Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 54. Gửi Potaliya

(Kinh Potaliya - Potaliya Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú ở xứ Anguttarāpa, tại một thị trấn tên là Āpana.

2. Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát, vào Āpana để khất thực. Sau khi khất thực ở Āpana và trở về, dùng bữa xong, Ngài đi đến một khu rừng nhỏ để an trú ban ngày. Vào khu rừng, Ngài ngồi xuống dưới gốc cây.

3. Lúc ấy, gia chủ Potaliya, trong khi đi bách bộ để rèn luyện thân thể, ăn mặc chỉnh tề, mang dù và dép, cũng đi đến khu rừng đó. Vào khu rừng, ông đến chỗ Đức Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi lịch sự và thân mật, ông đứng sang một bên. Đức Thế Tôn nói với ông: “Này gia chủ, có chỗ ngồi đó, nếu muốn ông hãy ngồi xuống.”

Khi nghe vậy, gia chủ Potaliya nghĩ: “Sa môn Gotama gọi mình là ‘gia chủ’,” ông tức giận và không hài lòng, nên im lặng.

Lần thứ hai, Đức Thế Tôn nói với ông: “Này gia chủ, có chỗ ngồi đó, nếu muốn ông hãy ngồi xuống.” Và lần thứ hai, gia chủ Potaliya nghĩ: “Sa môn Gotama gọi mình là ‘gia chủ’,” ông tức giận và không hài lòng, nên im lặng.

Lần thứ ba, Đức Thế Tôn nói với ông: “Này gia chủ, có chỗ ngồi đó, nếu muốn ông hãy ngồi xuống.” Khi nghe vậy, gia chủ Potaliya nghĩ: “Sa môn Gotama gọi mình là ‘gia chủ’,” ông tức giận và không hài lòng, bèn nói với Đức Thế Tôn: [360] “Thưa Tôn giả Gotama, thật không thích hợp, không đúng đắn khi Ngài gọi tôi là ‘gia chủ’.”

“Này gia chủ, ông có dáng vẻ, đặc điểm và dấu hiệu của một gia chủ.” “Tuy nhiên, thưa Tôn giả Gotama, tôi đã từ bỏ mọi công việc và chấm dứt mọi sự vụ của mình rồi.”

“Này gia chủ, ông đã từ bỏ mọi công việc và chấm dứt mọi sự vụ của mình theo cách nào?”

“Thưa Tôn giả Gotama, tôi đã trao hết tài sản, thóc lúa, bạc vàng cho con cái làm của thừa kế. Tôi không khuyên bảo hay la rầy chúng nữa, chỉ sống nhờ vào thức ăn và y phục. Đó là cách tôi đã từ bỏ mọi công việc và chấm dứt mọi sự vụ của mình.”

“Này gia chủ, cách chấm dứt sự vụ mà ông mô tả là một chuyện, còn trong Giới Luật của bậc Thánh (Noble One’s Discipline - giới luật của những người đã đạt được sự giác ngộ), việc chấm dứt sự vụ lại khác.”

“Thưa Ngài, việc chấm dứt sự vụ trong Giới Luật của bậc Thánh là như thế nào? Thật tốt lành thay, thưa Ngài, nếu Đức Thế Tôn có thể giảng Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật) cho con, chỉ rõ việc chấm dứt sự vụ trong Giới Luật của bậc Thánh là như thế nào.”

“Vậy thì, này gia chủ, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ những gì Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Ngài,” gia chủ Potaliya đáp. Đức Thế Tôn nói như sau:

54. KINH POTALIYA

54. KINH POTALIYA (Potaliya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Anguttarapa. Apana là một thị trấn của Anguttarapa.

Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào Apana để khất thực. Sau khi đi khất thực, ăn xong, trên con đường khất thực trở về, Thế Tôn đi đến một khu rừng để nghỉ trưa. Sau khi đi sâu vào khu rừng ấy, Ngài ngồi dưới một gốc cây.

Gia chủ Potaliya, toàn thân mặc đồ đầy đủ, mang dù, đi dép, ngao du tản bộ khắp mọi nơi, và đi đến khu rừng ấy. Sau khi đi sâu vào (khu rừng), gia chủ Potaliya, đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, sau khi nói lên những lời hỏi thăm, thân hữu rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với Gia chủ Potaliya đang đứng một bên:

– Này Gia chủ, có các chỗ ngồi. Nếu Ông muốn, hãy ngồi xuống.

Nghe nói vậy, gia chủ Potaliya nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama gọi ta với danh từ Gia chủ”, nên phẫn nộ không hoan hỷ và đứng im. Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Gia chủ Potaliya:

– Này Gia chủ, có các chỗ ngồi. Nếu Ông muốn, hãy ngồi xuống.

Lần thứ hai, gia chủ Potaliya nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama gọi ta với danh từ Gia chủ”, nên phẫn nộ, không hoan hỷ và đứng im. Lần thứ ba, Thế Tôn nói với gia chủ Potaliya:

– Này Gia chủ, có các chỗ ngồi. Nếu Ông muốn, hãy ngồi xuống.

Nghe nói vậy, gia chủ Potaliya nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama gọi ta với danh từ Gia chủ”, nên phẫn nộ, không hoan hỷ, nói với Thế Tôn:

– Tôn giả Gotama, thật không thích đáng, không hợp lẽ, Tôn giả gọi tôi là Gia chủ.

– Này Gia chủ, nhưng hình dung của Ông, tướng mạo của ông, hình tướng của Ông giống như một gia chủ.

– Nhưng Tôn giả Gotama, tất cả nghiệp vụ đã được tôi từ bỏ, tất cả tục sự đã được tôi đoạn tận.

– Nhưng này Gia chủ, như thế nào tất cả nghiệp vụ đã được Ông từ bỏ, tất cả tục sự đã được Ông đoạn tận?

