Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 79. Kinh Tiểu Sakuludāyin

(Cūḷasakuludāyi Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Vương Xá (Rājagaha), trong Rừng Trúc, nơi nuôi sóc (Kalandakanivāpa). Bấy giờ, du sĩ Sakuludāyin đang trú tại Khu nuôi công, vườn của các du sĩ (Moranivāpe paribbājakārāme), cùng với đông đảo các du sĩ.

2. Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát, vào thành Vương Xá để khất thực. Sau đó, Ngài nghĩ: “Vẫn còn quá sớm để đi khất thực ở Vương Xá. Hay là ta đến chỗ du sĩ Sakuludāyin ở Khu nuôi công, vườn của các du sĩ.”

3-4. Rồi Đức Thế Tôn đi đến Khu nuôi công, vườn của các du sĩ. Bấy giờ, du sĩ Sakuludāyin đang ngồi cùng với đông đảo các du sĩ, họ đang la hét ồn ào… (như Kinh 77, đoạn 4-5) [30]… “Này Udāyin, các vị đang ngồi bàn luận chuyện gì ở đây vậy? Và cuộc bàn luận bị gián đoạn của các vị là gì?”

5. “Thưa Tôn giả, xin hãy khoan bàn đến chuyện chúng con đang ngồi bàn luận ở đây. Đức Thế Tôn có thể nghe về chuyện đó sau cũng được. Thưa Tôn giả, khi con không đến hội chúng này, thì họ ngồi nói đủ thứ chuyện vô ích. Nhưng khi con đến hội chúng này, thì họ ngồi trông chờ vào con, nghĩ rằng: ‘Chúng ta hãy nghe Giáo Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật) mà Sa môn (recluse - người tu hành khổ hạnh) Udāyin giảng giải.’ Tuy nhiên, khi [31] Đức Thế Tôn đến, thì cả con và hội chúng này đều ngồi trông chờ vào Đức Thế Tôn, nghĩ rằng: ‘Chúng ta hãy nghe Giáo Pháp mà Đức Thế Tôn giảng giải.’”

6. “Vậy Udāyin, hãy gợi ý một đề tài mà Ta nên nói.”

“Thưa Tôn giả, gần đây có người tự nhận là bậc toàn tri, toàn kiến (omniscient and all-seeing - biết hết tất cả, thấy hết tất cả), có tri kiến hoàn toàn (complete knowledge and vision - sự hiểu biết và thấy biết trọn vẹn) như sau: ‘Dù ta đi, đứng, ngủ hay thức, tri kiến luôn có mặt liên tục, không gián đoạn.’ Khi con hỏi vị ấy một câu hỏi về quá khứ, vị ấy đã lảng tránh, lái sang chuyện khác, và tỏ ra giận dữ, căm ghét, cay đắng. Lúc đó, con nhớ đến Đức Thế Tôn như vầy: ‘Ồ, chắc chắn là Đức Thế Tôn, chắc chắn là Đức Thiện Thệ mới là người thiện xảo về những điều này.’”

“Nhưng này Udāyin, ai là người đã tự nhận là bậc toàn tri, toàn kiến… nhưng khi ông hỏi một câu về quá khứ, lại lảng tránh, lái sang chuyện khác, và tỏ ra giận dữ, căm ghét, cay đắng?”

“Đó là Ni-kiền-tử Nātaputta (Niganṭha Nātaputta), thưa Tôn giả.”

7. "Này Udāyin, nếu có người nào nhớ lại nhiều đời quá khứ của mình (recollect his manifold past lives - nhớ lại nhiều kiếp sống trước đây), nghĩa là một kiếp, hai kiếp… như vậy, với các khía cạnh và chi tiết của chúng, nhớ lại nhiều đời quá khứ của mình, thì hoặc vị ấy có thể hỏi Ta một câu hỏi về quá khứ, hoặc Ta có thể hỏi vị ấy một câu hỏi về quá khứ, và vị ấy có thể làm tâm Ta hài lòng bằng câu trả lời của mình, hoặc Ta có thể làm tâm vị ấy hài lòng bằng câu trả lời của Ta. Nếu có người nào với thiên nhãn (divine eye - con mắt của chư thiên), thanh tịnh, vượt người thường, thấy chúng sinh chết đi và tái sinh (beings passing away and reappearing - sự chết và sinh lại của các loài hữu tình), hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh… và hiểu rõ chúng sinh đi tái sinh tùy theo nghiệp (according to their actions - dựa vào hành động thiện ác đã tạo), thì hoặc vị ấy có thể hỏi Ta một câu hỏi về tương lai [32] hoặc Ta có thể hỏi vị ấy một câu hỏi về tương lai, và vị ấy có thể làm tâm Ta hài lòng bằng câu trả lời của mình, hoặc Ta có thể làm tâm vị ấy hài lòng bằng câu trả lời của Ta. Nhưng hãy để quá khứ qua đi, Udāyin, hãy để tương lai lại. Ta sẽ dạy ông Giáo Pháp: Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt."782

8. “Thưa Tôn giả, con thậm chí còn không thể nhớ hết với các khía cạnh và chi tiết tất cả những gì con đã trải qua trong đời này, thì làm sao con có thể nhớ lại nhiều đời quá khứ của mình, nghĩa là một kiếp, hai kiếp… với các khía cạnh và chi tiết, như Đức Thế Tôn? Và bây giờ con thậm chí còn không thấy được một con yêu tinh bùn, thì làm sao con có thể với thiên nhãn, thanh tịnh, vượt người thường, thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh… và hiểu rõ chúng sinh đi tái sinh tùy theo nghiệp, như Đức Thế Tôn? Nhưng, thưa Tôn giả, khi Đức Thế Tôn nói với con: ‘Nhưng hãy để quá khứ qua đi, Udāyin, hãy để tương lai lại. Ta sẽ dạy ông Giáo Pháp: Khi cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Khi cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt’ - điều đó lại càng không rõ hơn đối với con. Có lẽ, thưa Tôn giả, con có thể làm tâm Đức Thế Tôn hài lòng bằng cách trả lời một câu hỏi về giáo lý của thầy chúng con.”

9. “Vậy, Udāyin, giáo lý của thầy ông dạy điều gì?”

