Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 70. Tại Kīṭāgiri

(Kinh Kīṭāgiri)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn đang du hành trong xứ Kāsī cùng với đại chúng tỳ kheo (monks-bhikkhus-nhà sư) đông đảo. Tại đó, Ngài gọi các tỳ kheo và dạy:

2. “Này các tỳ kheo, Ta không ăn vào ban đêm. Nhờ không ăn vào ban đêm, Ta ít bệnh tật, ít phiền não, và Ta hưởng được sự khỏe mạnh, có sức lực và an trú thoải mái. Này các tỳ kheo, hãy đến đây, các ông cũng hãy không ăn vào ban đêm. Nhờ không ăn vào ban đêm, các ông cũng sẽ ít bệnh tật, ít phiền não, và sẽ hưởng được sự khỏe mạnh, có sức lực và an trú thoải mái.” [^696]

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các vị ấy đáp lời.

3. Rồi Thế Tôn, trong khi du hành tuần tự ở xứ Kāsī, cuối cùng đã đến một thị trấn của xứ Kāsī tên là Kīṭāgiri. Tại đó, Ngài trú tại thị trấn Kīṭāgiri này.

70. KINH KÌTÀGIRI

70. KINH KÌTÀGIRI (Kìtàgiri Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn du hành ở Kasi cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, Ta ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Này các Tỷ-kheo, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Ta cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Này các Tỷ-kheo, hãy đến và ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Này các Tỷ-kheo, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, các Ông sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

4. Vào lúc bấy giờ, có các tỳ kheo tên là Assaji và Punabbasuka đang cư trú tại Kīṭāgiri. [^697] Rồi một số tỳ kheo đến gặp họ và nói: “Chư hiền, Thế Tôn và Tăng đoàn (Sangha - cộng đồng các vị xuất gia) hiện nay không ăn vào ban đêm. Nhờ vậy, các Ngài ít bệnh tật, ít phiền não, và hưởng được sự khỏe mạnh, có sức lực và an trú thoải mái. Này chư hiền, hãy đến đây, các vị cũng hãy không ăn vào ban đêm. Nhờ vậy, các vị cũng sẽ ít bệnh tật, ít phiền não, và sẽ hưởng được sự khỏe mạnh, có sức lực và an trú thoải mái.” [474] Khi được nói vậy, các tỳ kheo Assaji và Punabbasuka bảo các tỳ kheo kia: “Chư hiền, chúng tôi ăn vào buổi chiều, buổi sáng và ban ngày ngoài giờ quy định (ăn phi thời). Nhờ vậy, chúng tôi ít bệnh tật, ít phiền não, và hưởng được sự khỏe mạnh, có sức lực và an trú thoải mái. Tại sao chúng tôi phải từ bỏ [một lợi ích] thiết thực hiện tại để theo đuổi [một lợi ích sẽ đạt được] trong tương lai? Chúng tôi sẽ ăn vào buổi chiều, buổi sáng và ban ngày ngoài giờ quy định.”

5. Vì các tỳ kheo không thể thuyết phục được các tỳ kheo Assaji và Punabbasuka, họ liền đi đến Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên và trình bày lại toàn bộ sự việc, nói thêm: “Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể thuyết phục được các tỳ kheo Assaji và Punabbasuka, nên chúng con đã trình báo việc này lên Thế Tôn.”

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn tiếp tục du hành ở Kasi và đến một thị trấn xứ Kasi tên là Kitagiri. Rồi Thế Tôn ở tại Kitagiri, một thị trấn xứ Kasi. Lúc bấy giờ Tỷ-kheo Assaji và Punabbasuka đang ở Kitagiri. Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến chỗ Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka như sau:

– Chư Hiền, Thế Tôn ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Cả chúng Tỷ-kheo cũng vậy. Do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, các vị ấy cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Chư Hiền, hãy đến và ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Chư Hiền, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, chư Hiền sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú.

Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka, nói với các Tỷ-kheo ấy:

– Chư Hiền, chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời. Do chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời, chúng tôi cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Sao chúng tôi lại bỏ hiện tại, chạy theo tương lai? Chúng tôi sẽ ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời.

Vì các Tỷ-kheo ấy không thể làm cho Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka chấp thuận, nên các vị ấy đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con đi đến chỗ các Tỷ-kheo Assaji và Punabbasuka, sau khi đến chúng con nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka như sau: “Chư hiền, Thế Tôn ăn, từ bỏ ăn ban đêm… có sức lực và an trú”. Bạch Thế Tôn, được nói vậy. Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka nói với chúng con như sau: “Chư Hiền, chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời… chúng tôi sẽ ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời”. Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể làm cho Tỷ- kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka chấp thuận, nên chúng con trình sự việc này lên Thế Tôn.

6. Bấy giờ, Thế Tôn gọi một tỳ kheo và bảo: “Này tỳ kheo, hãy đi và nhân danh Ta nói với các tỳ kheo Assaji và Punabbasuka rằng Bậc Đạo Sư gọi các vị.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” vị ấy vâng lời, rồi đi đến chỗ các tỳ kheo Assaji và Punabbasuka và nói: “Thưa chư hiền, Bậc Đạo Sư gọi các vị.”

