Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 56. Gửi Upāli

(Kinh Upāli - Upāli Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Nālandā, trong vườn xoài của Pāvārika.

2. Bấy giờ, Ni-kiền-tử Nātaputta đang ở tại Nālandā cùng với một hội chúng đông đảo các Ni-kiền-tử. Khi ấy, một Ni-kiền-tử tên là Dīgha Tapassi [^578] sau khi đi khất thực ở Nālandā, thọ thực xong, đã đi đến vườn xoài của Pāvārika để yết kiến Đức Thế Tôn. [372] Vị ấy chào hỏi Đức Thế Tôn, và sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình, liền đứng sang một bên. Khi vị ấy đang đứng đó, Đức Thế Tôn bảo: “Này Tapassi, có chỗ ngồi kia, nếu muốn ông cứ ngồi.”

3. Nghe vậy, Dīgha Tapassi chọn một chỗ ngồi thấp và ngồi xuống một bên. Bấy giờ Đức Thế Tôn hỏi vị ấy: “Này Tapassi, Ni-kiền-tử Nātaputta mô tả có bao nhiêu loại hành động để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác?”

“Thưa hiền giả Gotama, Ni-kiền-tử Nātaputta không quen dùng từ ‘hành động, hành động’; Ni-kiền-tử Nātaputta quen dùng từ ‘hình phạt, hình phạt.’”[^579]

“Vậy thì, này Tapassi, Ni-kiền-tử Nātaputta mô tả có bao nhiêu loại hình phạt để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác?”

“Thưa hiền giả Gotama, Ni-kiền-tử Nātaputta mô tả có ba loại hình phạt để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác; đó là: hình phạt về thân, hình phạt về lời nói, và hình phạt về ý.” [^580]

“Vậy thì, này Tapassi, hình phạt về thân là một, hình phạt về lời nói là một khác, và hình phạt về ý lại là một khác nữa sao?”

“Thưa hiền giả Gotama, hình phạt về thân là một, hình phạt về lời nói là một khác, và hình phạt về ý lại là một khác nữa.” “Này Tapassi, trong ba loại hình phạt này, đã được phân tích và phân biệt như vậy, Ni-kiền-tử Nātaputta mô tả loại hình phạt nào là đáng khiển trách nhất để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác: hình phạt về thân, hình phạt về lời nói, hay hình phạt về ý?”

“Thưa hiền giả Gotama, trong ba loại hình phạt này, đã được phân tích và phân biệt như vậy, Ni-kiền-tử Nātaputta mô tả hình phạt về thân là đáng khiển trách nhất để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác, chứ không phải hình phạt về lời nói và hình phạt về ý.”

“Ông nói là hình phạt về thân phải không, Tapassi?”

“Tôi nói là hình phạt về thân, thưa hiền giả Gotama.”

“Ông nói là hình phạt về thân phải không, Tapassi?”

“Tôi nói là hình phạt về thân, thưa hiền giả Gotama.”

“Ông nói là hình phạt về thân phải không, Tapassi?”

“Tôi nói là hình phạt về thân, thưa hiền giả Gotama.”

Như vậy, Đức Thế Tôn đã khiến Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi xác nhận quan điểm của mình đến lần thứ ba. [373]

56. KINH ƯU-BA-LY

56. KINH ƯU-BA-LY (Upàli Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Nalanda, trong rừng Pavarikamba.

Lúc bấy giờ, Nigantha Nataputta trú tại Nalanda cùng với đại chúng Nigantha (Ly Hệ Phái). Rồi Nigantha Dighatapassi (Trường Khổ Hạnh Giả), sau khi đi khất thực ở Nalanda, ăn xong, trên con đường khất thực trở về, đi đến rừng Pavarikamba, chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, nói lên những lời hỏi thăm Thế Tôn. Sau khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu, vị này đứng một bên. Thế Tôn nói với Nigantha Dighatapassi đang đứng một bên:

– Này Tapassi, có những ghế ngồi. Nếu ông muốn, hãy ngồi xuống.

Khi nghe nói vậy, Nigantha Dighatapassi lấy một ghế thấp, rồi ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn nói với Nigantha Dighatapassi đang ngồi một bên:

– Này Tapassi, Nigantha Nataputta chủ trương có bao nhiêu nghiệp để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?

– Hiền giả Gotama, Nigantha Nataputta không có thông lệ chủ trương ‘nghiệp, nghiệp’. Hiền giả Gotama, Nigantha Nataputta có thông lệ chủ trương ‘phạt, phạt’.

– Này Tapassi, Nigantha Nataputta chủ trương có bao nhiêu loại phạt để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?

– Này Hiền giả Gotama, Nigantha Nataputta chủ trương có ba loại phạt để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, tức là thân phạt, khẩu phạt, ý phạt.

– Này Tapassi, nhưng có phải thân phạt khác, khẩu phạt khác, ý phạt khác?

– Hiền giả Gotama, thân phạt khác, khẩu phạt khác, ý phạt khác.

– Này Tapassi, ba loại phạt này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Nigantha Nataputta chủ trương loại phạt nào tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, thân phạt chăng, khẩu phạt chăng, ý phạt chăng?

– Hiền giả Gotama, ba loại phạt này được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Nigantha Nataputta chủ trương thân phạt là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được.

– Này Tapassi, có phải Ông nói thân phạt?

– Hiền giả Gotama, tôi nói thân phạt.

– Này Tapassi, có phải Ông nói thân phạt?

– Hiền giả Gotama, tôi nói thân phạt.

– Này Tapassi, có phải Ông nói thân phạt?

– Hiền giả Gotama, tôi nói thân phạt.

Như vậy Thế Tôn trong cuộc đàm thoại này đã làm Nigantha Dighatapassi xác nhận cho đến lần thứ ba quan điểm (của mình).

4. Bấy giờ, Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi hỏi Đức Thế Tôn: “Còn ngài, thưa hiền giả Gotama, ngài mô tả có bao nhiêu loại hình phạt để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác?”

"Này Tapassi, Như Lai (Tathāgata - danh hiệu chỉ Đức Phật, nghĩa là ‘Người đã đến như vậy’ hoặc ‘Người đã đi như vậy’) không quen dùng từ ‘hình phạt, hình phạt’; Như Lai quen dùng từ ‘hành động, hành động (kamma - nghiệp, hành vi có chủ ý tạo ra kết quả)’. "

“Nhưng, thưa hiền giả Gotama, ngài mô tả có bao nhiêu loại hành động để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác?”

“Này Tapassi, Ta mô tả có ba loại hành động để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác: đó là, hành động về thân (thân nghiệp), hành động về lời nói (khẩu nghiệp), và hành động về ý (ý nghiệp).”

“Vậy thì, thưa hiền giả Gotama, hành động về thân là một, hành động về lời nói là một khác, và hành động về ý lại là một khác nữa sao?”

“Hành động về thân là một, này Tapassi, hành động về lời nói là một khác, và hành động về ý lại là một khác nữa.”

“Này Tapassi, trong ba loại hành động này, đã được phân tích và phân biệt như vậy, ngài mô tả loại hành động nào là đáng khiển trách nhất để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác: hành động về thân, hành động về lời nói, hay hành động về ý?” “Này Tapassi, trong ba loại hành động này, đã được phân tích và phân biệt như vậy, Ta mô tả hành động về ý là đáng khiển trách nhất để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác, chứ không phải hành động về thân và hành động về lời nói.”[^581]

“Ngài nói là hành động về ý phải không, thưa hiền giả Gotama?”

“Ta nói là hành động về ý, này Tapassi.”

“Ngài nói là hành động về ý phải không, thưa hiền giả Gotama?”

“Ta nói là hành động về ý, này Tapassi.”

“Ngài nói là hành động về ý phải không, thưa hiền giả Gotama?”

“Ta nói là hành động về ý, này Tapassi.”

Như vậy, Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi đã khiến Đức Thế Tôn xác nhận quan điểm của mình đến lần thứ ba, sau đó vị ấy đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi đến chỗ Ni-kiền-tử Nātaputta.

Khi nghe nói vậy, Nigantha Dighatapassi nói với Thế Tôn:

– Hiền giả Gotama, Hiền giả chủ trương có bao nhiêu loại phạt để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?

– Này Tapassi, Như Lai không có thông lệ chủ trương ‘phạt, phạt’. Này Tapassi, Như Lai có thông lệ chủ trương ‘nghiệp, nghiệp’.

– Hiền giả Gotama, Hiền giả chủ trương có bao nhiêu loại nghiệp để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp?

– Này Tapassi, Ta chủ trương ba loại nghiệp để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.

– Hiền giả Gotama, nhưng có phải thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác?

– Này Tapassi, thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác.

– Hiền giả Gotama, ba loại nghiệp này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Hiền giả chủ trương loại nghiệp nào tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp? Thân nghiệp chăng, khẩu nghiệp chăng, ý nghiệp chăng?

– Này Tapassi, ba loại nghiệp này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Ta chủ trương ý nghiệp là tối trọng, để tác thành ác ý, để diễn tiến ác nghiệp, thân nghiệp không bằng được, khẩu nghiệp không bằng được.

– Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?

– Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.

– Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?

– Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.

– Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?

– Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.

Như vậy Nigantha Dighatapassi trong cuộc đàm thoại này, sau khi đã làm Thế Tôn xác nhận cho đến lần thứ ba quan điểm (của mình), liền từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến chỗ Nigantha Nataputta.

5. Bấy giờ, Ni-kiền-tử Nātaputta đang ngồi cùng với một hội chúng rất đông các cư sĩ (laymen - người tại gia theo đạo) từ Bālaka, nổi bật nhất trong số đó là Upāli. Ni-kiền-tử Nātaputta thấy Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi từ xa đi tới liền hỏi: “Này Tapassi, giữa ban ngày thế này, ông từ đâu đến vậy?”

“Bạch tôn sư, con vừa từ chỗ sa môn Gotama đến.”

“Này Tapassi, ông có nói chuyện gì với sa môn Gotama không?” [374]

“Bạch tôn sư, con có nói chuyện với sa môn Gotama.”

“Cuộc nói chuyện của ông với vị ấy thế nào, Tapassi?”

Sau đó, Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi kể lại toàn bộ cuộc đối thoại của mình với Đức Thế Tôn cho Ni-kiền-tử Nātaputta nghe.

6. Nghe xong, Ni-kiền-tử Nātaputta bảo vị ấy: “Tốt lắm, tốt lắm, Tapassi! Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi đã trả lời sa môn Gotama như một đệ tử được dạy dỗ kỹ lưỡng, hiểu đúng giáo pháp của thầy mình. Hình phạt nhỏ nhặt về ý thì có đáng gì so với hình phạt thô trọng về thân? Ngược lại, hình phạt về thân mới là đáng khiển trách nhất để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác, chứ không phải hình phạt về lời nói và hình phạt về ý.”

Lúc bấy giờ, Nigantha Nataputta đang ngồi với một đại chúng gia chủ rất đông, do Upali (Ưu-ba-ly) người thuộc làng Balaka cầm đầu. Nigantha Nataputta thấy Nigantha Dighatapassi từ xa đi đến, sau khi

thấy, liền nói với Nigantha Dighatapassi:

– Này Tapassi, Ông từ đâu đi đến, trong ban ngày (nóng bức) như thế này?

– Thưa Tôn giả, con từ Sa-môn Gotama đi đến đây.

– Này Tapassi, Ông có đàm luận gì với Sa-môn Gotama không?

– Thưa Tôn giả, con cùng với Sa-môn Gotama có cuộc đàm thoại.