– Ở đây, này Tôn giả Gotama, tài sản, ngũ cốc, hay vàng bạc, tất cả đều giao cho các con tôi thừa hưởng. Ở đây, tôi không khuyên bảo, tôi không can gián; tôi sống với tối thiểu đồ ăn, đồ mặc. Như vậy, này Tôn giả Gotama, tất cả nghiệp vụ được tôi từ bỏ, tất cả tục sự được tôi đoạn tận.

– Này Gia chủ, sự đoạn tận các tục sự mà Ông nói khác với sự đoạn tận các tục sự trong giới luật của bậc Thánh.

– Bạch Thế Tôn, như thế nào là sự đoạn tận các tục sự trong giới luật của bậc Thánh? Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho tôi về sự đoạn tận các tục sự trong giới luật của bậc Thánh.

– Này Gia chủ, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Gia chủ Potaliya vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

4. “Này gia chủ, trong Giới Luật của bậc Thánh có tám điều này dẫn đến việc chấm dứt sự vụ. Tám điều đó là gì? Với sự hỗ trợ của việc không sát sinh, việc sát sinh cần được từ bỏ. Với sự hỗ trợ của việc chỉ lấy những gì được cho, việc lấy những gì không được cho cần được từ bỏ. Với sự hỗ trợ của lời nói chân thật, lời nói dối trá cần được từ bỏ. Với sự hỗ trợ của lời nói không ác ý, lời nói ác ý cần được từ bỏ. Với sự hỗ trợ của việc từ bỏ lòng tham lam chiếm đoạt (rapacious greed - giddhilobha - lòng tham muốn vơ vét, chiếm giữ), lòng tham lam chiếm đoạt cần được từ bỏ. Với sự hỗ trợ của việc từ bỏ lời mắng nhiếc ác ý (spiteful scolding - niddesa - lời nói chỉ trích, chê bai với ác tâm), lời mắng nhiếc ác ý cần được từ bỏ. Với sự hỗ trợ của việc từ bỏ sự giận dữ tuyệt vọng (angry despair - kodhūpāyāsa - sự tức giận đi kèm với thất vọng, chán nản), sự giận dữ tuyệt vọng cần được từ bỏ. Với sự hỗ trợ của việc không kiêu mạn (non-arrogance - sự không tự cao, ngã mạn), lòng kiêu mạn (arrogance - atimāna - sự tự cao, ngã mạn) cần được từ bỏ. Đây là tám điều, được nói tóm tắt mà không giải thích chi tiết, dẫn đến việc chấm dứt sự vụ trong Giới Luật của bậc Thánh.”

5. “Thưa Ngài, thật tốt lành thay nếu Đức Thế Tôn, vì lòng từ bi, có thể giải thích chi tiết cho con về tám điều dẫn đến việc chấm dứt sự vụ trong Giới Luật của bậc Thánh này, những điều đã được Đức Thế Tôn nói tóm tắt mà không giải thích chi tiết.”

“Vậy thì, này gia chủ, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ những gì Ta sẽ nói.” “Vâng, thưa Ngài,” gia chủ Potaliya đáp. Đức Thế Tôn nói như sau: [361]

– Này Gia chủ. tám pháp này đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh. Thế nào là tám? Y cứ không sát sanh, sát sanh cần phải từ bỏ. Y cứ không lấy của không cho, lấy của không cho cần phải từ bỏ. Y cứ lời chân thật, nói láo cần phải từ bỏ. Y cứ không nói hai lưỡi, nói hai lưỡi cần phải từ bỏ. Y cứ không tham dục, tham dục cần phải từ bỏ. Y cứ không hủy báng sân hận, hủy báng sân hận cần phải từ bỏ. Y cứ không phẫn não, phẫn não cần phải từ bỏ. Y cứ không quá mạn, quá mạn cần phải từ bỏ. Này Gia chủ, tám pháp này được nói một cách vắn tắt, không được giải thích rộng rãi, đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh.

– Bạch Thế Tôn tám pháp này được Thế Tôn nói một cách vắn tắt, không được giải thích rộng rãi, đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn vì lòng thương tưởng, giải thích rộng rãi tám pháp này.

– Này Gia chủ, vậy Ông hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Gia chủ Potaliya vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

6. “‘Với sự hỗ trợ của việc không sát sinh, việc sát sinh cần được từ bỏ.’ Điều đó đã được nói như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì? Ở đây, một Thánh đệ tử (noble disciple - người học trò đã đạt được một trong các cấp độ giác ngộ) suy xét như sau: ‘Ta đang thực hành con đường để từ bỏ và đoạn trừ những kiết sử (fetters - saṃyojana - những trói buộc tâm linh) mà vì chúng ta có thể sát sinh. Nếu ta sát sinh, ta sẽ tự trách mình vì đã làm vậy; người trí sau khi xem xét sẽ khiển trách ta vì đã làm vậy; và sau khi thân hoại mạng chung, do sát sinh nên một cõi khổ (unhappy destination - duggati - cảnh giới tái sinh đau khổ) là điều được chờ đợi. Nhưng chính việc sát sinh này là một kiết sử và một triền cái (hindrance - nīvaraṇa - những chướng ngại tâm linh). [^568] Và trong khi các lậu hoặc (taints - āsava - những ô nhiễm, phiền não sâu kín), phiền muộn (vexation - vighāta - sự bực bội, khó chịu), và nhiệt não (fever - parilāha - sự nóng nảy, khổ đau thiêu đốt) có thể phát sinh qua việc sát sinh, thì không có lậu hoặc, phiền muộn, và nhiệt não nơi người từ bỏ sát sinh.’ Vì vậy, liên quan đến điều này mà đã nói rằng: ‘Với sự hỗ trợ của việc không sát sinh, việc sát sinh cần được từ bỏ.’”