“Thưa vâng, hiền giả,” họ đáp lời, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên. Thế Tôn liền hỏi: “Này các tỳ kheo, có thật là khi một số tỳ kheo đến nói với các ông: ‘Chư hiền, Thế Tôn và Tăng đoàn hiện nay không ăn vào ban đêm… Này chư hiền, hãy đến đây, các vị cũng hãy không ăn vào ban đêm [475]…,’ các ông đã trả lời các tỳ kheo ấy rằng: ‘Chư hiền, chúng tôi ăn vào buổi chiều… Tại sao chúng tôi phải từ bỏ [một lợi ích] thiết thực hiện tại để theo đuổi [một lợi ích sẽ đạt được] trong tương lai? Chúng tôi sẽ ăn vào buổi chiều, buổi sáng và ban ngày ngoài giờ quy định’ không?” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

"Này các tỳ kheo, các ông có từng biết Ta giảng Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý) theo cách như thế này không: ‘Bất cứ cảm giác nào người này trải nghiệm, dù là dễ chịu (lạc thọ - pleasant feeling - cảm giác dễ chịu), khó chịu (khổ thọ - painful feeling - cảm giác khó chịu) hay không khó chịu cũng không dễ chịu (bất khổ bất lạc thọ - neither-painful-nor-pleasant feeling - cảm giác trung tính, không khổ không vui), thì các trạng thái bất thiện (unwholesome states - các trạng thái tâm không lành mạnh, dẫn đến khổ đau) nơi người ấy đều giảm đi và các trạng thái thiện (wholesome states - các trạng thái tâm lành mạnh, dẫn đến an lạc) đều tăng trưởng’?"698 - “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

Rồi Thế Tôn bảo một Tỷ-kheo:

– Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, bảo Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka: “Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả”.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đến chỗ Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka, sau khi đến, nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka:

– Bậc Ðạo Sư cho gọi các Tôn giả.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Assaji và Tỷ-kheo Punabbasuka đang ngồi một bên:

– Có thật chăng, này các Tỷ-kheo, một số đông Tỷ-kheo đến các Ông và nói như sau: “Chư Hiền, Thế Tôn ăn, từ bỏ ăn ban đêm, cả chúng Tỷ-kheo cũng vậy. Do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, các vị ấy cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Chư Hiền, hãy đến và ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Chư Hiền, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, chư Hiền sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú”. Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông nói với các Tỷ-kheo ấy như sau: “Chư Hiền, chúng tôi ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời. Do ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời, chúng tôi cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Sao chúng tôi lại bỏ hiện tại, chạy theo tương lai? Chúng tôi sẽ ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời”?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Này các Tỷ-kheo , các Ông có hiểu pháp Ta dạy như sau: “Một cá nhân cảm thọ bất cứ cảm giác nào, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; đối với người ấy, các pháp bất thiện được đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng”?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

7. “Này các tỳ kheo, các ông chưa từng biết Ta giảng Pháp theo cách như thế này sao: ‘Ở đây, có khi khi một người cảm nhận một loại cảm giác dễ chịu nào đó, các trạng thái bất thiện nơi người ấy tăng trưởng và các trạng thái thiện giảm đi; nhưng cũng có khi, khi một người cảm nhận một loại cảm giác dễ chịu khác, các trạng thái bất thiện nơi người ấy giảm đi và các trạng thái thiện tăng trưởng. [^699] Ở đây, có khi một người cảm nhận một loại cảm giác khó chịu nào đó, các trạng thái bất thiện nơi người ấy tăng trưởng và các trạng thái thiện giảm đi; nhưng cũng có khi, khi một người cảm nhận một loại cảm giác khó chịu khác, các trạng thái bất thiện nơi người ấy giảm đi và các trạng thái thiện tăng trưởng. Ở đây, có khi một người cảm nhận một loại cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu nào đó, các trạng thái bất thiện nơi người ấy tăng trưởng và các trạng thái thiện giảm đi; nhưng cũng có khi, khi một người cảm nhận một loại cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu khác, các trạng thái bất thiện nơi người ấy giảm đi và các trạng thái thiện tăng trưởng’?” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

– Này các Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta dạy như sau: “Ở đây đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt; ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng. Ở đây, đối với một người khi cảm thọ khổ thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt; ở đây, đối với một người, khi cảm thọ khổ thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng. Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt; ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng”?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

8. “Tốt lắm, này các tỳ kheo. [^700] Và nếu Ta không biết, không thấy, không tìm ra, không chứng ngộ, không tiếp xúc bằng trí tuệ (wisdom - sự hiểu biết đúng đắn, sâu sắc) rằng: ‘Ở đây, khi một người cảm nhận một loại cảm giác dễ chịu nào đó, các trạng thái bất thiện nơi người ấy tăng trưởng và các trạng thái thiện giảm đi,’ thì liệu Ta, vì không biết điều đó, nói rằng: ‘Hãy từ bỏ loại cảm giác dễ chịu đó’ có hợp lý không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Nếu Ta không biết, không thấy, không tìm ra, không chứng ngộ, không tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, khi một người cảm nhận một loại cảm giác dễ chịu khác, các trạng thái bất thiện nơi người ấy giảm đi và các trạng thái thiện tăng trưởng,’ thì liệu Ta, vì không biết điều đó, nói rằng: ‘Hãy chứng đạt và an trú trong loại cảm giác dễ chịu đó’ có hợp lý không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

"Nhưng vì Ta biết, thấy, tìm ra, chứng ngộ, tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, khi một người cảm nhận một loại cảm giác dễ chịu khác, các trạng thái bất thiện nơi người ấy giảm đi và các trạng thái thiện tăng trưởng,’ nên Ta mới nói: ‘Hãy chứng đạt và an trú trong loại cảm giác dễ chịu đó.’

9. "Nếu Ta không biết… Nhưng vì Ta biết… tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, khi một người cảm nhận một loại cảm giác khó chịu nào đó, các trạng thái bất thiện nơi người ấy tăng trưởng và các trạng thái thiện giảm đi,’ nên Ta mới nói: ‘Hãy từ bỏ loại cảm giác khó chịu đó.’