“Thưa Tôn giả, giáo lý của thầy chúng con dạy rằng: ‘Đây là quang sắc tối thượng, đây là quang sắc tối thượng (perfect splendour - vẻ rực rỡ hoàn hảo nhất)!’”

“Nhưng, Udāyin, vì giáo lý của thầy ông dạy rằng: ‘Đây là quang sắc tối thượng, đây là quang sắc tối thượng!’ vậy quang sắc tối thượng đó là gì?”

“Thưa Tôn giả, quang sắc đó là quang sắc tối thượng mà không có quang sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn có thể vượt qua.”

“Nhưng, Udāyin, quang sắc mà không có quang sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn có thể vượt qua đó là gì?” [33]

“Thưa Tôn giả, quang sắc đó là quang sắc tối thượng mà không có quang sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn có thể vượt qua.”

10. “Udāyin, ông có thể tiếp tục nói như vậy rất lâu nữa. Ông nói: ‘Thưa Tôn giả, quang sắc đó là quang sắc tối thượng mà không có quang sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn có thể vượt qua,’ nhưng ông lại không chỉ ra được quang sắc đó là gì. Giả sử có một người đàn ông nói: ‘Tôi yêu cô gái đẹp nhất xứ này.’ Rồi người ta sẽ hỏi anh ta: ‘Này anh bạn, cô gái đẹp nhất xứ này mà anh yêu đó - anh có biết cô ấy thuộc giai cấp quý tộc, bà-la-môn, thương gia, hay thợ thuyền không?’ và anh ta sẽ trả lời: ‘Không.’ Rồi người ta sẽ hỏi anh ta: ‘Này anh bạn, cô gái đẹp nhất xứ này mà anh yêu đó - anh có biết tên và dòng họ cô ấy không?.. Cô ấy cao, thấp hay tầm thước?.. Cô ấy da đen, nâu hay vàng óng?.. Cô ấy sống ở làng, thị trấn hay thành phố nào?’ và anh ta sẽ trả lời: ‘Không.’ Và rồi người ta sẽ hỏi anh ta: ‘Này anh bạn, vậy là anh yêu một cô gái mà anh chưa từng biết hay thấy mặt sao?’ và anh ta sẽ trả lời: ‘Vâng.’ Ông nghĩ sao, Udāyin, nếu vậy, lời nói của người đàn ông đó chẳng phải là nhảm nhí sao?”

“Chắc chắn rồi, thưa Tôn giả, nếu vậy, lời nói của người đàn ông đó sẽ là nhảm nhí.”

“Nhưng cũng tương tự như vậy, Udāyin, ông nói rằng: ‘Quang sắc đó là quang sắc tối thượng mà không có quang sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn có thể vượt qua,’ nhưng ông lại không chỉ ra được quang sắc đó là gì.”

11. “Thưa Tôn giả, giống như một viên ngọc lưu ly đẹp, nước trong nhất, tám cạnh, cắt khéo, đặt trên tấm vải gấm đỏ, nó phát sáng, tỏa sáng, và chiếu sáng, tự ngã (self - cái tôi, linh hồn thường được cho là tồn tại độc lập, trường tồn) tồn tại không tổn hại sau khi chết783 cũng có quang sắc như vậy.”

12. “Ông nghĩ sao, Udāyin? Viên ngọc lưu ly đẹp này, nước trong nhất, tám cạnh, cắt khéo, đặt trên tấm vải gấm đỏ, [34] nó phát sáng, tỏa sáng, và chiếu sáng, hay một con đom đóm trong đêm tối dày đặc - trong hai thứ này, cái nào tỏa ra quang sắc tuyệt hảo và vi diệu hơn?” - “Con đom đóm trong đêm tối dày đặc, thưa Tôn giả.”

13. “Ông nghĩ sao, Udāyin? Con đom đóm này trong đêm tối dày đặc hay một ngọn đèn dầu trong đêm tối dày đặc - trong hai thứ này, cái nào tỏa ra quang sắc tuyệt hảo và vi diệu hơn?” - “Ngọn đèn dầu, thưa Tôn giả.”

14. “Ông nghĩ sao, Udāyin? Ngọn đèn dầu này trong đêm tối dày đặc hay một đống lửa lớn trong đêm tối dày đặc - trong hai thứ này, cái nào tỏa ra quang sắc tuyệt hảo và vi diệu hơn?” - “Đống lửa lớn, thưa Tôn giả.”

15. “Ông nghĩ sao, Udāyin? Đống lửa lớn này trong đêm tối dày đặc hay sao mai lúc gần sáng trên bầu trời trong không mây - trong hai thứ này, cái nào tỏa ra quang sắc tuyệt hảo và vi diệu hơn?” - “Sao mai lúc gần sáng trên bầu trời trong không mây, thưa Tôn giả.”

16. “Ông nghĩ sao, Udāyin? Sao mai lúc gần sáng trên bầu trời trong không mây hay mặt trăng tròn vào nửa đêm ngày Uposatha (ngày trai giới) rằm (thứ mười lăm) trên bầu trời trong không mây - trong hai thứ này, cái nào tỏa ra quang sắc tuyệt hảo và vi diệu hơn?” - “Mặt trăng tròn vào nửa đêm ngày Uposatha rằm trên bầu trời trong không mây, thưa Tôn giả.” [35]

17. “Ông nghĩ sao, Udāyin? Mặt trăng tròn vào nửa đêm ngày Uposatha rằm trên bầu trời trong không mây, hay mặt trời tròn đầy vào giữa trưa mùa thu, tháng cuối mùa mưa, trên bầu trời trong không mây - trong hai thứ này, cái nào tỏa ra quang sắc tuyệt hảo và vi diệu hơn?” - “Mặt trời tròn đầy vào giữa trưa mùa thu, tháng cuối mùa mưa, trên bầu trời trong không mây, thưa Tôn giả.”

18. “Ngoài những thứ này ra, Udāyin, Ta biết rất nhiều vị trời mà ánh sáng của mặt trời và mặt trăng không thể sánh bằng, nhưng Ta không nói rằng không có quang sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn quang sắc đó. Nhưng ông, Udāyin, lại nói về quang sắc thấp kém và thua劣 hơn cả con đom đóm rằng: ‘Đây là quang sắc tối thượng,’ mà ông lại không chỉ ra được quang sắc đó là gì.”