7. "‘Với sự hỗ trợ của việc chỉ lấy những gì được cho, việc lấy những gì không được cho cần được từ bỏ.’ Điều đó đã được nói như vậy…

8. "‘Với sự hỗ trợ của lời nói chân thật, lời nói dối trá cần được từ bỏ.’ Điều đó đã được nói như vậy…[362]

9. "‘Với sự hỗ trợ của lời nói không ác ý, lời nói ác ý cần được từ bỏ.’ Điều đó đã được nói như vậy…

10. "‘Với sự hỗ trợ của việc từ bỏ lòng tham lam chiếm đoạt, lòng tham lam chiếm đoạt cần được từ bỏ.’ Điều đó đã được nói như vậy…

11. "‘Với sự hỗ trợ của việc từ bỏ lời mắng nhiếc ác ý, lời mắng nhiếc ác ý cần được từ bỏ.’ Điều đó đã được nói như vậy…[363]

12. "‘Với sự hỗ trợ của việc từ bỏ sự giận dữ tuyệt vọng, sự giận dữ tuyệt vọng cần được từ bỏ.’ Điều đó đã được nói như vậy…

13. "‘Với sự hỗ trợ của việc không kiêu mạn, lòng kiêu mạn cần được từ bỏ.’ Điều đó đã được nói như vậy. Và điều này được nói liên quan đến cái gì? Ở đây, một Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Ta đang thực hành con đường để từ bỏ và đoạn trừ những kiết sử mà vì chúng ta có thể trở nên kiêu mạn. Nếu ta kiêu mạn, ta sẽ tự trách mình vì điều này; người trí sau khi xem xét sẽ khiển trách ta vì điều này; và sau khi thân hoại mạng chung, do kiêu mạn nên một cõi khổ là điều được chờ đợi. Nhưng chính lòng kiêu mạn này là một kiết sử và một triền cái. Và trong khi các lậu hoặc, phiền muộn, và nhiệt não có thể phát sinh qua lòng kiêu mạn, thì không có lậu hoặc, phiền muộn, và nhiệt não nơi người không kiêu mạn.’ Vì vậy, liên quan đến điều này mà đã nói rằng: ‘Với sự hỗ trợ của việc không kiêu mạn, lòng kiêu mạn cần được từ bỏ.’ [^1569] [364]

– Khi được nói: “Y cứ không sát sanh, sát sanh cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể sát sanh, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ của các kiết sử ấy. Nếu ta sát sanh, không những ta tự trách mắng ta vì duyên sát sanh, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên sát sanh; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên sát sanh. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự sát sanh này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não nào có thể khởi lên, do duyên sát sanh, đối với vị đã từ bỏ sát sanh, những lậu hoặc phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không sát sanh cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không lấy của không cho, lấy của không cho cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể lấy của không cho, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta lấy của không cho, không những ta tự trách mắng ta vì duyên lấy của không cho, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên lấy của không cho; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên lấy của không cho. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự lấy của không cho này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não nào có thể khởi lên do duyên lấy của không cho, đối với vị đã từ bỏ lấy của không cho, những lậu hoặc phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không lấy của không cho, lấy của không cho cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ lời chân thật, nói láo cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào, ta có thể nói láo, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta nói láo, không những ta tự trách mắng ta vì duyên nói láo, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên nói láo; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên nói láo. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính nói láo này. Những lậu hoặc phiền lao nhiệt não có thể khởi lên, do duyên nói láo, đối với vị đã từ bỏ nói láo, những lậu hoặc phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ lời chân thật nói láo cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không nói hai lưỡi, nói hai lưỡi cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào, ta có thể nói hai lưỡi, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta nói hai lưỡi, không những ta tự trách mắng ta vì duyên nói hai lưỡi, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu cũng khiển trách ta vì duyên nói hai lưỡi, và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên nói hai lưỡi. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự nói hai lưỡi này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên nói hai lưỡi, đối với vị đã từ bỏ nói hai lưỡi, những lậu hoặc phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không nói hai lưỡi, nói hai lưỡi cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không tham dục, tham dục cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào, ta có thể có tham dục, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta tham dục, không những ta tự trách mắng ta vì duyên tham dục, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu cũng khiển trách ta vì duyên tham dục; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên tham dục. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự tham dục này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên tham dục, đối với vị đã từ bỏ tham dục, các lậu hoặc phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không tham dục, tham dục cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không hủy báng sân hận, hủy báng sân hận cần được từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể hủy báng sân hận, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta hủy báng sân hận, không những ta tự trách mắng ta vì duyên hủy báng, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng khiển trách ta vì duyên hủy báng sân hận; và sau khi thân hoại mạng chung ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên hủy báng sân hận. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự hủy báng sân hận này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên hủy báng sân hận, đối với vị đã từ bỏ hủy báng sân hận các lậu hoặc phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không hủy báng sân hận, hủy báng sân hận cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không phẫn não, phẫn não cần được từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể có phẫn não, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta có phẫn não, không những ta tự trách mắng ta vì duyên phẫn não, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng khiển trách ta vì duyên phẫn não; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên phẫn não. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự phẫn nào này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên phẫn não, đối với vị đã từ bỏ phẫn não, các lậu hoặc phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không phẫn não, phẫn não cần được từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không quá mạn, quá mạn cần được từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có quá mạn, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta có quá mạn, không những ta tự trách mắng ta vì duyên quá mạn, các bậc có trí sau khi tìm hiểu, cũng khiển trách ta vì duyên quá mạn; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên quá mạn. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự quá mạn này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên quá mạn, đối với vị đã từ bỏ quá mạn, các lậu hoặc phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không quá mạn, quá mạn cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

14. “Tám điều dẫn đến việc chấm dứt sự vụ trong Giới Luật của bậc Thánh này nay đã được giải thích chi tiết. Nhưng việc chấm dứt sự vụ trong Giới Luật của bậc Thánh vẫn chưa được thành tựu hoàn toàn và trên mọi phương diện.”

