Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 55. Kinh Jīvaka

(Jīvaka Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại thành Vương Xá (Rājagaha), trong vườn xoài của Y sĩ Jīvaka Komārabhacca. [^573]

2. Khi ấy, Y sĩ Jīvaka Komārabhacca đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, ông ngồi xuống một bên và bạch Đức Thế Tôn:

3. “Kính bạch Ngài, con nghe người ta nói rằng: ‘Người ta giết hại chúng sanh vì Sa-môn Cồ-đàm; Sa-môn Cồ-đàm biết rõ mà vẫn ăn thịt được giết riêng cho mình.’ Bạch Ngài, những người nói như vậy có phải là thuật lại lời Đức Thế Tôn đã dạy, không xuyên tạc Ngài bằng điều trái sự thật không? Họ có giải thích đúng theo Giáo Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật về con đường giải thoát) để không ai có thể dựa vào đó mà suy diễn ra điều gì đáng chê trách không?” [369]

4. "Này Jīvaka, những người nói như vậy không phải thuật lại lời Ta nói, mà họ xuyên tạc Ta bằng điều không đúng, trái sự thật.

5. "Này Jīvaka, Ta nói có ba trường hợp không nên ăn thịt: khi thấy, nghe, hoặc nghi [rằng con vật đó bị giết cho vị tỳ kheo (bhikkhus - nhà sư khất thực)]. Ta nói không nên ăn thịt trong ba trường hợp này. Ta nói có ba trường hợp được phép ăn thịt: khi không thấy, không nghe, và không nghi [rằng con vật đó bị giết cho vị tỳ kheo]. Ta nói được phép ăn thịt trong ba trường hợp này. [^574]

55. KINH JÌVAKA

55. KINH JÌVAKA (Jìvaka Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), tại rừng xoài của Jivaka Komarabhacca.

Rồi Jivaka Komarabhacca đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Jivaka Komarabhacca bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, con nghe nói như sau: “Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama (tuy) biết thế (vẫn) dùng các loại thịt được giết vì mình và được làm cho mình”. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: “Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama (tuy) biết thế (vẫn) dùng các loại thịt được giết (vì mình) và được làm cho mình”, bạch Thế Tôn, những người ấy có nói chính lời Thế Tôn, họ không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật, họ trả lời đúng pháp, thuận pháp, và những ai như pháp, thuyết đúng (pháp) thuận (pháp) không có thể quở trách ?

– Này Jivaka, những ai nói như sau: “Vì Sa-môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama (tuy) biết thế (vẫn) dùng các loại thịt được giết (vì mình) được làm cho mình”, những người ấy không nói chính lời của Ta, họ xuyên tạc Ta, không như chân, không như thật. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi (vì mình mà giết). Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt không được thọ dụng. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi (vì mình mà giết). Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng.

6. “Này Jīvaka, ở đây, có vị tỳ kheo sống nương tựa vào một làng hay thị trấn nào đó. Vị ấy an trú, biến mãn khắp một phương với tâm thấm nhuần lòng từ (loving-kindness - mettā - tâm mong muốn chúng sanh được an vui), phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy; cũng vậy, ở trên, ở dưới, xung quanh, và khắp mọi nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy an trú biến mãn toàn thế giới với tâm thấm nhuần lòng từ, bao la, rộng lớn, vô lượng, không hận thù, không sân độc. Rồi một người gia chủ hay con của gia chủ đến mời vị ấy dùng bữa vào ngày hôm sau. Nếu muốn, vị tỳ kheo nhận lời. Qua đêm đó, vào buổi sáng, vị ấy đắp y, mang bát và thượng y, đi đến nhà người gia chủ hay con của gia chủ đó và ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Rồi người gia chủ hay con của gia chủ dâng cúng vật thực khất thực tốt đẹp. Vị ấy không nghĩ rằng: ‘Thật tốt quá, người gia chủ hay con của gia chủ này cúng dường cho ta vật thực tốt đẹp! Mong sao trong tương lai cũng có người gia chủ hay con của gia chủ cúng dường cho ta vật thực tốt đẹp như vậy!’ Vị ấy không nghĩ như thế. Vị ấy ăn vật thực khất thực đó mà không bị ràng buộc (attachment - sự dính mắc, luyến ái), không say đắm, không hoàn toàn dính mắc vào đó, thấy rõ sự nguy hiểm trong đó và hiểu rõ lối thoát khỏi nó (escape - sự giải thoát khỏi khổ đau). Này Jīvaka, ông nghĩ sao? Trong trường hợp đó, vị tỳ kheo ấy có chủ ý gây khổ não cho mình, hay gây khổ não cho người khác, hay gây khổ não cho cả hai không?” - “Thưa không, bạch Ngài.” - “Vậy trong trường hợp đó, vị tỳ kheo ấy có phải đang nuôi sống mình bằng vật thực không đáng chê trách không?”