– Này Tapassi, cuộc đàm thoại của ông với Sa-môn Gotama như thế nào?

Rồi Nigantha Dighatapassi kể lại cho Nigantha Nataputta nghe một cách đầy đủ cuộc đàm thoại với Sa- môn Gotama. Ðược nghe vậy, Nigantha Nataputta nói với Dighatapassi:

– Tốt lành thay, tốt lành thay, Tapassi! Sa-môn Gotama đã được Nigantha Dighatapassi trả lời, một đệ tử đa văn đã hiểu đúng đắn lời dạy bậc Ðạo sư. Làm sao một ý phạt hèn kém có thể sáng chói, so sánh với thân phạt cường đại này được? Thân phạt thật là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, khẩu nghiệp không bằng được, ý nghiệp không bằng được.

7. Nghe vậy, gia chủ Upāli nói với Ni-kiền-tử Nātaputta: “Tốt lắm, tốt lắm, bạch tôn sư, về phần Dīgha Tapassi! Tôn giả Tapassi đã trả lời sa môn Gotama như một đệ tử được dạy dỗ kỹ lưỡng, hiểu đúng giáo pháp của thầy mình. Hình phạt nhỏ nhặt về ý thì có đáng gì so với hình phạt thô trọng về thân? Ngược lại, hình phạt về thân mới là đáng khiển trách nhất để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác, chứ không phải hình phạt về lời nói và hình phạt về ý. Bạch tôn sư, bây giờ con sẽ đi và bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama dựa trên luận điểm này. Nếu sa môn Gotama giữ vững trước mặt con điều mà tôn giả Dīgha Tapassi đã khiến ông ta xác nhận, thì cũng như một người đàn ông mạnh khỏe [^582] có thể nắm lông một con cừu đực lông dài mà kéo tới kéo lui, kéo vòng quanh, con cũng sẽ dùng tranh luận để kéo sa môn Gotama tới kéo lui, kéo vòng quanh. Cũng như một người thợ nấu bia khỏe mạnh có thể ném một cái sàng bia lớn vào thùng nước sâu, rồi nắm các góc mà kéo tới kéo lui, kéo vòng quanh, con cũng sẽ dùng tranh luận để kéo sa môn Gotama tới kéo lui, kéo vòng quanh. Cũng như một người trộn bia khỏe mạnh có thể nắm các góc của cái rây lọc mà lắc xuống, lắc lên, đập mạnh, con cũng sẽ dùng tranh luận để lắc sa môn Gotama xuống, [375] lắc lên, và đập mạnh. Và cũng như một con voi sáu mươi tuổi có thể lao xuống ao sâu và thích thú chơi trò giặt đay, con cũng sẽ thích thú chơi trò giặt đay với sa môn Gotama. Bạch tôn sư, con sẽ đi và bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama dựa trên luận điểm này.”

“Hãy đi đi, gia chủ, và bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama dựa trên luận điểm này. Hoặc là ta sẽ bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama, hoặc là Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi, hoặc là chính ông.”

Khi được nói vậy, gia chủ Upali thưa với Nigantha Nataputta:

– Tốt lành thay, tốt lành thay, Tôn giả Tapassi! Sa-môn Gotama đã được Tôn giả Tapassi trả lời như vậy, một đệ tử đa văn đã hiểu đúng đắn lời dạy bậc Ðạo sư. Làm sao một ý phạt hèn kém có thể sáng chói, so sánh với thân phạt cường đại này được? Thân phạt thật tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được. Thưa Tôn giả, con sẽ đi và luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này. Nếu Sa-môn Gotama làm con xác nhận như đã làm Tôn giả Tapassi xác nhận thời cũng như một người lực sĩ tay nắm chặt lông một con cừu có lông dài, có thể kéo tới, dặc lui, vần quanh; cũng vậy con sẽ dùng lời nói với lời nói, kéo tới, dặc lui, vần quanh Sa- môn Gotama. Cũng như một người lực sĩ nấu rượu, sau khi nhận chìm một thùng rượu lớn xuống hồ nước sâu, nắm một góc thùng, có thể kéo tới, dặc lui, vần quanh; cũng vậy, con dùng lời nói với lời nói, kéo tới, dặc lui, vần quanh Sa-môn Gotama. Cũng như một lực sĩ nghiện rượu sống phóng đãng, sau khi nắm góc một cái sàng, lắc qua, lắc lại, lắc xoay quanh; cũng vậy, con sẽ dùng lời nói với lời nói, lắc qua, lắc lại, lắc xoay quanh Sa-môn Gotama. Và cũng như một con voi lớn sáu mươi tuổi, sau khi lặn xuống một hồ nước sâu, lại chơi trò phun nước; cũng vậy, con nghĩ, con sẽ chơi trò chơi phun nước với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, con sẽ đi và luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này.

– Này Gia chủ, hãy đi và luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này. Vì rằng, này Gia chủ, chỉ có ta hay Nigantha Dighatapassi, hay Ông mới có thể luận chiến với Sa-môn Gotama.

8. Nghe vậy, Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi nói với Ni-kiền-tử Nātaputta: “Bạch tôn sư, con không nghĩ rằng gia chủ Upāli nên [cố gắng] bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama. Vì sa môn Gotama là một nhà ảo thuật và biết một thứ ma thuật quyến dụ (converting magic - āvaṭṭanī māyā - bùa chú có sức thu hút, lôi kéo người khác) mà ông ta dùng để thu phục đệ tử của các giáo phái khác.”

“Không thể nào, Tapassi, không thể xảy ra chuyện gia chủ Upāli lại trở thành đệ tử của sa môn Gotama; nhưng có thể, có thể xảy ra chuyện sa môn Gotama lại trở thành đệ tử của gia chủ Upāli. Hãy đi đi, gia chủ, và bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama. Hoặc là ta sẽ bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama, hoặc là Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi, hoặc là chính ông.”

Lần thứ hai… Lần thứ ba, Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi nói với Ni-kiền-tử Nātaputta: “Bạch tôn sư, con không nghĩ rằng gia chủ Upāli nên [cố gắng] bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama. Vì sa môn Gotama là một nhà ảo thuật và biết một thứ ma thuật quyến dụ mà ông ta dùng để thu phục đệ tử của các giáo phái khác.”

“Không thể nào, Tapassi, không thể xảy ra chuyện gia chủ Upāli lại trở thành đệ tử của sa môn Gotama; nhưng có thể, có thể xảy ra chuyện sa môn Gotama lại trở thành đệ tử của gia chủ Upāli. Hãy đi đi, gia chủ, và bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama. Hoặc là ta sẽ bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama, hoặc là Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi, hoặc là chính ông.”

Khi được nói vậy, Nigantha Dighatapassi nói với Nigantha Nataputta:

– Thưa Tôn giả, con không được hài lòng để Gia chủ Upali luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo.

– Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp Gia chủ Upali trở thành đệ tử của Sa- môn Gotama; có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upali. Này Gia chủ, hãy đi luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này chỉ có ta, Nigantha Dighatapassi, hay Ông mới có thể luận chiến với Sa-môn Gotama.

Lần thứ hai… (như trên)… Lần thứ ba… Nigantha Dighatapassi nói với Nigantha Nataputta:

– Thưa Tôn giả, con không được hài lòng để gia chủ Upali luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo.

– Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upali trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama! Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upali. Này Gia chủ, hãy đi luận chiến với Sa-môn Gotama trong cuộc đàm thoại này; chỉ có ta, Nigantha Dighatapassi và Ông mới có thể luận chiến với Sa-môn Gotama!

– Thưa vâng, Tôn giả.

9. “Vâng, bạch tôn sư,” gia chủ Upāli đáp, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Ni-kiền-tử Nātaputta, giữ vị ấy ở bên phải mình, rồi rời đi đến chỗ Đức Thế Tôn ở vườn xoài của Pāvārika. [376] Tại đó, sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, ông ngồi xuống một bên và hỏi Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi có đến đây không ạ?”

“Này gia chủ, Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi có đến đây.”

“Bạch Thế Tôn, ngài có nói chuyện gì với vị ấy không ạ?”

“Này gia chủ, Ta có nói chuyện với vị ấy.”

“Cuộc nói chuyện của ngài với vị ấy thế nào ạ, bạch Thế Tôn?”

Sau đó, Đức Thế Tôn kể lại toàn bộ cuộc đối thoại của mình với Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi cho gia chủ Upāli nghe.

10. Nghe xong, gia chủ Upāli nói với Đức Thế Tôn: “Tốt lắm, tốt lắm, bạch Thế Tôn, về phần Tapassi! Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi đã trả lời Đức Thế Tôn như một đệ tử được dạy dỗ kỹ lưỡng, hiểu đúng giáo pháp của thầy mình. Hình phạt nhỏ nhặt về ý thì có đáng gì so với hình phạt thô trọng về thân? Ngược lại, hình phạt về thân mới là đáng khiển trách nhất để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác, chứ không phải hình phạt về lời nói và hình phạt về ý.”

“Này gia chủ, nếu ông tranh luận trên nền tảng sự thật, chúng ta có thể trao đổi về vấn đề này.”

“Con sẽ tranh luận trên nền tảng sự thật, bạch Thế Tôn, vậy chúng ta hãy trao đổi về vấn đề này.”

Gia chủ Upali vâng đáp Nigantha Nataputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigantha Nataputta, thân hữu hướng về Nigantha Nataputta, và đi đến rừng xoài Pavarika, chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, gia chủ Upali bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, không biết Nigantha Dighatapassi có đến tại đây không?

– Này gia chủ, Nigantha Dighatapassi có đến tại đây.

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có đàm thoại với Nigantha Dighatapassi không?

– Này Gia chủ, Ta có đàm thoại với Nigantha Dighatapassi.

– Bạch Thế Tôn, cuộc đàm thoại của Thế Tôn với Nigantha Dighatapassi như thế nào?

Rồi Thế Tôn kể lại cho gia chủ Upali một cách đầy đủ cuộc đàm thoại với Nigantha Dighatapassi, Khi nghe nói vậy, gia chủ Upali bạch Thế Tôn:

– Tốt lành thay, tốt lành thay, Tôn giả Tapassi! Thế Tôn đã được Tôn giả Tapassi trả lời như vậy, một đệ tử đa văn đã hiểu đúng đắn lời dạy bậc Ðạo sư. Làm sao một ý phạt hèn kém có thể sáng chói, so sánh với thân phạt cường đại này được, vì thân phạt thật là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp? Khẩu nghiệp không bằng được, ý nghiệp không bằng được.

– Này Gia chủ, nếu Ông có thể đàm luận y cứ trên sự thật, thời ở đây, có thể có cuộc đàm thoại giữa chúng ta.

– Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây có cuộc đàm thoại giữa chúng ta.

11. “Này gia chủ, ông nghĩ sao? Giả sử có một Ni-kiền-tử bị đau đớn, khổ sở, bệnh nặng [với một căn bệnh cần chữa trị bằng nước lạnh, điều mà giới luật của ông ta cấm] và ông ta từ chối nước lạnh [dù trong tâm rất mong muốn] và chỉ dùng nước nóng [được phép] [như vậy là giữ giới về thân và lời]. Vì không có nước lạnh, ông ta có thể chết. Này gia chủ, Ni-kiền-tử Nātaputta sẽ mô tả sự tái sanh (rebirth - sự sinh lại trong một đời sống mới sau khi chết) của ông ta [diễn ra] ở đâu?”