“Thưa Ngài, làm thế nào để việc chấm dứt sự vụ trong Giới Luật của bậc Thánh được thành tựu hoàn toàn và trên mọi phương diện? Thật tốt lành thay, thưa Ngài, nếu Đức Thế Tôn có thể giảng Pháp cho con, chỉ cho con thấy làm thế nào việc chấm dứt sự vụ trong Giới Luật của bậc Thánh được thành tựu hoàn toàn và trên mọi phương diện.”

“Vậy thì, này gia chủ, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ những gì Ta sẽ nói.”

“Vâng, thưa Ngài,” gia chủ Potaliya đáp. Đức Thế Tôn nói như sau:

15. “Này gia chủ, giả sử có một con chó, bị đói và yếu sức, đang đợi bên một quầy thịt. [^570] Rồi một người đồ tể lành nghề hoặc người học việc của ông ta chặt một khúc xương không còn thịt, chỉ dính máu, và ném cho con chó. Ông nghĩ sao, này gia chủ? Liệu con chó đó có hết đói và yếu sức bằng cách gặm khúc xương không thịt chỉ dính máu như vậy không?”

“Thưa Ngài, không. Tại sao vậy? Bởi vì khúc xương đó chỉ toàn xương không thịt, dính máu. Cuối cùng, con chó đó sẽ chỉ nhận lấy sự mệt mỏi và thất vọng.”

"Cũng vậy, này gia chủ, một Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Các dục lạc (sensual pleasures - kāma - sự hưởng thụ qua năm giác quan) đã được Đức Thế Tôn ví như khúc xương; chúng mang lại nhiều đau khổ và nhiều thất vọng, trong khi hiểm họa nơi chúng thì rất lớn.’ Sau khi thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính, vị ấy tránh xa tâm xả (equanimity - upekkhā - trạng thái tâm quân bình, không thiên vị) đa dạng, dựa trên sự đa dạng, và phát triển tâm xả thống nhất, dựa trên sự thống nhất, [^571] nơi mà sự chấp thủ (clinging - upādāna - sự bám víu, níu giữ) vào những thứ vật chất của thế gian hoàn toàn chấm dứt không còn dư sót.

16. “Này gia chủ, giả sử một con kền kền, con quạ, hay con diều hâu quắp một miếng thịt và bay đi, rồi những con kền kền, quạ, và diều hâu khác bay đến mổ và cấu xé nó. Ông nghĩ sao, này gia chủ? Nếu con kền kền, quạ, hay diều hâu đó không nhanh chóng buông miếng thịt ra, liệu nó có phải chịu cái chết hoặc đau khổ đến chết vì miếng thịt đó không?” “Vâng, thưa Ngài.”

"Cũng vậy, này gia chủ, một Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Các dục lạc đã được Đức Thế Tôn ví như miếng thịt; chúng mang lại nhiều đau khổ và nhiều thất vọng, trong khi hiểm họa nơi chúng thì rất lớn.’ [365] Sau khi thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính… sự chấp thủ vào những thứ vật chất của thế gian hoàn toàn chấm dứt không còn dư sót.

17. “Này gia chủ, giả sử một người cầm một bó đuốc cỏ đang cháy và đi ngược gió. Ông nghĩ sao, này gia chủ? Nếu người đó không nhanh chóng buông bó đuốc cỏ đang cháy đó ra, liệu bó đuốc cỏ đang cháy đó có làm bỏng tay, cánh tay hay một bộ phận nào khác trên cơ thể người đó, khiến người đó có thể phải chịu cái chết hoặc đau khổ đến chết vì nó không?”

“Vâng, thưa Ngài.”

"Cũng vậy, này gia chủ, một Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Các dục lạc đã được Đức Thế Tôn ví như bó đuốc cỏ; chúng mang lại nhiều đau khổ và nhiều thất vọng, trong khi hiểm họa nơi chúng thì rất lớn.’ Sau khi thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính… sự chấp thủ vào những thứ vật chất của thế gian hoàn toàn chấm dứt không còn dư sót.

18. “Này gia chủ, giả sử có một hầm than sâu hơn chiều cao một người, đầy than hồng rực không có lửa ngọn hay khói. Rồi một người muốn sống không muốn chết, muốn vui vẻ và sợ hãi đau khổ đi đến, và hai người đàn ông khỏe mạnh nắm lấy hai cánh tay người đó kéo về phía hầm than. Ông nghĩ sao, này gia chủ? Liệu người đó có vùng vẫy thân mình qua lại không?”

“Vâng, thưa Ngài. Tại sao vậy? Bởi vì người đó biết rằng nếu rơi vào hầm than đó, người đó sẽ phải chịu cái chết hoặc đau khổ đến chết vì nó.”

"Cũng vậy, này gia chủ, một Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Các dục lạc đã được Đức Thế Tôn ví như hầm than; chúng mang lại nhiều đau khổ và nhiều thất vọng, trong khi hiểm họa nơi chúng thì rất lớn.’ Sau khi thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính… sự chấp thủ vào những thứ vật chất của thế gian hoàn toàn chấm dứt không còn dư sót.

19. "Này gia chủ, giả sử một người mơ thấy những công viên xinh đẹp, những khu rừng xinh đẹp, những đồng cỏ xinh đẹp, và những hồ nước xinh đẹp, rồi khi tỉnh dậy, người đó không thấy gì cả. Cũng vậy, này gia chủ, một Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Các dục lạc đã được Đức Thế Tôn ví như giấc mơ; chúng mang lại nhiều đau khổ và nhiều thất vọng, trong khi hiểm họa nơi chúng thì rất lớn.’ Sau khi thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính… sự chấp thủ vào những thứ vật chất của thế gian hoàn toàn chấm dứt không còn dư sót.