7. “Thưa vâng, bạch Ngài. Con từng nghe rằng: ‘Phạm Thiên an trú trong lòng từ.’ Bạch Ngài, Đức Thế Tôn chính là bằng chứng sống cho điều đó; vì Đức Thế Tôn an trú trong lòng từ.”

“Này Jīvaka, mọi tham ái, [370] mọi sân hận, mọi si mê (delusion - moha - sự vô minh, không thấy rõ sự thật) nào có thể làm phát sinh ác ý (ill will - byāpāda - tâm muốn làm hại) đều đã được Như Lai đoạn tận, cắt tận gốc rễ, làm như thân cây kè đã bị chặt ngọn, diệt trừ, khiến chúng không còn có thể sanh khởi trong tương lai nữa. [^575] Nếu lời ông nói nhắm vào ý nghĩa đó, thì Ta chấp nhận.”

“Kính bạch Ngài, điều con nói chính là nhắm vào ý nghĩa đó.”

Ở đây, này Jivaka, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn nào, vị ấy biến mãn một phương với tâm có lòng từ, và an trú; cũng vậy phương thứ hai, phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú. Một người cư sĩ hay con một người cư sĩ đến Tỷ-kheo ấy và mời ngày mai thọ trai và này Jivaka, Tỷ-kheo ấy nhận lời. Sau khi đêm ấy đã qua, Tỷ-kheo ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến chỗ người cư sĩ kia hay con người cư sĩ kia. Sau khi đến, vị ấy ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Và vị cư sĩ, hay con vị cư sĩ ấy thỉnh vị ấy dùng các món ăn khất thực thượng vị. Vị Tỷ-kheo ấy không nghĩ: “Thật tốt lành thay, người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món khất thực thượng vị như vậy”. Tỷ-kheo ấy không nghĩ như vậy. Vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy, với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly. Này Jivaka, Ông nghĩ thế nào ? Tỷ- kheo kia, trong thời gian ấy có nghĩ đến tự hại, hay nghĩ đến hại người, hay nghĩ đến hại cả hai ?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này Jivaka, Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có phải dùng các món ăn không có lỗi lầm ?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: "Cao thượng thay, an trú lòng từ ! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn diện kiến thân chứng cho con điểm này, Bạch Thế Tôn, Thế Tôn an trú lòng từ.

– Này Jivaka, cái gọi là tham, là sân, là si, do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lại đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jivaka, nếu như vậy là ý nghĩa Ông muốn nói, thời Ta đồng ý với Ông.

– Bạch Thế Tôn, như vậy thật là ý nghĩa con muốn nói.

8-10. “Này Jīvaka, ở đây, có vị tỳ kheo sống nương tựa vào một làng hay thị trấn nào đó. Vị ấy an trú, biến mãn khắp một phương với tâm thấm nhuần lòng bi (compassion - karuṇā - tâm mong muốn chúng sanh thoát khổ), lòng hỷ (appreciative joy - muditā - tâm vui mừng trước hạnh phúc của chúng sanh), lòng xả (equanimity - upekkhā - tâm bình thản, không thiên vị, không bám víu hay ghét bỏ) phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy; cũng vậy, ở trên, ở dưới, xung quanh, và khắp mọi nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy an trú biến mãn toàn thế giới với tâm thấm nhuần lòng bi, bao la, rộng lớn, vô lượng, không hận thù, không sân độc. Rồi một người gia chủ hay con của gia chủ đến mời vị ấy dùng bữa vào ngày hôm sau. Nếu muốn, vị tỳ kheo nhận lời… Này Jīvaka, ông nghĩ sao? Trong trường hợp đó, vị tỳ kheo ấy có chủ ý gây khổ não cho mình, hay gây khổ não cho người khác, hay gây khổ não cho cả hai không?” - “Thưa không, bạch Ngài.” - “Vậy trong trường hợp đó, vị tỳ kheo ấy có phải đang nuôi sống mình bằng vật thực không đáng chê trách không?”