“Bạch Thế Tôn, có những vị trời gọi là ‘ý hệ thiên’ (mind-bound gods - manobandhanikā devā - các vị trời bị trói buộc bởi tâm ý); ông ta sẽ tái sanh ở đó. Tại sao vậy? Bởi vì khi chết, ông ta vẫn còn bị trói buộc [bởi sự chấp thủ (attachment - upādāna - sự dính mắc, níu giữ, bám víu vào các đối tượng hoặc quan điểm)] trong tâm ý.”[^583]

“Này gia chủ, này gia chủ, hãy cẩn thận cách ông trả lời! Điều ông nói trước không khớp với điều ông nói sau, và điều ông nói sau cũng không khớp với điều ông nói trước. Vậy mà ông đã tuyên bố: ‘Con sẽ tranh luận trên nền tảng sự thật, bạch Thế Tôn, vậy chúng ta hãy trao đổi về vấn đề này.’”

“Bạch Thế Tôn, mặc dù Đức Thế Tôn đã nói như vậy, nhưng hình phạt về thân vẫn là đáng khiển trách nhất để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác, chứ không phải hình phạt về lời nói và hình phạt về ý.”[^584]

12. “Này gia chủ, ông nghĩ sao? [377] Giả sử có một Ni-kiền-tử tự chế ngự bằng bốn sự ngăn ngừa - được kiềm chế bởi mọi sự kiềm chế, được kìm giữ bởi mọi sự kìm giữ, được thanh lọc bởi mọi sự thanh lọc, và được xác quyết bởi mọi sự thanh lọc [^585] - nhưng khi đi tới và đi lui, ông ta lại gây ra sự sát hại nhiều sinh vật nhỏ bé. Ni-kiền-tử Nātaputta mô tả kết quả nào cho ông ta?”

“Bạch Thế Tôn, Ni-kiền-tử Nātaputta không mô tả hành động không có chủ ý (not willed - cetana - sự cố ý, tác ý) là đáng khiển trách nặng nề.”

“Nhưng nếu người đó có chủ ý thì sao, gia chủ?”

“Thì đó là đáng khiển trách nặng nề, bạch Thế Tôn.”

“Nhưng Ni-kiền-tử Nātaputta xếp chủ ý vào loại [hình phạt nào trong ba loại], gia chủ?”

“Vào hình phạt về ý, bạch Thế Tôn.”[^586]

“Này gia chủ, này gia chủ, hãy cẩn thận cách ông trả lời! Điều ông nói trước không khớp với điều ông nói sau, và điều ông nói sau cũng không khớp với điều ông nói trước. Vậy mà ông đã tuyên bố: ‘Con sẽ tranh luận trên nền tảng sự thật, bạch Thế Tôn, vậy chúng ta hãy trao đổi về vấn đề này.’”

“Bạch Thế Tôn, mặc dù Đức Thế Tôn đã nói như vậy, nhưng hình phạt về thân vẫn là đáng khiển trách nhất để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác, chứ không phải hình phạt về lời nói và hình phạt về ý.”

13. “Này gia chủ, ông nghĩ sao? Thành phố Nālandā này có thành công và thịnh vượng, có đông đúc dân cư không?”

“Vâng, bạch Thế Tôn, có ạ.”

“Này gia chủ, ông nghĩ sao? Giả sử có một người đàn ông đến đây vung gươm và nói thế này: ‘Trong một khoảnh khắc, trong một sát-na, ta sẽ biến tất cả chúng sanh trong thành phố Nālandā này thành một đống thịt, một khối thịt.’ Này gia chủ, ông nghĩ người đàn ông đó có thể làm được điều đó không?”

“Bạch Thế Tôn, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, hay thậm chí năm mươi người đàn ông cũng không thể biến tất cả chúng sanh trong thành phố Nālandā này thành một đống thịt, một khối thịt trong một khoảnh khắc hay một sát-na, huống hồ chỉ một người đàn ông tầm thường?”

“Này gia chủ, ông nghĩ sao? Giả sử có một vị sa môn hay bà la môn đến đây, sở hữu thần thông (supernormal power - iddhi - năng lực siêu nhiên do tu tập thiền định) và đạt được sự làm chủ tâm trí (mastery of mind - cetovasippatta - khả năng điều khiển tâm theo ý muốn), và vị ấy nói thế này: ‘Ta sẽ thiêu rụi thành phố Nālandā này thành tro chỉ bằng một hành động sân hận trong tâm ý (mental act of hate - manopadosa - sự bất mãn, căm ghét khởi lên trong tâm).’ Này gia chủ, ông nghĩ vị sa môn hay bà la môn như vậy có thể làm được điều đó không?” [378]

“Bạch Thế Tôn, một vị sa môn hay bà la môn như vậy, sở hữu thần thông và đạt được sự làm chủ tâm trí, có thể thiêu rụi mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, hay thậm chí năm mươi thành phố Nālandā thành tro chỉ bằng một hành động sân hận trong tâm ý, huống hồ chỉ một thành phố Nālandā tầm thường?”

“Này gia chủ, này gia chủ, hãy cẩn thận cách ông trả lời! Điều ông nói trước không khớp với điều ông nói sau, và điều ông nói sau cũng không khớp với điều ông nói trước. Vậy mà ông đã tuyên bố: ‘Con sẽ tranh luận trên nền tảng sự thật, bạch Thế Tôn, vậy chúng ta hãy trao đổi về vấn đề này.’”

“Bạch Thế Tôn, mặc dù Đức Thế Tôn đã nói như vậy, nhưng hình phạt về thân vẫn là đáng khiển trách nhất để thực hiện hành vi xấu ác, để gây ra hành vi xấu ác, chứ không phải hình phạt về lời nói và hình phạt về ý.”

14. “Này gia chủ, ông nghĩ sao? Ông có nghe về việc các khu rừng Daṇdaka, Kālinga, Mejjha, và Mātanga đã trở thành rừng hoang như thế nào không?”[^587] - “Vâng, bạch Thế Tôn, con có nghe.” - “Theo như ông nghe, chúng đã trở thành rừng hoang như thế nào?” - “Bạch Thế Tôn, con nghe rằng chúng đã trở thành rừng hoang do hành động sân hận trong tâm ý của các vị ẩn sĩ.” “Này gia chủ, này gia chủ, hãy cẩn thận cách ông trả lời! Điều ông nói trước không khớp với điều ông nói sau, và điều ông nói sau cũng không khớp với điều ông nói trước. Vậy mà ông đã tuyên bố: ‘Con sẽ tranh luận trên nền tảng sự thật, bạch Thế Tôn, vậy chúng ta hãy trao đổi về vấn đề này.’”

– Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người Nigantha, bệnh hoạn, đau khổ, bạo bệnh, từ chối nước lạnh, chỉ uống nước nóng. Người này, vì không được nước lạnh nên mệnh chung. Này Gia chủ, theo Nigantha Nataputta, người ấy tái sanh chỗ nào?

– Bạch Thế Tôn, có hàng chư Thiên được gọi là Manosatta (Ý Trước thiên). Ở đấy người ấy tái sanh. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì người ấy chấp trước ý nên mệnh chung.

– Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ kỹ. Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp lời nói sau của Ông! Lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông! Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm thoại giữa chúng ta”.

– Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có nói như vậy, nhưng chỉ có thân phạt mới là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp. Khẩu phạt không bằng được; ý phạt không bằng được.

– Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người Nigantha được phòng hộ với sự phòng hộ của bốn loại chế giới, hoàn toàn tự chế ngự đối với nước, hoàn toàn chú tâm (vào sự chế ngự) đối với nước, hoàn toàn loại trừ đối với nước, hoàn toàn thấm nhuần (với sự chế ngự) đối với nước. Vị này khi đi qua, khi đi lại, đã giết hại rất nhiều sinh vật nhỏ bé. Này Gia chủ, theo Nigantha Nataputta, người ấy thọ quả báo nào?

– Bạch Thế Tôn, vì không cố ý, nên Nigantha Nataputta xem không phải là một đại tội.

– Này Gia chủ, nếu người ấy có cố ý thời như thế nào?

– Bạch Thế Tôn, là một đại tội.

– Này Gia chủ, ý thức (ấy), Nigantha Nataputta xem thuộc về loại gì?

– Bạch Thế Tôn thuộc về ý phạt.

– Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ. Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp với lời nói sau của Ông, lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông. Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận, y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm thoại giữa chúng ta”.

– Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có nói như vậy, nhưng chỉ có thân phạt mới là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp. Khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được.

– Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Có phải Nalanda này là phú cường và phồn thịnh, dân chúng đông đúc, nhân dân trù mật?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Nalanda này là phú cường và phồn thịnh, dân chúng đông đúc, nhân dân trù mật.

– Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có người đi đến, với thanh kiếm đưa cao, người này nói: “Trong một sát na, trong một giây phút, ta sẽ làm cho tất cả mọi người ở tại Nalanda này thành một đống thịt, thành một khối thịt”. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể trong một sát na, trong một giây phút, làm cho tất cả mọi người ở tại Nalanda này thành một đống thịt, thành một khối thịt không?

– Bạch Thế Tôn, cho đến mười người, hai mươi người, ba mươi người, bốn mươi người, năm mươi người cũng không có thể, trong một sát na, trong một giây phút, làm cho tất cả mọi người ở tại Nalanda này thành một đống thịt, thành một khối thịt, huống nữa là chỉ một người nhỏ bé sao có thể sáng chói (làm thành) được?

– Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn đến, có thần thông lực, có tâm tự tại. Vị này nói như sau. “Ta sẽ làm cho Nalanda này trở thành tro tàn với một tâm sân hận”. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn ấy, có thần thông lực, có tâm tự tại, có thể làm cho Nalanda này trở thành tro tàn với một tâm sân hận không?

– Bạch Thế Tôn, cho đến mười Nalanda, hai mươi, ba mươi Nalanda, bốn mươi Nalanda, năm mươi Nalanda, vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn ấy có thần thông lực, có tâm tự tại có thể làm cho các Nalanda ấy trở thành tro tàn với một tâm sân hận, huống nữa là một Nalanda nhỏ bé này, sao có thể chói sáng được (khỏi bị trở thành tro tàn được)?

– Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ, Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp lời nói sau của Ông! Lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông! Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm luận giữa chúng ta”.

– Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có nói như vậy, nhưng chỉ có thân phạt mới là tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp. Khẩu phạt không bằng được, ý phạt không bằng được.

– Này Gia chủ. Ông nghĩ thế nào? Ông có nghe các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga đã trở lại thành rừng như trước?

– Bạch Thế Tôn con có nghe: Các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga đã trở lại thành rừng (như trước).

– Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Có thể Ông được nghe vì sao các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga trở thành rừng như trước?

– Bạch Thế Tôn, con có nghe, các rừng Dandaka, Kalinga, Mejjha, Matanga trở lại thành rừng (như trước) vì tâm sân hận các vị ẩn sĩ.

– Gia chủ, Gia chủ! Sau khi suy nghĩ Ông hãy trả lời. Lời nói trước của Ông không phù hợp lời nói sau của Ông, lời nói sau của Ông không phù hợp lời nói trước của Ông. Thế mà này Gia chủ, Ông đã nói như sau: “Bạch Thế Tôn, con sẽ đàm luận y cứ trên sự thật. Mong rằng ở đây sẽ có cuộc đàm luận giữa chúng ta”.

