Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

Kinh 71: Gửi Vacchagotta về Tam Minh

(Kinh Tevijjavacchagotta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời, Đức Thế Tôn đang trú tại Vesālī, trong Rừng Lớn, tại Giảng đường có mái nhọn.

2. Lúc bấy giờ, du sĩ Vacchagotta đang ở tại Công viên của các du sĩ gần Cây Xoài Sen Trắng Đơn Độc. [^712]

3. Rồi, vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát, vào thành Vesālī để khất thực. Rồi Đức Thế Tôn nghĩ: “Vẫn còn quá sớm để đi khất thực ở Vesālī. Hay là ta đến chỗ du sĩ Vacchagotta ở Công viên của các du sĩ gần Cây Xoài Sen Trắng Đơn Độc.”

4. Rồi Đức Thế Tôn đi đến chỗ du sĩ Vacchagotta ở Công viên của các du sĩ gần Cây Xoài Sen Trắng Đơn Độc. Du sĩ Vacchagotta thấy Đức Thế Tôn từ xa đi tới, liền nói với Ngài: “Kính mời Thế Tôn đến, bạch Ngài! Kính chào Thế Tôn! Đã lâu rồi Thế Tôn mới có dịp đến đây. Kính mời Thế Tôn ngồi; chỗ ngồi đã sẵn sàng.” Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn, còn du sĩ Vacchagotta [482] lấy một chiếc ghế thấp, ngồi xuống một bên, và thưa với Đức Thế Tôn:

5. “Bạch Ngài, con nghe nói rằng: ‘Sa-môn Cồ-đàm (recluse Gotama - nhà tu khổ hạnh Gotama) tự nhận là bậc toàn tri (omniscient - sabbaññū - người biết tất cả mọi thứ) và toàn kiến (all-seeing - sabbadassāvī - người thấy tất cả mọi thứ), có tri kiến hoàn toàn (complete knowledge and vision - ñāṇadassana sampanna - sự hiểu biết và cái thấy trọn vẹn) như sau: “Dù đang đi, đứng, ngủ hay thức, tri kiến (knowledge and vision - ñāṇadassana - sự hiểu biết và cái thấy) luôn có mặt nơi tôi một cách liên tục, không gián đoạn.”’ [^713] Bạch Ngài, những người nói như vậy có phải là nói đúng lời Đức Thế Tôn đã dạy, không xuyên tạc Ngài bằng điều không đúng sự thật không? Họ có giải thích đúng theo Giáo Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý) để không ai có thể dựa vào lời khẳng định của họ mà suy diễn ra điều gì đáng khiển trách không?”

“Này Vaccha, những người nói như vậy không phải nói đúng lời ta đã dạy, mà họ xuyên tạc ta bằng điều không đúng sự thật, sai sự thật.” [^714]

6. “Bạch Ngài, vậy con nên trả lời thế nào để nói đúng lời Đức Thế Tôn đã dạy và không xuyên tạc Ngài bằng điều không đúng sự thật? Làm sao con có thể giải thích đúng theo Giáo Pháp, để không ai có thể dựa vào lời khẳng định của con mà suy diễn ra điều gì đáng khiển trách?”

“Này Vaccha, nếu ông trả lời rằng: ‘Sa-môn Cồ-đàm có tam minh (threefold true knowledge - tevijja - ba loại trí tuệ chân thật),’ thì ông sẽ nói đúng lời ta đã dạy và không xuyên tạc ta bằng điều không đúng sự thật. Ông sẽ giải thích đúng theo Giáo Pháp, để không ai có thể dựa vào lời khẳng định của ông mà suy diễn ra điều gì đáng khiển trách.”

7. “Vì rằng, khi ta muốn, ta nhớ lại vô số đời quá khứ của mình, nghĩa là một đời, hai đời…(như trong Kinh 51, §24)… Như vậy, ta nhớ lại vô số đời quá khứ với các khía cạnh và chi tiết của chúng.

