Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 77. Đại Kinh Sākuludāyin

(Mahāsakuludāyi Sutta)

[1] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại thành Vương Xá (Rājagaha), trong Vườn Trúc (Veluvana), nơi trú ẩn của sóc.

2. Bấy giờ, có một số du sĩ nổi tiếng đang trú tại Công Viên Khổng Tước (Moranivāpa), nơi dành cho các du sĩ, đó là Annabhāra, Varadhara, và du sĩ Sakuludāyin, cùng với các du sĩ nổi tiếng khác.

3. Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát, vào thành Vương Xá để khất thực. Bấy giờ Ngài nghĩ: “Còn quá sớm để đi khất thực ở Vương Xá. Hay là ta đến chỗ du sĩ Sakuludāyin ở Công Viên Khổng Tước, nơi dành cho các du sĩ.”

4. Rồi Đức Thế Tôn đi đến Công Viên Khổng Tước, nơi dành cho các du sĩ. Lúc đó, du sĩ Sakuludāyin đang ngồi cùng một hội chúng đông đảo các du sĩ đang làm ồn ào, nói chuyện lớn tiếng và huyên náo về nhiều loại chuyện vô ích, như chuyện vua chúa…(như Kinh 76, đoạn 4) [2]… chuyện thế này là thế này hay không phải thế này. Bấy giờ, du sĩ Sakuludāyin thấy Đức Thế Tôn từ xa đi đến. Thấy Ngài, ông liền bảo hội chúng của mình im lặng: “Thưa quý vị, hãy im lặng; thưa quý vị, đừng làm ồn. Sa-môn Cồ-đàm đang đến. Vị tôn giả này thích sự yên tĩnh và tán thán sự yên tĩnh. Có lẽ nếu thấy hội chúng chúng ta yên lặng, Ngài sẽ nghĩ đến việc tham gia cùng chúng ta.” Rồi các du sĩ im lặng.

5. Đức Thế Tôn đến chỗ du sĩ Sakuludāyin. Sakuludāyin nói với Ngài: “Kính mời Đức Thế Tôn đến! Kính chào mừng Đức Thế Tôn! Đã lâu lắm rồi Đức Thế Tôn mới có dịp đến đây. Xin mời Đức Thế Tôn ngồi; chỗ ngồi đã sẵn sàng.”

Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn, còn du sĩ Sakuludāyin lấy một chiếc ghế thấp và ngồi xuống một bên.

Khi ông đã ngồi yên, Đức Thế Tôn hỏi: “Này Udāyin, các vị đang ngồi bàn luận chuyện gì ở đây vậy? Và cuộc bàn luận nào của các vị đã bị gián đoạn?”

6. "Bạch Tôn giả, xin hãy khoan bàn đến chuyện chúng con đang thảo luận ở đây. Đức Thế Tôn có thể nghe về chuyện đó sau cũng được. Bạch Tôn giả, mấy ngày gần đây, khi các sa-môn và bà-la-môn thuộc nhiều giáo phái khác nhau tụ họp và ngồi lại trong pháp đình, chủ đề này đã được nêu lên: ‘Thật là một lợi ích cho dân chúng xứ Anga và Magadha, thật là một lợi ích lớn lao cho dân chúng xứ Anga và Magadha khi các vị sa-môn và bà-la-môn này, những người đứng đầu giáo đoàn, đứng đầu các nhóm, bậc thầy của các nhóm, những người sáng lập giáo phái nổi tiếng và danh tiếng, được nhiều người xem là bậc thánh, đã đến an cư mùa mưa tại Vương Xá. Có vị Pūraṇa Kassapa này, người đứng đầu giáo đoàn, đứng đầu nhóm, bậc thầy của nhóm, người sáng lập giáo phái nổi tiếng và danh tiếng, được nhiều người xem là bậc thánh: vị ấy đã đến an cư mùa mưa tại Vương Xá. Cũng có vị Makkhali Gosāla này… vị Ajita Kesakambalin này… vị Pakudha Kaccāyana này… vị Sañjaya Belaṭthiputta này… vị Nigaṇtha Nātaputta này, người đứng đầu giáo đoàn, đứng đầu nhóm, bậc thầy của nhóm, [3] người sáng lập giáo phái nổi tiếng và danh tiếng, được nhiều người xem là bậc thánh: vị ấy cũng đã đến an cư mùa mưa tại Vương Xá. Lại cũng có vị Sa-môn Cồ-đàm này, người đứng đầu giáo đoàn, đứng đầu nhóm, bậc thầy của nhóm, người sáng lập giáo phái nổi tiếng và danh tiếng, được nhiều người xem là bậc thánh: vị ấy cũng đã đến an cư mùa mưa tại Vương Xá. Vậy, trong số các vị sa-môn và bà-la-môn đáng kính này, những người đứng đầu giáo đoàn… được nhiều người xem là bậc thánh, ai là người được các đệ tử của mình tôn kính, quý trọng, và cung kính? Và làm thế nào, khi tôn kính và quý trọng vị ấy, họ sống nương tựa vào vị ấy?’

"Khi đó, một số người nói thế này: ‘Vị Pūraṇa Kassapa này là người đứng đầu giáo đoàn… được nhiều người xem là bậc thánh, nhưng ông ta không được các đệ tử tôn kính, quý trọng, và cung kính, các đệ tử cũng không sống nương tựa vào ông ta, tôn kính và quý trọng ông ta. Có lần Pūraṇa Kassapa đang giảng Pháp (Dhamma - giáo lý của Đức Phật) cho một hội chúng vài trăm người theo ông. Bỗng một đệ tử của ông ta la lên: “Thưa quý vị, đừng hỏi ông Pūraṇa Kassapa câu đó. Ông ấy không biết đâu. Chúng tôi biết điều đó. Hãy hỏi chúng tôi câu đó. Chúng tôi sẽ trả lời cho quý vị.” Chuyện xảy ra là Pūraṇa Kassapa không thể làm theo ý mình, dù ông ta vung tay và kêu la: “Hãy im lặng, thưa quý vị, đừng làm ồn, thưa quý vị. Họ không hỏi quý vị, thưa quý vị. Họ đang hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời họ.” Quả thật, nhiều đệ tử của ông ta đã bỏ đi sau khi bác bỏ giáo lý của ông ta như thế này: “Ông không hiểu Pháp và Luật (Vinaya - giới luật của Tăng đoàn) này. Tôi hiểu Pháp và Luật này. Làm sao ông có thể hiểu Pháp và Luật này? Đường lối của ông là sai. Đường lối của tôi mới đúng. Tôi nhất quán. Ông không nhất quán. Điều đáng lẽ phải nói trước, ông lại nói sau. Điều đáng lẽ phải nói sau, ông lại nói trước. Những gì ông đã suy nghĩ kỹ lưỡng đều bị đảo lộn. Giáo lý của ông đã bị bác bỏ. Ông đã bị chứng minh là sai. Hãy đi mà học cho tốt hơn, hoặc tự gỡ rối nếu ông có thể!” Như vậy, Pūraṇa Kassapa không được các đệ tử tôn kính, quý trọng, và cung kính, các đệ tử cũng không sống nương tựa vào ông ta, tôn kính và quý trọng ông ta. Quả thật, ông ta bị khinh miệt bởi sự khinh miệt dành cho Pháp của ông ta.’ [4]

"Và một số người nói thế này: ‘Vị Makkhali Gosāla này… vị Ajita Kesakambalin này… vị Pakudha Kaccāyana này… vị Sañjaya Belatṭhiputta này… vị Niganṭha Nātaputta này là người đứng đầu giáo đoàn… [nhưng ông ta] không được các đệ tử tôn kính, quý trọng, và cung kính, các đệ tử cũng không sống nương tựa vào ông ta, tôn kính và quý trọng ông ta. Quả thật, ông ta bị khinh miệt bởi sự khinh miệt dành cho Pháp của ông ta.’

“Và một số người nói thế này: 'Vị Sa-môn Cồ-đàm này là người đứng đầu giáo đoàn, đứng đầu nhóm, bậc thầy của nhóm, người sáng lập giáo phái nổi tiếng và danh tiếng, được nhiều người xem là bậc thánh. Ngài được các đệ tử tôn kính, quý trọng, và cung kính, và các đệ tử của Ngài sống nương tựa vào Ngài, tôn kính và quý trọng Ngài. Có lần Sa-môn Cồ-đàm đang giảng Pháp cho một hội chúng vài trăm người theo Ngài và ở đó, một đệ tử của Ngài đằng hắng. Ngay lập tức, một vị đồng tu thúc đầu gối vào người ấy [để ra hiệu]: [5] “Xin hãy im lặng, thưa Tôn giả, đừng làm ồn; Đức Thế Tôn, Bậc Đạo Sư, đang thuyết Pháp cho chúng ta.” Khi Sa-môn Cồ-đàm đang thuyết Pháp cho một hội chúng vài trăm người, vào lúc đó không có tiếng ho hay tiếng đằng hắng nào của các đệ tử Ngài. Vì lúc đó, hội chúng đông đảo ấy đang chăm chú chờ đợi: “Chúng ta hãy lắng nghe Pháp mà Đức Thế Tôn sắp giảng dạy.” Giống như một người đang ở ngã tư đường ép mật ong nguyên chất và một đám đông người đang chăm chú chờ đợi, cũng vậy, khi Sa-môn Cồ-đàm đang thuyết Pháp cho một hội chúng vài trăm người, vào lúc đó không có tiếng ho hay tiếng đằng hắng nào của các đệ tử Ngài. Vì lúc đó, hội chúng đông đảo ấy đang chăm chú chờ đợi: “Chúng ta hãy lắng nghe Pháp mà Đức Thế Tôn sắp giảng dạy.” Và ngay cả những đệ tử của Ngài, những người bất hòa với các bạn đồng tu và từ bỏ việc tu tập để trở về đời sống thấp kém - ngay cả họ cũng tán thán Bậc Đạo Sư, Pháp và Tăng đoàn (Sangha - cộng đồng những người tu hành theo Phật); thay vào đó, họ tự trách mình chứ không đổ lỗi cho người khác, nói rằng: “Chúng ta thật không may mắn, ít phước đức; vì dù đã xuất gia sống đời không nhà trong một giáo Pháp được tuyên thuyết khéo léo như vậy, chúng ta đã không thể sống đời phạm hạnh (holy life - đời sống thanh tịnh, cao thượng) hoàn hảo và trong sạch trọn đời.” Sau khi trở thành người phục vụ trong tu viện hoặc cư sĩ tại gia, họ thọ trì và giữ gìn năm giới (five precepts - năm điều đạo đức cơ bản cho người tại gia). Như vậy, Sa-môn Cồ-đàm được các đệ tử tôn kính, quý trọng, và cung kính, và các đệ tử của Ngài sống nương tựa vào Ngài, tôn kính và quý trọng Ngài.”

7. “Nhưng này Udāyin, ông thấy ở ta có bao nhiêu phẩm chất mà nhờ đó các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta?”

77. ÐẠI KINH SAKULUDÀYI

77. ÐẠI KINH SAKULUDÀYI (Mahàsakuludàyin Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).

Lúc bấy giờ, có rất nhiều vị du sĩ, có thời danh, có danh tiếng trú ở Moranivapa (Khổng Tước Lâm), tu viện các du sĩ, như Anugara, Varadhara, và du sĩ Sakuludayi cùng với các vị du sĩ thời danh, danh tiếng khác.

Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Rajagaha để khất thực. Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Rajagaha. Ta hãy đến Moranivapa, tu viện các du sĩ, đi đến gặp du sĩ Sakuludayi”. Rồi Thế Tôn đi đến Moranivapa, tu viện các du sĩ.

Lúc bấy giờ du sĩ Sakuludayi đang ngồi cùng với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng, bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như vương luận, tặc luận, đại thần luận, binh luận, bố úy luận, chiến đấu luận, thực luận, ẩm luận, y luận, sàng luân, hoa man luận, hương liệu luận, thân tộc luận, xa thừa luận, thôn luận, trấn luận, thị luận, quốc độ luận, phụ nữ luận, anh hùng luận, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, tạp thoại luận, thế giới luận, hải dương luận, hiện hữu, vô hiện hữu luận. Du sĩ Sakuludayi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình:

– Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay Sa-môn Gotama đang đến, vị Tôn giả ấy ưa mến an tịnh, tán thán an tịnh, nếu biết chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây.

Các du sĩ ấy đều im lặng. Rồi Thế Tôn đến chỗ du sĩ Sakuludayi. Du sĩ Sakuludayi bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến! Bạch Thế Tôn, thiện lai Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Thế Tôn hãy ngồi! Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.

Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sakuludayi lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Sakuludayi đang ngồi một bên:

– Này Udayi, nay các vị họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn?

– Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên vấn đề chúng tôi đang hội họp bàn luận. Về sau Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì! Bạch Thế Tôn, trong những ngày trước, nhiều ngày trước nữa, khi các vị Sa- môn, Bà-la-môn thuộc nhiều ngoại đạo sai khác, ngồi lại và tập họp tại luận nghị đường, đối thoại này được khởi lên: "Thật lợi ích thay cho dân chúng Anga và Magadha thật tốt đẹp thay cho dân chúng Anga và Magadha khi được những vị Sa-môn, Bà-la-môn nay là những vị lãnh đạo hội chúng, lãnh đạo đồ chúng, những vị sư trưởng đồ chúng, những vị thời danh, những Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa! Ngài Purana Kassapa (Bất-lan Ca-diếp) này là bậc lãnh đạo hội chúng, lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Ngài Makkhali Gosala này… Ngài Ajita Kesakambali… Ngài Pakudha Kaccayana… Ngài Saniaya Belatthiputta… Ngài Nigantha Nataputta này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị này đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Sa-môn

Gotama này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị này đã đến Rajagaha để an cư trong mùa mưa. Trong những bậc Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này, những bậc lãnh đạo hội chúng, những bậc lãnh đạo đồ chúng, những bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, những bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị nào được các đệ tử cung kính tôn trọng, kính lễ, cúng dường? Và các đệ tử sau khi cung kính tôn trọng đã sống nương tựa như thế nào?"

Ở đây, có một số người đã nói như sau: "Vị Purana Kassapa này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng, vị ấy không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ cúng dường. Và các đệ tử, sau khi cung kính tôn trọng đã không sống nương tựa Purana Kassapa. Thuở xưa, Purana Kassapa thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người; ở đấy, một đệ tử của Purana Kassapa nói lớn tiếng như sau: “Chư Tôn giả, chớ có hỏi Purana Kassapa về ý nghĩa này. Vị ấy không biết ý nghĩa này, chúng tôi biết ý nghĩa này. Hãy hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Chúng tôi sẽ trả lời về ý nghĩa này cho chư Tôn giả”. Thuở xưa, Purana Kassapa dang tay, khóc lóc nhưng không được nghe theo: “Chư tôn giả, hãy nhỏ tiếng! Chư Tôn giả hãy lặng tiếng! Những vị ấy không hỏi Chư Tôn giả. Những vị ấy hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời cho những vị ấy”. Nhiều đệ tử của Purana Kassapa, sau khi kích bác Purana Kassapa, bỏ đi và nói: “Ông không biết pháp và luật này. Ta biết pháp và luật này. Làm sao Ông có thể biết pháp và luật này? Ông theo tà hạnh. Ta theo chánh hạnh. Ðiều ta nói có tương ưng. Ðiều Ông nói không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói như sau. Ðiều đáng nói sau ngươi lại nói trước. Chủ trương của Ông đã bị lật ngược, câu hỏi của Ông đã bị bài bác. Ông đã bị thuyết bại. Hãy đến giải vây lời nói (ấy) nếu có thể được, gắng thoát khỏi lối bí”. Như vậy, Purana Kassapa không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và sau khi cung kính tôn trọng, các đệ tử đã không sống nương tựa Purana Kassapa. Trái lại, Purana Kassapa đã bị mạ với những lời mắng nhiếc vì hành động của mình.

Có một số người đã nói như sau: "Vị Makkhali Gosala này… Vị Ajita Kesakambali… Vị Pukudha Kaccayana… Vị Sanjaya Belatthiputta… Vị Nigantha Nataputta này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng. Vị ấy không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử sau khi cung kính, tôn trọng đã không sống nương tựa Nigantha Nataputta. Thuở xưa, Nigantha Nataputta thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Nigantha Nataputta lớn tiếng nói như sau: “Chư Tôn giả, chớ có hỏi Nigantha Nataputta về ý nghĩa này. Vị ấy không biết ý nghĩa này. Chúng tôi biết ý nghĩa này. Hãy hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Chúng tôi trả lời về ý nghĩa này cho chư Tôn giả”. Thuở xưa Nigantha Nataputta dang tay, khóc lóc nhưng không được nghe theo: “Chư Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Chư Tôn giả hãy lặng tiếng! Những vị ấy không hỏi chư Tôn giả. Những vị ấy hỏi chúng tôi. Chúng tôi sẽ trả lời cho những vị ấy”. Nhiều đệ tử của Nigantha Nataputta, sau khi kích bác Nigantha Nataputta, bỏ đi và nói: “Ông không biết pháp và luật này. Ta biết pháp và luật này. Làm sao Ông có thể biết pháp và luật này? Ông theo tà hạnh. Ta theo chánh hạnh. Ðiều ta nói có tương ưng. Ðiều Ông nói không tương ưng. Ðiều đáng nói trước Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Chủ trương của Ông đã bị lật ngược. Câu nói của Ông đã bị bài bác. Ông đã bị thất bại. Hãy đến giải vây lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát khỏi lối bí”. Như vậy, Nigantha Nataputta không được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử không có sau khi cung kính, tôn trọng sống nương tựa Nigantha Nataputta. Trái lại Nigantha Nataputta đã bị mạ lị với những lời mắng nhiếc vì hành động của mình.

Có một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama này là bậc lãnh đạo hội chúng, bậc lãnh đạo đồ chúng, bậc sư trưởng đồ chúng, có thời danh, bậc Tổ sư có thanh danh, được quần chúng tôn sùng. Và vị này được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường. Và các đệ tử sau khi cung kính tôn trọng, sống nương tựa Sa-môn Gotama. Thuở xưa, Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người. Ở đây, một đệ tử của Sa-môn Gotama ho (thành tiếng). Một vị đồng Phạm hạnh dùng đầu gối đập (nhẹ) vào người ấy và nói: "Tôn giả hãy lặng tiếng! Tôn giả chớ có làm ồn! Thế Tôn, bậc Ðạo sư của

chúng ta đang thuyết pháp". Trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng đang sống trong nhiệt tình kỳ vọng; nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho ta và ta được nghe”. Ví như có người tại ngã tư đường, đang bóp vắt một bánh mật ong nhỏ trong sạch, và đại chúng đang sống nhiệt tình kỳ vọng. Cũng vậy, trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng đang sống trong nhiệt tình kỳ vọng nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho ta và ta sẽ được nghe”. Các đệ tử của Sa-môn Gotama sau khi cãi lộn với các vị đồng Phạm hạnh từ bỏ tu học, trở lại hoàn tục, các vị ấy vẫn tán thán bậc Ðạo sư, tán thán Pháp, tán thán Tăng, tự quở trách mình, không quở trách người khác: “Chính chúng ta thật bất hạnh, chính chúng ta thật thiếu phước, dầu chúng ta xuất gia trong pháp luật được khéo giảng như vậy mà không thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh cho đến trọn đời”. Họ trở thành những người giữ vườn, hay những người cư sĩ và sống thọ trì năm giới". Như vậy Sa-môn Gotama được các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường, và các đệ tử sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa Sa-môn Gotama.

– Này Udayi, Ông thấy nơi ta có bao nhiêu pháp mà do các pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính tôn trọng, sống nương tựa vào Ta?

8. “Bạch Tôn giả, con thấy có năm phẩm chất ở Đức Thế Tôn mà nhờ đó các đệ tử của Ngài tôn kính, quý trọng, và cung kính Ngài, và sống nương tựa vào Ngài, tôn kính và quý trọng Ngài. Năm phẩm chất đó là gì? Thứ nhất, bạch Tôn giả, Đức Thế Tôn ăn ít và tán thán việc ăn ít; đây là phẩm chất thứ nhất con thấy ở Đức Thế Tôn mà nhờ đó các đệ tử của Ngài tôn kính, quý trọng, và cung kính Ngài, và sống nương tựa vào Ngài, tôn kính và quý trọng Ngài. [6] Lại nữa, bạch Tôn giả, Đức Thế Tôn bằng lòng với bất kỳ loại y phục nào và tán thán sự bằng lòng với bất kỳ loại y phục nào; đây là phẩm chất thứ hai con thấy ở Đức Thế Tôn… Lại nữa, bạch Tôn giả, Đức Thế Tôn bằng lòng với bất kỳ loại vật thực khất thực nào và tán thán sự bằng lòng với bất kỳ loại vật thực khất thực nào; đây là phẩm chất thứ ba con thấy ở Đức Thế Tôn… Lại nữa, bạch Tôn giả, Đức Thế Tôn bằng lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào và tán thán sự bằng lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào; đây là phẩm chất thứ tư con thấy ở Đức Thế Tôn… Lại nữa, bạch Tôn giả, Đức Thế Tôn sống độc cư và tán thán sự độc cư; đây là phẩm chất thứ năm con thấy ở Đức Thế Tôn… Bạch Tôn giả, đó là năm phẩm chất con thấy ở Đức Thế Tôn mà nhờ đó các đệ tử của Ngài tôn kính, quý trọng, và cung kính Ngài, và sống nương tựa vào Ngài, tôn kính và quý trọng Ngài.”

9. "Giả sử, này Udāyin, các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta, với ý nghĩ: ‘Sa-môn Cồ-đàm ăn ít và tán thán việc ăn ít.’ Này, có những đệ tử của ta sống chỉ bằng một chén hay nửa chén thức ăn, một lượng thức ăn bằng trái bilva hay nửa trái bilva, [7] trong khi đôi khi ta ăn đầy cả bát khất thực hoặc thậm chí nhiều hơn. Vậy nếu các đệ tử của ta tôn kính ta… với ý nghĩ: ‘Sa-môn Cồ-đàm ăn ít và tán thán việc ăn ít,’ thì những đệ tử của ta sống chỉ bằng một chén thức ăn… không nên tôn kính, quý trọng, và cung kính ta vì phẩm chất này, họ cũng không nên sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta.

