MN 77. Đại Kinh Sākuludāyin
(Mahāsakuludāyi Sutta)
[1] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại thành Vương Xá (Rājagaha), trong Vườn Trúc (Veluvana), nơi trú ẩn của sóc.
2. Bấy giờ, có một số du sĩ nổi tiếng đang trú tại Công Viên Khổng Tước (Moranivāpa), nơi dành cho các du sĩ, đó là Annabhāra, Varadhara, và du sĩ Sakuludāyin, cùng với các du sĩ nổi tiếng khác.
3. Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát, vào thành Vương Xá để khất thực. Bấy giờ Ngài nghĩ: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Vương Xá. Hay là ta đến chỗ du sĩ Sakuludāyin ở Công Viên Khổng Tước, nơi dành cho các du sĩ.”
4. Rồi Đức Thế Tôn đi đến Công Viên Khổng Tước, nơi dành cho các du sĩ. Lúc đó, du sĩ Sakuludāyin đang ngồi cùng một hội chúng đông đảo các du sĩ đang làm ồn ào, nói chuyện lớn tiếng và huyên náo về nhiều loại chuyện vô ích, như chuyện vua chúa…(như Kinh 76, đoạn 4) [2]… chuyện thế này là thế này hay không phải thế này. Bấy giờ, du sĩ Sakuludāyin thấy Đức Thế Tôn từ xa đi đến. Thấy Ngài, ông liền bảo hội chúng của mình im lặng: “Thưa quý vị, hãy im lặng; thưa quý vị, đừng làm ồn. Sa-môn Cồ-đàm đang đến. Vị tôn giả này thích sự yên tĩnh và tán thán sự yên tĩnh. Có lẽ nếu thấy hội chúng chúng ta yên lặng, Ngài sẽ nghĩ đến việc tham gia cùng chúng ta.” Rồi các du sĩ im lặng.
5. Đức Thế Tôn đến chỗ du sĩ Sakuludāyin. Sakuludāyin nói với Ngài: “Kính mời Đức Thế Tôn đến! Kính chào mừng Đức Thế Tôn! Đã lâu lắm rồi Đức Thế Tôn mới có dịp đến đây. Xin mời Đức Thế Tôn ngồi; chỗ ngồi đã sẵn sàng.”
Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn, còn du sĩ Sakuludāyin lấy một chiếc ghế thấp và ngồi xuống một bên.
Khi ông đã ngồi yên, Đức Thế Tôn hỏi: “Này Udāyin, các vị đang ngồi bàn luận chuyện gì ở đây vậy? Và cuộc bàn luận nào của các vị đã bị gián đoạn?”
6. "Bạch Tôn giả, xin hãy khoan bàn đến chuyện chúng con đang thảo luận ở đây. Đức Thế Tôn có thể nghe về chuyện đó sau cũng được. Bạch Tôn giả, mấy ngày gần đây, khi các sa-môn và bà-la-môn thuộc nhiều giáo phái khác nhau tụ họp và ngồi lại trong pháp đình, chủ đề này đã được nêu lên: ‘Thật là một lợi ích cho dân chúng xứ Anga và Magadha, thật là một lợi ích lớn lao cho dân chúng xứ Anga và Magadha khi các vị sa-môn và bà-la-môn này, những người đứng đầu giáo đoàn, đứng đầu các nhóm, bậc thầy của các nhóm, những người sáng lập giáo phái nổi tiếng và danh tiếng, được nhiều người xem là bậc thánh, đã đến an cư mùa mưa tại Vương Xá. Có vị Pūraṇa Kassapa này, người đứng đầu giáo đoàn, đứng đầu nhóm, bậc thầy của nhóm, người sáng lập giáo phái nổi tiếng và danh tiếng, được nhiều người xem là bậc thánh: vị ấy đã đến an cư mùa mưa tại Vương Xá. Cũng có vị Makkhali Gosāla này… vị Ajita Kesakambalin này… vị Pakudha Kaccāyana này… vị Sañjaya Belaṭthiputta này… vị Nigaṇtha Nātaputta này, người đứng đầu giáo đoàn, đứng đầu nhóm, bậc thầy của nhóm, [3] người sáng lập giáo phái nổi tiếng và danh tiếng, được nhiều người xem là bậc thánh: vị ấy cũng đã đến an cư mùa mưa tại Vương Xá. Lại cũng có vị Sa-môn Cồ-đàm này, người đứng đầu giáo đoàn, đứng đầu nhóm, bậc thầy của nhóm, người sáng lập giáo phái nổi tiếng và danh tiếng, được nhiều người xem là bậc thánh: vị ấy cũng đã đến an cư mùa mưa tại Vương Xá. Vậy, trong số các vị sa-môn và bà-la-môn đáng kính này, những người đứng đầu giáo đoàn… được nhiều người xem là bậc thánh, ai là người được các đệ tử của mình tôn kính, quý trọng, và cung kính? Và làm thế nào, khi tôn kính và quý trọng vị ấy, họ sống nương tựa vào vị ấy?’