8. “Và khi ta muốn, với thiên nhãn (divine eye - dibbacakkhu - con mắt của chư thiên, khả năng thấy các cõi giới khác và sự tái sinh của chúng sinh), thanh tịnh và vượt xa mắt người thường, ta thấy chúng sinh đang chết đi và tái sinh, hạ liệt và cao quý, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh, và ta hiểu rõ chúng sinh trôi theo nghiệp (actions - kamma - hành động có chủ đích và kết quả của nó) của mình…(như trong Kinh 51, §25)…

9. “Và bằng cách tự mình chứng ngộ với trí tuệ trực tiếp (direct knowledge - abhiññā - thắng trí, sự hiểu biết siêu việt do tu tập thiền định), ngay trong đời này, ta chứng đạt và an trú trong tâm giải thoát (deliverance of mind - cetovimutti - sự giải thoát của tâm khỏi tham ái và các trạng thái tâm tiêu cực khác) và tuệ giải thoát (deliverance by wisdom - paññāvimutti - sự giải thoát bằng trí tuệ khỏi vô minh), không còn lậu hoặc (taintless / āsavakkhaya - sự đoạn tận các lậu hoặc) do đã đoạn trừ các lậu hoặc (taints - āsava - những ô nhiễm tinh thần sâu kín như dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi).

10. “Nếu ông trả lời rằng: ‘Sa-môn Cồ-đàm có tam minh,’ [483] thì ông sẽ nói đúng lời ta đã dạy và không xuyên tạc ta bằng điều không đúng sự thật. Ông sẽ giải thích đúng theo Giáo Pháp, để không ai có thể dựa vào lời khẳng định của ông mà suy diễn ra điều gì đáng khiển trách.”

71. KINH DẠY VACCHAGOTTA VỀ TAM MINH

71. KINH DẠY VACCHAGOTTA VỀ TAM MINH (Tevijjavacchagotta Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Vesali (Tỳ-xá-ly) rừng Ðại Lâm, tại Kutagarasala (Trùng Các Giảng đường).

Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Vacchagotta ở tại Ekapundarika, vườn du sĩ ngoại đạo.

Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Vesali để khất thực. Rồi Thế Tôn suy nghĩ như sau: “Nay còn quá sớm để đi vào Vesali khất thực. Ta hãy đi đến Ekapundarika vườn các du sĩ ngoại đạo, đi đến du sĩ ngoại đạo Vacchagotta”.

Rồi Thế Tôn đi đến Ekapundarika, vườn du sĩ ngoại đạo, đi đến du sĩ ngoại đạo Vacchagotta. Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta thấy Thế Tôn từ đằng xa đi đến, khi thấy vậy, liền nói với Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến; bạch Thế Tôn, thiện lai, Thế Tôn ! Bạch Thế Tôn, đã từ lâu, Thế Tôn mới có dịp này, tức là đến tại đây, bạch Thế Tôn, mời Thế Tôn ngồi. Ðây là chỗ đã soạn sẵn.

Thế Tôn ngồi trên ghế đã soạn sẵn. Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: ‘Sa-môn Gotama là bậc nhứt thiết trí, là bậc nhứt thiết kiến. Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn: “Khi Ta đi, khi Ta đứng, khi Ta ngủ và khi Ta thức, tri kiến luôn luôn tồn tại, liên tục”’. Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: "Sa-môn Gotama là bậc nhứt thiết trí, là bậc nhứt thiết kiến. Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn: “Khi Ta đi, khi Ta đứng, khi Ta ngủ và khi Ta thức, tri kiến luôn luôn tồn tại liên tục”. Bạch Thế Tôn, những vị ấy nói về Thế Tôn có đúng với điều đã được nói, những vị ấy không vu khống Thế Tôn với điều không thực, nhưng đã giải thích về Thế Tôn đúng pháp và tùy pháp, và không một đồng pháp hành nào nói lời đúng pháp có thể lấy cớ để quở trách?

– Này Vaccha, những ai nói như sau: ‘Sa-môn Gotama là bậc nhứt thiết trí, là bậc nhứt thiết kiến. Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn: “Khi Ta đi, khi Ta đứng, khi Ta ngủ và khi Ta thức, tri kiến luôn luôn tồn tại, liên tục”’. Thì đấy là họ nói về Ta không đúng với điều đã được nói, họ đã vu khống Ta với điều không thực, hư ngụy.

– Phải giải thích như thế nào, bạch Thế Tôn, chúng con mới nói về Thế Tôn đúng với điều đã được nói, chúng con không vu khống Thế Tôn với điều không thực, chúng con mới giải thích về Thế Tôn đúng pháp và tùy pháp; và không một đồng pháp hành nào nói lời đúng pháp có thể lấy cớ để quở trách?