19. “Đức Thế Tôn đã kết thúc cuộc bàn luận; Đức Thiện Thệ đã kết thúc cuộc bàn luận (bẻ gãy lý luận).”

“Nhưng, Udāyin, tại sao ông lại nói vậy?”

“Thưa Tôn giả, giáo lý của thầy chúng con dạy rằng: ‘Đây là quang sắc tối thượng, đây là quang sắc tối thượng.’ Nhưng khi bị Đức Thế Tôn truy hỏi, chất vấn, và gạn hỏi về giáo lý của thầy chúng con, chúng con bị thấy là trống rỗng, rỗng tuếch, và sai lầm.”

20. “Vậy thì sao, Udāyin, có một thế giới hoàn toàn an lạc (entirely pleasant world - cõi giới chỉ có hạnh phúc) không? Có con đường thực hành (practical way - phương pháp tu tập) để chứng đạt một thế giới hoàn toàn an lạc không?”

“Thưa Tôn giả, giáo lý của thầy chúng con dạy rằng: ‘Có một thế giới hoàn toàn an lạc; có một con đường thực hành để chứng đạt một thế giới hoàn toàn an lạc.’”

21. “Nhưng, Udāyin, con đường thực hành để chứng đạt thế giới hoàn toàn an lạc đó là gì?”

“Ở đây, thưa Tôn giả, từ bỏ sát sinh, người ấy tránh xa sát sinh; từ bỏ trộm cắp, người ấy tránh xa trộm cắp; từ bỏ tà hạnh trong các dục lạc (misconduct in sensual pleasures - hành vi sai trái liên quan đến ham muốn), người ấy tránh xa tà hạnh trong các dục lạc; [36] từ bỏ nói dối, người ấy tránh xa nói dối; hoặc người ấy thực hành một loại khổ hạnh (asceticism - sự ép xác tu hành) nào đó. Đây là con đường thực hành để chứng đạt một thế giới hoàn toàn an lạc.”

22. “Ông nghĩ sao, Udāyin? Vào lúc người ấy từ bỏ sát sinh và tránh xa sát sinh, tự ngã của người ấy lúc đó chỉ cảm thấy lạc hay cả lạc lẫn khổ?”

“Cả lạc lẫn khổ, thưa Tôn giả.”

“Ông nghĩ sao, Udāyin? Vào lúc người ấy từ bỏ trộm cắp và tránh xa trộm cắp… khi người ấy từ bỏ tà hạnh trong các dục lạc và tránh xa tà hạnh trong các dục lạc… khi người ấy từ bỏ nói dối và tránh xa nói dối, tự ngã của người ấy lúc đó chỉ cảm thấy lạc hay cả lạc lẫn khổ?”

“Cả lạc lẫn khổ, thưa Tôn giả.”

“Ông nghĩ sao, Udāyin? Vào lúc người ấy thực hành một loại khổ hạnh nào đó, tự ngã của người ấy lúc đó chỉ cảm thấy lạc hay cả lạc lẫn khổ?”

“Cả lạc lẫn khổ, thưa Tôn giả.”

“Ông nghĩ sao, Udāyin? Có phải sự chứng đạt một thế giới hoàn toàn an lạc lại đến từ việc đi theo con đường pha trộn lạc và khổ không?”

23. “Đức Thế Tôn đã kết thúc cuộc bàn luận; Đức Thiện Thệ đã kết thúc cuộc bàn luận.”

“Nhưng, Udāyin, tại sao ông lại nói vậy?”

“Thưa Tôn giả, giáo lý của thầy chúng con dạy rằng: ‘Có một thế giới hoàn toàn an lạc; có một con đường thực hành để chứng đạt một thế giới hoàn toàn an lạc.’ Nhưng khi bị Đức Thế Tôn truy hỏi, chất vấn, và gạn hỏi về giáo lý của thầy chúng con, chúng con bị thấy là trống rỗng, rỗng tuếch, và sai lầm. Nhưng vậy thì sao, thưa Tôn giả, có một thế giới hoàn toàn an lạc không? Có con đường thực hành để chứng đạt một thế giới hoàn toàn an lạc không?” [37]

24. “Có một thế giới hoàn toàn an lạc, Udāyin; có một con đường thực hành để chứng đạt một thế giới hoàn toàn an lạc.”

“Thưa Tôn giả, con đường thực hành để chứng đạt thế giới hoàn toàn an lạc đó là gì?”

25. “Ở đây, Udāyin, hoàn toàn ly dục (secluded from sensual pleasures - xa lìa ham muốn), ly bất thiện pháp (secluded from unwholesome states - xa lìa các trạng thái tâm xấu ác), một vị Tỳ kheo (bhikkhu - nhà sư Phật giáo) chứng và trú thiền thứ nhất (first jhāna - tầng thiền định đầu tiên)… Với sự lắng dịu của tầm và tứ (applied and sustained thought - sự suy nghĩ hướng tâm và duy trì tâm trên đối tượng), vị ấy chứng và trú thiền thứ hai… thiền thứ ba… Đây là con đường thực hành để chứng đạt một thế giới hoàn toàn an lạc.”

“Thưa Tôn giả, đó không phải là con đường thực hành để chứng đạt một thế giới hoàn toàn an lạc; tại điểm đó, một thế giới hoàn toàn an lạc đã được chứng đạt rồi.”

“Udāyin, tại điểm đó, một thế giới hoàn toàn an lạc vẫn chưa được chứng đạt; đó chỉ là con đường thực hành để chứng đạt một thế giới hoàn toàn an lạc.”

26. Khi nghe vậy, hội chúng của du sĩ Sakuludāyin la hét ầm ĩ, nói rất lớn và ồn ào: "Chúng ta đã lạc lối cùng với giáo lý của thầy mình! Chúng ta đã lạc lối cùng với giáo lý của thầy mình! Chúng ta không biết gì cao siêu hơn thế!"784

Rồi du sĩ Sakuludāyin làm cho các du sĩ đó im lặng và hỏi Đức Thế Tôn:

27. “Thưa Tôn giả, vào lúc nào thì một thế giới hoàn toàn an lạc được chứng đạt?”