20. “Này gia chủ, giả sử một người mượn đồ [366] - một cỗ xe sang trọng và đôi hoa tai gắn ngọc quý - rồi đi trước và được vây quanh bởi những món đồ mượn đó đến khu chợ. Mọi người thấy vậy liền nói: ‘Này quý vị, đó là một người giàu có! Người giàu hưởng thụ của cải của họ như thế đó!’ Rồi những người chủ, bất cứ khi nào thấy người đó, liền đòi lại đồ của họ. Ông nghĩ sao, này gia chủ? Điều đó có đủ để người đó trở nên chán nản không?”

“Vâng, thưa Ngài. Tại sao vậy? Bởi vì những người chủ đã đòi lại đồ của họ.”

"Cũng vậy, này gia chủ, một Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Các dục lạc đã được Đức Thế Tôn ví như đồ đi mượn; chúng mang lại nhiều đau khổ và nhiều thất vọng, trong khi hiểm họa nơi chúng thì rất lớn.’ Sau khi thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính… sự chấp thủ vào những thứ vật chất của thế gian hoàn toàn chấm dứt không còn dư sót.

21. “Này gia chủ, giả sử có một khu rừng rậm không xa một làng hay thị trấn nào đó, trong đó có một cây trĩu quả nhưng không có quả nào rụng xuống đất. Rồi một người cần trái cây, tìm kiếm trái cây, lang thang tìm trái cây, đi vào khu rừng và thấy cây trĩu quả đó. Người đó liền nghĩ: ‘Cây này trĩu quả nhưng không có quả nào rụng xuống đất. Ta biết cách trèo cây, vậy hãy để ta trèo lên cây này, ăn bao nhiêu trái tùy thích, và hái đầy túi.’ Và người đó đã làm như vậy. Rồi một người thứ hai cũng cần trái cây, tìm kiếm trái cây, lang thang tìm trái cây, mang theo một cái rìu sắc, cũng đi vào khu rừng và thấy cây trĩu quả đó. Người đó liền nghĩ: ‘Cây này trĩu quả nhưng không có quả nào rụng xuống đất. Ta không biết cách trèo cây, vậy hãy để ta chặt gốc cây này xuống, ăn bao nhiêu trái tùy thích, và hái đầy túi.’ Và người đó đã làm như vậy. Ông nghĩ sao, này gia chủ? Nếu người đầu tiên đã trèo lên cây không xuống nhanh, khi cây đổ, liệu người đó có bị gãy tay, gãy chân hay một bộ phận nào khác trên cơ thể, [367] khiến người đó có thể phải chịu cái chết hoặc đau khổ đến chết vì nó không?”

“Vâng, thưa Ngài.” "Cũng vậy, này gia chủ, một Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Các dục lạc đã được Đức Thế Tôn ví như cây ăn quả; chúng mang lại nhiều đau khổ và nhiều thất vọng, trong khi hiểm họa nơi chúng thì rất lớn.’ Sau khi thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính, vị ấy tránh xa tâm xả đa dạng, dựa trên sự đa dạng, và phát triển tâm xả thống nhất, dựa trên sự thống nhất, nơi mà sự chấp thủ vào những thứ vật chất của thế gian hoàn toàn chấm dứt không còn dư sót.

Này Gia chủ, tám pháp được nói lên vắn tắt và được giải thích rộng rãi này, đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh, nhưng thật sự chưa phải là sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh.

– Bạch Thế Tôn, như thế nào là sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh? Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con như thế nào là sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ, toàn mặt tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh.

– Này Gia chủ, vậy Ông hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Gia chủ Potaliya vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

– Này Gia chủ, ví như có con chó đói lả, suy nhược, đi đến một lò thịt giết bò. Ở đây, có người giết bò thiện xảo hay người đệ tử quăng cho nó một khúc xương, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Con chó ấy, khi gặm khúc xương ấy, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu có thể đoạn trừ được đói lả suy nhược của nó không?

– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao vậy? Với khúc xương khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu ấy, bạch Thế Tôn, con chó kia chỉ có mệt nhọc khốn khổ mà thôi.

– Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như khúc xương, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhất chủng, ở đây, mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy.

Này Gia chủ, ví như con chim kên, con chim diều hâu, hay con chim ưng giành được miếng thịt liền bay bổng lên; các con chim kên khác, chim diều hâu khác, hay chim ưng khác bay đuổi theo, đuổi sát theo giành giựt xé nát miếng thịt ấy. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Nếu con chim kên, chim diều hâu hay chim ưng ấy không vứt bỏ ngay miếng thịt ấy, nó có thể do nhân duyên ấy, đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như miếng thịt, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy, với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhứt chủng, ở đây mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy.

Này Gia chủ, ví như một người cầm một bó đuốc cỏ đang cháy rực đi ngược gió. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào, nếu người ấy không vứt bỏ ngay bó đuốc ấy, bó đuốc cỏ đang cháy rực ấy có thể đốt cháy tay, hay đốt cháy cánh tay, hay đốt cháy một thân phần của người ấy, người ấy có thể do nhân duyên ấy, đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết không?

– Thưa có, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như bó đuốc cỏ, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy… (như trên)… với chánh trí tuệ, vị ấy tu tập loại xả như vậy.

Này Gia chủ, ví như một hố than hừng, sâu hơn thân người, đầy những than hừng, cháy không thành ngọn, cháy không thành khói, và một người đi đến muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, né tránh khổ. Nhưng có hai nhà lực sĩ, nắm chặt hai cánh tay người ấy và lôi người ấy đến hố than hừng. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có co rúm thân, vật qua vật lại phía này phía kia không?

– Bạch Thế Tôn, có. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì người ấy biết: "Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên này, ta sẽ đi đến chết hay đau khổ gần như chết.