– Ông phải giải thích: “Sa-môn Gotama là bậc có ba minh (tevijja)”, thì này Vaccha, Ông mới là người nói về Thế Tôn đúng với điều đã được nói, mới không vu khống Thế Tôn với điều không thực, mới giải thích về Thế Tôn đúng pháp và tùy pháp, và mới không có một đồng pháp hành nào nói lời đúng pháp có thể lấy cớ để quở trách.

Này Vaccha, khi nào Ta muốn, Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Ta nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy Ta sẽ nhớ đến những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Này Vaccha, nếu Ta muốn, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Ta nghĩ rằng: “Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này”. Như vậy, Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.

Này Vaccha, với sự đoạn diệt các lậu hoặc, Ta ngay trong hiện tại, tự mình với thượng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Và với sự giải thích: “Sa-môn Gotama là bậc có ba minh,” này Vaccha, người ấy mới là người nói về Thế Tôn đúng với điều đã được nói, mới không vu khống Thế Tôn với điều không thực, mới giải thích về Thế Tôn đúng pháp và tùy pháp, và mới không có một vị đồng hành pháp nào nói lời đúng pháp có thể lấy cớ để quở trách.

11. Khi nghe vậy, du sĩ Vacchagotta hỏi Đức Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Cồ-đàm (Master Gotama - cách gọi tôn kính dành cho Gotama), có người gia chủ (householder - gahapati - người tại gia, sống đời sống gia đình) nào, mà không từ bỏ sự ràng buộc của đời sống gia đình (fetter of householdership - gihisamyojana - những trói buộc liên quan đến đời sống tại gia như gia đình, tài sản, danh vọng), sau khi thân hoại mạng chung, đã chấm dứt khổ đau (made an end of suffering - dukkhassantaṃ akāsi - đạt đến sự kết thúc hoàn toàn của khổ, tức Niết Bàn) không?” [^715]

“Này Vaccha, không có người gia chủ nào, mà không từ bỏ sự ràng buộc của đời sống gia đình, sau khi thân hoại mạng chung, lại chấm dứt được khổ đau.”

12. “Thưa Tôn giả Cồ-đàm, có người gia chủ nào, mà không từ bỏ sự ràng buộc của đời sống gia đình, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sinh lên cõi trời (gone to heaven - saggaṃ gato - tái sinh vào các cõi thiện lành, hạnh phúc như cõi trời dục giới hoặc sắc giới) không?”

“Này Vaccha, không chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm hay năm trăm, mà còn nhiều hơn thế nữa những người gia chủ, dù không từ bỏ sự ràng buộc của đời sống gia đình, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sinh lên cõi trời.”

13. “Thưa Tôn giả Cồ-đàm, có người theo phái Ājīvaka (Ājīvaka - một trường phái tu khổ hạnh cùng thời với Đức Phật, nổi tiếng với thuyết định mệnh, cho rằng mọi sự đã được an bài, không thể thay đổi bởi nỗ lực cá nhân) nào, sau khi thân hoại mạng chung, đã chấm dứt khổ đau không?” [^716]

“Này Vaccha, không có người theo phái Ājīvaka nào, sau khi thân hoại mạng chung, lại chấm dứt được khổ đau.”

14. “Thưa Tôn giả Cồ-đàm, có người theo phái Ājīvaka nào, sau khi thân hoại mạng chung, đã được sinh lên cõi trời không?”

“Này Vaccha, khi ta nhớ lại chín mươi mốt đại kiếp (aeons - kappa/kalpa - những khoảng thời gian vũ trụ cực kỳ dài, một kiếp trái đất hình thành và hoại diệt) đã qua, ta không nhớ có người theo phái Ājīvaka nào, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh lên cõi trời, ngoại trừ một người duy nhất, và người đó tin vào thuyết nghiệp báo (doctrine of the moral efficacy of action - kammavāda - học thuyết cho rằng hành động (nghiệp) có kết quả đạo đức, thiện có quả lành, ác có quả dữ), tin vào kết quả của hành động (doctrine of the moral efficacy of deeds - kiriyavāda - học thuyết cho rằng hành động có hiệu quả, có thể tạo ra thay đổi, đối lập với thuyết định mệnh).” [^717]

15. “Nếu vậy, thưa Tôn giả Cồ-đàm, thì các trường phái ngoại đạo (other sectarians - aññatitthiya - những người theo các giáo lý khác ngoài Phật giáo vào thời Đức Phật) này trống rỗng, ngay cả cơ hội được sinh lên cõi trời [cũng không có].”