– Ở đây, này Jivaka, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng nào hay một thị trấn nào. Vị ấy biến mãn một phương với tâm có lòng bi… với tâm có lòng hỷ… với tâm có lòng xả và an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy, biến mãn với tâm có lòng xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân và an trú. Một cư sĩ hay con một người cư sĩ đến Tỷ-kheo ấy và mời ngày mai thọ trai. Và này Jivaka, Tỷ-kheo ấy nhận lời. Sau khi đêm ấy đã qua, vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến chỗ người cư sĩ kia, hay con của người cư sĩ kia. Sau khi đến, vị ấy ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Và vị cư sĩ, hay con vị cư sĩ ấy thỉnh vị ấy dùng các món ăn khất thực thượng vị. Tỷ-kheo ấy không nghĩ: “Thật tốt lành thay, người cư sĩ này, hay con người cư sĩ này thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị. Mong rằng vị cư sĩ này, hay con vị cư sĩ này trong tương lai sẽ thỉnh ta dùng các món ăn khất thực thượng vị như vậy”. Tỷ-kheo ấy không nghĩ như vậy. Vị ấy thọ dụng các món ăn khất thực ấy với tâm không tham trước, không tham đắm, không đam mê, thấy rõ các tai họa, ý thức rõ rệt sự xuất ly. Này Jivaka, Ông nghĩ thế nào ? Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy có nghĩ đến hại mình, hay nghĩ đến hại người, hay nghĩ đến hại cả hai ?

11. “Thưa vâng, bạch Ngài. Con từng nghe rằng: ‘Phạm Thiên an trú trong tâm xả.’ Bạch Ngài, Đức Thế Tôn chính là bằng chứng sống cho điều đó; vì Đức Thế Tôn an trú trong tâm xả.”

“Này Jīvaka, mọi tham ái, mọi sân hận, mọi si mê nào có thể làm phát sinh sự tàn nhẫn (cruelty - vihiṃsā - tâm làm hại), sự bất mãn (discontent - arati - sự không hài lòng, chán nản) hay sự ghét bỏ (aversion - paṭigha - sự chống đối, ác cảm) đều đã được Như Lai đoạn tận, cắt tận gốc rễ, làm như thân cây kè đã bị chặt ngọn, diệt trừ, khiến chúng không còn có thể sanh khởi trong tương lai nữa. [^576] Nếu lời ông nói nhắm vào ý nghĩa đó, thì Ta chấp nhận.” [371]

“Kính bạch Ngài, điều con nói chính là nhắm vào ý nghĩa đó.”

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này Jivaka, vị Tỷ-kheo kia, trong thời gian ấy, có phải dùng các món ăn không có lỗi lầm ?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: "Cao thượng thay, an trú lòng xả ! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn diện kiến thân chứng cho con điểm này. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn an trú lòng xả.

– Này Jivaka, cái gọi là tham, là sân, là si, do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lại đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jivaka, nếu như vậy thì ý nghĩa Ông muốn nói, thời ta đồng ý với Ông.

– Bạch Thế Tôn, như vậy thật là ý nghĩa con muốn nói.

12. “Nếu ai giết hại một chúng sanh vì Như Lai hay đệ tử của Như Lai, người đó tạo nhiều ác nghiệp (demerit - pāpa - hành động bất thiện tạo quả xấu) trong năm trường hợp. Khi người đó nói: ‘Hãy đi bắt con vật đó về đây,’ đây là trường hợp thứ nhất người đó tạo nhiều ác nghiệp. Khi con vật đó chịu đau đớn và buồn khổ vì bị dắt đi với dây buộc cổ, đây là trường hợp thứ hai người đó tạo nhiều ác nghiệp. Khi người đó nói: ‘Hãy đi giết con vật đó,’ đây là trường hợp thứ ba người đó tạo nhiều ác nghiệp. Khi con vật đó chịu đau đớn và buồn khổ trong lúc bị giết, đây là trường hợp thứ tư người đó tạo nhiều ác nghiệp. Khi người đó cúng dường Như Lai hay đệ tử của Như Lai bằng món ăn không được phép dùng (tức là thịt thấy, nghe, hoặc nghi là giết cho mình), đây là trường hợp thứ năm người đó tạo nhiều ác nghiệp. Bất cứ ai giết hại một chúng sanh vì Như Lai hay đệ tử của Như Lai đều tạo nhiều ác nghiệp trong năm trường hợp này.”