– Cũng vậy, này cư sĩ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ… (như trên)… vị ấy tu tập loại xả như vậy.

Này Gia chủ, ví như có người nằm mộng, thấy vườn khả ái, rừng núi khả ái, đất đai khả ái, ao hồ khả ái; khi tỉnh dậy, người ấy không thấy gì cả. Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như một cơn mộng, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ,… (như trên)… vị ấy tu tập loại xả như vậy.

Này Gia chủ, ví như có người mượn tài vật cho mượn như xe cộ xứng đáng bậc sang trọng, các đồ châu báu trang sức mỹ diệu, và với những đồ vật vay mượn ấy, người ấy đi vào chợ phố, được (tôn trọng) đi trước, được nhiều người vây quanh, và quần chúng thấy người ấy bèn nói: “Người này thật sự giàu sang, và người giàu sang hưởng thọ tài vật như vậy”. Nhưng những người chủ thấy người kia ở chỗ nào liền lấy lui những vật sở hữu của mình. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Có phải sự (trá hình) dị tính của người kia được chấm dứt ở đây?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn, vì những người chủ lấy lui những vật sở hữu của mình.

– Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như tài vật vay mượn, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ… (như trên)… vị ấy tu tập loại xả như vậy.

Này Gia chủ, ví như gần thôn làng hay gần thị tứ có một nhóm rừng, ở đấy, có một cây đầy những trái chín, nhưng không có trái nào rơi xuống đất. Rồi một người đi đến, ước mong trái cây, tìm cầu trái cây, đi khắp đó đây để tìm trái cây. Người ấy đi sâu vào ngôi rừng ấy, thấy cây ấy đầy những trái chín. Người ấy có thể nghĩ như sau: "Cây này đầy những trái chín nhưng không có trái nào rơi xuống đất, nhưng ta biết leo cây. Vậy ta hãy leo lên cây ấy ăn cho thỏa thích và bọc đầy áo (để đem về). Rồi người ấy leo lên cây ấy, ăn cho thỏa thích và bọc đầy áo (để đem về). Rồi một người thứ hai đi đến, ước mong trái cây, tìm cầu trái cây, đi khắp đó đây để tìm trái cây, và tay mang một búa sắc bén. Người này đi sâu vào ngôi rừng ấy, thấy cây ấy đầy những trái chín. Người này có thể nghĩ như sau: “Cây này đầy những trái chín, nhưng không có trái nào rơi xuống đất. Nhưng ta không biết leo cây. Vậy ta hãy chặt cây này tận gốc, ăn cho thỏa thích, và bọc đầy áo (để đem về)”. Rồi người này chặt cây ấy tận gốc. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Nếu người kia không leo xuống thật mau, thời cây ấy khi rơi đổ xuống, sẽ làm cho người thứ nhất, hoặc bị gãy tay, hoặc bị gãy chân, hoặc bị gãy một phần thân nào. Và do nhân duyên ấy, sẽ bị chết hay đi đến đau khổ gần như chết.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã nói, dục được ví như cây có trái, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn”. Sau khi thấy như chân như vậy với trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhứt chủng, ở đây mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy.

22. "Đạt đến trạng thái chánh niệm (mindfulness - sati - sự tỉnh thức, nhận biết rõ ràng trong hiện tại) tối thượng đó, thanh tịnh nhờ tâm xả, vị Thánh đệ tử này nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của mình, nghĩa là, một kiếp, hai kiếp…(như Kinh 51, §24)…Như vậy, với các khía cạnh và chi tiết, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của mình. [Đây là Túc mạng minh (past lives recollection - pubbenivāsānussati - khả năng nhớ lại các kiếp sống quá khứ)].

23. "Đạt đến trạng thái chánh niệm tối thượng đó, thanh tịnh nhờ tâm xả, với thiên nhãn (divine eye - dibbacakkhu - khả năng nhìn thấy sự sinh diệt của chúng sinh), vốn thanh tịnh và vượt xa mắt người thường, vị Thánh đệ tử này thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, kẻ hạ liệt và người cao sang, kẻ xấu xí và người xinh đẹp, kẻ may mắn và người bất hạnh…(như Kinh 51, §25)…và vị ấy hiểu rõ chúng sinh tiếp diễn như thế nào tùy theo hành động của họ. [Đây là Thiên nhãn minh].

24. "Đạt đến trạng thái chánh niệm tối thượng đó, thanh tịnh nhờ tâm xả, bằng cách tự mình chứng ngộ với thắng trí (direct knowledge - abhiññā - sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt), vị Thánh đệ tử này ngay trong hiện tại chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát (deliverance of mind - cetovimutti - sự giải thoát khỏi phiền não về mặt tâm) và tuệ giải thoát (deliverance by wisdom - paññāvimutti - sự giải thoát nhờ trí tuệ thấy rõ sự thật) vốn là vô lậu (taintless - anāsava - không còn lậu hoặc, phiền não) với sự đoạn tận các lậu hoặc (destruction of the taints - āsavakkhaya - sự chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc).

25. “Đến đây, này gia chủ, việc chấm dứt sự vụ trong Giới Luật của bậc Thánh đã được thành tựu hoàn toàn và trên mọi phương diện. Ông nghĩ sao, này gia chủ? Ông có thấy nơi bản thân mình bất kỳ sự chấm dứt sự vụ nào giống như sự chấm dứt sự vụ này trong Giới Luật của bậc Thánh khi nó được thành tựu hoàn toàn và trên mọi phương diện không?”