“Ở đây, Udāyin, với sự xả bỏ lạc và khổ, và với sự biến mất trước đó của hỷ và ưu, một vị Tỳ kheo chứng và trú thiền thứ tư (fourth jhāna - tầng thiền định thứ tư), có trạng thái không khổ không lạc, niệm thanh tịnh nhờ xả (neither-pain-nor-pleasure and purity of mindfulness due to equanimity - trạng thái trung tính và sự trong sạch của tâm nhờ tâm xả). Vị ấy sống cùng các vị trời đã sinh vào thế giới hoàn toàn an lạc, nói chuyện và đàm đạo với họ. [^785] Chính tại điểm này, một thế giới hoàn toàn an lạc đã được chứng đạt.”

28. “Thưa Tôn giả, chắc chắn là vì mục đích chứng đạt thế giới hoàn toàn an lạc đó mà các Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh (holy life - đời sống trong sạch, cao thượng của người tu) dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn.”

“Không phải vì mục đích chứng đạt thế giới hoàn toàn an lạc đó mà các Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta. Có những trạng thái khác, Udāyin, cao hơn và vi diệu hơn [thế] và chính vì mục đích chứng đạt chúng mà các Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta.” [38]

“Những trạng thái cao hơn và vi diệu hơn đó là gì, thưa Tôn giả, mà vì mục đích chứng đạt chúng, các Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn?”

29-36. "Ở đây, Udāyin, một vị Như Lai (Tathāgata - bậc đã đến như vậy/đi như vậy) xuất hiện trên đời, là bậc A-la-hán (accomplished - bậc xứng đáng cúng dường, đã hoàn thiện), Chánh Đẳng Giác (fully enlightened - bậc giác ngộ hoàn toàn)…(như Kinh 51, đoạn 12-19)… vị ấy gột sạch tâm khỏi hoài nghi (purification of doubt - sự thanh lọc tâm khỏi sự nghi ngờ).

37. "Sau khi đã từ bỏ năm triền cái (five hindrances - năm pháp che lấp tâm) này, những phiền não của tâm làm trí tuệ suy yếu (imperfections of the mind that weaken wisdom - những cấu uế làm tâm ô nhiễm và làm trí tuệ yếu đi), hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, một vị Tỳ kheo chứng và trú thiền thứ nhất… Đây, Udāyin, là một trạng thái cao hơn và vi diệu hơn mà vì mục đích chứng đạt nó, các Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta.

38-40. "Lại nữa, với sự lắng dịu của tầm và tứ, một vị Tỳ kheo chứng và trú thiền thứ hai… thiền thứ ba… thiền thứ tư. Đây cũng vậy, Udāyin, là một trạng thái cao hơn và vi diệu hơn mà vì mục đích chứng đạt nó, các Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta.

41. "Khi tâm định tĩnh của vị ấy đã thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến Túc mạng minh (knowledge of the recollection of past lives - trí tuệ nhớ lại các kiếp quá khứ). Vị ấy nhớ lại nhiều đời quá khứ của mình, nghĩa là một kiếp, hai kiếp…(như Kinh 51, đoạn 24)… Như vậy, với các khía cạnh và chi tiết của chúng, vị ấy nhớ lại nhiều đời quá khứ của mình. Đây cũng vậy, Udāyin, là một trạng thái cao hơn và vi diệu hơn mà vì mục đích chứng đạt nó, các Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta.

42. "Khi tâm định tĩnh của vị ấy đã thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến Thiên nhãn minh (knowledge of the passing away and reappearance of beings - trí tuệ thấy rõ sự chết và tái sinh của chúng sinh)…(như Kinh 51, đoạn 25)… Như vậy, với thiên nhãn, thanh tịnh, vượt người thường, vị ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh, và vị ấy hiểu rõ chúng sinh đi tái sinh tùy theo nghiệp của họ. Đây cũng vậy, Udāyin, là một trạng thái cao hơn và vi diệu hơn mà vì mục đích chứng đạt nó, các Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta.

43. "Khi tâm định tĩnh của vị ấy đã thanh tịnh, trong sáng, không tỳ vết, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và đạt đến trạng thái bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến Lậu tận minh (knowledge of the destruction of the taints - trí tuệ đoạn trừ các lậu hoặc). Vị ấy hiểu như thật: ‘Đây là Khổ (suffering - sự đau khổ, bất toại nguyện)’…(như Kinh 51, đoạn 26) [39]… Vị ấy hiểu như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc (taints - những ô nhiễm làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi).’

44. "Khi biết và thấy như vậy, tâm vị ấy được giải thoát (liberated - thoát khỏi sự ràng buộc) khỏi dục lậu (taint of sensual desire - ô nhiễm do ham muốn dục lạc), hữu lậu (taint of being - ô nhiễm do ham muốn tồn tại), và vô minh lậu (taint of ignorance - ô nhiễm do không hiểu biết Tứ Diệu Đế). Khi tâm được giải thoát, trí tuệ khởi lên: ‘Đã giải thoát’. Vị ấy hiểu rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Đây cũng vậy, Udāyin, là một trạng thái cao hơn và vi diệu hơn mà vì mục đích chứng đạt nó, các Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta.

“Đây, Udāyin, là những trạng thái cao hơn và vi diệu hơn mà vì mục đích chứng đạt chúng, các Tỳ kheo sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Ta.”

45. Khi nghe vậy, du sĩ Sakuludāyin bạch Đức Thế Tôn: “Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Đức Thế Tôn đã làm sáng tỏ Giáo Pháp bằng nhiều cách, như thể dựng đứng lại những gì bị đổ ngã, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay giơ cao ngọn đèn trong bóng tối cho những ai có mắt thấy được các hình sắc. Con xin quy y (refuge - nương tựa) Đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn các Tỳ kheo (Sangha of bhikkhus - cộng đồng các nhà sư). Con xin được xuất gia (going forth - rời bỏ đời sống thế tục) dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn, thưa Tôn giả, con xin được thọ đại giới (full admission - nghi lễ trở thành Tỳ kheo chính thức).”

46. Khi nghe vậy, hội chúng của du sĩ Sakuludāyin nói với ông: “Xin Thầy Udāyin đừng sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama. Thầy Udāyin đã là bậc thầy, xin đừng sống như một người đệ tử. Việc Thầy Udāyin làm như vậy giống như cái bình nước lại trở thành cái vò đựng nước vậy. Xin Thầy Udāyin đừng sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama. Thầy Udāyin đã là bậc thầy, xin đừng sống như một người đệ tử.”