15. “Bạch Thế Tôn, con đã hài lòng và hoan hỷ ngay từ ví dụ đầu tiên của Đức Thế Tôn. Tuy nhiên, con đã nghĩ rằng con sẽ phản bác Đức Thế Tôn như vậy vì con muốn nghe những giải đáp đa dạng của Đức Thế Tôn cho vấn đề này. Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Đức Thế Tôn đã làm sáng tỏ Giáo Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý) bằng nhiều cách, như người lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay cầm đèn trong bóng tối để người có mắt thấy được các hình sắc. Bạch Thế Tôn, con xin quy y (go for refuge - saraṇa - tìm nơi nương tựa, che chở) Đức Thế Tôn, [379] quy y Pháp và quy y Tăng đoàn các tỳ kheo (Sangha of bhikkhus - cộng đồng các vị sư nam đã thọ giới cụ túc). Xin Đức Thế Tôn ghi nhận con là một cư sĩ nam (upāsaka - người nam tại gia theo Phật) đã quy y Ngài trọn đời.”

16. “Hãy tìm hiểu kỹ lưỡng, gia chủ. Đối với những người có danh tiếng như ông, việc tìm hiểu kỹ lưỡng là điều tốt.”

“Bạch Thế Tôn, con càng hài lòng và hoan hỷ hơn nữa khi Đức Thế Tôn nói với con như vậy. Bởi vì các giáo phái khác, khi thu nhận con làm đệ tử, họ sẽ giương cờ hiệu khắp Nālandā thông báo: ‘Gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của chúng ta.’ Nhưng ngược lại, Đức Thế Tôn lại bảo con: ‘Hãy tìm hiểu kỹ lưỡng, gia chủ. Đối với những người có danh tiếng như ông, việc tìm hiểu kỹ lưỡng là điều tốt.’ Vậy, lần thứ hai, bạch Thế Tôn, con xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn các tỳ kheo. Xin Đức Thế Tôn ghi nhận con là một cư sĩ nam đã quy y Ngài trọn đời.”

17. “Này gia chủ, gia đình ông đã ủng hộ các Ni-kiền-tử từ lâu, ông nên cân nhắc rằng vật thực cúng dường vẫn nên được trao cho họ khi họ đến.”

“Bạch Thế Tôn, con càng hài lòng và hoan hỷ hơn nữa khi Đức Thế Tôn nói với con như vậy. Bạch Thế Tôn, con đã nghe rằng sa môn Gotama nói thế này: ‘Chỉ nên cúng dường cho ta; không nên cúng dường cho người khác. Chỉ nên cúng dường cho đệ tử của ta; không nên cúng dường cho đệ tử của người khác. Chỉ những gì cúng dường cho ta mới có quả lớn, chứ không phải những gì cúng dường cho người khác. Chỉ những gì cúng dường cho đệ tử của ta mới có quả lớn, chứ không phải những gì cúng dường cho đệ tử của người khác.’ Nhưng ngược lại, Đức Thế Tôn lại khuyến khích con cúng dường cho các Ni-kiền-tử. Dù sao đi nữa, chúng con sẽ biết thời điểm thích hợp để làm việc đó, bạch Thế Tôn. Vậy, lần thứ ba, bạch Thế Tôn, con xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn các tỳ kheo. Xin Đức Thế Tôn ghi nhận con là một cư sĩ nam đã quy y Ngài trọn đời.”

– Bạch Thế Tôn, với ví dụ đầu tiên, con đã hoan hỷ, con đã thỏa mãn. Những gì con muốn nghe các vấn đáp sai biệt của Thế Tôn, nên con mới nghĩ đóng vai trò đối lập với Thế Tôn. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vị diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện, trình bày, giải thích. Vậy nay con quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

– Này Gia chủ, hãy chín chắn suy tư. Chín chắn suy tư là tốt đẹp với những người trứ danh như Ông.

– Bạch Thế Tôn, con càng bội phần hoan hỷ, bội phần thỏa mãn với những lời Thế Tôn nói với con: “Này Gia chủ, hãy chín chắn suy tư. Chín chắn suy tư là tốt đẹp với những người trứ danh như Ông”. Bạch Thế Tôn, nếu các ngoại đạo được con làm đệ tử, họ sẽ trương cờ lên và tuyên bố: “Gia chủ Upali đã trở thành đệ tử chúng tôi”. Nhưng Thế Tôn lại nói với con: “Này Gia chủ, hãy chín chắn suy tư. Chín chắn suy tư là tốt đẹp với những người trứ danh như Ông”. Bạch Thế Tôn, lần thứ hai, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

– Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình Ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigantha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với Ông!

– Bạch Thế Tôn, con lại bội phần hoan hỷ, bội phần thỏa mãn với những lời Thế Tôn nói với con: “Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình của Ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigantha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với các Ông”. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: "Sa-môn Gotama đã nói: “Chỉ bố thí cho Ta, chớ bố thí cho các người khác. Chỉ bố thí cho các đệ tử Ta, chớ bố thí cho đệ tử những người khác. Chỉ bố thí cho Ta mới có phước lớn, bố thí những người khác không được phước lớn. Chỉ bố thí cho những đệ tử của Ta mới có phước lớn, bố thí cho những đệ tử những người khác không có phước lớn”. Nhưng Thế Tôn lại khuyến khích con bố thí cho các vị Nigantha. Bạch Thế Tôn, và chúng con ở đây sẽ biết thời nên làm. Bạch Thế Tôn, lần thứ ba, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

18. Sau đó, Đức Thế Tôn giảng cho gia chủ Upāli bài thuyết pháp tuần tự (progressive instruction - anupubbikathā - bài pháp được trình bày theo thứ lớp từ dễ đến khó), tức là, thuyết về bố thí (talk on giving - dāna - sự cho đi vật chất hoặc tinh thần), thuyết về giới hạnh (talk on virtue - sīla - các quy tắc đạo đức), thuyết về các cõi trời (talk on the heavens - sagga - các cảnh giới hạnh phúc); Ngài giải thích sự nguy hiểm, thấp kém và ô uế của các dục lạc (sensual pleasures - kāma - sự hưởng thụ qua năm giác quan) và lợi ích của sự xuất ly (renunciation - nekkhamma - sự từ bỏ đời sống thế tục hoặc từ bỏ các dục vọng). Khi biết tâm của gia chủ Upāli [380] đã sẵn sàng, dễ tiếp thu, không còn các chướng ngại (free from hindrances - nīvaraṇa - những trạng thái tâm tiêu cực ngăn cản thiền định và trí tuệ như tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi ngờ), phấn chấn và vững tin, Ngài đã giảng cho ông giáo lý đặc biệt của chư Phật: khổ (suffering - dukkha - sự bất toại nguyện, đau khổ), nguồn gốc của khổ (its origin - samudaya - nguyên nhân sinh khổ, thường là tham ái), sự chấm dứt khổ (its cessation - nirodha - trạng thái khổ diệt, Niết-bàn), và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ (the path - magga - Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo)). Cũng như tấm vải sạch không còn vết bẩn sẽ thấm đều thuốc nhuộm, ngay khi gia chủ Upāli đang ngồi đó, pháp nhãn (vision of the Dhamma - dhammacakkhu - con mắt thấy Pháp, tuệ giác thấy rõ bản chất của các pháp) trong sạch, không tỳ vết khởi lên trong ông: “Phàm cái gì có sanh khởi đều phải chịu sự đoạn diệt.” [^588] Bấy giờ, gia chủ Upāli thấy Pháp, đạt Pháp, hiểu Pháp, thâm nhập Pháp; ông vượt qua mọi nghi ngờ (crossed beyond doubt - tiṇṇavicikiccho - không còn hoài nghi về Tam Bảo và giáo pháp), không còn phân vân lưỡng lự (did away with perplexity - vigatakathaṅkatho - hết do dự, thắc mắc về con đường tu tập), đạt được sự tự tin vững chắc (gained intrepidity - vesārajjappatto - có được sự dạn dĩ, không sợ hãi khi trình bày giáo pháp), và không còn phụ thuộc vào người khác đối với giáo pháp của Bậc Đạo Sư (independent of others in the Teacher’s Dispensation - aparappaccayo satthusāsane - tự mình chứng ngộ, không cần dựa vào niềm tin nơi người khác). [^589] Sau đó, ông nói với Đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, bây giờ chúng con phải đi. Chúng con bận rộn và có nhiều việc phải làm.”

“Này gia chủ, bây giờ là lúc ông làm những gì ông cho là thích hợp.”

Rồi Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp cho gia chủ Upali, tức là thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô các dục lạc, những lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết gia chủ Upali tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỷ, Ngài mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như một tấm vải thuần bạch, các chấm đen được gột rửa rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên với gia chủ Upali: “Phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy đều bị tiêu diệt”. Rồi gia chủ Upali, thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, đạt được vô sở úy, không y cứ người khác đối với các pháp bậc Ðạo sư. Gia chủ Upali bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều công việc, có nhiều phận sự phải làm.

– Này Gia chủ, Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.

19. Bấy giờ, gia chủ Upāli, sau khi hoan hỷ và vui mừng trước lời dạy của Đức Thế Tôn, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, giữ Ngài ở bên phải mình, rồi rời đi về nhà. Tại đó, ông bảo người giữ cửa như sau: “Này người giữ cửa tốt lành, từ hôm nay, ta đóng cửa đối với các Ni-kiền-tử và Ni-kiền-tử ni (Niganthīs - nữ tu khổ hạnh theo phái Ni-kiền-tử), và ta mở cửa đối với các tỳ kheo (bhikkhus - các vị sư nam đã thọ giới cụ túc trong Phật giáo), tỳ kheo ni (bhikkhunīs - các vị sư nữ đã thọ giới cụ túc trong Phật giáo), nam cư sĩ (upāsaka) và nữ cư sĩ (upāsikā - người nữ tại gia theo Phật) của Đức Thế Tôn. Nếu có Ni-kiền-tử nào đến, hãy nói với vị ấy thế này: ‘Xin chờ đã, tôn giả, đừng vào. Từ hôm nay, gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của sa môn Gotama. Ông ấy đã đóng cửa đối với các Ni-kiền-tử và Ni-kiền-tử ni, và đã mở cửa cho các tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ của Đức Thế Tôn. Tôn giả, nếu ngài cần vật thực cúng dường, xin hãy đợi ở đây; người ta sẽ mang ra cho ngài.’” - “Vâng, thưa ông chủ,” người giữ cửa đáp.

20. Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi nghe tin: “Gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của sa môn Gotama.” Sau đó, vị ấy đi đến chỗ Ni-kiền-tử Nātaputta và báo tin: “Bạch tôn sư, con nghe tin thế này: ‘Gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của sa môn Gotama.’”

“Không thể nào, Tapassi, không thể xảy ra chuyện gia chủ Upāli lại trở thành đệ tử của sa môn Gotama; nhưng có thể, có thể xảy ra chuyện sa môn Gotama lại trở thành đệ tử của gia chủ Upāli.” [381]

Lần thứ hai… Và lần thứ ba, Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi báo tin cho Ni-kiền-tử Nātaputta: “Bạch tôn sư, con nghe tin thế này: ‘Gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của sa môn Gotama.’”

“Không thể nào, Tapassi, không thể xảy ra chuyện…”

“Bạch tôn sư, con có nên đi tìm hiểu xem gia chủ Upāli có thực sự trở thành đệ tử của sa môn Gotama hay không?”

“Hãy đi đi, Tapassi, và tìm hiểu xem ông ta có trở thành đệ tử của sa môn Gotama hay không.”

21. Sau đó, Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi đi đến nhà gia chủ Upāli. Người giữ cửa thấy vị ấy từ xa đi tới liền nói: “Xin chờ đã, tôn giả, đừng vào. Từ hôm nay, gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của sa môn Gotama. Ông ấy đã đóng cửa đối với các Ni-kiền-tử và Ni-kiền-tử ni, và đã mở cửa cho các tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ của Đức Thế Tôn. Tôn giả, nếu ngài cần vật thực cúng dường, xin hãy đợi ở đây; người ta sẽ mang ra cho ngài.”