“Thưa Ngài, con là ai mà có thể sở hữu bất kỳ sự chấm dứt sự vụ nào hoàn toàn và trên mọi phương diện như trong Giới Luật của bậc Thánh? Thưa Ngài, con còn xa vời lắm với sự chấm dứt sự vụ đó trong Giới Luật của bậc Thánh khi nó đã được thành tựu hoàn toàn và trên mọi phương diện. Bởi vì, thưa Ngài, mặc dù các du sĩ ngoại đạo (wanderers of other sects - aññatitthiya paribbājaka - những người tu hành theo các giáo phái khác ngoài Phật giáo) không phải là ngựa thuần chủng, chúng con đã tưởng họ là ngựa thuần chủng; [^572] mặc dù họ không phải là ngựa thuần chủng, chúng con đã cho họ ăn thức ăn của ngựa thuần chủng; mặc dù họ không phải là ngựa thuần chủng, chúng con đã đặt họ vào vị trí của ngựa thuần chủng. Nhưng mặc dù các vị tỳ kheo (bhikkhus - nhà sư Phật giáo đã thọ giới cụ túc) là ngựa thuần chủng, chúng con đã tưởng họ không phải là ngựa thuần chủng; mặc dù họ là ngựa thuần chủng, chúng con đã cho họ ăn thức ăn của những người không phải là ngựa thuần chủng; mặc dù họ là ngựa thuần chủng, chúng con đã đặt họ vào vị trí của những người không phải là ngựa thuần chủng. Nhưng bây giờ, thưa Ngài, [368] vì các du sĩ ngoại đạo không phải là ngựa thuần chủng, chúng con sẽ hiểu rằng họ không phải là ngựa thuần chủng; vì họ không phải là ngựa thuần chủng, chúng con sẽ cho họ ăn thức ăn của những người không phải là ngựa thuần chủng; vì họ không phải là ngựa thuần chủng, chúng con sẽ đặt họ vào vị trí của những người không phải là ngựa thuần chủng. Nhưng vì các vị tỳ kheo là ngựa thuần chủng, chúng con sẽ hiểu rằng họ là ngựa thuần chủng; vì họ là ngựa thuần chủng, chúng con sẽ cho họ ăn thức ăn của ngựa thuần chủng; vì họ là ngựa thuần chủng, chúng con sẽ đặt họ vào vị trí của ngựa thuần chủng. Thưa Ngài, Đức Thế Tôn đã khơi dậy trong con tình yêu đối với các sa môn, niềm tin vào các sa môn, lòng tôn kính đối với các sa môn.”

26. “Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ Giáo Pháp bằng nhiều cách, như thể lật ngửa những gì bị úp xuống, tiết lộ những gì bị che giấu, chỉ đường cho người bị lạc, hay giơ cao ngọn đèn trong bóng tối cho những ai có mắt để thấy các hình sắc. Con xin quy y (refuge - sarana - nương tựa vào Tam Bảo) Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn các Tỳ kheo. Kể từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một nam tín đồ (lay follower - upāsaka - người tại gia theo đạo Phật) đã quy y Ngài trọn đời.”

Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử ấy, sau khi thành tựu xả niệm thanh tịnh vô thượng này, nhớ đến các đời sống trước, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử ấy sau khi thành tựu xả niệm thanh tịnh vô thượng này, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: "Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.

Này Gia chủ vị Thánh đệ tử ấy, sau khi thành tựu xả niệm thanh tịnh vô thượng này, và với các lậu hoặc được đoạn trừ, vị này với thượng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Này Gia chủ, cho đến như vậy là sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt tất cả sự tục sự trong giới luật bậc Thánh. Này Gia chủ, Ông nghĩ thế nào? Ông có thấy ở nơi Ông một sự đoạn tận tục sự như vậy, giống như sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh?

– Bạch Thế Tôn, con là ai mà có thể có sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh? Bạch Thế Tôn, con còn rất xa với sự đoạn tận toàn diện, toàn bộ và toàn mặt, tất cả tục sự trong giới luật bậc Thánh. Bạch Thế Tôn, xưa kia, đối với các vị Du sĩ không phải thù thắng, chúng con xem là thù thắng; dầu họ không thù thắng, chúng con cúng dường các món ăn thù thắng; dầu họ không thù thắng, chúng con mời họ ở trong những trú xứ thù thắng, Bạch Thế Tôn, còn đối với các Tỷ-kheo thù thắng, chúng con xem là không thù thắng; dầu các vị ấy thù thắng, chúng con cúng dường các món ăn không thù thắng; dầu các vị ấy thù thắng, chúng con mời các vị ấy ở trong các trú xứ không thù thắng. Nhưng nay, bạch Thế Tôn, đối với các Du sĩ không thù thắng, chúng con sẽ biết là không thù thắng; vì họ không thù thắng, chúng con sẽ cúng dường các món ăn không thù thắng,; vì họ không thù thắng chúng con sẽ mời họ ở trong các trú xứ không thù thắng. Còn đối với các Tỷ-kheo thù thắng, chúng con sẽ biết các vị ấy là thù thắng; vì các vị ấy thù thắng, chúng con sẽ cúng dường các món ăn thù thắng; vì các vị ấy thù thắng, chúng con sẽ mời các vị ấy ở trong các trú xứ thù thắng. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thật sự đã gợi ở nơi con lòng ái kính Sa-môn đối với các vị Sa-môn, lòng tịnh tín Sa-môn đối với các Sa-môn, lòng tôn kính Sa-môn đối với các Sa-môn.

Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn ! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn

dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử; từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Giới Luật của bậc Thánh / Ariyassa Vinaya / Noble One’s Discipline: Các quy tắc và thực hành đạo đức dành cho những người đã đạt được các cấp độ giác ngộ trong Phật giáo, nhằm mục đích thanh lọc tâm và đạt giải thoát.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý phổ quát về thực tại, con đường dẫn đến giác ngộ và giải thoát.
  • Tham lam chiếm đoạt / Giddhilobha / Rapacious greed: Lòng tham muốn mãnh liệt nhằm vơ vét, chiếm giữ tài sản hoặc đối tượng mong muốn cho riêng mình, thường đi kèm với sự ích kỷ và bất chấp.
  • Mắng nhiếc ác ý / Niddesa / Spiteful scolding: Lời nói chỉ trích, chê bai, hạ nhục người khác với ác tâm, ý muốn làm tổn thương hoặc hạ thấp họ.
  • Giận dữ tuyệt vọng / Kodhūpāyāsa / Angry despair: Trạng thái tâm lý kết hợp giữa sự tức giận mãnh liệt và cảm giác thất vọng, bất lực, chán nản sâu sắc.
  • Kiêu mạn / Atimāna / Arrogance: Sự tự cao, tự đại, coi thường người khác, xuất phát từ việc đánh giá quá cao bản thân hoặc những gì mình sở hữu.
  • Thánh đệ tử / Ariyasāvaka / Noble disciple: Người học trò của Đức Phật đã chứng đắc ít nhất một trong bốn Thánh quả (Nhập lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán).
  • Kiết sử / Saṃyojana / Fetters: Những trói buộc tâm linh ngăn cản chúng sinh thoát khỏi vòng luân hồi (saṃsāra), ví dụ như thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham dục, sân hận, v.v.
  • Triền cái / Nīvaraṇa / Hindrance: Những chướng ngại tâm lý ngăn cản sự phát triển của thiền định và trí tuệ, bao gồm tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, và hoài nghi.
  • Lậu hoặc / Āsava / Taints: Những ô nhiễm, phiền não sâu kín tiềm ẩn trong tâm thức, là gốc rễ của khổ đau và luân hồi, bao gồm dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu (và đôi khi kiến lậu).
  • Phiền muộn / Vighāta / Vexation: Sự bực bội, khó chịu, bất mãn trong tâm khi gặp điều không vừa ý hoặc bị cản trở.
  • Nhiệt não / Parilāha / Fever: Sự nóng nảy, khổ đau, bức bối thiêu đốt trong tâm, thường do phiền não mạnh mẽ như tham, sân gây ra.
  • Cõi khổ / Duggati / Unhappy destination: Các cảnh giới tái sinh đau khổ trong luân hồi, bao gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, và đôi khi A-tu-la.
  • Dục lạc / Kāma / Sensual pleasures: Sự hưởng thụ, niềm vui thích phát sinh từ sự tiếp xúc của năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) với các đối tượng tương ứng (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, vật xúc chạm).
  • Xả / Upekkhā / Equanimity: Trạng thái tâm quân bình, không dao động trước được mất, hơn thua, khen chê, khổ lạc; không thiên vị yêu ghét; nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng một cách khách quan, như chúng thực sự là.
  • Chấp thủ / Upādāna / Clinging: Sự bám víu, níu giữ, dính mắc mạnh mẽ vào các đối tượng (dục lạc, quan điểm, nghi lễ, ngã) do tham ái và vô minh, là nguyên nhân trực tiếp của khổ đau và tái sinh.
  • Chánh niệm / Sati / Mindfulness: Sự tỉnh thức, ý thức rõ ràng về những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, đối với thân thể, cảm giác, tâm trí và các đối tượng của tâm, mà không phán xét hay phản ứng.
  • Túc mạng minh / Pubbenivāsānussati / Past lives recollection: Một trong các thắng trí (abhiññā), là khả năng nhớ lại các kiếp sống quá khứ của chính mình và của chúng sinh khác.
  • Thiên nhãn minh / Dibbacakkhu / Divine eye: Một trong các thắng trí (abhiññā), là khả năng nhìn thấy sự sinh diệt của chúng sinh trong các cõi giới khác nhau, hiểu rõ nghiệp quả dẫn đến sự tái sinh của họ.
  • Thắng trí / Abhiññā / Direct knowledge: Sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt, vượt ngoài nhận thức thông thường, đạt được thông qua sự phát triển thiền định và trí tuệ. Có sáu loại thắng trí (lục thông).
  • Tâm giải thoát / Cetovimutti / Deliverance of mind: Sự giải thoát khỏi các phiền não, đặc biệt là tham ái, nhờ sự phát triển của thiền định (samatha).
  • Tuệ giải thoát / Paññāvimutti / Deliverance by wisdom: Sự giải thoát hoàn toàn khỏi vô minh và mọi phiền não nhờ sự phát triển của trí tuệ (vipassanā) thấy rõ bản chất vô thường, khổ, vô ngã của vạn pháp.
  • Vô lậu / Anāsava / Taintless: Trạng thái không còn các lậu hoặc (āsava), tức là đã hoàn toàn thanh lọc khỏi những ô nhiễm, phiền não sâu kín. Đây là đặc tính của bậc A-la-hán và Niết Bàn.
  • Đoạn tận lậu hoặc / Āsavakkhaya / Destruction of the taints: Sự chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc, thành tựu trạng thái vô lậu, đồng nghĩa với việc đạt được quả vị A-la-hán và Niết Bàn. Đây là Lậu tận minh, một trong các thắng trí.
  • Du sĩ ngoại đạo / Aññatitthiya paribbājaka / Wanderers of other sects: Những người tu hành, triết gia lang thang thuộc các trường phái tư tưởng, tôn giáo khác ngoài Phật giáo vào thời Đức Phật.
  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Bhikkhu: Nam tu sĩ Phật giáo đã thọ giới Cụ túc (upasampadā), sống đời sống xuất gia, khất thực để sinh sống và thực hành giáo pháp nhằm đạt đến giải thoát.
  • Quy y / Sarana / Refuge: Hành động nương tựa, tìm kiếm sự che chở và dẫn dắt nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) như là nền tảng cho đời sống tâm linh của người Phật tử.
  • Nam tín đồ / Upāsaka / Lay follower: Người nam Phật tử tại gia, đã quy y Tam Bảo và thực hành theo lời dạy của Đức Phật trong khi vẫn duy trì đời sống thế tục. (Nữ là Upāsikā).