"Nếu Ta không biết… Nhưng vì Ta biết… tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, khi một người cảm nhận một loại cảm giác khó chịu khác, các trạng thái bất thiện nơi người ấy giảm đi và các trạng thái thiện tăng trưởng,’ nên Ta mới nói: ‘Hãy chứng đạt và an trú trong loại cảm giác khó chịu đó.’

10. "Nếu Ta không biết… Nhưng vì Ta biết… tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, khi một người cảm nhận một loại cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu nào đó, các trạng thái bất thiện nơi người ấy tăng trưởng và các trạng thái thiện giảm đi,’ nên Ta mới nói: ‘Hãy từ bỏ loại cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu đó.’ "Nếu Ta không biết… Nhưng vì Ta biết… tiếp xúc bằng trí tuệ rằng: ‘Ở đây, khi một người cảm nhận một loại cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu khác, các trạng thái bất thiện nơi người ấy giảm đi và các trạng thái thiện tăng trưởng,’ nên Ta mới nói: [477] ‘Hãy chứng đạt và an trú trong loại cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu đó.’

– Lành thay, này các Tỷ-kheo ! Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta không biết, không thấy, không giác, không chứng, không liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt”, có thể chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói: “Hãy từ bỏ lạc thọ như vậy”? Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là xứng đáng đối với Ta chăng?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Nhưng này các Tỷ-kheo, vì rằng sự việc này Ta biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt”, do vậy Ta nói: “Hãy từ bỏ lạc thọ như vậy”. Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta không biết, không thấy, không giác, không chứng, không liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng”, có thể chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói: "Hãy chứng và trú lạc thọ như

vậy"? Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là xứng đáng đối với Ta chăng?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Nhưng này các Tỷ-kheo, vì sự việc này Ta biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các thiện pháp được tăng trưởng, các bất thiện pháp bị đoạn diệt”, do vậy Ta nói: “Hãy chứng và trú lạc thọ như vậy”.

Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta không biết, không thấy, không giác, không chứng, không liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người khi cảm giác khổ thọ… khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt”, có thể chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói: “Hãy từ bỏ bất khổ bất lạc thọ như vậy”? Và như vậy, này các Tỷ-kheo, là xứng đáng đối với Ta chăng?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Nhưng này các Tỷ-kheo, vì rằng sự việc này Ta biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt”, do vậy Ta nói: “Hãy từ bỏ bất khổ bất lạc thọ như vậy”. Này các Tỷ-kheo, nếu sự việc này Ta không biết, không thấy, không giác, không chứng, không liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng”, có thể chăng, này các Tỷ-kheo, không biết như vậy, Ta lại nói: “Hãy chứng và trú bất khổ bất lạc thọ như vậy”? Và như vậy, này các Tỷ-kheo là xứng đáng đối với Ta chăng?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Nhưng này các Tỷ-kheo, vì rằng sự việc này Ta biết, Ta thấy, Ta giác, Ta chứng, Ta liễu giải với trí tuệ rằng: “Ở đây, đối với một người, khi cảm thọ bất khổ bất lạc thọ như vậy, các thiện pháp được tăng trưởng, các bất thiện pháp bị đoạn diệt”, do vậy Ta nói: “Hãy chứng và trú bất khổ bất lạc thọ như vậy”.

11. "Này các tỳ kheo, Ta không nói rằng tất cả các tỳ kheo đều vẫn cần phải tinh tấn (diligence - sự siêng năng, nỗ lực không ngừng) tu tập; Ta cũng không nói rằng tất cả các tỳ kheo đều không cần phải tinh tấn tu tập nữa.

12. "Đối với những tỳ kheo là bậc A-la-hán (arahants - bậc giác ngộ đã đoạn trừ mọi phiền não), các lậu hoặc đã đoạn tận (taints - những ô nhiễm, phiền não tiềm ẩn làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi), đã sống đời phạm hạnh (holy life - đời sống trong sạch, hướng đến giải thoát), việc cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, đạt được mục đích tối hậu, phá hủy các kiết sử của sự tồn tại (fetters of being - những ràng buộc trói chặt chúng sinh vào vòng luân hồi), và hoàn toàn giải thoát nhờ chánh trí (completely liberated through final knowledge - sự giải thoát hoàn toàn khỏi khổ đau và luân hồi thông qua trí tuệ cuối cùng), Ta không nói rằng họ vẫn cần phải tinh tấn tu tập. Tại sao vậy? Vì họ đã hoàn thành công việc của mình với sự tinh tấn; họ không còn khả năng phóng dật (negligent - sự lơ là, thiếu chú tâm trong tu tập) nữa.

13. "Ta nói rằng những tỳ kheo còn là bậc hữu học (higher training - những người còn đang trên đường tu tập, chưa đạt A-la-hán), tâm chưa đạt đến mục đích, và vẫn còn khao khát đạt đến sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc (supreme security from bondage - trạng thái Niết Bàn, an toàn tuyệt đối khỏi khổ đau và luân hồi), thì vẫn cần phải tinh tấn tu tập. Tại sao vậy? Bởi vì khi những vị tôn giả ấy sử dụng những trú xứ thích hợp, thân cận thiện hữu và quân bình các căn (spiritual faculties - năm năng lực tinh thần: tín, tấn, niệm, định, tuệ), họ có thể tự mình chứng ngộ bằng thắng trí (direct knowledge - sự hiểu biết trực tiếp, không qua trung gian) ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú trong mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà vì đó các thiện nam tử (clansmen - người nam có lòng tin và xuất gia) chân chính xuất gia từ bỏ đời sống gia đình. Thấy được kết quả này của sự tinh tấn đối với các tỳ kheo ấy, Ta nói rằng họ vẫn cần phải tinh tấn tu tập.

Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng đối với tất cả Tỷ-kheo, có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng đối với tất cả Tỷ-kheo không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt được lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát; này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo như vậy, Ta nói rằng không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Vì sự việc ấy đã được các vị này làm, nhờ không phóng dật. Các vị này không thể trở thành phóng dật.

Và này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo còn là các bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an ổn khỏi các triền ách; này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo như vậy, Ta nói rằng có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi các bậc Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, các vị ấy (cần phải) tự mình nhờ thượng trí chứng ngộ chứng đạt, và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này, các Thiện gia nam tử chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo này, vì thấy quả này của không phóng dật nên Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.

14. "Này các tỳ kheo, có bảy hạng người hiện hữu trên thế gian. [^701] Bảy hạng người đó là gì? Đó là: vị giải thoát song toàn, vị giải thoát bằng trí tuệ, vị chứng ngộ qua trải nghiệm thân (thân chứng), vị đạt được chánh kiến, vị giải thoát do lòng tin, vị theo con đường của pháp (tu theo hiểu biết), và vị theo con đường của đức tin (tu theo niềm tin).

15. "Thế nào là vị giải thoát song toàn (liberated-in-both-ways - người giải thoát cả bằng thiền định và trí tuệ, chứng đắc các tầng thiền vô sắc và đoạn trừ lậu hoặc)? Ở đây, có người thân chứng và an trú trong các giải thoát tịch tịnh, vô sắc, vượt thoát sắc giới (peaceful and immaterial liberations, transcending forms - các tầng thiền định vô sắc giới), và các lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận do thấy bằng trí tuệ. Hạng người này được gọi là vị giải thoát song toàn. [^702] Đối với một tỳ kheo như vậy, Ta không nói rằng vị ấy vẫn cần phải tinh tấn tu tập. Tại sao vậy? Vị ấy đã hoàn thành công việc của mình với sự tinh tấn; vị ấy không còn khả năng phóng dật nữa.

16. "Thế nào là vị giải thoát bằng trí tuệ (liberated-by-wisdom - người giải thoát bằng trí tuệ, không nhất thiết chứng đắc các tầng thiền vô sắc, nhưng đã đoạn trừ lậu hoặc)? Ở đây, có người thân không chứng và an trú trong các giải thoát tịch tịnh, vô sắc, vượt thoát sắc giới, nhưng các lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận do thấy bằng trí tuệ. Hạng người này được gọi là vị giải thoát bằng trí tuệ. [^703] [478] Đối với một tỳ kheo như vậy, Ta không nói rằng vị ấy vẫn cần phải tinh tấn tu tập. Tại sao vậy? Vị ấy đã hoàn thành công việc của mình với sự tinh tấn; vị ấy không còn khả năng phóng dật nữa.

17. "Thế nào là vị chứng ngộ qua trải nghiệm thân (thân chứng) (body-witness - người đã chứng nghiệm một phần Niết Bàn qua các tầng thiền, kể cả thiền vô sắc, và đã đoạn trừ một phần lậu hoặc)? Ở đây, có người thân chứng và an trú trong các giải thoát tịch tịnh, vô sắc, vượt thoát sắc giới, và một số lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận do thấy bằng trí tuệ. Hạng người này được gọi là vị chứng ngộ qua trải nghiệm thân (thân chứng). [^704] Ta nói rằng một tỳ kheo như vậy vẫn cần phải tinh tấn tu tập. Tại sao vậy? Bởi vì khi vị tôn giả ấy sử dụng những trú xứ thích hợp, thân cận thiện hữu và quân bình các căn, vị ấy có thể tự mình chứng ngộ bằng thắng trí ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú trong mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà vì đó các thiện nam tử chân chính xuất gia từ bỏ đời sống gia đình. Thấy được kết quả này của sự tinh tấn đối với tỳ kheo như vậy, Ta nói rằng vị ấy vẫn cần phải tinh tấn tu tập.

18. "Thế nào là vị đạt được chánh kiến (attained-to-view - người đã đạt được chánh kiến, hiểu rõ giáo pháp qua trí tuệ, và đã đoạn trừ một phần lậu hoặc) Ở đây, có người không thân chứng và an trú trong các giải thoát tịch tịnh, vô sắc, vượt thoát sắc giới, nhưng một số lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận do thấy bằng trí tuệ, và vị ấy đã xem xét và thẩm nghiệm bằng trí tuệ những lời dạy do Như Lai tuyên thuyết. Hạng người này được gọi là vị đạt được chánh kiến. [^705] Ta nói rằng một tỳ kheo như vậy vẫn cần phải tinh tấn tu tập. Tại sao vậy? Bởi vì khi vị tôn giả ấy… xuất gia từ bỏ đời sống gia đình. Thấy được kết quả này của sự tinh tấn đối với tỳ kheo như vậy, Ta nói rằng vị ấy vẫn cần phải tinh tấn tu tập.

19. "Thế nào là vị giải thoát do lòng tin (liberated-by-faith - người có đức tin mạnh mẽ vào Tam Bảo, đã đoạn trừ một phần lậu hoặc, giải thoát nhờ đức tin) Ở đây, có người không thân chứng và an trú trong các giải thoát tịch tịnh, vô sắc, vượt thoát sắc giới, nhưng một số lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn tận do thấy bằng trí tuệ, và đức tin của vị ấy đã được gieo trồng, bén rễ và vững chắc nơi Như Lai. [^706] Hạng người này được gọi là vị giải thoát do lòng tin. Ta nói rằng một tỳ kheo như vậy vẫn cần phải tinh tấn tu tập. Tại sao vậy? Bởi vì khi vị tôn giả ấy [479]… xuất gia từ bỏ đời sống gia đình. Thấy được kết quả này của sự tinh tấn đối với tỳ kheo như vậy, Ta nói rằng vị ấy vẫn cần phải tinh tấn tu tập.