"Giả sử, này Udāyin, các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta, với ý nghĩ: ‘Sa-môn Cồ-đàm bằng lòng với bất kỳ loại y phục nào và tán thán sự bằng lòng với bất kỳ loại y phục nào.’ Này, có những đệ tử của ta là những người mặc y phấn tảo, mặc y thô; họ nhặt vải vụn từ nghĩa địa, đống rác, hoặc cửa hàng, may thành y vá và mặc chúng. Nhưng đôi khi ta mặc y do các gia chủ cúng dường, những chiếc y mịn đến nỗi lông bí ngô còn thô ráp hơn. Vậy nếu các đệ tử của ta tôn kính ta… với ý nghĩ: ‘Sa-môn Cồ-đàm bằng lòng với bất kỳ loại y phục nào và tán thán sự bằng lòng với bất kỳ loại y phục nào,’ thì những đệ tử của ta là những người mặc y phấn tảo, mặc y thô… không nên tôn kính, quý trọng, và cung kính ta vì phẩm chất này, họ cũng không nên sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta.

"Giả sử, này Udāyin, các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta, với ý nghĩ: ‘Sa-môn Cồ-đàm bằng lòng với bất kỳ loại vật thực khất thực nào và tán thán sự bằng lòng với bất kỳ loại vật thực khất thực nào.’ Này, có những đệ tử của ta là những người chỉ ăn đồ khất thực, đi khất thực liên tục từ nhà này sang nhà khác, thích thú với việc tự mình kiếm thức ăn; khi đã vào trong các nhà dân, họ sẽ không đồng ý ngồi xuống ngay cả khi được mời. Nhưng đôi khi ta ăn những bữa cơm được mời với gạo ngon [8] và nhiều loại nước sốt, cà ri. Vậy nếu các đệ tử của ta tôn kính ta… với ý nghĩ: ‘Sa-môn Cồ-đàm bằng lòng với bất kỳ loại vật thực khất thực nào và tán thán sự bằng lòng với bất kỳ loại vật thực khất thực nào,’ thì những đệ tử của ta là những người chỉ ăn đồ khất thực… không nên tôn kính, quý trọng, và cung kính ta vì phẩm chất này, họ cũng không nên sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta.

"Giả sử, này Udāyin, các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta, với ý nghĩ: ‘Sa-môn Cồ-đàm bằng lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào và tán thán sự bằng lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào.’ Này, có những đệ tử của ta là những người sống dưới gốc cây và sống ngoài trời, không dùng mái che trong tám tháng [của năm], trong khi đôi khi ta sống trong những lâu đài có mái, được trát vữa trong ngoài, che chắn gió, có then cài cửa chắc chắn, có cửa sổ đóng kín. Vậy nếu các đệ tử của ta tôn kính ta… với ý nghĩ: ‘Sa-môn Cồ-đàm bằng lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào và tán thán sự bằng lòng với bất kỳ loại chỗ ở nào,’ thì những đệ tử của ta là những người sống dưới gốc cây và sống ngoài trời… không nên tôn kính, quý trọng, và cung kính ta vì phẩm chất này, họ cũng không nên sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta.

"Giả sử, này Udāyin, các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta, với ý nghĩ: ‘Sa-môn Cồ-đàm sống độc cư và tán thán sự độc cư.’ Này, có những đệ tử của ta là những người sống trong rừng, sống ở những nơi hẻo lánh, sống ẩn dật trong những nơi nghỉ ngơi xa xôi trong rừng rậm và trở về giữa Tăng đoàn mỗi nửa tháng một lần để tụng đọc Giới Bổn (Pātimokkha). Nhưng đôi khi ta sống giữa các tỳ kheo (bhikkhu - nhà sư nam trong Phật giáo) và tỳ kheo ni (bhikkhuni - nhà sư nữ trong Phật giáo), giữa các nam nữ cư sĩ, giữa vua chúa và các quan đại thần, giữa các người theo giáo phái khác và đệ tử của họ. Vậy nếu các đệ tử của ta tôn kính ta… với ý nghĩ: ‘Sa-môn Cồ-đàm sống độc cư và tán thán sự độc cư,’ [9] thì những đệ tử của ta là những người sống trong rừng… không nên tôn kính, quý trọng, và cung kính ta vì phẩm chất này, họ cũng không nên sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta. Như vậy, này Udāyin, không phải vì năm phẩm chất này mà các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta.

10. "Tuy nhiên, này Udāyin, có năm phẩm chất khác mà nhờ đó các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta. Năm phẩm chất đó là gì?

– Bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn có năm pháp mà do năm pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn. Thế nào là năm? Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít và tán thán hạnh ăn ít. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít và tán thán hạnh ăn ít. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ nhất, con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn là pháp thứ hai con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng sống nương tựa vào Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ ba con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào. Chính pháp này, bạch Thế Tôn, là pháp thứ tư con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly. Chính pháp này bạch Thế Tôn, là pháp thứ năm con thấy nơi Thế Tôn. Do pháp này các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn.

Chính năm pháp này, bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn. Do năm pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng sống nương tựa vào Thế Tôn.

– “Sa-môn Gotama ăn ít và tán thán hạnh ăn ít”; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta chỉ ăn với một bát (kosa), chỉ ăn với nửa bát, chỉ ăn với trái cây veluva, chỉ ăn với nửa trái cây veluva, và này Udayi. Còn Ta, có khi Ta ăn hơn một bình bát này, có khi Ta ăn nhiều hơn như vậy nữa. “Sa-môn Gotama ăn ít và tán thán hạnh ăn ít”; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi tôn trọng, cung kính sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, những đệ tử ấy của Ta, sống nương tựa vào Ta chỉ ăn với một bát, chỉ ăn với nửa bát, chỉ ăn với trái cây veluva, chỉ ăn với nửa trái cây veluva; những vị ấy vì pháp hạnh này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không tôn trọng cung kính không sống nương tựa vào Ta.

“Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào”; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta sống mặc phấn tảo y, mặc thô y. Những vị ấy lượm từng mảnh vải từ bãi tha ma, hay từng đống rác, hay từ tiệm phố, và sau khi làm thành áo sanghati (tăng-già-lê), họ mang loại áo ấy. Còn Ta, này Udayi, có khi Ta mặc vải y của cư sĩ cúng dường, các chỗ sờn mỏng được bện chắc lại với dây tơ cây bí trắng. “Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ loại y nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ loại y nào”; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi tôn trọng cung kính, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, những vị đệ tử ấy của Ta, sống mặc phấn tảo y, mặc thô y. Những vị ấy lượm từng mảnh vải từ bãi tha ma, hay từ đống rác, hay từ tiệm phố, và sau khi làm thành áo sanghati, họ mang loại áo ấy; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.

“Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào”, nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta chỉ ăn những món ăn nhận trong bình bát khất thực, chỉ đi khất thực từng nhà một (không bỏ sót nhà nào); tự thỏa mãn với những món ăn mảy mún, khi đi vào trong nhà, dầu được mời ngồi, cũng không chấp nhận. Còn Ta, này Udayi, đôi khi Ta nhận ăn những chỗ được mời, nhận ăn các thứ gạo, cháo trong ấy các hạt đen được vứt bỏ, các loại canh, các loại trợ vị. “Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ món ăn khất thực nào”; này Udayi nếu vì vậy, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, những vị đệ tử ấy của Ta, chỉ ăn những món ăn nhận trong bình bát khất thực, chỉ đi khất thực từng nhà một, tự thỏa mãn với những món ăn mảy mún, khi đi vào trong nhà, dầu được mời ngồi cũng không chấp nhận; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.

“Sa-môn Gotama sống biết đủ và bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào”; nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, có những đệ tử của Ta sống dưới gốc cây, sống ở ngoài trời. Những vị ấy trong tám tháng không sống dưới mái che nào. Còn ta, này Udayi, có đôi khi Ta sống dưới những ngôi lầu có gác nhọn, có tô vôi trong và ngoài, được che gió, có then chốt đóng lại và có các cửa sổ khép kín. “Sa-môn Gotama sống biết đủ với bất cứ sàng tọa nào và tán thán hạnh biết đủ với bất cứ sàng tọa nào” và nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, các vị đệ tử ấy của Ta, sống dưới gốc cây, sống ở ngoài trời, trong tám tháng không sống dưới mái che nào; những vị ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.

“Sa-môn Gotama là vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly”; này Udayi, nếu vì vậy các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này

Udayi, có những đệ tử của Ta sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng. Sau khi đi sâu vào trong rừng núi, trong các trú xứ xa vắng, sống tại các chỗ ấy, và nửa tháng một lần mới trở về giữa Tăng chúng để tụng đọc Giới bổn. Còn Ta, này Udayi, đôi khi ta sống đoanh vây xung quanh bởi các Tỷ-kheo, Tỷ- kheo-ni, Cư sĩ nam, Cư sĩ nữ, Quốc vương, Ðại thần, Ngoại đạo, đệ tử các ngoại đạo. “Sa-môn Gotama là vị sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly”; và nếu vì vậy, này Udayi, các đệ tử cung kính, tôn trọng kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta, thời này Udayi, các vị đệ tử ấy của Ta, sống trong rừng núi, tại các trú xứ xa vắng. Sau khi đi sâu vào trong núi, trong các trú xứ xa vắng, sống tại các chỗ ấy và nửa tháng một lần, mới trở về giữa Tăng chúng để tụng đọc Giới bổn; những vị đệ tử ấy vì pháp (hạnh) này đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và đáng lẽ không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.

Như vậy, này Udayi, các đệ tử của Ta do năm pháp này không cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và không cung kính, tôn trọng, không sống nương tựa vào Ta.

Này Udayi, lại có năm pháp khác, do năm pháp này, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa (vào Ta). Thế nào là năm?

(I. GIỚI ĐỨC CAO THƯỢNG)

11. "Ở đây, này Udāyin, các đệ tử của ta quý trọng ta vì giới đức cao thượng như sau: ‘Sa-môn Cồ-đàm là người có giới đức, Ngài sở hữu giới đức tối thượng.’ Đây là phẩm chất thứ nhất mà nhờ đó các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta.

(I. Giới hạnh tăng thượng)

Ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới: “Sa-môn Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng”. Này Udayi, chính đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng giới, nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama là vị có giới hạnh và thành tựu giới uẩn tối thượng”, đây là pháp thứ nhất, này Udayi, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính , tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.

(II. TRI KIẾN TUYỆT HẢO)

12. "Lại nữa, này Udāyin, các đệ tử của ta quý trọng ta vì tri kiến tuyệt hảo của ta như sau: ‘Khi Sa-môn Cồ-đàm nói “Ta biết,” Ngài thực sự biết; khi Ngài nói “Ta thấy,” Ngài thực sự thấy. Sa-môn Cồ-đàm giảng dạy Pháp qua thắng trí (abhiññā - sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt), không phải không qua thắng trí; Ngài giảng dạy Pháp có cơ sở vững chắc, không phải không có cơ sở vững chắc; Ngài giảng dạy Pháp một cách thuyết phục, không phải một cách không thuyết phục.’ Đây là phẩm chất thứ hai mà nhờ đó [10] các đệ tử của ta tôn kính ta…

(II. Tri kiến vi diệu)

Lại nữa, này Udayi, các đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu. Khi nói: “Ta biết”, nghĩa là Sa-môn Gotama có biết. Khi nói: “Ta thấy”, nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn Gotama thuyết pháp có nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên. Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực (Sappatihariyam), không phải không có thần thông lực. Này Udayi, chính đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu và nghĩ rằng: “Khi nói: “Ta biết”, nghĩa là Sa-môn Gotama có biết: Khi nói: “Ta thấy”, nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn thuyết pháp với nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên. Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực, không phải không có thần thông lực”. Ðây là pháp thứ hai này Udayi, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.

