy biết đúng sự thật về bản chất của thực tại (vô thường, khổ, vô ngã). Gốc rễ sâu xa nhất của khổ đau và luân hồi.
  • phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Đời sống trong sạch, cao thượng, thường bao gồm việc giữ giới, tu tập thiền định và trí tuệ, hướng đến mục tiêu giải thoát khổ đau (Niết-bàn).
  • cõi trời / sagga / heavenly world: Cảnh giới an vui, hạnh phúc nơi các vị thiên nhân (deva) cư ngụ, là kết quả của các thiện nghiệp. Tuy nhiên, vẫn thuộc trong vòng luân hồi, chưa phải là giải thoát cuối cùng.
  • ly dục / vivicceva kāmehi / secluded from sensual pleasures: Sự xa lìa, tách khỏi ham muốn đối với các đối tượng của năm giác quan. Đây là bước đầu tiên và điều kiện cần thiết để nhập thiền định.
  • ly bất thiện pháp / vivicca akusalehi dhammehi / secluded from unwholesome states: Sự xa lìa, tách khỏi các trạng thái tâm tiêu cực, xấu ác như tham, sân, si, nghi ngờ, trạo cử (dao động), hôn trầm (buồn ngủ, lừ đừ). Điều kiện cần thiết để nhập thiền định.
  • thiền / jhāna / meditative absorption: Trạng thái tâm định tĩnh, vắng lặng, tập trung cao độ đạt được qua tu tập thiền định (samatha). Có bốn tầng thiền sắc giới (rūpa jhāna) và bốn tầng thiền vô sắc giới (arūpa jhāna).
  • tầm và tứ / vitakka-vicāra / applied and sustained thought: Tầm (vitakka) là sự hướng tâm ban đầu đến đối tượng thiền. Tứ (vicāra) là sự duy trì tâm trên đối tượng đó, khảo sát đối tượng. Hai yếu tố này có mặt trong thiền thứ nhất và vắng mặt từ thiền thứ hai trở đi.
  • hỷ / pīti / rapture, joy: Niềm vui thích, phấn khởi, sung sướng mạnh mẽ phát sinh trong quá trình tu tập thiền định khi tâm bắt đầu an tĩnh. Là một yếu tố của thiền thứ nhất và thứ hai, phai nhạt dần ở thiền thứ ba.
  • lạc và khổ / sukha-dukkha / pleasure and pain (feeling): Cảm giác dễ chịu (lạc) và khó chịu (khổ) thuộc về thân hoặc tâm (thọ). Trong thiền thứ tư, cả lạc và khổ đều được xả bỏ, chỉ còn lại trạng thái xả (upekkha) và niệm thanh tịnh.