20. "Thế nào là vị theo con đường của pháp (tùy pháp hành) (Dhamma-follower - người thực hành theo Pháp, có trí tuệ hiểu giáo pháp nhưng chưa đoạn trừ lậu hoặc)? Ở đây, có người không thân chứng và an trú trong các giải thoát tịch tịnh, vô sắc, vượt thoát sắc giới, và các lậu hoặc của vị ấy chưa được đoạn tận do thấy bằng trí tuệ, nhưng với trí tuệ, vị ấy đã đạt được sự thẩm찰 chấp nhận (reflective acceptance - sự chấp nhận giáo pháp sau khi đã suy xét, cân nhắc bằng trí tuệ) vừa đủ đối với những lời dạy do Như Lai tuyên thuyết. Hơn nữa, vị ấy có những phẩm chất này: tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, và tuệ căn. Hạng người này được gọi là vị theo con đường của pháp (tùy pháp hành). [^707] Ta nói rằng một tỳ kheo như vậy vẫn cần phải tinh tấn tu tập. Tại sao vậy? Bởi vì khi vị tôn giả ấy… xuất gia từ bỏ đời sống gia đình. Thấy được kết quả này của sự tinh tấn đối với tỳ kheo như vậy, Ta nói rằng vị ấy vẫn cần phải tinh tấn tu tập.

21. "Thế nào là vị theo con đường của đức tin (tùy tín hành) (faith-follower - người thực hành theo đức tin, có lòng tin mạnh mẽ vào Như Lai nhưng trí tuệ thẩm sát chưa mạnh bằng Tùy pháp hành, chưa đoạn trừ lậu hoặc)? Ở đây, có người không thân chứng và an trú trong các giải thoát tịch tịnh, vô sắc, vượt thoát sắc giới, và các lậu hoặc của vị ấy chưa được đoạn tận do thấy bằng trí tuệ, nhưng vị ấy có đủ đức tin và lòng mến mộ đối với Như Lai. Hơn nữa, vị ấy có những phẩm chất này: tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, và tuệ căn. Hạng người này được gọi là vị theo con đường của đức tin (tùy tín hành). Ta nói rằng một tỳ kheo như vậy vẫn cần phải tinh tấn tu tập. Tại sao vậy? Bởi vì khi vị tôn giả ấy sử dụng những trú xứ thích hợp, thân cận thiện hữu và quân bình các căn, vị ấy có thể tự mình chứng ngộ bằng thắng trí ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú trong mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà vì đó các thiện nam tử chân chính xuất gia từ bỏ đời sống gia đình. Thấy được kết quả này của sự tinh tấn đối với tỳ kheo như vậy, Ta nói rằng vị ấy vẫn cần phải tinh tấn tu tập.

Này các Tỷ-kheo có bảy hạng người sống trong đời này. Thế nào là bảy? Bậc câu phần giải thoát, bậc tuệ giải thoát, bậc thân chứng, bậc kiến đáo, bậc tín giải thoát, bậc tùy pháp hành, bậc tùy tín hành.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc câu phần giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân đã chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người câu phần giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Vì sự việc ấy đã được vị này làm, nhờ không phóng dật, vị ấy không có thể trở thành phóng dật.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc tuệ giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này như vậy được gọi là bậc tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Vì sự việc ấy đã được vị này làm, nhờ không phóng dật; vị ấy không có thể trở thành phóng dật.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc thân chứng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi thân chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này như vậy được gọi là bậc thân chứng. Này các Tỷ- kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, vị này (cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia nam tử đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng dật, nên đối với Tỷ- kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc kiến đáo? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi tự thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn; và các pháp do Như Lai tuyên thuyết được vị này thấy một cách hoàn toàn với trí tuệ và thực hành một cách hoàn toàn. Này các Tỷ-kheo, vị này được gọi là kiến đáo. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, vị này (cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia nam tử đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tín giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo có người, sau khi tự thân chứng đắc các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc của vị này được đoạn trừ một cách hoàn toàn; và lòng tin của vị này đối với Như Lai đã được xác định, phát sanh từ căn để an trú. Này các Tỷ kheo, vị này được gọi là bậc tín giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, vị này (cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia nam tử đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tùy pháp hành? Ở đây, này các Tỷ-kheo có người sau khi tự thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, nhưng các lậu hoặc không được đoạn trừ một cách hoàn toàn; và các pháp do Như Lai tuyên thuyết (chỉ) được vị này chấp nhận một cách vừa phải với trí tuệ, dầu cho vị này có những pháp như là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, vị này được gọi là người tùy pháp hành. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, vị này (cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia nam tử đã chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của không phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người tùy tín hành? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi tự thân không chứng đắc có tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, nhưng các lậu hoặc không được đoạn trừ. Nhưng nếu vị này có đủ lòng tin và lòng thương Như Lai, thời vị này sẽ có những pháp như là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỷ-kheo, vị này được gọi là người tùy tín hành. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Dầu cho trong khi Tôn giả này thọ dụng các sàng tọa đúng pháp, thân cận các thiện hữu, chế ngự các căn, nhưng vị này (cần phải) tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này các Thiện gia nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Do vậy, này các Tỷ-kheo, vì thấy quả này của phóng dật, nên đối với Tỷ-kheo này, Ta nói có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật.