Đó là cách hội chúng của du sĩ Sakuludāyin đã ngăn cản ông sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn.796

79. TIỂU KINH SAKULUDAYI (THIỆN SANH ƯU ÐÀ DI)

79. TIỂU KINH SAKULUDAYI (THIỆN SANH ƯU ÐÀ DI) (Cùlasakuludàyi Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá). Veluvana (Trúc Lâm), ở Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).

Lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludayi ở tại Moranivapa (Khổng Tước Lâm), một tinh xá du sĩ, cùng với đại chúng du sĩ.

Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm bát vào Vương Xá để khất thực. Thế Tôn khởi lên ý nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Vương Xá, Ta hãy đi đến tinh xá du sĩ Khổng Tước Lâm, đến du sĩ Sakuludayi”.

Rồi Thế Tôn đi đến tinh xá du sĩ Khổng Tước Lâm. Lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludayi đang ngồi với đại chúng du sĩ, đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm, như bàn về vua, bàn về ăn trộm, bàn về Ðại thần, bàn về binh, bàn về sợ hãi, bàn về chiến đấu, bàn về đồ ăn, bàn về đồ uống, bàn về y phục, bàn về giường nằm, bàn về vòng hoa, bàn về hương liệu, bàn về bà con, bàn về xe cộ, bàn về làng, bàn về thị trấn, bàn về quốc độ, bàn về phụ nữ, bàn về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, bàn việc tạp nhạp, bàn về thế giới, bàn về biển cả, bàn về hiện hữu và không hiện hữu. Du sĩ Sakuludayi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình:

– Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay Sa-môn Gotama này đang đến. Sa-môn Gotama ưa mến an tịnh, tán thán an tịnh. Nếu biết chúng này an tịnh, có thể ghé tại đây.

Rồi các du sĩ ấy đều im lặng. Thế Tôn đến chỗ du sĩ Sakuludayi. Du sĩ Sakuludayi bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến! Bạch Thế Tôn, thiện lai Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Thế Tôn hãy ngồi! Ðây là chỗ đã soạn sẵn.

Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sakuludayi lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với du sĩ Sakuludayi đang ngồi một bên:

– Này Udayi, nay các vị hội họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các vị gián đoạn?

– Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên vấn đề chúng con đang hội họp bàn luận. Về sau Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì. Bạch Thế Tôn, khi con không ở gần chúng này, thời chúng này ngồi nói nhiều câu chuyện phù phiếm. Và bạch Thế Tôn, khi con ở gần chúng này, thời chúng này ngồi nhìn thẳng mặt con và nghĩ: “Sa-môn Udayi thuyết pháp gì, chúng ta sẽ nghe”. Bạch Thế Tôn, khi nào Thế Tôn đến với chúng này thời con và chúng này ngồi nhìn thẳng mặt Thế Tôn và nghĩ: “Thế Tôn thuyết pháp gì, chúng ta sẽ nghe”.

– Vậy này Udayi, hãy nói lên ở đây vấn đề gì, để Ta có thể nói chuyện.

– Thuở xưa, bạch Thế Tôn, rất xa xưa, bậc biết tất cả, thấy tất cả tự nhận mình có tri kiến không dư thừa: “Khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ và khi ta thức, tri kiến được tồn tại liên tục thường hằng”. Vị ấy khi được con hỏi câu hỏi về quá khứ, liền tránh né với một câu hỏi khác, trả lời ra ngoài đề, và tỏ lộ

phẫn nộ, sân hận, và bất mãn. Do vậy, bạch Thế Tôn, con khởi lên niệm hoan hỷ đối với Thế Tôn: “Thật sự Thế Tôn, thật sự bậc Thiện Thệ là bậc thiện xảo về những pháp này”.

– Này Udayi, vị nào là bậc biết tất cả, thấy tất cả và tự nhận mình có tri kiến không dư thừa: “Khi ta đi, khi ta đứng, khi ta ngủ, khi ta thức, tri kiến được tồn tại, liên tục thường hằng”? Vị ấy là ai mà khi được Ông hỏi câu hỏi về quá khứ liền tránh né với một câu hỏi khác, trả lời ra ngoài đề, và tỏ lộ phẫn nộ, sân hận và bất mãn?

– Bạch Thế Tôn, vị ấy là Nigantha Nataputta.

– Này Udayi, vị nào nhớ đến các đời sống quá khứ sai biệt như một đời, hai đời… nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Hoặc là vị ấy hỏi Ta câu hỏi về quá khứ, hay là Ta hỏi vị ấy câu hỏi về quá khứ. Hoặc là vị ấy làm tâm Ta thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về quá khứ; hay là Ta làm tâm vị ấy thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về quá khứ. Này Udayi, vị nào với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân thấy sự sống và chết của chúng sanh, vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Hoặc là vị ấy hỏi Ta câu hỏi về tương lai, hay là Ta hỏi vị ấy câu hỏi về tương lai. Hoặc là vị ấy làm tâm Ta thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về tương lai, hay là Ta làm tâm vị ấy thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về tương lai. Và thôi, này Udayi, hãy dừng lại ở quá khứ, hãy dừng lại ở tương lai! Ta sẽ thuyết pháp cho Ông: Cái này có mặt thì cái đây có mặt; do cái này sanh, cái đây sanh. Cái này không có mặt thì cái đây không có mặt; do cái này diệt, cái đây diệt".

– Bạch Thế Tôn, cho đến trong phạm vi kinh nghiệm với tự ngã này (Attabhava), con còn không có thể nhớ đến các nét đại cương và các chi tiết, từ đâu con có thể nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời… con có thể nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, với các nét đại cương và các chi tiết như Thế Tôn? Bạch Thế Tôn, nay con còn không thấy được con phiêu phong quỷ (pamsapisacaka) từ đâu, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân con có thể tuệ tri rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, như Thế Tôn? Do vậy, bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn nói với con như sau: "Này Udayi, hãy dừng lại ở quá khứ, hãy dừng lại ở tương lai. Ta sẽ thuyết pháp cho Ông: “Cái này có mặt thì cái đây có mặt; do cái này sanh, cái đây sanh. Cái này không có mặt thì cái đây không có mặt; do cái này diệt, cái đây diệt”, thời con lại càng không nhận rõ bội phần. Tuy vậy, bạch Thế Tôn, con có thể làm tâm Thế Tôn thỏa mãn với câu trả lời câu hỏi về bậc Ðạo sư của mình.