“Này bạn, tôi không cần vật thực cúng dường,” vị ấy nói, rồi quay lại đi đến chỗ Ni-kiền-tử Nātaputta và báo: “Bạch tôn sư, sự thật là gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của sa môn Gotama. Bạch tôn sư, con đã không được sự đồng ý của ngài khi con nói: ‘Bạch tôn sư, con không nghĩ rằng gia chủ Upāli nên [cố gắng] bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama. Vì sa môn Gotama là một nhà ảo thuật và biết một thứ ma thuật quyến dụ mà ông ta dùng để thu phục đệ tử của các giáo phái khác.’ Và bây giờ, bạch tôn sư, gia chủ Upāli của ngài đã bị sa môn Gotama thu phục bằng ma thuật quyến dụ của ông ta!” “Không thể nào, Tapassi, không thể xảy ra chuyện gia chủ Upāli lại trở thành đệ tử của sa môn Gotama; nhưng có thể, có thể xảy ra chuyện sa môn Gotama lại trở thành đệ tử của gia chủ Upāli.”

Lần thứ hai… Và lần thứ ba, Ni-kiền-tử Dīgha Tapassi báo tin cho Ni-kiền-tử Nātaputta: “Bạch tôn sư, sự thật là gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của sa môn Gotama [382]… bằng ma thuật quyến dụ của ông ta!”

“Không thể nào, Tapassi, không thể xảy ra chuyện… có thể xảy ra chuyện sa môn Gotama lại trở thành đệ tử của gia chủ Upāli. Bây giờ chính ta sẽ đi tìm hiểu xem ông ta có trở thành đệ tử của sa môn Gotama hay không.”

22. Sau đó, Ni-kiền-tử Nātaputta cùng một hội chúng đông đảo các Ni-kiền-tử đi đến nhà gia chủ Upāli. Người giữ cửa thấy ông ta từ xa đi tới liền nói: “Xin chờ đã, tôn giả, đừng vào. Từ hôm nay, gia chủ Upāli đã trở thành đệ tử của sa môn Gotama. Ông ấy đã đóng cửa đối với các Ni-kiền-tử và Ni-kiền-tử ni, và đã mở cửa cho các tỳ kheo, tỳ kheo ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ của Đức Thế Tôn. Tôn giả, nếu ngài cần vật thực cúng dường, xin hãy đợi ở đây; người ta sẽ mang ra cho ngài.”

“Này người giữ cửa tốt lành, hãy đến gặp gia chủ Upāli và báo: ‘Bạch tôn giả, Ni-kiền-tử Nātaputta đang đứng ở cổng ngoài cùng với một hội chúng đông đảo các Ni-kiền-tử; ông ấy muốn gặp ngài.’”

“Vâng, thưa tôn giả,” người giữ cửa đáp, rồi đi đến gặp gia chủ Upāli và báo: “Bạch tôn giả, Ni-kiền-tử Nātaputta đang đứng ở cổng ngoài cùng với một hội chúng đông đảo các Ni-kiền-tử; ông ấy muốn gặp ngài.”

“Vậy thì, này người giữ cửa tốt lành, hãy chuẩn bị chỗ ngồi trong gian sảnh ở cửa chính.”

“Vâng, thưa tôn giả,” người giữ cửa đáp, và sau khi đã chuẩn bị chỗ ngồi trong gian sảnh ở cửa chính, anh ta quay lại báo cho gia chủ Upāli: “Bạch tôn giả, chỗ ngồi đã được chuẩn bị trong gian sảnh ở cửa chính. Bây giờ là lúc ngài làm những gì ngài cho là thích hợp.”

Rồi Gia chủ Upali hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi đi về trú xá của mình, sau khi đến bèn nói với người giữ cửa như sau:

– Từ nay trở đi, này người gác cửa, ta sẽ đóng cửa đối với các nam Nigantha, các nữ Nigantha. Cửa sẽ không đóng đối với các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ của Thế Tôn. Nếu có vị Nigantha nào đến, Ông hãy nói vị ấy như sau: “Tôn giả hãy đứng lại, chớ bước vào! Từ nay trở đi, Gia chủ Upali đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Cửa sẽ đóng đối với nam Nigantha, nữ Nigantha. Cửa sẽ không đóng đối với các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Thế Tôn. Nếu Tôn giả cần đồ ăn, hãy đứng ở đây. Và có người sẽ đem ra ở đây cho Tôn giả”

– Thưa vâng, Tôn giả.

Người giữ cửa vâng đáp gia chủ Upali.

Nigantha Dighatapassi nghe như sau: “Gia chủ Upali đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama”. Rồi Nigantha Dighatapassi đi đến chỗ Nigantha Nataputta ở, sau khi đến liền nói với Nigantha Nataputta:

– Thưa Tôn giả, tôi có nghe gia chủ Upali đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.

– Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upali trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Và có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upali.

Lần thứ hai… (như trên)… Lần thứ ba Nigantha Dighatapassi nói với Nigantha Nataputta:

– Thưa Tôn giả, tôi có nghe gia chủ Upali đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.

– Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upali trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upali.

– Thưa Tôn giả, tôi sẽ đi và tìm biết gia chủ Upali có trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama hay không.

– Này Tapassi, hãy đi và tìm biết gia chủ Upali có trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama hay không.

Rồi Nigantha Dighatapassi đi đến trú xá của gia chủ Upali. Người giữ cửa thấy Nigantha Dighatapassi ở đường xa đi đến, khi thấy vậy liền nói với Nigantha Dighatapassi:

– Thưa Tôn giả, hãy đứng ở đây, chớ có bước vào! Từ nay trở đi, gia chủ Upali đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Cửa sẽ đóng đối với nam Nigantha, nữ Nigantha. Cửa sẽ không đóng đối với các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Thế Tôn. Nếu Tôn giả cần đồ ăn, hãy đứng ở đây. Có người sẽ đem ra ở đây cho Tôn giả.

– Này Hiền giả, ta không cần đồ ăn.

Nói xong, Nigantha Dighatapassi đi trở lui, đến chỗ Nigantha Nataputta ở, sau khi đến, liền thưa với Nigantha Nataputta:

– Thưa Tôn giả, sự thật là gia chủ Upali đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Về vấn đề này, tôi đã không đồng ý với Tôn giả và đã nói: “Thưa Tôn giả, tôi không được hài lòng để gia chủ Upali luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn thuật sư, Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử các ngoại đạo”. Thưa Tôn giả, nay gia chủ Upali của Tôn giả đã bị huyễn thuật của Sa-môn Gotama lôi cuốn rồi.

– Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upali trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upali.

Lần thứ hai… (như trên)… Lần thứ ba, Nigantha Dighatapassi nói với Nigantha Nataputta:

– Thưa Tôn giả, sự thật là gia chủ Upali đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Về vấn đề này, tôi đã không đồng ý với Tôn giả và đã nói: “Thưa Tôn giả, tôi không được yên lòng để gia chủ Upali luận chiến với Sa-môn Gotama. Thưa Tôn giả, Sa-môn Gotama là một huyễn thuật sư. Sa-môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử các ngoại đạo. Thưa Tôn giả, nay gia chủ Upali của Tôn giả đã bị huyễn thuật của Sa-môn Gotama lôi cuốn”.

– Này Tapassi, không thể có sự kiện, không thể có trường hợp gia chủ Upali trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Có thể có sự kiện Sa-môn Gotama trở thành đệ tử của gia chủ Upali. Này Tapassi, ta sẽ đi và tìm biết gia chủ Upali đã trở thành đệ tử Sa-môn Gotama hay không.

Rồi Nigantha Nataputta cùng với đại chúng Nigantha đi đến trú xá của gia chủ Upali. Người giữ cửa thấy Nigantha Nataputta từ xa đi đến, khi thấy vậy liền nói với Nigantha Nataputta:

– Thưa Tôn giả, hãy đứng ở đây, chớ có bước vào! Từ nay trở đi, gia chủ Upali đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Cửa sẽ đóng đối với các nam Nigantha, các nữ Nigantha. Cửa sẽ không đóng đối với các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Thế Tôn. Thưa Tôn giả, nếu Tôn giả cần các món ăn, hãy đứng ở đây. Có người sẽ đem ra ở đây cho Tôn giả.

– Này người giữ cửa, hãy đi đến gia chủ Upali, sau khi đến, hãy thưa với gia chủ như sau: "Thưa Tôn

giả, Nigantha Nataputta cùng với đại chúng Nigantha đang đứng ở ngoài ngưỡng cửa và muốn yết kiến Tôn giả".

– Thưa vâng, Tôn giả.

Người giữ cửa vâng đáp Nigantha Nataputta, đi đến gia chủ Upali, sau khi đến liền thưa với gia chủ Upali:

– Thưa Tôn giả, có Nigantha Nataputta cùng với đại chúng Nigantha đang đứng ở ngoài ngưỡng cửa và muốn yết kiến Tôn giả.

– Này Người giữ cửa, hãy vào soạn các chỗ ngồi trong căn phòng chính giữa có cửa.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Người giữ cửa vâng đáp gia chủ Upali, sau khi cho vào soạn các chỗ ngồi trong căn phòng chính giữa có cửa, đi đến gia chủ Upali, sau khi đến, liền nói với gia chủ Upali:

– Thưa Tôn giả, các chỗ ngồi trong căn phòng chính giữa có cửa đã được sửa soạn. Tôn giả hãy làm những gì Tôn giả nghĩ là phải thời.

Rồi gia chủ Upali đi đến căn phòng chính giữa có cửa, sau khi đến tại chỗ ngồi nào là tối thượng, tối tôn, tối cao và tối thắng, sau khi ngồi trên chỗ ấy, liền bảo người gác cửa:

– Này Người giữ cửa, hãy đi đến Nigantha Nataputta: "Thưa Tôn giả, gia chủ Upali có nói: “Thưa Tôn giả, nếu muốn, Tôn giả hãy vào”.

– Thưa vâng, Tôn giả.

Người giữ cửa vâng đáp gia chủ Upali, đi đến Nigantha Nataputta, sau khi đến, liền nói với Nigantha Nataputta:

– Thưa Tôn giả, Gia chủ Upali có nói: “Thưa Tôn giả, nếu muốn, Tôn giả hãy vào”.

Rồi Nigantha Nataputta với đại chúng Nigantha đi đến căn phòng ở giữa, có cửa.

23. Bấy giờ, gia chủ Upāli [383] đi đến gian sảnh ở cửa chính và ngồi xuống chỗ ngồi cao nhất, tốt nhất, trang trọng nhất, ưu việt nhất ở đó. Sau đó, ông bảo người giữ cửa: “Này người giữ cửa tốt lành, bây giờ hãy đến gặp Ni-kiền-tử Nātaputta và báo: ‘Bạch tôn giả, gia chủ Upāli nói: “Xin mời tôn giả vào, nếu ngài muốn.”’”

“Vâng, thưa tôn giả,” người giữ cửa đáp, rồi đi đến gặp Ni-kiền-tử Nātaputta và báo: “Bạch tôn giả, gia chủ Upāli nói: ‘Xin mời tôn giả vào, nếu ngài muốn.’”

Sau đó, Ni-kiền-tử Nātaputta cùng hội chúng đông đảo các Ni-kiền-tử đi vào gian sảnh ở cửa chính.