22. "Này các tỳ kheo, Ta không nói rằng chánh trí đạt được ngay lập tức. Trái lại, chánh trí đạt được qua sự tuần tự huấn luyện, tuần tự thực hành, tuần tự tiến bộ. [480]

23. "Và làm thế nào để có sự tuần tự huấn luyện, tuần tự thực hành, tuần tự tiến bộ? Ở đây, người có đức tin [nơi một vị thầy] đến thăm vị ấy; khi đến thăm, vị ấy đảnh lễ; khi đảnh lễ, vị ấy lắng tai nghe; người lắng tai nghe thì nghe Pháp; sau khi nghe Pháp, vị ấy ghi nhớ Pháp; vị ấy thẩm xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ; khi thẩm xét ý nghĩa, vị ấy đạt được sự thẩm chấp nhận những lời dạy đó; khi đã đạt được sự thẩm chấp nhận những lời dạy đó, nhiệt tâm (zeal - lòng hăng hái, sốt sắng) khởi lên nơi vị ấy; khi nhiệt tâm đã khởi lên, vị ấy quyết chí (applies his will - sự nỗ lực, quyết tâm thực hành); sau khi quyết chí, vị ấy thẩm sát (scrutinises - sự xem xét kỹ lưỡng, quán chiếu); sau khi thẩm sát, vị ấy tinh cần (strives - sự cố gắng, nỗ lực); kiên trì tinh tấn, vị ấy thân chứng sự thật tối hậu (realises with the body the ultimate truth - trải nghiệm trực tiếp chân lý Niết Bàn) và thấy rõ bằng cách thể nhập bằng trí tuệ (penetrating it with wisdom - hiểu thấu đáo chân lý bằng trí tuệ). [^708]

24. "Đã không có đức tin đó, [^709] này các tỳ kheo, và đã không có sự đến thăm đó, và đã không có sự đảnh lễ đó, và đã không có sự lắng tai nghe đó, và đã không có sự nghe Pháp đó, và đã không có sự ghi nhớ Pháp đó, và đã không có sự thẩm xét ý nghĩa đó, và đã không có sự thẩm찰 chấp nhận những lời dạy đó, và đã không có nhiệt tâm đó, và đã không có sự quyết chí đó, và đã không có sự thẩm sát đó, và đã không có sự tinh cần đó. Này các tỳ kheo, các ông đã lạc lối; này các tỳ kheo, các ông đã thực hành sai đường. Hỡi những kẻ mê mờ kia, các ngươi đã đi quá xa khỏi Pháp và Luật này biết bao!

25. “Này các tỳ kheo, có một câu nói bốn vế, và khi được đọc lên, người trí sẽ nhanh chóng hiểu được. [^710] Ta sẽ đọc nó cho các ông nghe, này các tỳ kheo. Hãy cố gắng hiểu nó.”

“Bạch Thế Tôn, chúng con là ai mà có thể hiểu được Pháp?”

26. "Này các tỳ kheo, ngay cả với một vị thầy còn quan tâm đến vật chất, thừa hưởng vật chất, dính mắc vào vật chất, thì sự mặc cả như vậy [của các đệ tử] đã là không thích hợp: ‘Nếu chúng con được cái này, chúng con sẽ làm; nếu không được, chúng con sẽ không làm’; huống nữa [cần phải nói gì khi vị thầy là] Như Lai, người hoàn toàn không dính mắc vào vật chất?

27. “Này các tỳ kheo, đối với người đệ tử có lòng tin, quyết tâm thâm nhập Giáo pháp của Bậc Đạo Sư, thì thích hợp để hành xử như sau: ‘Thế Tôn là Bậc Đạo Sư, con là đệ tử; Thế Tôn biết, con không biết.’ Đối với người đệ tử có lòng tin, quyết tâm thâm nhập Giáo pháp của Bậc Đạo Sư, Giáo pháp của Bậc Đạo Sư là nuôi dưỡng và làm tươi mát. Đối với người đệ tử có lòng tin, quyết tâm thâm nhập Giáo pháp của Bậc Đạo Sư, [481] thì thích hợp để hành xử như sau: ‘Dù chỉ còn da, gân, xương, dù thịt và máu trên thân này khô cạn, nguyện rằng nghị lực của con sẽ không suy giảm bao lâu con chưa đạt được những gì có thể đạt được bằng sức mạnh, nghị lực và kiên trì của bậc trượng phu.’ [^711] Đối với người đệ tử có lòng tin, quyết tâm thâm nhập Giáo pháp của Bậc Đạo Sư, có thể trông đợi một trong hai kết quả: hoặc là chánh trí ngay trong hiện tại, hoặc nếu còn một chút chấp thủ (trace of clinging - những phiền não vi tế còn sót lại), thì chứng quả Bất Lai (non-return - tầng thánh thứ ba, không còn quay lại cõi dục).”

Đó là những gì Thế Tôn đã dạy. Các tỳ kheo đã hoan hỷ và tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng trí tuệ được hoàn thành lập tức. Nhưng này các Tỷ-kheo, trí tuệ được hoàn thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trí tuệ được hoàn thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một vị có lòng tin đi đến gần; sau khi đến gần, vị ấy tỏ sự kính lễ; sau khi tỏ sự kính lễ, vị ấy lóng tai; sau khi lóng tai, vị ấy nghe pháp; sau khi nghe pháp, vị ấy thọ trì pháp; sau khi thọ trì, vị ấy suy tư ý nghĩa các pháp được thọ trì; sau khi suy tư ý nghĩa, các pháp được chấp thuận; sau khi các pháp được chấp thuận, ước muốn sanh khởi; sau khi ước muốn sanh khởi, vị ấy nỗ lực; sau khi nỗ lực, vị ấy cân nhắc; sau khi cân nhắc, vị ấy tinh cần. Do tinh cần, vị ấy tự thân chứng được sự thật tối thượng, và với trí tuệ thể nhập sự thật ấy, vị ấy thấy.

Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu không có lòng tin ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự đến gần ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có tỏ sự kính lễ ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự lóng tai ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự nghe pháp ấy, thời này Tỷ-kheo, không có sự thọ trì pháp ấy, thời này các Tỷ- kheo, không có sự suy tư ý nghĩa ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự chấp thuận pháp ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự ước muốn ấy, thời này các Tỷ-kheo, không có sự nỗ lực ấy, thời này các Tỷ- kheo, không có sự cân nhắc ấy, thời này các Tỷ-kheo không có sự tinh cần ấy. Này các Tỷ kheo, ở đây, các Ông đã đi vào phi đạo. Này các Tỷ-kheo, ở đây, các Ông đã đi vào tà đạo. Thật là quá xa, này các Tỷ-kheo, các kẻ ngu này đã đi ra ngoài Pháp Luật này.

Này các Tỷ-kheo, có sự thuyết trình gồm có bốn phần (Catuppadam = Bốn cú) chính nhờ thuyết trình này người có trí, không bao lâu, nhờ tuệ biết được ý nghĩa. Ta sẽ đọc sự thuyết trình ấy lên cho các Ông, này các Tỷ-kheo, các Ông nhờ Ta mà sẽ hiểu thuyết trình ấy.

– Bạch Thế Tôn, chúng con là ai có thể biết được Pháp?

– Này các Tỷ-kheo, cho đến một bậc Ðạo sư sống quá trọng vọng tài vật, là vị thừa tự tài vật, và sống liên hệ với tài vật, thời sự mua may bán đắt này không xảy ra: “Chúng tôi sẽ làm việc này như vậy, và như vậy chúng tôi sẽ không làm việc này như vậy”, huống nữa là Như Lai, này các Tỷ-kheo, là vị sống hoàn toàn không liên hệ với các tài vật. Này các Tỷ-kheo, đối với một đệ tử có lòng tin giáo pháp bậc Ðạo sư và sống thể nhập giáo pháp ấy, thời tùy pháp (anudhamma) được khởi lên: “Bậc Ðạo sư là Thế Tôn, đệ tử là tôi. Thế Tôn biết, tôi không biết”. Này các Tỷ-kheo, đến với một đệ tử, có lòng tin giáo pháp bậc Ðạo sư và sống thể nhập giáo pháp ấy, thời giáo pháp bậc Ðạo sư được hưng thịnh được nhiều sinh lực. Này các Tỷ-kheo, đối với đệ tử có lòng tin giáo pháp bậc Ðạo Sư và sống thể nhập giáo pháp ấy, thời tùy pháp này được khởi lên: “Dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn lực để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu nhẫn nại, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng”. Này các Tỷ-kheo, đối với một đệ tử có lòng tin giáo pháp bậc Ðạo sư và sống thể nhập giáo pháp ấy, vị ấy sẽ chứng được một trong hai quả như sau: Chánh trí ngay trong hiện tại, và nếu có dư y, chứng quả Bất hoàn.

Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Nhà sư Phật giáo đã thọ giới cụ túc, thành viên của Tăng đoàn.
  • Tăng đoàn / Sangha / community of monks: Cộng đồng các vị xuất gia (tỳ kheo và tỳ kheo ni) theo lời dạy của Đức Phật.
  • Pháp / Dhamma / teaching, reality: Lời dạy của Đức Phật; Chân lý về thực tại; Hiện tượng.
  • lạc thọ / sukha vedanā / pleasant feeling: Cảm giác dễ chịu, một trong ba loại cảm thọ chính.
  • khổ thọ / dukkha vedanā / painful feeling: Cảm giác khó chịu, đau đớn, một trong ba loại cảm thọ chính.
  • bất khổ bất lạc thọ / adukkhamasukha vedanā / neither-painful-nor-pleasant feeling: Cảm giác trung tính, không khổ không vui, một trong ba loại cảm thọ chính.
  • trạng thái bất thiện / akusala dhamma / unwholesome states: Các trạng thái tâm không lành mạnh, có hại, dựa trên tham, sân, si, dẫn đến khổ đau.
  • trạng thái thiện / kusala dhamma / wholesome states: Các trạng thái tâm lành mạnh, có lợi, dựa trên vô tham, vô sân, vô si, dẫn đến an lạc.
  • trí tuệ / paññā / wisdom: Sự hiểu biết đúng đắn, sâu sắc về bản chất của thực tại, đặc biệt là về Tứ Diệu Đế và Vô Thường, Khổ, Vô Ngã.
  • tinh tấn / viriya / diligence, energy: Sự siêng năng, nỗ lực không ngừng trong việc tu tập, từ bỏ điều ác, làm điều lành, thanh lọc tâm ý.
  • A-la-hán / arahant / arahant: Bậc giác ngộ đã đoạn trừ hoàn toàn mọi phiền não (lậu hoặc), chấm dứt vòng luân hồi sinh tử.
  • lậu hoặc / āsava / taints, outflows, corruptions: Những ô nhiễm, phiền não tiềm ẩn sâu xa (như dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi.
  • phạm hạnh / brahmacariya / holy life, chaste life: Đời sống trong sạch, thanh tịnh, đặc biệt là đời sống xuất gia, hướng đến mục tiêu giải thoát.
  • kiết sử / saṃyojana / fetters: Những ràng buộc trói chặt chúng sinh vào vòng luân hồi (ví dụ: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham dục, sân hận…).
  • chánh trí / sammāñāṇa / final knowledge, right knowledge: Trí tuệ cuối cùng, sự hiểu biết đúng đắn hoàn toàn của bậc A-la-hán, dẫn đến giải thoát hoàn toàn.
  • phóng dật / pamāda / negligence, heedlessness: Sự lơ là, thiếu chú tâm, dễ duôi trong việc tu tập thiện pháp.
  • hữu học / sekha / one in higher training: Người còn đang trên đường tu tập để đạt đến A-la-hán, bao gồm các bậc Thánh từ Tu-đà-hoàn đến A-na-hàm.
  • an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc / anuttara yogakkhema / supreme security from bondage: Trạng thái Niết Bàn, sự an toàn tuyệt đối, giải thoát khỏi mọi khổ đau và ràng buộc của luân hồi.
  • các căn / indriya / faculties (spiritual): Năm năng lực tinh thần quan trọng trong tu tập: tín (đức tin), tấn (tinh tấn), niệm (chánh niệm), định (thiền định), tuệ (trí tuệ).
  • thắng trí / abhiññā / direct knowledge, supernormal knowledge: Sự hiểu biết trực tiếp, thấu suốt thực tại, không qua suy luận; đôi khi bao gồm các năng lực siêu nhiên.
  • thiện nam tử / kulaputta / clansman, son of good family: Người nam xuất thân từ gia đình tốt, có lòng tin và quyết tâm xuất gia tu hành theo giáo pháp.
  • câu phần giải thoát / ubhatobhāgavimutta / liberated-in-both-ways: Bậc A-la-hán đã giải thoát bằng cả hai phần: chứng đắc các tầng thiền vô sắc (giải thoát tâm) và đoạn trừ lậu hoặc bằng trí tuệ (tuệ giải thoát).
  • giải thoát tịch tịnh, vô sắc, vượt thoát sắc giới / santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā / peaceful and immaterial liberations, transcending forms: Các tầng thiền định thuộc cõi Vô Sắc Giới (Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ).
  • tuệ giải thoát / paññāvimutta / liberated-by-wisdom: Bậc A-la-hán đã đoạn trừ lậu hoặc bằng trí tuệ, nhưng không nhất thiết chứng đắc các tầng thiền vô sắc.
  • thân chứng / kāyasakkhī / body-witness: Bậc Thánh (thường là A-na-hàm hoặc A-la-hán) đã chứng nghiệm một phần Niết Bàn qua việc chứng đắc các tầng thiền định (bao gồm cả thiền vô sắc) và đã đoạn trừ một phần hoặc toàn bộ lậu hoặc.
  • kiến chí / diṭṭhippatta / attained-to-view: Bậc Thánh (thường là A-na-hàm hoặc A-la-hán) đã đạt được chánh kiến, hiểu rõ giáo pháp qua trí tuệ, đoạn trừ một phần hoặc toàn bộ lậu hoặc, nhưng không nhất thiết chứng đắc các tầng thiền vô sắc.
  • tín giải thoát / saddhāvimutta / liberated-by-faith: Bậc Thánh (thường là A-na-hàm hoặc A-la-hán) có đức tin mạnh mẽ vào Tam Bảo, đã đoạn trừ một phần hoặc toàn bộ lậu hoặc, sự giải thoát chủ yếu dựa trên đức tin kết hợp với trí tuệ.
  • Như Lai / Tathāgata / Thus Gone One, Thus Come One: Danh hiệu tôn quý của Đức Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy” (đến và đi trên con đường giác ngộ, đạt chân lý như các vị Phật quá khứ).
  • tùy pháp hành / dhammānusārī / Dhamma-follower: Người đang thực hành để chứng quả Dự Lưu (Tu-đà-hoàn), thiên về phát triển trí tuệ (tuệ căn mạnh hơn tín căn), có sự hiểu biết giáo pháp qua thẩm sát.
  • thẩm찰 chấp nhận / dhammanijjhānakkhanti / reflective acceptance of the teachings: Sự chấp nhận giáo pháp sau khi đã suy xét, cân nhắc, thẩm nghiệm bằng trí tuệ của bản thân.
  • tùy tín hành / saddhānusārī / faith-follower: Người đang thực hành để chứng quả Dự Lưu (Tu-đà-hoàn), thiên về phát triển đức tin (tín căn mạnh hơn tuệ căn), có lòng tin vững chắc vào Như Lai.
  • nhiệt tâm / chanda / zeal, desire, will: Lòng mong muốn, ý muốn thực hành, sự hăng hái, sốt sắng trong việc tu tập.
  • quyết chí / vāyāma / exertion, effort, application of will: Sự nỗ lực, cố gắng, quyết tâm áp dụng ý chí vào việc thực hành.
  • thẩm sát / vīmaṃsā / scrutiny, investigation: Sự xem xét kỹ lưỡng, quán chiếu, điều tra bằng trí tuệ để hiểu rõ bản chất sự vật, hiện tượng.
  • tinh cần / padhāna / striving, effort: Sự cố gắng, nỗ lực chuyên cần trong tu tập, đặc biệt là trong việc đoạn trừ bất thiện pháp và phát triển thiện pháp.
  • thân chứng sự thật tối hậu / paramasaccaṃ kāyena sacchikaroti / realises with the body the ultimate truth: Trải nghiệm trực tiếp chân lý Niết Bàn bằng thân tâm (không chỉ qua lý trí).
  • thể nhập bằng trí tuệ / paññāya ativijjha passati / sees it by penetrating it with wisdom: Hiểu thấu đáo, xuyên suốt chân lý bằng trí tuệ.
  • chấp thủ / upādāna / clinging, attachment: Sự bám víu, dính mắc vào ngũ uẩn, các quan điểm, giới cấm hoặc ngã kiến, là nguyên nhân của khổ đau.
  • Bất Lai / anāgāmī / non-returner: Tầng thánh thứ ba trong bốn tầng thánh quả. Vị Thánh A-na-hàm đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, sau khi chết sẽ sinh về cõi trời Tịnh Cư và đạt Niết Bàn tại đó, không còn quay lại cõi Dục.