(III. TUỆ ĐỨC CAO THƯỢNG)

13. “Lại nữa, này Udāyin, các đệ tử của ta quý trọng ta vì tuệ đức cao thượng như sau: ‘Sa-môn Cồ-đàm là bậc trí tuệ; Ngài sở hữu trí tuệ tối thượng. Không thể nào Ngài lại không thấy trước được đường hướng giáo lý trong tương lai [^761] hoặc không thể bác bỏ bằng lý lẽ các giáo lý hiện hành của người khác.’ Ông nghĩ sao, này Udāyin? Các đệ tử của ta, khi biết và thấy như vậy, có xen vào và ngắt lời ta không?” - “Thưa không, bạch Tôn giả.” - "Ta không mong đợi sự chỉ dạy từ các đệ tử của ta; luôn luôn là các đệ tử của ta mong đợi sự chỉ dạy từ ta. Đây là phẩm chất thứ ba mà nhờ đó các đệ tử của ta tôn kính ta…

(III. Trí tuệ tăng thượng)

Lại nữa, này Udayi, đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng trí tuệ và sự kiện này không thể xảy ra khi họ nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama là vị có trí tuệ và thành tựu tuệ uẩn tối thượng. (Tuy vậy) Ngài không thấy trước một luận đạo nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài không luận phá sau khi khéo léo nạn phá với Chánh pháp”. Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Các đệ tử của Ta, sau khi biết như vậy, thấy như vậy, có thể làm gián đoạn một cuộc đàm thoại đang diễn tiến nửa chừng không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Này Udayi, Ta không chờ đợi sự giáo giới từ nơi những đệ tử của Ta. Trái lại, chính những đệ tử của Ta chờ đợi sự giáo giới từ nơi Ta. Do vậy, này Udayi, sự kiện này không thể xảy ra khi các đệ tử của Ta thán phục Tăng thượng trí tuệ và suy nghĩ: “Sa-môn Gotama là bậc có trí tuệ và thành tựu tuệ uẩn tối thắng. (Tuy vậy) Ngài không thấy (trước) một luận đạo nào ở tương lai, hay một luận nạn ngoại đạo nào khởi lên (trong hiện tại) mà Ngài không luận phá, sau khi khéo léo nạn phá với chánh pháp”. Ðây là pháp thứ ba, này Udayi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.

(IV. BỐN SỰ THẬT CAO QUÝ)

14. "Lại nữa, này Udāyin, khi các đệ tử của ta gặp phải khổ đau, trở thành nạn nhân của khổ đau, bị khổ đau chi phối, họ đến gặp ta và hỏi ta về bốn sự thật cao quý (cattāri ariya saccāni / four noble truths - bốn chân lý thánh thiện mà Đức Phật đã giác ngộ, nền tảng của Phật giáo) về khổ (dukkha - sự đau khổ, bất toại nguyện). Được hỏi, ta giải thích cho họ sự thật cao quý về khổ, và ta làm tâm họ thỏa mãn với lời giải thích của ta. Họ hỏi ta về sự thật cao quý về nguồn gốc của khổ… về sự thật cao quý về sự chấm dứt khổ… về sự thật cao quý về con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ. Được hỏi, ta giải thích cho họ sự thật cao quý về con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ, và ta làm tâm họ thỏa mãn với lời giải thích của ta. Đây là phẩm chất thứ tư [11] mà nhờ đó các đệ tử của ta tôn kính ta…

(IV. Tứ diệu đế)

Lại nữa, này Udayi, những đệ tử của Ta bị đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối, đến Ta và hỏi về khổ Thánh đế. Ðược hỏi về Khổ Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Họ hỏi Ta về Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Ðây là pháp thứ tư, này Udayi, mà các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.

(V. CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CÁC PHÁP THIỆN)

(1. Bốn Nền Tảng Chánh Niệm)

15. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển bốn nền tảng chánh niệm (cattāro satipaṭṭhānā / four foundations of mindfulness - bốn lĩnh vực quán niệm). [^762] Ở đây, vị tỳ kheo trú quán thân trên thân, nhiệt tâm (ātāpī - nỗ lực, tinh tấn), tỉnh giác (sampajāno - nhận biết rõ ràng), chánh niệm (satimā - sự chú tâm, ghi nhớ), loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian (abhijjhādomanassaṁ loke - lòng tham và nỗi buồn liên quan đến đời). Vị ấy trú quán thọ trên các cảm thọ… Vị ấy trú quán tâm trên tâm… Vị ấy trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, loại bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí. [^763]

(V. Con đường hành trì)

(1. Tứ Niệm xứ)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Bốn Niệm xứ. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời, quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời. Và ở đây các đệ tự của Ta, phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(2. Bốn Sự Cố Gắng Chân Chính)

16. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển bốn sự cố gắng chân chính (cattāro sammappadhānā / four right kinds of striving - bốn nỗ lực đúng đắn). Ở đây, vị tỳ kheo khởi lên lòng nhiệt thành đối với sự không sinh khởi của các pháp bất thiện (akusala dhamma - các trạng thái tâm xấu xa, có hại) chưa sinh, và vị ấy nỗ lực, khơi dậy năng lượng, gắng sức tâm ý, và cố gắng. Vị ấy khởi lên lòng nhiệt thành đối với sự từ bỏ các pháp bất thiện đã sinh… Vị ấy khởi lên lòng nhiệt thành đối với sự sinh khởi của các pháp thiện (kusala dhamma - các trạng thái tâm tốt lành, có lợi) chưa sinh… Vị ấy khởi lên lòng nhiệt thành đối với sự duy trì, không biến mất, củng cố, tăng trưởng, và hoàn thiện bằng cách phát triển các pháp thiện đã sinh, và vị ấy nỗ lực, khơi dậy năng lượng, gắng sức tâm ý, và cố gắng. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(2. Tứ Chánh cần)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Bốn Chánh cần. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh ra được trừ diệt, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi, khởi lên ý muốn cố gắng; tinh tấn, sách tâm, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy trì, không có mù mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm… Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(3. Bốn Nền Tảng Thần Thông)

17. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển bốn nền tảng thần thông (cattāro iddhipādā / four bases for spiritual power - bốn con đường dẫn đến năng lực tâm linh). Ở đây, vị tỳ kheo phát triển nền tảng thần thông bao gồm định (samādhi - sự tập trung tâm ý) do nhiệt tâm (chanda - ý muốn, lòng mong muốn thực hiện) và sự cố gắng quyết tâm. Vị ấy phát triển nền tảng thần thông bao gồm định do tinh tấn (viriya - sự nỗ lực, kiên trì) và sự cố gắng quyết tâm. Vị ấy phát triển nền tảng thần thông bao gồm định do [sự thanh tịnh của] tâm (citta - tâm ý, ý thức) và sự cố gắng quyết tâm. Vị ấy phát triển nền tảng thần thông bao gồm định do thẩm sát (vīmaṃsā - sự điều tra, xem xét) và sự cố gắng quyết tâm. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(3. Tứ Thần túc)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này tu tập Bốn Thần túc. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo tu tập thần túc, câu hữu với dục Thiền định tinh cần hành… tinh tấn Thiền định… tâm Thiền định, tu tập thần túc, câu hữu với tư duy Thiền định tinh cần hành. Và ở đây, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(4. Năm Căn)

18. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển năm căn (pañcindriyāni / five faculties - năm năng lực tinh thần). Ở đây [12] vị tỳ kheo phát triển tín căn (faculty of faith - năng lực niềm tin), đưa đến sự an tịnh, đưa đến giác ngộ (bodhi - sự tỉnh thức, hiểu biết tối hậu). Vị ấy phát triển tấn căn (faculty of energy - năng lực tinh tấn)… niệm căn (faculty of mindfulness - năng lực chánh niệm)… định căn (faculty of concentration - năng lực định tâm)… tuệ căn (faculty of wisdom - năng lực trí tuệ), đưa đến sự an tịnh, đưa đến giác ngộ. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(4. Ngũ căn)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này tu tập Năm Căn. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo tu tập tín căn hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ, tu tập tinh tấn căn… tu tập niệm căn… tu tập định căn… tu tập tuệ căn, hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(5. Năm Lực)

19. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển năm lực (pañca balāni / five powers - năm sức mạnh tinh thần). Ở đây, vị tỳ kheo phát triển tín lực (power of faith - sức mạnh niềm tin), đưa đến sự an tịnh, đưa đến giác ngộ. Vị ấy phát triển tấn lực (power of energy - sức mạnh tinh tấn)… niệm lực (power of mindfulness - sức mạnh chánh niệm)… định lực (power of concentration - sức mạnh định tâm)… tuệ lực (power of wisdom - sức mạnh trí tuệ), đưa đến sự an tịnh, đưa đến giác ngộ. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(5. Ngũ lực)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Năm Lực. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo tu tập tín lực, hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ, tu tập tinh tấn lực… tu tập niệm lực… tu tập định lực…tu tập tuệ lực, hướng đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(6. Bảy Yếu Tố Giác Ngộ)

20. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển bảy yếu tố giác ngộ (satta bojjhaṅgā / seven enlightenment factors - bảy phẩm chất dẫn đến giác ngộ). Ở đây, vị tỳ kheo phát triển niệm giác chi (mindfulness enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là chánh niệm), dựa trên sự độc cư (viveka - sự xa lánh, tách biệt), sự ly tham (virāga - sự không còn ham muốn, ái luyến), và sự đoạn diệt (nirodha - sự chấm dứt hoàn toàn), hướng đến sự từ bỏ (vossagga - sự xả ly, từ bỏ). Vị ấy phát triển trạch pháp giác chi (investigation-of-states enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là phân tích các pháp)… tinh tấn giác chi (energy enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là tinh tấn)… hỷ giác chi (rapture enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là niềm vui)… khinh an giác chi (tranquillity enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là sự yên tĩnh)… định giác chi (concentration enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là định tâm)… xả giác chi (equanimity enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là sự bình thản), dựa trên sự độc cư, sự ly tham, và sự đoạn diệt, hướng đến sự từ bỏ. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(6. Thất Giác chi)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Bảy Giác chi. Ở đây, này các Udayi, vị Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ diệt, hướng đến xả, tu tập trạch pháp giác chi… tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ diệt, hướng đến xả. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(7. Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo))

21. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) (ariyo aṭṭhaṅgiko maggo / Noble Eightfold Path - con đường tám yếu tố đúng đắn dẫn đến giải thoát). Ở đây, vị tỳ kheo phát triển chánh kiến (right view - hiểu biết đúng đắn), chánh tư duy (right intention - suy nghĩ đúng đắn), chánh ngữ (right speech - lời nói đúng đắn), chánh nghiệp (right action - hành động đúng đắn), chánh mạng (right livelihood - nuôi mạng đúng đắn), chánh tinh tấn (right effort - cố gắng đúng đắn), chánh niệm (right mindfulness - chú tâm đúng đắn), và chánh định (right concentration - tập trung đúng đắn). Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(7. Bát Chánh đạo)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, tu tập Thánh đạo Tám ngành. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, tu tập chánh tư duy, tu tập chánh ngữ, tu tập chánh nghiệp, tu tập chánh mạng, tu tập chánh tinh tấn, tu tập chánh niệm, tu tập chánh định. Và ở đây, này Udayi, các vị đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(8. Tám Sự Giải Thoát)

22. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển tám sự giải thoát (aṭṭha vimokkhā / eight liberations - tám trạng thái tâm giải thoát khỏi trói buộc). [^764] Có sắc thân, thấy các sắc: đây là sự giải thoát thứ nhất. Không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài: đây là sự giải thoát thứ hai. Chỉ quyết tâm hướng đến sự tịnh đẹp: đây là sự giải thoát thứ ba. [13] Với sự vượt qua hoàn toàn các tưởng về sắc (rūpa saññā - sự nhận biết về hình sắc), với sự biến mất của các tưởng về đối ngại (paṭigha saññā - sự nhận biết về sự va chạm của giác quan), với sự không chú ý đến các tưởng về sự đa dạng (nānatta saññā - sự nhận biết về tính khác biệt), nhận biết rằng ‘không gian là vô biên,’ vị ấy nhập và trú vào Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatana - tầng thiền vô sắc thứ nhất): đây là sự giải thoát thứ tư. Bằng cách vượt qua hoàn toàn Không vô biên xứ, nhận biết rằng ‘thức là vô biên,’ vị ấy nhập và trú vào Thức vô biên xứ (viññāṇañcāyatana - tầng thiền vô sắc thứ hai): đây là sự giải thoát thứ năm. Bằng cách vượt qua hoàn toàn Thức vô biên xứ, nhận biết rằng ‘không có gì cả,’ vị ấy nhập và trú vào Vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatana - tầng thiền vô sắc thứ ba): đây là sự giải thoát thứ sáu. Bằng cách vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu xứ, vị ấy nhập và trú vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana - tầng thiền vô sắc thứ tư): đây là sự giải thoát thứ bảy. Bằng cách vượt qua hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vị ấy nhập và trú vào Diệt tận định (saññāvedayita nirodha - trạng thái chấm dứt hoàn toàn tưởng và thọ): đây là sự giải thoát thứ tám. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(8. Tám Giải thoát)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này tu tập Tám Giải thoát. “Tự mình có sắc, thấy các sắc”, đó là giải thoát thứ nhất. “Quán tưởng nội sắc, thấy các ngoại sắc”, đó là giải thoát thứ hai. “Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy”, đó là giải thoát thứ ba. Vượt hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng đối ngại, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư “Hư không là vô biên”, chứng và trú “Không vô biên xứ”, đó là giải thoát thứ tư. Vượt hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư “Thức là vô biên”, chứng và trú “Thức vô biên xứ”, đó là giải thoát thứ năm. Vượt hoàn toàn “Thức vô biên xứ”, với suy tư “không có vật gì”, chứng và trú “Vô sở hữu xứ”, đó là giải thoát thứ sáu. Vượt hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy. Vượt hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng, đó là giải thoát thứ tám. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(9. Tám Nền Tảng Vượt Trội)

23. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển tám nền tảng vượt trội (aṭṭha abhibhāyatanāni / eight bases for transcendence - tám pháp làm chủ, vượt qua đối tượng). [^765] Nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, đẹp và xấu; bằng cách vượt qua chúng, vị ấy nhận thức như sau: ‘Tôi biết, tôi thấy.’ Đây là nền tảng vượt trội thứ nhất. [^766] Nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, vô lượng, đẹp và xấu; bằng cách vượt qua chúng, vị ấy nhận thức như sau: ‘Tôi biết, tôi thấy.’ Đây là nền tảng vượt trội thứ hai. Không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, đẹp và xấu; bằng cách vượt qua chúng, vị ấy nhận thức như sau: ‘Tôi biết, tôi thấy.’ Đây là nền tảng vượt trội thứ ba. [^767] Không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, vô lượng, đẹp và xấu; bằng cách vượt qua chúng, vị ấy nhận thức như sau: ‘Tôi biết, tôi thấy.’ Đây là nền tảng vượt trội thứ tư. Không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu xanh, có màu xanh, hình tướng xanh, với ánh sáng xanh. Giống như hoa lanh, màu xanh, có màu xanh, hình tướng xanh, với ánh sáng xanh, hoặc giống như vải Ba-la-nại được làm nhẵn cả hai mặt, màu xanh, có màu xanh, hình tướng xanh, với ánh sáng xanh; cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài… với ánh sáng xanh; bằng cách vượt qua chúng, vị ấy nhận thức như sau: ‘Tôi biết, tôi thấy.’ Đây là nền tảng [14] vượt trội thứ năm. Không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu vàng, có màu vàng, hình tướng vàng, với ánh sáng vàng. Giống như hoa kaṇnikāra, màu vàng, có màu vàng, hình tướng vàng, với ánh sáng vàng, hoặc giống như vải Ba-la-nại được làm nhẵn cả hai mặt, màu vàng, có màu vàng, hình tướng vàng, với ánh sáng vàng; cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài… với ánh sáng vàng; bằng cách vượt qua chúng, vị ấy nhận thức như sau: ‘Tôi biết, tôi thấy.’ Đây là nền tảng vượt trội thứ sáu. Không nhận thức sắc bên ngoài, thấy các sắc bên ngoài, màu đỏ, có màu đỏ, hình tướng đỏ, với ánh sáng đỏ. Giống như hoa dâm bụt, màu đỏ, có màu đỏ, hình tướng đỏ, với ánh sáng đỏ, hoặc giống như vải Ba-la-nại được làm nhẵn cả hai mặt, màu đỏ, có màu đỏ, hình tướng đỏ, với ánh sáng đỏ; cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài… với ánh sáng đỏ; bằng cách vượt qua chúng, vị ấy nhận thức như sau: ‘Tôi biết, tôi thấy.’ Đây là nền tảng vượt trội thứ bảy. Không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu trắng, có màu trắng, hình tướng trắng, với ánh sáng trắng. Giống như sao mai, màu trắng, có màu trắng, hình tướng trắng, với ánh sáng trắng, hoặc giống như vải Ba-la-nại được làm nhẵn cả hai mặt, màu trắng, có màu trắng, hình tướng trắng, với ánh sáng trắng; cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài… với ánh sáng trắng; bằng cách vượt qua chúng, vị ấy nhận thức như sau: ‘Tôi biết, tôi thấy.’ Đây là nền tảng vượt trội thứ tám. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(9. Tám Thắng xứ)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này tu tập Tám Thắng xứ. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng. “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh… như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh… như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta thấy, ta biết”, đó là thắng xứ thứ năm. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng… như bông Kanikara màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng… như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc màu đỏ, ánh sáng đỏ… như bông Bandhujivaka màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ… như lụa sa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy. Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng… như sao mai Osadhi màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng… như lụa sa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(10. Mười Biến Xứ)

24. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển mười biến xứ (dasa kasiṇāyatanāni / ten kasinas - mười đối tượng thiền định phổ quát). [^768] Vị ấy quán tưởng đề mục đất (earth-kasiṇa) ở trên, ở dưới, và ngang khắp, không phân chia và vô lượng. Vị khác quán tưởng đề mục nước (water-kasiṇa)… Vị khác quán tưởng đề mục lửa (fire-kasina)… Vị khác quán tưởng đề mục gió (air-kasina)… Vị khác quán tưởng đề mục xanh (blue-kasina)… Vị khác quán tưởng đề mục vàng (yellow-kasina)… Vị khác quán tưởng đề mục đỏ (red-kasina)… Vị khác quán tưởng đề mục trắng (white-kasina)… Vị khác quán tưởng đề mục không gian (space-kasina)… Vị khác quán tưởng đề mục thức (consciousness-kasina) [15] ở trên, ở dưới, và ngang khắp, không phân chia và vô lượng. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(10. Mười Biến xứ)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này tu tập Mười Biến xứ. Một vị biết được đất biến xứ: trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được nước biến xứ… Một vị biết được lửa biến… Một vị biết được gió biến… Một vị biết được xanh biến… Một vị biết được vàng biến… Một vị biết được đỏ biến… Một vị biết được trắng biến… Một vị biết được hư không biến… Một vị biết được thức biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí, và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(11. Bốn Tầng Thiền)

25. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường phát triển bốn tầng thiền (cattāri jhānāni / four jhānas - bốn cấp độ thiền định sắc giới). Ở đây, hoàn toàn ly dục, ly các pháp bất thiện, vị tỳ kheo nhập và trú vào thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm (vitakka - sự hướng tâm đến đối tượng) và tứ (vicāra - sự duy trì tâm trên đối tượng), với hỷ (pīti - niềm vui thích, phấn khởi) và lạc (sukha - cảm giác dễ chịu, hạnh phúc) do ly dục sinh. Vị ấy làm cho hỷ và lạc do ly dục sinh thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy, và lan khắp thân này, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi hỷ và lạc do ly dục sinh. [^269] Ví như một người thợ tắm lành nghề hay đệ tử của người thợ tắm đổ bột tắm vào một cái chậu kim loại và, từ từ rưới nước vào, nhào bột cho đến khi nước làm ẩm viên bột tắm, thấm đẫm và lan khắp bên trong lẫn bên ngoài, nhưng chính viên bột lại không chảy nhão; cũng vậy, vị tỳ kheo làm cho hỷ và lạc do ly dục sinh thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy, và lan khắp thân này, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi hỷ và lạc do ly dục sinh.

26. "Lại nữa, với sự chấm dứt tầm và tứ, vị tỳ kheo nhập và trú vào thiền thứ hai, một trạng thái nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh. Vị ấy làm cho hỷ và lạc do định sinh thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy, và lan khắp thân này, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi hỷ và lạc do định sinh. Ví như có một hồ nước mà nước tự phun lên từ bên dưới và không có dòng chảy nào từ phía đông, tây, nam, hay bắc [16] và cũng không được bổ sung nước mưa theo thời gian, khi đó nguồn nước mát phun lên trong hồ sẽ làm cho nước mát thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy, và lan khắp hồ, đến nỗi không có phần nào của toàn hồ không được thấm nhuần bởi nước mát; cũng vậy, vị tỳ kheo làm cho hỷ và lạc do định sinh thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy, và lan khắp thân này, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi hỷ và lạc do định sinh.

27. "Lại nữa, với sự phai nhạt của hỷ, vị tỳ kheo trú trong xả (upekkhā - sự bình thản, không thiên vị), và chánh niệm và tỉnh giác, vẫn cảm nhận lạc bằng thân, vị ấy nhập và trú vào thiền thứ ba, trạng thái mà các bậc Thánh gọi là: ‘Người có xả và chánh niệm trú trong lạc.’ Vị ấy làm cho lạc không còn hỷ thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy, và lan khắp thân này, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi lạc không còn hỷ. Ví như trong một ao sen xanh, sen đỏ, hay sen trắng, có những bông sen sinh ra và lớn lên trong nước, phát triển ngập trong nước mà không vươn lên khỏi mặt nước, và nước mát thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy, và lan khắp chúng từ ngọn đến gốc, đến nỗi không có phần nào của tất cả những bông sen đó không được thấm nhuần bởi nước mát; cũng vậy, vị tỳ kheo làm cho lạc không còn hỷ thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy, và lan khắp thân này, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi lạc không còn hỷ.