24. Trước đây, khi gia chủ Upāli thấy Ni-kiền-tử Nātaputta từ xa đi tới, ông thường ra đón, dùng áo choàng phủi bụi chỗ ngồi cao nhất, tốt nhất, trang trọng nhất, ưu việt nhất ở đó, sắp xếp lại xung quanh, rồi mời ông ta ngồi lên. Nhưng bây giờ, trong khi chính mình đang ngồi trên chỗ ngồi cao nhất, tốt nhất, trang trọng nhất, ưu việt nhất, ông lại bảo Ni-kiền-tử Nātaputta: “Bạch tôn giả, có chỗ ngồi kia; mời ngài ngồi nếu muốn.”

25. Nghe vậy, Ni-kiền-tử Nātaputta nói: “Gia chủ, ông điên rồi, ông ngu xuẩn rồi. Ông đi nói rằng: ‘Bạch tôn sư, con sẽ bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama,’ rồi ông trở về hoàn toàn bị mắc vào một cái lưới giáo pháp rộng lớn. Cũng như một người đi thiến người khác lại bị thiến cả hai bên trở về, cũng như một người đi khoét mắt người khác lại bị khoét cả hai mắt trở về; ông cũng vậy, gia chủ, ông đi nói rằng: ‘Bạch tôn sư, con sẽ bác bỏ giáo lý của sa môn Gotama,’ rồi ông trở về hoàn toàn bị mắc vào một cái lưới giáo pháp rộng lớn. Gia chủ, ông đã bị sa môn Gotama thu phục bằng ma thuật quyến dụ của ông ta!”

26. "Lành thay ma thuật quyến dụ ấy, bạch tôn sư, tốt đẹp thay ma thuật quyến dụ ấy! [^590] Bạch tôn sư, nếu những người thân bằng quyến thuộc yêu quý của con được thu phục bởi sự thu phục này, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho thân bằng quyến thuộc yêu quý của con. Nếu tất cả giới quý tộc (nobles - khattiya) được thu phục bởi sự thu phục này, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho giới quý tộc. [384] Nếu tất cả giới bà la môn (brahmins - brāhmaṇa)… tất cả giới thương gia (merchants - vessa)… tất cả giới lao động (workers - sudda) được thu phục bởi sự thu phục này, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho giới lao động. Nếu thế giới cùng với chư thiên, Ma vương (Māras - các thế lực cản trở sự tu tập), và Phạm thiên (Brahmās - các vị trời ở cõi sắc giới), chúng sanh này cùng các vị sa môn, bà la môn, vua chúa và thường dân, được thu phục bởi sự thu phục này, điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho thế giới. Về điều này, bạch tôn sư, con sẽ đưa ra một ví dụ; vì một số người trí ở đây hiểu được ý nghĩa của một lời nói qua ví dụ.

27. "Bạch tôn sư, ngày xưa có một vị bà la môn già nua, tuổi cao, sức yếu, và ông có một người vợ là một thiếu nữ bà la môn trẻ tuổi đang mang thai và sắp đến ngày sinh nở. Rồi cô ấy bảo ông: ‘Này ông bà la môn, hãy ra chợ mua một con khỉ con về đây cho tôi làm bạn chơi với con tôi.’ Ông đáp: ‘Hãy đợi đã, bà ạ, cho đến khi bà sinh con. Nếu bà sinh con trai, tôi sẽ ra chợ mua một con khỉ đực con về cho bà làm bạn chơi với cậu bé; nhưng nếu bà sinh con gái, tôi sẽ ra chợ mua một con khỉ cái con về cho bà làm bạn chơi với cô bé.’ Lần thứ hai cô ấy đưa ra yêu cầu tương tự và nhận được câu trả lời tương tự. Lần thứ ba cô ấy lại đưa ra yêu cầu tương tự. Bấy giờ, vì lòng yêu thương ràng buộc với bà vợ, ông ra chợ, mua một con khỉ đực con, mang về và bảo bà: ‘Tôi đã mua con khỉ đực con này ở chợ [385] và mang về cho bà làm bạn chơi với con bà.’ Rồi bà bảo ông: ‘Này ông bà la môn, hãy mang con khỉ đực con này đến chỗ Rattapanni, con trai người thợ nhuộm, và bảo cậu ta: “Này Rattapanni tốt lành, tôi muốn con khỉ đực con này được nhuộm màu vàng thuốc mỡ, đập đi đập lại, và làm cho nhẵn cả hai mặt.”’ Bấy giờ, vì lòng yêu thương ràng buộc với bà vợ, ông mang con khỉ đực con đến chỗ Rattapanni, con trai người thợ nhuộm, và bảo cậu ta: ‘Này Rattapanni tốt lành, tôi muốn con khỉ đực con này được nhuộm màu vàng thuốc mỡ, đập đi đập lại, và làm cho nhẵn cả hai mặt.’ Rattapanni, con trai người thợ nhuộm, bảo ông: ‘Bạch tôn giả, con khỉ đực con này chịu được thuốc nhuộm nhưng không chịu được đập hay làm nhẵn.’ Cũng vậy, bạch tôn sư, giáo pháp của các Ni-kiền-tử ngu si sẽ làm vui lòng kẻ ngu nhưng không làm vui lòng người trí, và nó sẽ không chịu được sự thử thách hay sự tra xét kỹ lưỡng (làm nhẵn).

“Rồi, bạch tôn sư, vào một dịp khác, vị bà la môn đó mang một cặp vải mới đến chỗ Rattapanni, con trai người thợ nhuộm, và bảo cậu ta: ‘Này Rattapanni tốt lành, tôi muốn cặp vải mới này được nhuộm màu vàng thuốc mỡ, đập đi đập lại, và làm cho nhẵn cả hai mặt.’ Rattapanni, con trai người thợ nhuộm, bảo ông: ‘Bạch tôn giả, cặp vải mới này chịu được cả thuốc nhuộm, cả sự đập và sự làm nhẵn.’ Cũng vậy, bạch tôn sư, giáo pháp của Đức Thế Tôn kia, bậc A-la-hán (accomplished - arahaṃ - bậc đã hoàn thiện, xứng đáng được cúng dường), Chánh Đẳng Chánh Giác (fully enlightened - sammāsambuddha - bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn), sẽ làm vui lòng người trí nhưng không làm vui lòng kẻ ngu, và nó sẽ chịu được sự thử thách và sự tra xét kỹ lưỡng (làm nhẵn).”

28. “Gia chủ, hội chúng và nhà vua đều biết ông là: ‘Gia chủ Upāli là đệ tử của Ni-kiền-tử Nātaputta.’ Chúng tôi nên xem ông là đệ tử của ai đây?”

Nghe vậy, gia chủ Upāli đứng dậy khỏi chỗ ngồi, sửa lại y trên một vai, [386] chắp tay vái về hướng Đức Thế Tôn và nói với Ni-kiền-tử Nātaputta:

29. "Vậy thì, bạch tôn sư, xin hãy nghe con là đệ tử của ai:

Ngài là Bậc Trí Tuệ đã đoạn trừ si mê, Từ bỏ tâm hoang vu [phiền não], [^591] chiến thắng ma quân; Ngài không còn phiền muộn, tâm hoàn toàn quân bình, Giới hạnh viên mãn, trí tuệ tuyệt vời; Vượt mọi cám dỗ, [^592] Ngài không còn tỳ vết: Đức Thế Tôn là Ngài, và con là đệ tử của Ngài.

Ngài hết phân vân, an trú trong sự mãn nguyện, Chê bỏ lợi lộc thế gian, là nguồn vui; Là người đã hoàn thành phận sự sa môn, Là người mang thân cuối cùng; Ngài hoàn toàn vô song và hoàn toàn thanh tịnh: Đức Thế Tôn là Ngài, và con là đệ tử của Ngài.

Ngài không còn nghi ngờ và khéo léo, Là bậc huấn luyện và lãnh đạo tuyệt vời. Không ai vượt qua phẩm chất rực rỡ của Ngài; Không do dự, Ngài là bậc soi sáng; Đã đoạn trừ ngã mạn, Ngài là Bậc Anh Hùng: Đức Thế Tôn là Ngài, và con là đệ tử của Ngài.

Là Bậc Dẫn Dắt chúng sanh, Ngài không thể đo lường, Sâu thẳm khôn dò, Ngài đạt đến tịch tịnh; [^593] Mang lại sự an ổn, sở hữu tri kiến, Ngài an trú trong Pháp, nội tâm chế ngự; Đã vượt qua mọi ràng buộc, Ngài được giải thoát: Đức Thế Tôn là Ngài, và con là đệ tử của Ngài.

Là voi chúa không tỳ vết, sống nơi tịch tĩnh, Với mọi xiềng xích đã phá tan, hoàn toàn giải thoát; Khéo léo trong luận giải, thấm nhuần trí tuệ, Đã hạ cờ kiêu mạn, [^594] Ngài không còn tham ái; Đã tự điều phục, Ngài không còn tạo tác [^595] (proliferation - papañca - sự phát triển, lan tràn của các khái niệm và vọng tưởng): Đức Thế Tôn là Ngài, và con là đệ tử của Ngài.

Là bậc tiên tri tối thượng, [^596] không mưu mẹo lừa dối, Đạt tam minh (triple knowledge - tevijja - ba loại tuệ giác: biết rõ các kiếp quá khứ, biết rõ sự sanh tử của chúng sanh, biết rõ sự đoạn tận các lậu hoặc), đạt đến sự thánh thiện; Tâm Ngài thanh tịnh, là bậc thầy thuyết giảng, Ngài sống luôn an tịnh, là người tìm ra tri kiến; Là bậc bố thí đứng đầu, Ngài luôn có khả năng: Đức Thế Tôn là Ngài, và con là đệ tử của Ngài.

Ngài là Bậc Cao Thượng, tâm đã phát triển, Đã đạt mục đích và giảng giải chân lý; Có niệm và tuệ quán thấu suốt, Ngài không nghiêng tới, không ngả lui; [^597] Không xao động, đạt đến sự làm chủ: Đức Thế Tôn là Ngài, và con là đệ tử của Ngài.

Ngài đã tu hành đúng đắn và an trú trong thiền định, Nội tâm không ô nhiễm, thanh tịnh hoàn hảo; Ngài độc lập và hoàn toàn không sợ hãi, [^598] Sống độc cư, đạt đến đỉnh cao; Đã tự mình vượt qua, Ngài dẫn dắt chúng ta vượt qua: Đức Thế Tôn là Ngài, và con là đệ tử của Ngài.

Với sự tịch tịnh tối thượng, trí tuệ rộng lớn, Là người có đại trí tuệ, không còn tham lam; Ngài là Như Lai, Ngài là Thiện Thệ (Sublime One - Sugata - bậc đã khéo đi, khéo đến), Là Bậc Vô Song, là Bậc Vô Đối; Ngài dũng mãnh, thông suốt tất cả: Đức Thế Tôn là Ngài, và con là đệ tử của Ngài.

Ngài đã đoạn trừ ái dục (severed craving - taṇhā - sự khao khát, ham muốn) và thành Bậc Giác Ngộ, Tan hết mây mù [phiền não], hoàn toàn không nhiễm ô; Xứng đáng được cúng dường nhất, bậc tinh thần vĩ đại nhất, Con người hoàn hảo nhất, vượt ngoài mọi ước lượng; Vĩ đại nhất trong sự vĩ đại, đạt đến đỉnh vinh quang: Đức Thế Tôn là Ngài, và con là đệ tử của Ngài."