“Đúng vậy đó, Vaccha. Các trường phái ngoại đạo này trống rỗng, ngay cả cơ hội được sinh lên cõi trời [cũng không có].”

Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Du sĩ Vacchagotta hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.

Khi được nói vậy, du sĩ Vacchagotta bạch Thế Tôn:

– Tôn giả Gotama, có thể có vị tại gia nào không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể đoạn tận khổ đau?

– Này Vaccha, không có người tại gia nào không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể đoạn tận khổ đau.

– Tôn giả Gotama, có thể có người tại gia nào không đoạn trừ kiết sử tại gia mà khi thân hoại mạng chung lại có thể sanh Thiên?

– Không phải chỉ một trăm, này Vaccha, không phải hai trăm, không phải ba trăm, không phải bốn trăm, không phải năm trăm, nhưng nhiều hơn như vậy là những người tại gia không đoạn trừ tại gia kiết sử mà khi thân hoại lại có thể sanh Thiên.

– Tôn giả Gotama, có hạng tà mạng ngoại đạo nào, sau khi thân hoại mạng chung có thể diệt tận khổ đau?

– Này Vaccha, không có một tà mạng ngoại đạo nào, sau khi thân hoại mạng chung có thể diệt tận khổ đau.

– Tôn giả Gotama, có hạng tà mạng ngoại đạo nào, sau khi thân hoại mạng chung có thể sanh Thiên?

– Này Vaccha, dầu cho ta có nhớ đến 91 kiếp, Ta không biết một tà mạng ngoại đạo nào đã sanh Thiên, trừ một vị, và vị này thuyết về nghiệp và thuyết về tác dụng của nghiệp.

– Sự việc là như vậy, Tôn giả Gotama, thời ngoại đạo giới này (titthayatanan) là trống không cho đến

vấn đề sanh Thiên.