28. "Lại nữa, với sự từ bỏ lạc và khổ, và với sự biến mất trước đó của hỷ và ưu, vị tỳ kheo nhập và trú vào thiền thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc và niệm thanh tịnh nhờ xả. Vị ấy ngồi, làm cho tâm thanh tịnh, trong sáng thấm nhuần thân này, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi tâm thanh tịnh, trong sáng. Ví như một người ngồi trùm một tấm vải trắng từ đầu xuống, đến nỗi không có phần nào của toàn thân không được che phủ bởi tấm vải trắng; cũng vậy, vị tỳ kheo ngồi, làm cho tâm thanh tịnh, trong sáng thấm nhuần thân này, đến nỗi không có phần nào của toàn thân [17] không được thấm nhuần bởi tâm thanh tịnh, trong sáng. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(11. Bốn Thiền-na)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này tu tập Bốn Thiền. Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Vị Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Này Udayi, như một người hầu tắm lão luyện, hay đệ tử người hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt, cũng vậy, này Udayi, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Lại nữa, này Udayi, vị Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần. Này Udayi, ví như một hồ nước, nước từ trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần; cũng vậy, này Udayi, vị Tỷ-kheo thấm nhuần; tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.

Lại nữa, này Udayi, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ và các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và an trú vào Thiền thứ ba. Vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần. Này Udayi, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng; những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần; cũng vậy, này Udayi, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

Lại nữa, này Udayi, vị Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị Tỷ-kheo ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Này Udayi, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu; cũng vậy, này Udayi, vị Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(12. Tuệ Minh Sát)

29. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường để hiểu biết như sau: [^770] ‘Thân này của ta, được tạo thành từ sắc chất, bao gồm bốn đại chủng (cattāri mahābhūtāni / four great elements - đất, nước, lửa, gió), do cha mẹ sinh ra, được nuôi dưỡng bằng cơm cháo, phải chịu sự vô thường (anicca - tính chất không bền vững, luôn thay đổi), bị hao mòn, cọ xát, tan rã và phân hủy, và thức này của ta nương tựa vào nó và bị ràng buộc với nó.’ Giả sử có một viên ngọc lưu ly đẹp, nước tinh khiết nhất, tám mặt, được cắt gọt khéo léo, trong và sáng, hội đủ mọi phẩm chất tốt đẹp, và xuyên qua nó là một sợi chỉ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc nâu. Bấy giờ một người có mắt sáng, cầm nó trong tay, có thể xem xét nó như sau: ‘Đây là một viên ngọc lưu ly đẹp, nước tinh khiết nhất, tám mặt, được cắt gọt khéo léo, trong và sáng, hội đủ mọi phẩm chất tốt đẹp, và xuyên qua nó là một sợi chỉ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hoặc nâu.’ Cũng vậy, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường để hiểu biết như sau: ‘Thân này của ta… phải chịu sự vô thường, bị hao mòn, cọ xát, tan rã và phân hủy, và thức này của ta nương tựa vào nó và bị ràng buộc với nó.’ Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí (vipassanā ñāṇa / insight knowledge - trí tuệ thấy rõ bản chất vô thường, khổ, vô ngã).

(12. Tuệ tri)

Lại nữa, này Udayi. Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này tuệ tri như sau: "Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc. Ví như, này Udayi, một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi dây được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, hay màu vàng nhạt. Một người có mắt cầm hòn ngọc ấy trên tay sẽ thấy: “Hòn lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi dây này được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt”. Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này biết được như sau: "Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(13. Thân Do Ý Tạo Ra)

30. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường để từ thân này tạo ra một thân khác có hình sắc, do ý tạo ra (manomaya kāya / mind-made body - thân thể được tạo ra bởi năng lực của tâm), với đầy đủ các chi phần, không thiếu căn nào. Ví như một người rút cây sậy ra khỏi vỏ và nghĩ như sau: ‘Đây là vỏ, đây là cây sậy; vỏ là một, cây sậy là một; cây sậy được rút ra từ vỏ’; hoặc ví như một người rút gươm ra khỏi vỏ và nghĩ như sau: ‘Đây là gươm, đây là vỏ; gươm là một, vỏ là một; gươm được rút ra từ vỏ’; [18] hoặc ví như một người kéo con rắn ra khỏi lớp da lột và nghĩ như sau: ‘Đây là con rắn, đây là lớp da lột; con rắn là một, lớp da lột là một; con rắn được kéo ra từ lớp da lột.’ Cũng vậy, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường để từ thân này tạo ra một thân khác có hình sắc, do ý tạo ra, với đầy đủ các chi phần, không thiếu căn nào. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(13. Thân do ý)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào. Ví như, này Udayi, một người rút một cây lau ra ngoài vỏ, người ấy nghĩ: “Ðây là vỏ, đây là cây lau, vỏ khác, cây lau khác, và cây lau từ vỏ rút ra”. Ví như, này Udayi, một người rút thanh kiếm từ bao kiếm. Người ấy nghĩ: "Ðây là thanh kiếm, đây là bao kiếm; thanh kiếm khác, bao kiếm khác; và thanh kiếm từ nơi bao kiếm rút ra. Ví như, này Udayi, một người lột xác một con rắn. Người ấy nghĩ: “Ðây là con rắn, đây là xác rắn; con rắn khác, xác rắn khác; và con rắn từ nơi xác rắn được lột ra”. Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử . Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ,không thiếu một căn nào. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(14. Các Loại Thần Thông)

31. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường để vận dụng các loại thần thông (iddhi / supernormal power - năng lực phi thường) khác nhau: từ một thân hiện ra nhiều thân; từ nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình và biến mất; đi xuyên qua tường, qua thành lũy, qua núi không bị cản trở, như đi trong hư không; lặn xuống và trồi lên khỏi mặt đất như ở trong nước; đi trên mặt nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già bay đi trong không gian như chim; dùng tay chạm và vuốt mặt trăng mặt trời vốn rất mạnh mẽ và uy lực; làm chủ thân thể cho đến tận cõi Phạm thiên (brahmaloka - cõi trời Phạm thiên). Ví như một người thợ gốm lành nghề hoặc đệ tử của ông ta có thể tạo ra và nặn thành bất kỳ hình dạng đồ gốm nào ông ta muốn từ đất sét đã chuẩn bị kỹ; hoặc ví như một người thợ ngà lành nghề hoặc đệ tử của ông ta có thể tạo ra và chế tác bất kỳ tác phẩm nghệ thuật bằng ngà nào ông ta muốn từ ngà đã chuẩn bị kỹ; hoặc ví như một người thợ vàng lành nghề hoặc đệ tử của ông ta có thể tạo ra và chế tác bất kỳ tác phẩm nghệ thuật bằng vàng nào ông ta muốn từ vàng đã chuẩn bị kỹ; cũng vậy, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường để vận dụng các loại thần thông khác nhau… [19]… làm chủ thân thể cho đến tận cõi Phạm thiên. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(14. Thần túc thông)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Ví như, này Udayi, một người thợ gốm khéo tay, hay đệ tử người thợ gốm, với đất sét khéo nhồi nhuyễn, có thể làm các loại đồ gốm tùy theo sở thích. Ví như, này Udayi, một người thợ ngà khéo tay, hay đệ tử người thợ ngà, với ngà khéo đẽo khéo dũa, có thể làm các loại đồ ngà tùy theo sở thích. Ví như, này Udayi, người thợ vàng khéo tay, hay đệ tử người thợ vàng, với vàng khéo tinh nhuyễn có thể làm các loại đồ vàng tùy theo sở thích; cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trong nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết gia đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(15. Thiên Nhĩ Giới)

32. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường mà nhờ đó với thiên nhĩ giới (dibba-sota dhātu / divine ear element - khả năng nghe được âm thanh cõi trời và cõi người, xa và gần), vốn thanh tịnh và vượt xa tai người thường, họ nghe được cả hai loại âm thanh, của trời và của người, những âm thanh ở xa cũng như ở gần. Ví như một người thổi tù và khỏe mạnh có thể làm cho tiếng tù và của mình vang xa khắp bốn phương mà không gặp khó khăn gì; cũng vậy, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường mà nhờ đó với thiên nhĩ giới… xa cũng như gần. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(15. Thiên nhĩ thông)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần. Ví như, này Udayi, một người đang đi qua đường, nghe tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng loa, tiếng xập xỏa và tiếng kiểng. Người ấy nghĩ: "Ðây là tiếng trống lớn, đây là tiếng trống nhỏ, đây là tiếng loa, tiếng xập xỏa, tiếng kiểng. Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta, y cứ con đường tu hành này, với thiên nhĩ, thanh tịnh, siêu nhân, có thể nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(16. Hiểu Tâm Người Khác)

33. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường để hiểu tâm của các chúng sinh khác, của những người khác, bằng cách dùng tâm của chính mình bao trùm tâm của họ (cetopariya ñāṇa / understanding the minds of others - khả năng biết được tâm của người khác). Họ hiểu một tâm bị ảnh hưởng bởi tham (rāga - lòng ham muốn) là tâm bị ảnh hưởng bởi tham và một tâm không bị ảnh hưởng bởi tham là tâm không bị ảnh hưởng bởi tham; họ hiểu một tâm bị ảnh hưởng bởi sân (dosa - lòng sân hận) là tâm bị ảnh hưởng bởi sân và một tâm không bị ảnh hưởng bởi sân là tâm không bị ảnh hưởng bởi sân; họ hiểu một tâm bị ảnh hưởng bởi si (moha - sự mê lầm, vô minh) là tâm bị ảnh hưởng bởi si và một tâm không bị ảnh hưởng bởi si là tâm không bị ảnh hưởng bởi si; họ hiểu một tâm co rút là tâm co rút và một tâm phân tán là tâm phân tán; họ hiểu một tâm cao thượng là tâm cao thượng và một tâm không cao thượng là tâm không cao thượng; họ hiểu một tâm bị vượt qua là tâm bị vượt qua và một tâm không bị vượt qua là tâm không bị vượt qua; họ hiểu một tâm tập trung là tâm tập trung và một tâm không tập trung là tâm không tập trung; họ hiểu một tâm giải thoát là tâm giải thoát và một tâm không giải thoát là tâm không giải thoát. Ví như một người nam hay nữ - trẻ trung, thanh xuân, và thích trang sức - khi nhìn ảnh khuôn mặt của mình trong một tấm gương sạch sáng hoặc trong một bát nước trong, sẽ biết nếu có vết bẩn: ‘Có vết bẩn,’ [20] hoặc sẽ biết nếu không có vết bẩn: ‘Không có vết bẩn’; cũng vậy, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường để hiểu… một tâm không giải thoát là tâm không giải thoát. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(16. Tha tâm thông)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài người với tâm của mình được biết như sau: “Tâm tham biết là tâm tham; tâm không tham, biết là tâm không tham. Tâm sân, biết là tâm sân; tâm không sân, biết là tâm không sân. Tâm si, biết là tâm si; tâm không si, biết là tâm không si. Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú; tâm không chuyên chú, biết là tâm không chuyên chú. Tâm đại hành, biết là tâm đại hành; tâm không đại hành, biết là tâm không đại hành. Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền định, biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định, biết là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát, biết là tâm không giải thoát. Ví như, này Udayi, một người đàn bà, một người đàn ông, một thiếu niên trẻ hay một thanh niên ưa trang sức, nhìn mặt của mình trong tấm gương trong sạch sáng suốt, hay một chậu nước trong; nếu mặt có tỳ vết, liền biết mặt có tỳ vếtà; nếu mặt không có tỳ vết, liền biết mặt không có tỳ vết”. Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta, y cứ con đường tu hành này, sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài người với tâm của mình được biết như sau: “Tâm tham, biết là tâm tham; tâm không tham biết là tâm không tham. Tâm sân, biết là tâm sân; tâm không sân, biết là tâm không sân. Tâm si biết là tâm si; tâm không si biết là tâm không si. Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú; tâm không chuyên chú; biết là tâm không chuyên chú. Tâm đại hành, biết là tâm đại hành; tâm không đại hành, biết là tâm không đại hành. Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền định, biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định, biết là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát; biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát, biết là tâm không giải thoát”. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(17. Nhớ Lại Các Kiếp Sống Quá Khứ)

34. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường để nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ của họ (pubbenivāsānussati ñāṇa / recollection of past lives - khả năng nhớ lại các kiếp sống quá khứ), nghĩa là, một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp, năm kiếp, mười kiếp, hai mươi kiếp, ba mươi kiếp, bốn mươi kiếp, năm mươi kiếp, một trăm kiếp, một nghìn kiếp, một trăm nghìn kiếp, nhiều kiếp (kappa - một khoảng thời gian rất dài) thế giới hoại, nhiều kiếp thế giới thành, nhiều kiếp thế giới hoại và thành: ‘Ở đó ta có tên như vậy, thuộc dòng họ như vậy, với hình dáng như vậy, thức ăn của ta như vậy, kinh nghiệm khổ lạc của ta như vậy, tuổi thọ của ta như vậy; và chết đi từ đó, ta tái sinh ở nơi khác; và ở đó ta cũng có tên như vậy… và chết đi từ đó, ta tái sinh ở đây.’ Như vậy, với các khía cạnh và chi tiết, họ nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ của mình. Ví như một người đi từ làng mình đến một làng khác rồi lại trở về làng mình. Người ấy có thể nghĩ: ‘Tôi đã đi từ làng mình đến làng kia, và ở đó tôi đã đứng như thế này, ngồi như thế này, nói như thế này, im lặng như thế này; và từ làng đó tôi đã đi đến làng khác kia và ở đó [21] tôi đã đứng như thế này… im lặng như thế này; và từ làng đó tôi đã trở về lại làng mình.’ Cũng vậy, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường để nhớ lại nhiều kiếp sống của họ… Như vậy, với các khía cạnh và chi tiết, họ nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ của mình. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

(17. Túc mạng thông)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy các vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với nét đại cương và các chi tiết. Ví như, này Udayi, một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình. Người ấy nghĩ: “Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta”. Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời… Như vậy các vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(18. Thiên Nhãn)

35. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường mà nhờ đó với thiên nhãn (dibbacakkhu ñāṇa / divine eye - khả năng thấy được sự sinh diệt của chúng sinh và nghiệp báo), vốn thanh tịnh và vượt xa mắt người thường, họ thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh, hạ liệt và cao quý, đẹp đẽ và xấu xí, may mắn và bất hạnh. Họ hiểu rõ chúng sinh tiếp diễn như thế nào tùy theo hành động của họ như sau: ‘Những chúng sinh đáng kính này đã có hành vi xấu ác qua thân, khẩu, và ý, phỉ báng các bậc thánh, có tà kiến, thực hiện hành động theo tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, đã tái sinh vào cõi thiếu thốn, vào cảnh giới xấu, vào đọa xứ, thậm chí vào địa ngục; nhưng những chúng sinh đáng kính này đã có hành vi tốt đẹp qua thân, khẩu, và ý, không phỉ báng các bậc thánh, có chánh kiến, thực hiện hành động theo chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, đã tái sinh vào cảnh giới tốt đẹp, thậm chí vào cõi trời.’ Như vậy, với thiên nhãn, vốn thanh tịnh và vượt xa mắt người thường, họ thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh, hạ liệt và cao quý, đẹp đẽ và xấu xí, may mắn và bất hạnh, và họ hiểu rõ chúng sinh tiếp diễn như thế nào tùy theo hành động của họ. Ví như có hai ngôi nhà có cửa và một người có mắt sáng đứng giữa chúng thấy người ta đi vào nhà, đi ra và qua lại. Cũng vậy, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường mà nhờ đó với thiên nhãn… Họ hiểu rõ chúng sinh tiếp diễn như thế nào tùy theo hành động của họ. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí. [22]

(18. Thiên nhãn thông)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Những vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh nào làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, các vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Những vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Ví như, này Udayi, một tòa lầu có thượng đài giữa ngã tư đường, một người có mắt đứng trên ấy, sẽ thấy những người đi vào nhà, đi từ nhà ra, đi qua lại trên đường, ngồi ở giữa ngã tư hay trên đài thượng. Người ấy nghĩ: “Những người này đi vào nhà, những người này đi từ nhà ra, những người này đi qua lại trên đường, những người này ngồi giữa ngã tư hay trên đài thượng”. Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Những vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh… đều do hạnh nghiệp của họ. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí chứng đắc cứu cánh viên mãn.

(19. Đoạn Trừ Các Lậu Hoặc)

36. "Lại nữa, này Udāyin, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường mà nhờ đó, bằng cách tự mình chứng ngộ với thắng trí, họ ngay trong hiện tại nhập và trú vào tâm giải thoát (ceto vimutti - sự giải thoát tâm khỏi tham ái) và tuệ giải thoát (paññā vimutti - sự giải thoát nhờ trí tuệ, đoạn trừ vô minh) không còn lậu hoặc (āsava / taints - những ô nhiễm tiềm ẩn làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi) do sự đoạn trừ các lậu hoặc. Ví như có một hồ nước trong hốc núi, trong, lặng, và không xao động, đến nỗi một người có mắt sáng đứng trên bờ có thể thấy vỏ sò, sỏi, đá cuội, và cả những đàn cá đang bơi lội và nghỉ ngơi. Người ấy có thể nghĩ: ‘Có hồ nước này, trong, lặng, và không xao động, và có những vỏ sò, sỏi, đá cuội này, và cả những đàn cá này đang bơi lội và nghỉ ngơi.’ Cũng vậy, ta đã tuyên thuyết cho các đệ tử của ta con đường mà nhờ đó, bằng cách tự mình chứng ngộ với thắng trí, họ ngay trong hiện tại nhập và trú vào tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc do sự đoạn trừ các lậu hoặc. Và nhờ đó, nhiều đệ tử của ta trú trong trạng thái đã đạt đến sự viên mãn và hoàn hảo của thắng trí.

37. "Đây, này Udāyin, là phẩm chất thứ năm mà nhờ đó các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta.

38. “Đây, này Udāyin, là năm phẩm chất mà nhờ đó các đệ tử của ta tôn kính, quý trọng, và cung kính ta, và sống nương tựa vào ta, tôn kính và quý trọng ta.”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã nói. Du sĩ Udāyin hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.

(19. Lậu tận thông)

Lại nữa, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ví như, này Udayi, tại dãy núi lớn có một hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, một người có mắt đứng trên bờ sông thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại, hay đứng một chỗ. Vị ấy nghĩ: “Ðây hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ”. Cũng vậy, này Udayi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ con đường tu hành này, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Và ở đây, này Udayi, các đệ tử của Ta phần đông an trú, sau khi chứng ngộ nhờ thắng trí và chứng đắc cứu cánh viên mãn.

Này Udayi, đây là pháp thứ năm, do pháp này các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.