"Khi đó, một số người nói thế này: ‘Vị Pūraṇa Kassapa này là người đứng đầu giáo đoàn… được nhiều người xem là bậc thánh, nhưng ông ta không được các đệ tử tôn kính, quý trọng, và cung kính, các đệ tử cũng không sống nương tựa vào ông ta, tôn kính và quý trọng ông ta. Có lần Pūraṇa Kassapa đang giảng Pháp (Dhamma - giáo lý của Đức Phật) cho một hội chúng vài trăm người theo ông. Bỗng một đệ tử của ông ta la lên: “Thưa quý vị, đừng hỏi ông Pūraṇa Kassapa câu đó. Ông ấy không biết đâu. Chúng tôi biết điều đó. Hãy hỏi chúng tôi câu đó. Chúng tôi sẽ trả lời cho quý vị.” Chuyện xảy ra là Pūraṇa Kassapa không thể làm theo ý mình, dù ông ta vung tay và kêu la: “Hãy im lặng, thưa quý vị, đừng làm ồn, thưa quý vị. Họ không hỏi quý vị, thưa quý vị. Họ đang hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời họ.” Quả thật, nhiều đệ tử của ông ta đã bỏ đi sau khi bác bỏ giáo lý của ông ta như thế này: “Ông không hiểu Pháp và Luật (Vinaya - giới luật của Tăng đoàn) này. Tôi hiểu Pháp và Luật này. Làm sao ông có thể hiểu Pháp và Luật này? Đường lối của ông là sai. Đường lối của tôi mới đúng. Tôi nhất quán. Ông không nhất quán. Điều đáng lẽ phải nói trước, ông lại nói sau. Điều đáng lẽ phải nói sau, ông lại nói trước. Những gì ông đã suy nghĩ kỹ lưỡng đều bị đảo lộn. Giáo lý của ông đã bị bác bỏ. Ông đã bị chứng minh là sai. Hãy đi mà học cho tốt hơn, hoặc tự gỡ rối nếu ông có thể!” Như vậy, Pūraṇa Kassapa không được các đệ tử tôn kính, quý trọng, và cung kính, các đệ tử cũng không sống nương tựa vào ông ta, tôn kính và quý trọng ông ta. Quả thật, ông ta bị khinh miệt bởi sự khinh miệt dành cho Pháp của ông ta.’ [4]
"Và một số người nói thế này: ‘Vị Makkhali Gosāla này… vị Ajita Kesakambalin này… vị Pakudha Kaccāyana này… vị Sañjaya Belatṭhiputta này… vị Niganṭha Nātaputta này là người đứng đầu giáo đoàn… [nhưng ông ta] không được các đệ tử tôn kính, quý trọng, và cung kính, các đệ tử cũng không sống nương tựa vào ông ta, tôn kính và quý trọng ông ta. Quả thật, ông ta bị khinh miệt bởi sự khinh miệt dành cho Pháp của ông ta.’
“Và một số người nói thế này: 'Vị Sa-môn Cồ-đàm này là người đứng đầu giáo đoàn, đứng đầu nhóm, bậc thầy của nhóm, người sáng lập giáo phái nổi tiếng và danh tiếng, được nhiều người xem là bậc thánh. Ngài được các đệ tử tôn kính, quý trọng, và cung kính, và các đệ tử của Ngài sống nương tựa vào Ngài, tôn kính và quý trọng Ngài. Có lần Sa-môn Cồ-đàm đang giảng Pháp cho một hội chúng vài trăm người theo Ngài và ở đó, một đệ tử của Ngài đằng hắng. Ngay lập tức, một vị đồng tu thúc đầu gối vào người ấy [để ra hiệu]: [5] “Xin hãy im lặng, thưa Tôn giả, đừng làm ồn; Đức Thế Tôn, Bậc Đạo Sư, đang thuyết Pháp cho chúng ta.” Khi Sa-môn Cồ-đàm đang thuyết Pháp cho một hội chúng vài trăm người, vào lúc đó không có tiếng ho hay tiếng đằng hắng nào của các đệ tử Ngài. Vì lúc đó, hội chúng đông đảo ấy đang chăm chú chờ đợi: “Chúng ta hãy lắng nghe Pháp mà Đức Thế Tôn sắp giảng dạy.” Giống như một người đang ở ngã tư đường ép mật ong nguyên chất và một đám đông người đang chăm chú chờ đợi, cũng vậy, khi Sa-môn Cồ-đàm đang thuyết Pháp cho một hội chúng vài trăm người, vào lúc đó không có tiếng ho hay tiếng đằng hắng nào của các đệ tử Ngài. Vì lúc đó, hội chúng đông đảo ấy đang chăm chú chờ đợi: “Chúng ta hãy lắng nghe Pháp mà Đức Thế Tôn sắp giảng dạy.” Và ngay cả những đệ tử của Ngài, những người bất hòa với các bạn đồng tu và từ bỏ việc tu tập để trở về đời sống thấp kém - ngay cả họ cũng tán thán Bậc Đạo Sư, Pháp và Tăng đoàn (Sangha - cộng đồng những người tu hành theo Phật); thay vào đó, họ tự trách mình chứ không đổ lỗi cho người khác, nói rằng: “Chúng ta thật không may mắn, ít phước đức; vì dù đã xuất gia sống đời không nhà trong một giáo Pháp được tuyên thuyết khéo léo như vậy, chúng ta đã không thể sống đời phạm hạnh (holy life - đời sống thanh tịnh, cao thượng) hoàn hảo và trong sạch trọn đời.” Sau khi trở thành người phục vụ trong tu viện hoặc cư sĩ tại gia, họ thọ trì và giữ gìn năm giới (five precepts - năm điều đạo đức cơ bản cho người tại gia). Như vậy, Sa-môn Cồ-đàm được các đệ tử tôn kính, quý trọng, và cung kính, và các đệ tử của Ngài sống nương tựa vào Ngài, tôn kính và quý trọng Ngài.”
7. “Nhưng này Udāyin, ông thấy ở ta có bao nhiêu phẩm chất mà nhờ đó các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta?”