30. “Gia chủ, ông đã bịa đặt bài kệ tán thán sa môn Gotama đó từ khi nào vậy?”

“Bạch tôn sư, giả sử có một đống hoa lớn đủ loại, [387] rồi một người kết tràng hoa khéo léo hay người học việc kết tràng hoa kết chúng thành một tràng hoa nhiều màu sắc; cũng vậy, bạch tôn sư, Đức Thế Tôn có nhiều phẩm chất đáng tán thán, hàng trăm phẩm chất đáng tán thán. Bạch tôn sư, ai lại không tán thán bậc đáng được tán thán?”

31. Bấy giờ, vì Ni-kiền-tử Nātaputta không thể chịu đựng được sự tôn kính dành cho Đức Thế Tôn này, máu nóng liền hộc ra từ miệng ông ta ngay tại chỗ.[^599]

Gia chủ Upali lúc trước mỗi khi thấy Nigantha Nataputta từ xa đi đến, sau khi thấy liền đi ra nghinh tiếp vào tại chỗ nào có chỗ ngồi tối thượng, tối tôn, tối cao và tối thắng, liền lấy thượng y lau chỗ ngồi ấy, giữ lấy và mời Nigantha Nataputta ngồi trên chỗ ngồi ấy. Nhưng tại chỗ có chỗ ngồi tối thượng, tối tôn, tối cao và tối thắng, gia chủ Upali lại ngồi trên chỗ ngồi ấy và nói với Nigantha Nataputta:

– Thưa Tôn giả, có những chỗ ngồi. Nếu muốn, Tôn giả hãy ngồi.

Khi nghe nói vậy, Nigantha Nataputta nói với gia chủ Upali:

– Này Gia chủ, Ông thật là điên cuồng. Này Gia chủ, Ông thật là ngu si. Ông nói: “Thưa Tôn giả, tôi sẽ đi luận chiến với Sa-môn Gotama”. Sau khi đi, Ông đã trở về bị trói buộc trong lưới lớn luận nghị. Này Gia chủ, ví như người đi với hai cao hoàn, đi về với cao hoàn bị thiến. Này Gia chủ, như người đi với hai con mắt, đi về với hai con mắt bị khoét. Cũng vậy, này Gia chủ, Ông nói: “Thưa Tôn giả, con sẽ đi luận chiến với Sa-môn Gotama, sau khi đi đã trở về bị trói buộc trong lưới lớn luận nghị”. Này Gia chủ,

Ông đã bị huyễn thuật của Sa-môn Gotama lôi cuốn rồi.

– Thưa Tôn giả, vi diệu thay, huyễn thuật lôi cuốn này! Tốt lành thay, huyễn thuật lôi cuốn này! Thưa Tôn giả, nếu bà con huyết thống thân yêu của tôi được huyễn thuật này lôi cuốn, thời thật là an lạc, hạnh phúc lâu dài cho các bà con huyết thống của tôi. Thưa Tôn giả, nếu tất cả các người Sát đế ly được huyễn thuật này lôi cuốn, thời thật là an lạc hạnh phúc lâu dài cho tất cả các vị Sát-đế-lị. Thưa Tôn giả, nếu tất cả các người Bà-la-môn… nếu tất cả các người Vessa (Phệ-xá)… nếu tất cả các người Sudda (Thủ-đà) được huyễn thuật này lôi cuốn, thời thật là an lạc, và hạnh phúc lâu dài cho tất cả các người Sudda. Thưa Tôn giả, nếu thế giới với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la- môn với chư Thiên và loài Người được huyễn thuật này lôi cuốn, thời như vậy là an lạc, hạnh phúc lâu dài cho thế giới với chư Thiên, chư Ma, chư Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người. Thưa Tôn giả, tôi sẽ nói cho Tôn giả ví dụ này. Ở đây, những người có trí nhờ ví dụ sẽ biết rõ ý nghĩa của lời nói.

Thưa Tôn giả, thuở xưa có người Bà-la-môn đã về già tuổi đã lớn, bậc trưởng lão, có người vợ còn trẻ, trong tuổi thanh xuân, (người vợ này) đang mang thai, sắp đến kỳ sinh nở. Thưa Tôn giả, người vợ trẻ nói với người Bà-la-môn: “Này Bà-la-môn, hãy đi phố mua một khỉ con đực để cùng chơi với con tôi”. Thưa Tôn giả, được nói vậy, người Bà-la-môn nói với cô vợ trẻ: “Này mình, hãy chờ cho đến khi mình sanh. Nếu mình sanh con trai, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con đực mang về để cùng chơi với đứa con trai của mình. Còn nếu mình sanh con gái, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con cái và mang về để cùng chơi với đứa con gái của mình”. Thưa Tôn giả, lần thứ hai, người vợ trẻ nói với người Bà-la-môn ấy: “Này Bà-la-môn, hãy đi phố mua một con khỉ con đực để cùng chơi với con tôi”. Thưa Tôn giả, lần thứ hai, người Bà-la-môn ấy nói với cô vợ trẻ: “Này mình, hãy chờ cho đến khi mình sanh. Nếu mình sanh con trai, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con đực mang về để cùng chơi với đứa con trai của mình. Còn nếu mình sanh con gái, tôi sẽ đi chợ mua một con khỉ con cái và mang về để cùng chơi với đứa con gái của mình”. Thưa Tôn giả, lần thứ ba, người vợ trẻ nói với người Bà-la-môn ấy: “Này Bà-la-môn, hãy đi phố mua một con khỉ con đực để cùng chơi với con tôi”. Thưa Tôn giả, người Bà-la-môn ấy vì quá yêu thương, quá ái luyến cô vợ trẻ của mình nên đi chợ mua một con khỉ đực, đem về và nói với cô vợ trẻ: “Này mình, đây là con khỉ con đực, tôi mua ở chợ và mang về, hãy để nó cùng chơi với con của mình”. Thưa Tôn giả, khi nghe nói vậy cô vợ trẻ ấy nói với người Bà-la-môn: “Này Bà-la-môn hãy đi, đem con khỉ con đực này đến Rattapani con người thợ nhuộm, sau khi đến hãy nói với Rattapani con người thợ nhuộm: “Này bạn Rattapani, tôi muốn con khỉ đực này được nhuộm với màu vàng, được khéo đập, khéo ủi xung quanh và cả hai phía được làm thành mềm dịu” Thưa Tôn giả, người Bà-la-môn ấy vì quá yêu thương, quá ái luyến cô vợ trẻ của mình đem con khỉ con đực này đi đến Rattapani con người thợ nhuộm, khi đến xong liền nói với Rattapani, con người thợ nhuộm: “Này bạn Rattapani, tôi muốn con khỉ đực này được nhuộm màu vàng, được khéo đập, khéo ủi xung quanh, và cả hai phía được làm thành mềm dịu”. Thưa Tôn giả, được nói vậy, Rattapani con người thợ nhuộm nói với người Bà-la-môn kia: “Này Tôn giả, con khỉ con đực này có thể nhuộm được, nhưng không có thể đập được, ủi được, không có thể làm thành mềm dịu”. Cũng vậy, thưa Tôn giả, là lý thuyết của những Nigantha ngu si, lý thuyết này có thể ăn nhuộm đối với những người ngu si, chớ không ăn nhuộm đối với người có trí. Thưa Tôn giả, người Bà-la-môn ấy, sau một thời gian, lấy một cặp áo mới, đi đến chỗ Rattapani, con người thợ nhuộm, sau khi đến, nói với Rattapani, con người thợ nhuộm: “Này Rattapani, tôi muốn nhuộm cặp áo mới này với màu nhuộm màu vàng, được đập và ủi xung quanh, và cả hai phía được làm thành mềm dịu”. Thưa Tôn giả, được nói vậy, Rattapani con người thợ nhuộm nói với người Bà-la-môn ấy: “Thưa Tôn giả, cặp áo mới này của Tôn giả có thể nhuộm được, có thể đập và ủi xung quanh và có thể làm thành mềm dịu”. Cũng vậy, thưa Tôn giả, là lý thuyết của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, có thể ăn nhuộm đối với người có trí, không phải đối với người ngu si, có thể đập được, ủi được, và có thể khiến trở thành mềm dịu”.

– Này Gia chủ, quần chúng này gồm cả các vua chưa được biết như sau: “Gia chủ Upali là đệ tử của Nigantha Nataputta”. Này Gia chủ, nay chúng tôi xem Gia chủ là đệ tử của ai?

Ðược nói vậy, gia chủ Upali từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y qua một bên vai, chắp tay vái chào về hướng Thế Tôn và nói với Nigantha Nataputta:

– Thưa Tôn giả, hãy nghe, tôi là đệ tử của ai:

Bậc Trí sáng suốt, Ðoạn trừ si ám. Phá tan hoang vu, Chiến thắng địch quân. Ðau khổ đoạn diệt, Tâm an bình tĩnh. Giới đức trưởng thành, Tuệ đức viên minh. Phiền não nội tịnh, Rời trần ly cấu. Tôi thật chính là, Ðệ tử Thế Tôn.

Do dự đoạn trừ, Biết vừa, biết đủ, Thế lợi tuyệt không, Tâm tư hoan hỷ, Làm Sa-môn hạnh, Sanh ở nhân gian, Thân này sau cùng, Làm người nhân thế. Bậc Thánh cao nhất, Rời trần ly cấu. Tôi thật chính là, Ðệ tử Thế Tôn.

Không tâm do dự, Khéo hành thiện xảo. Bậc trì giới luật, Ðiều ngự tối thượng. Là Vô Thượng Sĩ, Sáng chói hào quang, Nghi hoặc đoạn trừ, Soi sáng mọi nơi. Kiêu mạn đoạn tận, Vô nhân anh hùng. Tôi thật chính là Ðệ tử Thế Tôn.

Ngài bậc Ngưu Vương, Tâm tư vô lượng, Thâm sâu khôn lường Bậc thánh Mâu ni, Tác thành an ổn, Bậc có Trí tuệ, An trú Pháp vị,

Tự phòng hộ thân, Vượt qua tham ái, Bậc Giải Thoát Trí. Tôi thật chính là, Ðệ tử Thế Tôn.

Ngài bậc Long Vương, Sống xa thế tục. Kiết sử đoạn trừ, Siêu đẳng giải thoát. Biện tài từ tốn, Trong sạch thanh tịnh, Cờ xí triệt hạ, Tham ái đoạn trừ, Ðiều ngự nhiếp phục, Hý luận diệt tận. Tôi thật chính là, Ðệ tử Thế Tôn,

Ðệ nhất tiên nhân. Không tin lời đồn. Ba minh thành tựu, Ðạt quả Phạm thiên. Tắm sạch thân tâm, Văn cú thông đạt. Khinh an yên ổn, Tránh trí chứng đắc. Công phá thành trì, Thiên chủ Ðế thích. Tôi chính thật là, Ðệ tử Thế Tôn.

Ngài bậc Thánh Giả, Tự tu tự tập. Chứng điều phải chứng, Thuyết giảng hiện tại, Chánh niệm tỉnh giác, Thiền quán tinh tế Không thiên tà dục, Không nuôi tâm hận. Giao động không còn, Thân tâm tự tại. Tôi chính thật là Ðệ tử Thế Tôn.