Này Udayi, do năm pháp này, các đệ tử của Ta cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Ta và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Ta.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Du sĩ Sakuludayi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) / ariyo aṭṭhaṅgiko maggo / Noble Eightfold Path: Con đường tám yếu tố đúng đắn dẫn đến giải thoát khổ đau, bao gồm: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
  • Bát giải thoát / aṭṭha vimokkhā / eight liberations: Tám trạng thái tâm tuần tự đạt được qua thiền định, giúp giải thoát khỏi các trói buộc của sắc và tâm, đỉnh cao là Diệt tận định.
  • Bát thắng xứ / aṭṭha abhibhāyatanāni / eight bases for transcendence: Tám pháp thiền định giúp hành giả làm chủ và vượt qua các đối tượng nhận thức (sắc), phát triển khả năng kiểm soát tâm đối với các đối tượng thiền.
  • Bốn đại chủng / cattāri mahābhūtāni / four great elements: Bốn yếu tố cơ bản cấu tạo nên vật chất theo quan điểm Phật giáo: đất (pṛthivī - tính rắn, cứng), nước (āpas - tính lỏng, kết dính), lửa (tejas - tính nóng, nhiệt độ), gió (vāyu - tính động, di chuyển).
  • Bốn nền tảng chánh niệm / cattāro satipaṭṭhānā / four foundations of mindfulness: Bốn lĩnh vực thực hành quán niệm để phát triển chánh niệm và tuệ giác: quán thân, quán thọ (cảm giác), quán tâm (trạng thái tâm), và quán pháp (các đối tượng tâm).
  • Bốn nền tảng thần thông / cattāro iddhipādā / four bases for spiritual power: Bốn yếu tố làm nền tảng để phát triển các năng lực tâm linh (thần thông): Dục (chanda - mong muốn), Tinh tấn (viriya - nỗ lực), Tâm (citta - tâm chuyên chú), và Thẩm sát (vīmaṃsā - trí tuệ quán xét).
  • Bốn sự cố gắng chân chính / cattāro sammappadhānā / four right kinds of striving: Bốn loại nỗ lực đúng đắn: ngăn ngừa pháp bất thiện chưa sinh, đoạn trừ pháp bất thiện đã sinh, phát triển pháp thiện chưa sinh, duy trì pháp thiện đã sinh.
  • Bốn sự thật cao quý / cattāri ariya saccāni / four noble truths: Bốn chân lý thánh thiện mà Đức Phật đã giác ngộ, là nền tảng của Phật giáo: Khổ đế (sự thật về khổ), Tập đế (sự thật về nguyên nhân của khổ), Diệt đế (sự thật về sự chấm dứt khổ), và Đạo đế (sự thật về con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ).
  • Bốn tầng thiền / cattāri jhānāni / four jhānas: Bốn cấp độ thiền định thuộc sắc giới, đạt được qua việc loại bỏ các chướng ngại và phát triển các yếu tố thiền (tầm, tứ, hỷ, lạc, xả, nhất tâm).
  • Chánh niệm / satimā / mindful: Sự chú tâm, ghi nhớ, hay biết rõ ràng đối tượng trong hiện tại mà không phán xét.
  • Diệt tận định / saññāvedayita nirodha / cessation of perception and feeling: Trạng thái thiền định cao nhất, nơi mọi hoạt động của tâm thức (tưởng và thọ) tạm thời dừng lại hoàn toàn.
  • Định / samādhi / concentration: Sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất một cách vững chắc, không dao động.
  • Đoạn diệt / nirodha / cessation: Sự chấm dứt hoàn toàn, đặc biệt là sự chấm dứt khổ và nguyên nhân của khổ (phiền não).
  • Độc cư / viveka / seclusion: Sự xa lánh, tách biệt khỏi đám đông, khỏi các đối tượng gây xao lãng, bao gồm thân độc cư, tâm độc cư và độc cư khỏi phiền não.
  • Đời sống phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Đời sống thanh tịnh, cao thượng, thường chỉ đời sống xuất gia tu hành theo giáo pháp của Đức Phật, nhằm mục đích giải thoát.
  • Giác ngộ / bodhi / enlightenment: Sự tỉnh thức, sự hiểu biết hoàn toàn và trực tiếp về bản chất của thực tại, dẫn đến giải thoát khỏi khổ đau và vòng luân hồi.
  • Hỷ / pīti / rapture: Niềm vui thích, sự phấn khởi, một yếu tố của thiền định, sinh khởi khi tâm được an tĩnh và tập trung.
  • Khổ / dukkha / suffering: Sự đau khổ, bất toại nguyện, không hoàn hảo, là đặc tính cơ bản của mọi hiện hữu trong vòng luân hồi. Bao gồm khổ về thể chất, khổ về tinh thần, và khổ do sự biến đổi (vô thường).
  • Lạc / sukha / pleasure: Cảm giác dễ chịu, hạnh phúc, an lạc. Trong thiền định, đây là trạng thái hạnh phúc vi tế hơn hỷ.
  • Lậu hoặc / āsava / taints: Những ô nhiễm tinh thần tiềm ẩn sâu xa, làm chúng sinh trôi lăn trong vòng luân hồi (saṃsāra). Thường gồm dục lậu (kāmāsava), hữu lậu (bhavāsava), vô minh lậu (avijjāsava), và kiến lậu (diṭṭhāsava).
  • Luật / Vinaya / Discipline: Giới luật và các quy tắc ứng xử dành cho cộng đồng Tăng Ni do Đức Phật chế định.
  • Ly tham / virāga / dispassion: Sự không còn ham muốn, ái luyến, dính mắc vào các đối tượng dục lạc hay bất cứ điều gì. Đây là một trạng thái tâm quan trọng trên con đường giải thoát.
  • Mười biến xứ / dasa kasiṇāyatanāni / ten kasinas: Mười đối tượng thiền định phổ quát (đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, không gian, thức) được sử dụng để phát triển định tâm mạnh mẽ.
  • Năm căn / pañcindriyāni / five faculties: Năm năng lực tinh thần cần được phát triển trên con đường tu tập: Tín (niềm tin), Tấn (tinh tấn), Niệm (chánh niệm), Định (tập trung), Tuệ (trí tuệ).
  • Năm giới / pañcasīla / five precepts: Năm điều đạo đức cơ bản dành cho người Phật tử tại gia: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng chất gây say.
  • Năm lực / pañca balāni / five powers: Năm sức mạnh tinh thần, là sự phát triển mạnh mẽ của năm căn, có khả năng đối trị các phiền não đối nghịch: Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực, Tuệ lực.
  • Nhiệt tâm / ātāpī / ardent: Sự nỗ lực, tinh tấn, siêng năng trong việc thực hành, đặc biệt là trong việc thiêu đốt phiền não.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Giáo lý của Đức Phật; chân lý; quy luật tự nhiên; các hiện tượng tâm-vật lý.
  • Pháp bất thiện / akusala dhamma / unwholesome states: Các trạng thái tâm tiêu cực, xấu xa, có hại, dẫn đến khổ đau (tham, sân, si, v.v.).
  • Pháp thiện / kusala dhamma / wholesome states: Các trạng thái tâm tích cực, tốt lành, có lợi, dẫn đến an lạc và giải thoát (vô tham, vô sân, vô si, tín, tấn, v.v.).
  • Phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana / base of neither-perception-nor-non-perception: Tầng thiền vô sắc thứ tư và cao nhất, nơi nhận thức (tưởng) trở nên cực kỳ vi tế, không thể nói là có hay không có.
  • Sa-môn / samaṇa / recluse: Người tu hành khổ hạnh, từ bỏ đời sống thế tục để tìm cầu chân lý hoặc giải thoát, một thuật ngữ chung cho các nhà tu hành ở Ấn Độ cổ đại.
  • Si / moha / delusion: Sự mê lầm, vô minh, không hiểu biết đúng đắn về bản chất của thực tại (vô thường, khổ, vô ngã), là gốc rễ của mọi khổ đau.
  • Sân / dosa / hate: Lòng sân hận, ác ý, tức giận, chống đối, một trong ba gốc rễ của bất thiện.
  • Tám sự giải thoát / aṭṭha vimokkhā / eight liberations: Tám trạng thái tâm tuần tự đạt được qua thiền định, giúp giải thoát khỏi các trói buộc của sắc và tâm, đỉnh cao là Diệt tận định.
  • Tám nền tảng vượt trội / aṭṭha abhibhāyatanāni / eight bases for transcendence: Tám pháp thiền định giúp hành giả làm chủ và vượt qua các đối tượng nhận thức (sắc), phát triển khả năng kiểm soát tâm đối với các đối tượng thiền.
  • Tâm / citta / mind: Tâm ý, ý thức, khả năng nhận biết đối tượng.
  • Tâm giải thoát / ceto vimutti / deliverance of mind: Sự giải thoát tâm khỏi tham ái và các trạng thái tâm tiêu cực khác thông qua việc phát triển định tâm (samādhi).
  • Tầm / vitakka / applied thought: Sự hướng tâm ban đầu đến đối tượng thiền định, một yếu tố của thiền thứ nhất.
  • Tăng đoàn / Sangha / Sangha: Cộng đồng các vị tỳ kheo và tỳ kheo ni (những người xuất gia theo Phật); hoặc rộng hơn là cộng đồng bốn chúng đệ tử Phật (tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di).
  • Tha tâm thông / cetopariya ñāṇa / understanding the minds of others: Khả năng biết được tâm niệm, trạng thái tâm của người khác, một trong các loại thắng trí.
  • Tham / rāga / lust: Lòng ham muốn, ái luyến, đam mê đối với các đối tượng dục lạc hoặc sự tồn tại, một trong ba gốc rễ của bất thiện.
  • Tham ái và ưu phiền đối với thế gian / abhijjhādomanassaṁ loke / covetousness and grief for the world: Lòng tham lam và nỗi buồn khổ, phiền muộn liên quan đến các đối tượng và sự việc ở đời.
  • Thắng trí / abhiññā / direct knowledge: Sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt, thấu suốt thực tại, thường bao gồm sáu loại: thần thông, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng thông, thiên nhãn thông, và lậu tận thông (trí tuệ đoạn trừ lậu hoặc).
  • Thân do ý tạo ra / manomaya kāya / mind-made body: Thân thể vi tế được tạo ra bởi năng lực của tâm thiền định, có thể tách ra khỏi thân vật lý.
  • Thần thông / iddhi / supernormal power: Các năng lực phi thường đạt được qua tu tập thiền định, như biến hóa, đi lại trong không gian, v.v.
  • Thất giác chi / satta bojjhaṅgā / seven enlightenment factors: Bảy phẩm chất tâm cần được phát triển để đạt đến giác ngộ: Niệm, Trạch pháp (phân tích pháp), Tinh tấn, Hỷ, Khinh an (yên tĩnh), Định, Xả.
  • Thiên nhãn / dibbacakkhu ñāṇa / divine eye: Khả năng thấy được sự sinh diệt của chúng sinh trong các cõi giới khác nhau và hiểu rõ nghiệp báo của họ, một trong các loại thắng trí.
  • Thiên nhĩ giới / dibba-sota dhātu / divine ear element: Khả năng nghe được các âm thanh ở xa và gần, của cõi người và các cõi khác, một trong các loại thắng trí.
  • Thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana / base of infinite consciousness: Tầng thiền vô sắc thứ hai, nơi hành giả an trú vào nhận thức về thức là vô biên.
  • Tinh tấn / viriya / energy: Sự nỗ lực, kiên trì, siêng năng trong việc tu tập, từ bỏ điều ác, làm điều lành.
  • Tỉnh giác / sampajāno / fully aware: Sự nhận biết rõ ràng, hiểu biết sáng suốt về những gì đang xảy ra trong thân, tâm và môi trường xung quanh.
  • Tín / saddhā / faith: Niềm tin trong sạch, dựa trên sự hiểu biết, vào Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) và luật nhân quả.
  • Túc mạng thông / pubbenivāsānussati ñāṇa / recollection of past lives: Khả năng nhớ lại các kiếp sống quá khứ của mình và của người khác, một trong các loại thắng trí.
  • Tuệ / paññā / wisdom: Trí tuệ, sự hiểu biết sâu sắc về bản chất thực sự của các pháp (hiện tượng), đặc biệt là về vô thường, khổ, vô ngã.
  • Tuệ giải thoát / paññā vimutti / deliverance by wisdom: Sự giải thoát hoàn toàn khỏi vô minh và khổ đau nhờ sự phát triển của trí tuệ (paññā).
  • Tuệ minh sát / vipassanā ñāṇa / insight knowledge: Trí tuệ phát sinh từ việc quán chiếu trực tiếp vào bản chất vô thường, khổ, vô ngã của thân và tâm.
  • Tứ / vicāra / sustained thought: Sự duy trì tâm trên đối tượng thiền định một cách liên tục, khảo sát đối tượng, một yếu tố của thiền thứ nhất.
  • Từ bỏ / vossagga / relinquishment: Sự xả ly, từ bỏ, buông bỏ mọi chấp thủ, dính mắc.
  • Tưởng về đối ngại / paṭigha saññā / perceptions of sensory impact: Sự nhận biết về sự va chạm, tiếp xúc giữa các giác quan và đối tượng của chúng, gây ra cảm giác khó chịu hoặc đối kháng.
  • Tưởng về sắc / rūpa saññā / perceptions of form: Sự nhận biết, ghi nhận về hình sắc, đối tượng của mắt.
  • Tưởng về sự đa dạng / nānatta saññā / perceptions of diversity: Sự nhận biết về tính khác biệt, đa dạng của các sự vật, hiện tượng.
  • Tỳ kheo / bhikkhu / monk: Nhà sư nam trong Phật giáo đã thọ giới cụ túc (giới luật đầy đủ).
  • Vô minh / avijjā / ignorance: Sự không hiểu biết chân lý, đặc biệt là Tứ diệu đế và bản chất vô ngã, là gốc rễ của vòng luân hồi. Đồng nghĩa với Si (moha).
  • Vô ngã / anattā / non-self: Giáo lý về tính không có một cái tôi (ngã) thường hằng, độc lập, bất biến trong bất kỳ hiện tượng nào, kể cả con người.
  • Vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana / base of nothingness: Tầng thiền vô sắc thứ ba, nơi hành giả an trú vào nhận thức về sự trống không, không có gì cả.
  • Vô thường / anicca / impermanence: Tính chất không bền vững, luôn luôn thay đổi, sinh diệt của tất cả các pháp hữu vi (hiện tượng do duyên tạo thành).
  • Xả / upekkhā / equanimity: Sự bình thản, quân bình, không thiên vị, không phản ứng yêu ghét trước các đối tượng dễ chịu hay khó chịu; một trong Thất giác chi và là trạng thái chủ đạo của thiền thứ tư.