13. Khi nghe vậy, Y sĩ Jīvaka Komārabhacca bạch Đức Thế Tôn: "Thật kỳ diệu thay, bạch Ngài, thật tuyệt vời thay! Các vị tỳ kheo nuôi sống mình bằng vật thực được phép dùng. Các vị tỳ kheo nuôi sống mình bằng vật thực không đáng chê trách. Hay thay, bạch Ngài! Hay thay, bạch Ngài!.. Kể từ hôm nay, xin Đức Thế Tôn ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia (lay follower - upāsaka/upāsikā - người tại gia theo Phật) đã quy y Ngài trọn đời."577

– Này Jivaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân. Khi người ấy nói như sau: “Hãy đi và dắt con thú này đến”, đó là nguyên nhân thứ nhứt, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Con thú ấy, khi bị dắt đi, vì bị kéo lôi nơi cổ, nên cảm thọ khổ ưu, đó là nguyên nhân thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy nói: “Hãy đi và giết con thú này”, đó là nguyên nhân thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi con thú ấy bị giết, cảm thọ khổ ưu, đây là nguyên nhân thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử Như Lai một cách phi pháp, đó là nguyên nhân thứ năm, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Này Jivaka, người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai mà giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân này.

Khi nghe nói vậy, Jivaka Komarabhacca bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn ! Bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn một cách hợp pháp. Bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo thật sự thọ dụng các món ăn không có khuyết phạm. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! … Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Giáo Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật về bản chất của thực tại và con đường dẫn đến giác ngộ, giải thoát khổ đau. Trong ngữ cảnh rộng hơn, Dhamma còn có nghĩa là “pháp”, tức là các hiện tượng, sự vật, chân lý.
  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Nhà sư Phật giáo Theravada đã thọ giới cụ túc (giới cao nhất), sống đời sống khất thực, tuân thủ giới luật và thực hành thiền định để đạt đến giải thoát.
  • tâm từ / mettā / loving-kindness: Tâm mong muốn cho tất cả chúng sanh được an lạc, hạnh phúc, không phân biệt bạn thù; một trong bốn tâm vô lượng (Tứ Vô Lượng Tâm).
  • ràng buộc / attachment / attachment: Sự dính mắc, luyến ái, tham đắm vào người, vật, quan điểm hay trạng thái nào đó, được xem là một trong những nguyên nhân chính gây ra khổ đau theo đạo Phật.
  • lối thoát / escape / escape: Sự giải thoát khỏi vòng luân hồi khổ đau (saṃsāra), thường chỉ trạng thái Niết-bàn (Nibbāna) hoặc con đường thực hành Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) dẫn đến Niết-bàn.
  • si mê / moha / delusion: Sự vô minh, không nhận thức rõ ràng bản chất thật sự của các pháp (hiện tượng) là vô thường, khổ, vô ngã. Đây là một trong ba gốc rễ của mọi điều bất thiện (tham, sân, si).
  • ác ý / byāpāda / ill will: Tâm mong muốn làm hại, tâm sân hận, mong cho người khác gặp điều xấu, đau khổ; là một trong năm triền cái (năm pháp che lấp tâm trí, ngăn cản thiền định và trí tuệ).
  • tâm bi / karuṇā / compassion: Tâm rung động trước sự đau khổ của chúng sanh và mong muốn cho họ thoát khỏi khổ đau; một trong bốn tâm vô lượng.
  • tâm hỷ / muditā / appreciative joy (or sympathetic joy): Tâm vui mừng, hoan hỷ chân thành trước hạnh phúc, thành công, may mắn của người khác, không có lòng ganh tị; một trong bốn tâm vô lượng.
  • tâm xả / upekkhā / equanimity: Tâm giữ được sự bình thản, quân bình, không dao động trước những thăng trầm của cuộc đời (được-mất, khen-chê, vinh-nhục, khổ-vui), không thiên vị, không bám víu hay ghét bỏ; một trong bốn tâm vô lượng và là một trong bảy yếu tố giác ngộ (thất giác chi).
  • sự tàn nhẫn / vihiṃsā / cruelty: Ý định hoặc hành động gây tổn hại, làm đau đớn cho chúng sanh khác.
  • sự bất mãn / arati / discontent: Trạng thái không hài lòng, chán nản, không vui thích, đặc biệt là đối với đời sống tu tập hoặc hoàn cảnh hiện tại; có thể là một chướng ngại trên con đường tu tập.
  • sự ghét bỏ / paṭigha / aversion: Sự chống đối, ác cảm, bực bội, không hài lòng mạnh mẽ đối với người, vật hoặc tình huống; là một dạng biểu hiện của sân hận.
  • ác nghiệp / pāpa / demerit: Hành động bất thiện về thân, khẩu, ý, tạo ra quả báo xấu, dẫn đến khổ đau trong hiện tại hoặc tương lai. Trái nghĩa với thiện nghiệp (puñña).
  • cư sĩ tại gia / upāsaka (nam), upāsikā (nữ) / lay follower: Người Phật tử sống tại gia, không xuất gia, đã quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và thực hành lời Phật dạy, thường giữ năm giới căn bản.