Sống theo chánh đạo, Trầm tư Thiền tưởng, Nội tâm không nhiễm, Thanh tịnh trong sạch, Không trước không chấp, Không nguyện không cầu,

Ðộc cư độc tọa, Chứng tối thượng vị, Ðã vượt qua dòng, Giúp người vượt qua. Tôi thật chính là Ðệ tử Thế Tôn,

Bậc chứng tịch tịnh, Trí tuệ vô biên, Trí tuệ quảng đại, Tham ái đoạn tận. Ngài là Như Lai, Ngài là Thiện Thệ, Không người sánh bằng, Không ai đồng đẳng, Giàu đức tự tin, Viên mãn thành tựu. Tôi thật chính là, Ðệ tử Thế Tôn

Tham ái đoạn tận, Giác ngộ chánh giác, Khói mù tiêu tan, Ô uế trừ sạch Xứng đáng cúng dường, Dạ xoa thanh tịnh. Vô thượng Thánh nhân, Không thể cân lường Ðại nhân Ðại giác Ðạt đến danh xưng. Tôi thật chính là, Ðệ tử Thế Tôn.

– Này Gia chủ, Ông chất chứa những ưu điểm này về Sa-môn Gotama từ bao giờ?

– Thưa Tôn giả, ví như một đống hoa, có nhiều loại khác nhau; người làm vòng hoa thiện xảo hay người đệ tử làm vòng hoa có thể kết thành một vòng hoa có những loại hoa sai biệt. Cũng vậy, thưa Tôn giả, Thế Tôn có nhiều đức tánh, có hàng trăm đức tánh. Thưa Tôn giả, và ai lại không tán thán những bậc đáng tán thán!

Vì Nigantha Nataputta không thể nghe lời tán thán Thế Tôn, nên ngay tại chỗ ấy đã thổ ra huyết nóng.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Đức Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật, có nghĩa là Bậc Tôn Quý, Bậc có đầy đủ phước đức và trí tuệ.
  • Ni-kiền-tử / Nigaṇṭha / Nigantha: Tên gọi các tu sĩ thuộc phái Kỳ-na giáo (Jainism), một tôn giáo cùng thời với Đức Phật, chủ trương khổ hạnh ép xác. Nātaputta là người đứng đầu phái này vào thời đó.
  • Hình phạt / Daṇḍa / Rod: Nghĩa đen là cây gậy, roi vọt. Trong ngữ cảnh này, phái Ni-kiền-tử dùng từ này để chỉ các hành động (thân, lời, ý) gây ra hậu quả đau khổ, xem chúng như sự trừng phạt.
  • Hành động / Kamma / Action: Nghiệp, hành vi có chủ ý tạo ra kết quả tương ứng trong hiện tại hoặc tương lai. Đây là thuật ngữ Phật giáo dùng thay cho “hình phạt” của Ni-kiền-tử.
  • Như Lai / Tathāgata / Tathāgata: Danh hiệu chỉ Đức Phật, nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”, hàm ý Ngài đã đạt đến chân lý như thực và thể nhập chân lý đó.
  • Cư sĩ / Upāsaka (nam), Upāsikā (nữ) / Lay follower: Người tại gia theo đạo Phật, đã quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và giữ gìn năm giới cơ bản.
  • Ma thuật quyến dụ / Āvaṭṭanī māyā / Converting magic: Phép thuật hay bùa chú được cho là có khả năng thu hút, lôi kéo, làm thay đổi lòng tin của người khác. Đây là cách Dīgha Tapassi giải thích việc Upāli theo Phật.
  • Ý hệ thiên / Manobandhanikā devā / Mind-bound gods: Một cõi trời được đề cập trong kinh, nơi chúng sanh tái sanh do khi chết tâm còn bị trói buộc mạnh mẽ bởi một đối tượng hay ý niệm nào đó.
  • Chấp thủ / Upādāna / Attachment: Sự dính mắc, níu giữ, bám víu mạnh mẽ vào các đối tượng (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), quan điểm, nghi lễ, hoặc ngã tưởng. Đây là một trong 12 nhân duyên, là nguyên nhân trực tiếp của khổ.
  • Chủ ý / Cetana / Willing, volition: Sự cố ý, tác ý, là yếu tố tâm lý thúc đẩy hành động (nghiệp). Phật giáo nhấn mạnh vai trò của chủ ý trong việc tạo nghiệp thiện hay ác.
  • Thần thông / Iddhi / Supernormal power: Những năng lực phi thường đạt được thông qua tu tập thiền định sâu sắc, như thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng thông, thần túc thông.
  • Làm chủ tâm trí / Cetovasippatta / Mastery of mind: Khả năng điều khiển, kiểm soát tâm ý một cách hoàn toàn theo ý muốn, thường đạt được ở các bậc thiền định cao.
  • Hành động sân hận trong tâm ý / Manopadosa / Mental act of hate: Trạng thái tâm bất mãn, căm ghét, thù địch khởi lên trong ý nghĩ, được xem là một ác nghiệp về ý.
  • Quy y / Saraṇa / Refuge: Hành động tìm nơi nương tựa, che chở tinh thần nơi Tam Bảo: Phật (Bậc Giác Ngộ), Pháp (Giáo pháp của Ngài), Tăng (Cộng đồng những người tu hành theo giáo pháp).
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý về bản chất của thực tại, con đường dẫn đến giải thoát khổ đau.
  • Tăng đoàn / Sangha / Sangha: Cộng đồng các đệ tử xuất gia của Đức Phật (Tỳ kheo và Tỳ kheo ni) tuân thủ giới luật và thực hành giáo pháp. Nghĩa rộng hơn có thể bao gồm cả cộng đồng các bậc Thánh đệ tử (xuất gia và tại gia).
  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Bhikkhu: Vị sư nam đã thọ giới cụ túc (227 giới theo Luật tạng Theravada), sống đời sống xuất gia, khất thực.
  • Tỳ kheo ni / Bhikkhunī / Bhikkhunī: Vị sư nữ đã thọ giới cụ túc (311 giới theo Luật tạng Theravada), sống đời sống xuất gia.
  • Thuyết pháp tuần tự / Anupubbikathā / Progressive instruction: Phương pháp giảng dạy của Đức Phật, trình bày giáo pháp theo thứ lớp từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với căn cơ người nghe (ví dụ: bố thí, trì giới, các cõi trời, sự nguy hại của dục lạc, lợi ích của xuất ly, Tứ Diệu Đế).
  • Bố thí / Dāna / Giving: Sự cho đi, cúng dường vật chất, tinh thần hoặc giáo pháp với tâm rộng lượng, không mong cầu đền đáp.
  • Giới hạnh / Sīla / Virtue: Các quy tắc đạo đức, giới luật nhằm ngăn ngừa các hành động bất thiện qua thân và lời nói, làm nền tảng cho sự phát triển tâm linh.
  • Cõi trời / Sagga / Heavens: Các cảnh giới tái sanh hạnh phúc hơn cõi người, là kết quả của các việc làm thiện lành, nhưng vẫn nằm trong vòng luân hồi sanh tử.
  • Dục lạc / Kāma / Sensual pleasures: Sự hưởng thụ, khoái lạc thông qua năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân). Phật giáo chỉ ra sự nguy hiểm, tạm bợ và ô uế của chúng.
  • Xuất ly / Nekkhamma / Renunciation: Sự từ bỏ, thoát ly khỏi đời sống thế tục hoặc các ràng buộc của dục vọng, hướng đến đời sống phạm hạnh, giải thoát.
  • Chướng ngại / Nīvaraṇa / Hindrances: Năm trạng thái tâm tiêu cực chính ngăn cản sự phát triển thiền định (samādhi) và trí tuệ (paññā): tham dục, sân hận, hôn trầm-thụy miên, trạo cử-hối quá, và nghi ngờ.
  • Bốn sự thật cao quý / Cattāri ariya saccāni / Four noble truths: Bốn chân lý nền tảng mà Đức Phật đã giác ngộ và giảng dạy: 1. Khổ (Dukkha - sự thật về khổ đau, bất toại nguyện), 2. Tập (Samudaya - sự thật về nguyên nhân sinh khổ, chủ yếu là tham ái), 3. Diệt (Nirodha - sự thật về sự chấm dứt khổ, tức Niết-bàn), 4. Đạo (Magga - sự thật về con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, tức Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo)).
  • Pháp nhãn / Dhammacakkhu / Vision of the Dhamma: Con mắt trí tuệ thấy rõ bản chất Vô thường, Khổ, Vô ngã của các pháp (hiện tượng). Sự khởi lên của Pháp nhãn đánh dấu sự chứng đắc quả vị Dự lưu (Sotāpanna), tầng thánh đầu tiên.
  • Vượt qua nghi ngờ / Tiṇṇavicikiccho / Crossed beyond doubt: Trạng thái tâm của bậc Dự lưu, đã đoạn trừ hoàn toàn sự hoài nghi (vicikicchā) đối với Phật, Pháp, Tăng và con đường tu tập.
  • Không còn phân vân lưỡng lự / Vigatakathaṅkatho / Did away with perplexity: Trạng thái tâm không còn do dự, thắc mắc về giáo pháp và con đường thực hành.
  • Đạt được sự tự tin vững chắc / Vesārajjappatto / Gained intrepidity: Có được sự dạn dĩ, tự tin, không sợ hãi khi đối diện với các vấn đề liên quan đến giáo pháp hoặc khi trình bày giáo pháp.
  • Không còn phụ thuộc vào người khác đối với giáo pháp của Bậc Đạo Sư / Aparappaccayo satthusāsane / Independent of others in the Teacher’s Dispensation: Trạng thái tự mình chứng ngộ chân lý, không còn phải dựa vào niềm tin nơi người khác (kể cả Đức Phật) đối với những gì mình đã thấy biết.
  • A-la-hán / Arahaṃ / Accomplished, worthy one: Bậc Thánh đã đoạn trừ hoàn toàn mọi phiền não, lậu hoặc, chấm dứt sanh tử luân hồi, xứng đáng được tôn kính và cúng dường.
  • Chánh Đẳng Chánh Giác / Sammāsambuddha / Fully enlightened one: Bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn chân lý một cách viên mãn mà không cần thầy chỉ dạy, và có khả năng giảng dạy chân lý đó cho chúng sanh. Danh hiệu cao nhất của một vị Phật.
  • Tạo tác / Papañca / Proliferation, conceptual proliferation: Sự phát triển, lan tràn của các khái niệm, vọng tưởng, sự phân biệt nhị nguyên (ta-người, thích-ghét…) dựa trên cảm thọ, làm che mờ thực tại và dẫn đến khổ đau. Bậc A-la-hán đã chấm dứt papañca.
  • Tam minh / Tevijjā / Triple knowledge: Ba loại tuệ giác siêu việt của một vị Phật hoặc A-la-hán: 1. Túc mạng minh (pubbenivāsānussati-ñāṇa): biết rõ các kiếp sống quá khứ của mình và chúng sanh. 2. Thiên nhãn minh (cutūpapāta-ñāṇa): biết rõ sự sanh tử, tái sanh của chúng sanh theo nghiệp. 3. Lậu tận minh (āsavakkhaya-ñāṇa): biết rõ sự đoạn tận hoàn toàn các lậu hoặc (phiền não).
  • Thiện Thệ / Sugata / Sublime One, Well-gone: Một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “Bậc đã đi đến nơi tốt đẹp (Niết-bàn)” hoặc “Bậc nói lời chân thật, hữu ích”.
  • Ái dục / Taṇhā / Craving: Sự khao khát, ham muốn mãnh liệt đối với các đối tượng dục lạc (kāma-taṇhā), sự tồn tại (bhava-taṇhā), hoặc sự không tồn tại (vibhava-taṇhā). Đây là nguyên nhân chính của khổ đau theo Tứ Diệu Đế.