– Sự việc là như vậy, này Vaccha, thời ngoại đạo giới này là trống không cho đến vấn đề sanh Thiên.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Sa-môn Cồ-đàm / Samaṇa Gotama / Recluse Gotama: Cách gọi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bởi những người thuộc các truyền thống tôn giáo khác vào thời đó. “Sa-môn” chỉ người tu hành khổ hạnh, từ bỏ đời sống thế tục.
  • Toàn tri / Sabbaññū / Omniscient: Người biết tất cả mọi thứ. Đức Phật phủ nhận mình là bậc toàn tri theo nghĩa biết mọi thứ mọi lúc, nhưng khẳng định mình biết những gì cần biết để giải thoát.
  • Toàn kiến / Sabbadassāvī / All-seeing: Người thấy tất cả mọi thứ. Tương tự như toàn tri, Đức Phật không tự nhận mình thấy mọi thứ mọi lúc.
  • Tri kiến hoàn toàn / Ñāṇadassana sampanna / Complete knowledge and vision: Sự hiểu biết và cái thấy trọn vẹn, đầy đủ liên quan đến con đường giải thoát.
  • Tri kiến / Ñāṇadassana / Knowledge and vision: Sự hiểu biết và cái thấy, thường chỉ trí tuệ và tuệ giác trong Phật giáo.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý về bản chất của thực tại, con đường dẫn đến giác ngộ và giải thoát.
  • Tam minh / Tevijja / Threefold true knowledge: Ba loại trí tuệ siêu việt mà Đức Phật chứng đắc: 1. Túc mạng minh (pubbenivāsānussati-ñāṇa): nhớ lại các đời quá khứ. 2. Thiên nhãn minh (dibbacakkhu-ñāṇa): thấy sự sinh tử và tái sinh của chúng sinh theo nghiệp. 3. Lậu tận minh (āsavakkhaya-ñāṇa): biết rõ sự đoạn trừ hoàn toàn các lậu hoặc, đạt giải thoát cuối cùng.
  • Thiên nhãn / Dibbacakkhu / Divine eye: Con mắt của chư thiên, một trong những thắng trí (abhiññā), khả năng thấy các cõi giới khác, thấy sự chết và tái sinh của chúng sinh.
  • Nghiệp / Kamma / Actions/Karma: Hành động có chủ đích (thân, khẩu, ý) và kết quả hay hậu quả của hành động đó, chi phối sự tái sinh và trải nghiệm của chúng sinh.
  • Trí tuệ trực tiếp / Abhiññā / Direct knowledge: Thắng trí, những năng lực hay sự hiểu biết siêu việt đạt được qua tu tập thiền định, bao gồm sáu loại: thần túc thông, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông và lậu tận thông (lậu tận minh).
  • Tâm giải thoát / Cetovimutti / Deliverance of mind: Sự giải thoát của tâm khỏi tham ái, sân hận và các trạng thái tâm tiêu cực khác, thường đạt được qua tu tập thiền định (samatha).
  • Tuệ giải thoát / Paññāvimutti / Deliverance by wisdom: Sự giải thoát bằng trí tuệ khỏi vô minh, sự hiểu biết sai lầm về thực tại, thường đạt được qua tu tập thiền tuệ (vipassanā). Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát là hai khía cạnh của sự giải thoát hoàn toàn (Niết Bàn).
  • Không còn lậu hoặc / Āsavakkhaya / Taintless (destruction of taints): Trạng thái đã đoạn trừ hoàn toàn các lậu hoặc, tức là đã đạt được giác ngộ và giải thoát cuối cùng (A-la-hán quả).
  • Lậu hoặc / Āsava / Taints/Corruptions/Cankers: Những ô nhiễm tinh thần sâu kín, những “chất men” làm say đắm và trói buộc chúng sinh trong vòng luân hồi (saṃsāra). Thường được kể là ba hoặc bốn loại: dục lậu (kāmāsava), hữu lậu (bhavāsava), kiến lậu (diṭṭhāsava), và vô minh lậu (avijjāsava).
  • Gia chủ / Gahapati / Householder: Người tại gia, người sống đời sống thế tục, có gia đình, tài sản, khác với người xuất gia (tỳ kheo, tỳ kheo ni).
  • Sự ràng buộc của đời sống gia đình / Gihisamyojana / Fetter of householdership: Những trói buộc, ràng buộc liên quan đến đời sống tại gia, như vợ con, tài sản, danh vọng, các mối quan hệ xã hội, khiến người tại gia khó đạt được giải thoát hoàn toàn như người xuất gia.
  • Chấm dứt khổ đau / Dukkhassantaṃ akāsi / Made an end of suffering: Đạt đến sự kết thúc hoàn toàn của khổ (dukkha), đồng nghĩa với việc chứng đắc Niết Bàn (Nibbāna).
  • Sinh lên cõi trời / Saggaṃ gato / Gone to heaven: Tái sinh vào các cõi giới tốt đẹp, hạnh phúc hơn cõi người, như các cõi trời trong Dục giới hoặc Sắc giới, do kết quả của các việc làm thiện lành. Tuy nhiên, đây vẫn là cảnh giới trong luân hồi, chưa phải giải thoát cuối cùng.
  • Ājīvaka / Ājīvaka / Ājīvaka: Một trường phái triết học và tu khổ hạnh ở Ấn Độ cổ đại, cùng thời với Đức Phật. Họ tin vào thuyết định mệnh (niyati), cho rằng mọi sự kiện, kể cả sự giải thoát, đều đã được tiền định và không thể thay đổi bởi ý chí hay nỗ lực của con người.
  • Đại kiếp / Kappa (Pali), Kalpa (Sanskrit) / Aeon: Một đơn vị thời gian cực kỳ dài trong vũ trụ luận Phật giáo, chỉ khoảng thời gian từ lúc một thế giới hình thành cho đến khi hoại diệt hoàn toàn.
  • Thuyết nghiệp báo / Kammavāda / Doctrine of the moral efficacy of action: Học thuyết cho rằng hành động (kamma/nghiệp) có chủ đích sẽ tạo ra kết quả tương ứng về mặt đạo đức (thiện tạo quả lành, ác tạo quả dữ). Đây là một giáo lý trung tâm của Phật giáo, đối lập với thuyết định mệnh.
  • Kết quả của hành động / Kiriyavāda / Doctrine of the moral efficacy of deeds: Học thuyết cho rằng hành động (kiriya) có hiệu quả, có thể tạo ra sự thay đổi và kết quả. Thường đi đôi với Kammavāda, nhấn mạnh vai trò của nỗ lực và hành động có đạo đức.
  • Ngoại đạo / Aññatitthiya / Other sectarians: Chỉ những người theo các giáo lý, trường phái triết học hoặc tôn giáo khác ngoài Phật giáo vào thời Đức Phật ở Ấn Độ.