– Này Udayi, bậc Ðạo sư của Ông dạy những gì?

– Bạch Thế Tôn, bậc Ðạo sư của chúng con dạy chúng con rằng: “Sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng”.

– Này Udayi, khi bậc Ðạo sư của Ông dạy Ông rằng: “Sắc này là tối thượng, sắc này là tối thượng”, thời sắc tối thượng ấy là sắc gì?

– Bạch Thế Tôn, khi một sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn, hay thù thắng hơn, thời sắc ấy là sắc tối thượng.

– Này Udayi, sắc ấy là sắc gì, khi sắc ấy không có một sắc nào khác cao thượng hơn, hay thù thắng hơn?

– Bạch Thế Tôn, khi một sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn, hay thù thắng hơn, thời sắc ấy là sắc tối thượng.

– Này Udayi, lời giải thích của Ông chỉ dài như vậy, Ông phải giải thích rộng rãi thêm. Nếu Ông nói: "Bạch Thế Tôn, khi một sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn, sắc ấy là sắc tối thượng thời Ông không chỉ rõ sắc ấy. Này Udayi, như có người nói: “Tôi yêu và luyến ái một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này Bạn, cô gái đẹp mà bạn yêu và luyến ái ấy, bạn có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lị, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp bạn yêu và luyến ái ấy, bạn có biết tên gì, họ gì, lớn người, thấp người, hay người bậc trung? Da đen sẫm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, thị trấn nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải bạn đã yêu và đã luyến ái một người bạn không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. – Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Sự tình là như vậy thời lời nói của người ấy có phải là không hiệu năng không?

– Bạch Thế Tôn, sự tình là như vậy thời lời nói của người ấy thật sự là không hiệu năng.

– Cũng vậy, này Udayi, khi Ông nói: “Bạch Thế Tôn khi một sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn, thời sắc ấy là sắc tối thượng”, thời Ông không chỉ rõ sắc ấy.

– Bạch Thế Tôn, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu nhạt, tự nó sáng lên, chói lên, bừng sáng lên; với sắc như vậy, tự ngã là không bệnh, sau khi chết.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Một hòn lưu ly bảo châu nào, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu nhạt, tự nó sáng lên, chói lên, bừng sáng lên; hay con sâu đom đóm trong đêm đen tối mù, giữa hai quang sắc này, sắc nào vi diệu hơn, và thù thắng hơn?

– Bạch Thế Tôn, con sâu đom đóm trong đêm đen tối mù, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Con sâu đom đóm trong đêm đen tối mù hay là ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?

– Bạch Thế Tôn, ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, quang sắc (ngọn đèn dầu) này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Ngọn đèn dầu trong đêm đen tối mù, hay là một đống lửa lớn trong đêm đen tối mù, giữa hai quang sắc này quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?

– Bạch Thế Tôn, đống lửa lớn trong đêm đen tối mù, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Ðống lửa lớn trong đêm đen tối mù, hay ngôi sao mai trong một bầu trời trong sáng không mây vào lúc bình minh, giữa hai quang sắc này, (quang) sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?

– Bạch Thế Tôn, ngôi sao mai trong một bầu trời trong sáng không mây vào lúc bình minh, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Ngôi (sao Thái Bạch) sao mai trong bầu trời trong sáng không mây, trong lúc bình minh, hay là mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một bầu trời trong sáng không mây vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố-tát) vào ngày Rằm, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi

diệu hơn và thù thắng hơn?

– Bạch Thế Tôn, mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng không mây, vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố tát) vào ngày Rằm, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn giữa hai quang sắc.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Mặt trăng trong khi đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng không mây, vào lúc nửa đêm, trong ngày Uposatha (Bố-tát) vào ngày Rằm, hay là mặt trời trong lúc đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng, không mây, vào lúc giữa trưa, trong tháng cuối mùa mưa về mùa thu, giữa hai quang sắc này, quang sắc nào vi diệu hơn và thù thắng hơn?

– Bạch Thế Tôn, mặt trời trong lúc đứng bóng, trong một bầu trời quang đãng không mây, vào lúc giữa trưa, trong tháng cuối mùa mưa về mùa thu, quang sắc này vi diệu hơn và thù thắng hơn.

– Này Udayi, hơn tất cả những quang sắc ấy có nhiều, rất nhiều chư Thiên, mà ánh sáng của những mặt trăng mặt trời này không thể chiếu sáng. Ta biết những chư Thiên ấy. Và Ta không nói: "Không có một quang sắc nào khác vi diệu hơn và thù thắng hơn quang sắc ấy. Còn Ông, này Udayi, Ông lại nói: “Quang sắc này, thấp kém hơn, yếu đuối hơn quang sắc con sâu đom đóm, quang sắc ấy là tối thắng”. Và Ông không chỉ rõ quang sắc ấy.

– Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện. Thiện Thệ đã cắt đứt câu chuyện.

– Này Udayi, sao Ông lại nói: “Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện. Thiện thệ đã cắt đứt câu chuyện?”

– Bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư của chúng con dạy như sau: “Quang sắc này là tối thượng, quang sắc này là tối thượng”. Nhưng bạch Thế Tôn, các bậc Ðạo sư của chúng con khi bị Thế Tôn đối nạn, cật nạn, vấn nạn, (tự tỏ là) trống không, hư vọng, thất bại.

– Nhưng này Udayi, có một thế giới nhứt hướng lạc không? Có đạo lộ hợp lý nào đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc?

– Bạch Thế Tôn, các bậc Ðạo sư của chúng con có dạy như sau: “Có một thế giới nhứt hướng lạc. Có đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc”.

– Này Udayi, đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc là gì?

– Ở đây, bạch Thế Tôn, có người đoạn trừ sát sanh, từ bỏ sát sanh, đoạn trừ lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, đoạn trừ tà dâm, từ bỏ tà dâm, đoạn trừ nói láo, từ bỏ nói láo, hay sống sau khi thọ trì một loại khổ hạnh. Bạch Thế Tôn, đó là đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ sát sanh, từ bỏ sát sanh, trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc hay cả lạc cả khổ?

– Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, trong khi ấy, tự ngã là nhứt hướng lạc hay cả lạc cả khổ?

– Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ tà dâm, từ bỏ tà dâm, trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc, hay cả lạc cả khổ?

– Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi đoạn trừ nói láo, từ bỏ nói láo, trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc, hay cả lạc cả khổ?

– Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Trong khi sống thọ trì một loại khổ hạnh, trong khi ấy tự ngã là nhứt hướng lạc, hay cả lạc cả khổ?

– Bạch Thế Tôn, cả lạc cả khổ.

– Này Udayi, Ông nghĩ thế nào? Như vậy đạo lộ để chứng đắc một thế giới nhứt hướng lạc, đạo lộ ấy cả lạc cả khổ xen lẫn?

– Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện, Thiện Thệ đã cắt đứt câu chuyện.

– Này Udayi, sao Ông lại nói như vầy: “Thế Tôn đã cắt đứt câu chuyện, Thiện Thệ đã cắt đứt câu chuyện?”

– Bạch Thế Tôn, các bậc Ðạo sư của chúng con có dạy như sau: “Có một thế giới nhứt hướng lạc, có một đạo lộ hợp lý để chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc”. Nhưng các bậc Ðạo sư của chúng con khi bị Thế Tôn đối nạn, cật nạn, vấn nạn, (tự tỏ là) trống không, hư vọng, thất bại. Nhưng bạch Thế Tôn, có một thế giới nhứt hướng lạc không? Có một đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc một thế giới nhứt hướng lạc không?

– Này Udayi, có một thế giới nhứt hướng lạc; có một đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.

– Bạch Thế Tôn, thế nào là đạo lộ hợp lý ấy đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc?

– Ở đây, này Udayi, vị Tỷ-kheo ly dục… chứng đắc và trú Thiền thứ nhất; sau khi diệt tầm và tứ… chứng đắc và trú Thiền thứ hai… chứng đắc và trú Thiền thứ ba. Như vậy, này Udayi là đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.

– Bạch Thế Tôn, đạo lộ ấy không phải là đạo lộ đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc. Chứng đắc như vậy, bạch Thế Tôn (phải chăng) là thế giới nhứt hướng lạc?

– Này Udayi, chứng đắc như vậy chưa phải là thế giới nhứt hướng lạc. Ðạo lộ ấy chỉ là đạo lộ hợp lý đưa đến chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.

Khi được nói vậy, hội chúng của du sĩ Sakuludayi lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng như sau:

– Ở đây, chúng tôi đã được nghe từ các vị Ðạo sư. Ở đây, chúng tôi đã được nghe từ các vị Ðạo sư. Chúng tôi không được biết gì hơn như vậy nữa.

Rồi du sĩ Sakuludayi sau khi làm cho các vị du sĩ ấy lặng tiếng xuống, liền bạch Thế Tôn:

– Phải đến mức như thế nào, mới là chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc?

– Ở đây, này Udayi, Tỷ-kheo đoạn trừ lạc… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư; có bao nhiêu chư Thiên được sanh vào thế giới nhứt hướng lạc, Tỷ-kheo cùng đứng với các chư Thiên ấy, cùng nói chuyện, cùng đàm luận. Cho đến mức độ như vậy, này Udayi, mới là chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc.

– Bạch Thế Tôn, có phải chỉ vì nhân duyên chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc mà các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự (chỉ dẫn) của Thế Tôn?

– Này Udayi, không phải chỉ vì nhân duyên chứng đắc thế giới nhứt hướng lạc mà các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự (chỉ dẫn) của Ta. Này Udayi, có những pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn. Vì nhơn duyên chứng đắc các pháp ấy, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.

– Bạch Thế Tôn, thế nào là những pháp cao thượng hơn, thù thắng hơn, vì nhơn duyên chứng đắc các pháp ấy, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn?

– Ở đây, này Udayi, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.

Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.

Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không

dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.

Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ- kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.

Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.

Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.

Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Vị ấy sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với tứ. Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.

Lại nữa này Udayi, vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta

Lại nữa này Udayi, vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.

Lại nữa này Udayi, vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này mà Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng không cấu uế, với các phiền não được đoạn trừ, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ nhiều đời ở quá khứ, như một đời, hai đời… nhớ đến nhiều đời sống ở quá khứ, với các nét đại cương và các chi tiết. Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhơn duyên chứng đắc pháp ấy, Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, với các phiền não được đoạn trừ, dễ sử dụng, nhu nhuyến bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy rõ sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn và thù thắng hơn, do nhơn duyên chứng đắc pháp này, vị Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, với các phiền não được đoạn trừ, dễ sử dụng, nhu nhuyến, vững chắc, bất động như vậy vị Tỷ-kheo hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy như thật biết: “Ðây là Khổ”… “Ðây là Khổ tập”… “Ðây là Khổ diệt”… “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”. Vị ấy như thật biết: “Ðâu là những lậu hoặc”… “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”… “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”. Vị ấy như thật biết: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.

Nhờ hiểu biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân được giải thoát như vậy, vị ấy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”. Ðây là pháp, này Udayi, cao thượng hơn, thù thắng hơn, do nhân duyên chứng đắc pháp này, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.

Ðây là những pháp, này Udayi, cao thượng hơn, thù thắng hơn, do nhơn duyên chứng đắc những pháp này, các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Ta.

Khi nghe nói vậy du sĩ Sakuludayi bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con xuất gia, dưới sự chỉ dẫn Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con thọ đại giới.

Khi được nghe nói vậy, chúng du sĩ của Sakuludayi nói với du sĩ Sakuludayi:

– Tôn giả Udayi, chớ có sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama. Tôn giả Udayi, đã là bậc Ðạo sư, nay chớ có sống làm đệ tử. Như một ghè nước tốt, nay bị thủng lỗ bị chảy nước; hành động của Tôn giả Udayi cũng sẽ như vậy. Tôn giả Udayi, chớ có sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama! Tôn giả Udayi đã là bậc Ðạo sư, nay chớ có sống làm đệ tử.

Như vậy, chính chúng du sĩ của Sakuludayi đã làm một chướng ngại pháp cho du sĩ Sakuludayi sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Đức Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật, có nghĩa là Bậc Tôn Quý, Bậc có đầy đủ phước đức và trí tuệ.
  • Du sĩ / Paribbājaka / Wanderer: Chỉ những người tu hành không thuộc tăng đoàn Phật giáo thời Ấn Độ cổ đại, thường đi đây đó và sống bằng khất thực.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý về sự vận hành của thế giới và con đường đưa đến giải thoát khổ đau.
  • Sa môn / Samaṇa / Recluse: Người tu hành khổ hạnh, từ bỏ đời sống thế tục để tìm cầu chân lý, không nhất thiết thuộc Phật giáo.
  • Toàn tri, toàn kiến / Sabbaññū, sabbadassāvī / Omniscient and all-seeing: Người biết tất cả mọi sự, thấy tất cả mọi sự. Đức Phật không tự nhận mình như vậy theo nghĩa đen là biết mọi chi tiết mọi lúc, mà là biết những gì cần biết để giải thoát.
  • Tri kiến hoàn toàn / Kevalaṃ paripuṇṇaṃ ñāṇadassanaṃ / Complete knowledge and vision: Sự hiểu biết và thấy biết trọn vẹn, không thiếu sót (thường liên quan đến sự giác ngộ).
  • Nhớ lại nhiều đời quá khứ / Pubbenivāsaṃ anussarati / Recollect his manifold past lives: Khả năng nhớ lại các kiếp sống trước đây của mình, một trong Tam Minh.
  • Thiên nhãn / Dibbacakkhu / Divine eye: Con mắt của chư thiên, khả năng thấy được những cảnh giới khác, thấy sự sinh tử của chúng sinh, một trong Tam Minh.
  • Chúng sinh chết đi và tái sinh / Sattānaṃ cavanūpapatti / Beings passing away and reappearing: Sự chết đi ở một kiếp sống và sinh lại ở một kiếp sống khác của các loài hữu tình trong vòng luân hồi.
  • Tùy theo nghiệp / Yathākammūpaga / According to their actions: Chúng sinh tái sinh vào cảnh giới tốt hay xấu tùy thuộc vào những hành động (nghiệp) thiện hay ác mà họ đã tạo ra.
  • Quang sắc tối thượng / Paramo vaṇṇo / Perfect splendour: Vẻ rực rỡ, ánh sáng hoàn hảo nhất, cao quý nhất.
  • Tự ngã / Attā / Self: Cái tôi, bản ngã, linh hồn được cho là trường tồn, bất biến. Phật giáo phủ nhận sự tồn tại của một tự ngã như vậy (vô ngã - anattā).
  • Thế giới hoàn toàn an lạc / Ekantasukhī loko / Entirely pleasant world: Cõi giới chỉ có hạnh phúc, không có khổ đau. Trong kinh này chỉ cõi trời Quang Âm Thiên (Ābhassara), nơi chúng sinh chỉ có hỷ lạc của thiền định.
  • Con đường thực hành / Paṭipadā / Practical way: Phương pháp, lộ trình tu tập để đạt được một mục tiêu tâm linh nào đó.
  • Dục lạc / Kāma / Sensual pleasures: Sự hưởng thụ, ham muốn đối với năm đối tượng của giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc.
  • Khổ hạnh / Tapa / Asceticism: Sự tu hành bằng cách ép xác, hành hạ thân thể với hy vọng đạt được sự thanh tịnh hay giải thoát.
  • Bất thiện pháp / Akusala dhamma / Unwholesome states: Các trạng thái tâm tiêu cực, xấu ác như tham, sân, si, gây đau khổ và dẫn đến tái sinh xấu.
  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Bhikkhu: Nhà sư Phật giáo nam đã thọ giới Cụ túc.
  • Thiền na (Thiền) / Jhāna / Jhāna: Các tầng thiền định sâu, trạng thái tâm vắng lặng, tập trung cao độ, có đặc trưng là hỷ, lạc, định. Có 4 tầng thiền sắc giới và 4 tầng thiền vô sắc giới.
  • Tầm và tứ / Vitakka-vicāra / Applied and sustained thought: Tầm là sự hướng tâm đến đối tượng thiền. Tứ là sự duy trì tâm trên đối tượng thiền. Hai yếu tố này có mặt ở thiền thứ nhất và vắng mặt từ thiền thứ hai trở đi.
  • Không khổ không lạc / Adukkhamasukha / Neither-pain-nor-pleasure: Trạng thái cảm thọ trung tính, không vui không buồn, đặc trưng của thiền thứ tư. Còn gọi là Xả thọ (upekkhā vedanā).
  • Niệm thanh tịnh nhờ xả / Upekkhāsatipārisuddhi / Purity of mindfulness due to equanimity: Trạng thái chánh niệm hoàn toàn trong sáng, thanh tịnh nhờ tâm xả ly, quân bình, không còn bị lạc và khổ chi phối, đặc trưng của thiền thứ tư.
  • Đời sống phạm hạnh / Brahmacariya / Holy life: Đời sống trong sạch, cao thượng, thường chỉ đời sống xuất gia tu hành theo lời Phật dạy, nhằm mục đích giải thoát.
  • Như Lai / Tathāgata / Tathāgata: Danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “Bậc đã đến như vậy” hoặc “Bậc đã đi như vậy”, chỉ người đã đạt đến chân lý tối hậu.
  • A-la-hán / Arahaṃ / Accomplished (Arhat): Bậc Thánh đã đoạn trừ hoàn toàn phiền não, chấm dứt sinh tử luân hồi, xứng đáng được cúng dường.
  • Chánh Đẳng Giác / Sammāsambuddho / Fully enlightened: Bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn chân lý một cách viên mãn, không thầy chỉ dạy. Danh hiệu chỉ dành cho Đức Phật.
  • Hoài nghi / Vicikicchā / Doubt: Sự nghi ngờ, phân vân, không chắc chắn, đặc biệt là nghi ngờ về Phật, Pháp, Tăng và con đường tu tập. Là một trong năm triền cái.
  • Năm triền cái / Pañca nīvaraṇāni / Five hindrances: Năm pháp che lấp, ngăn cản tâm không cho định tĩnh và phát sinh trí tuệ: tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, và hoài nghi.
  • Phiền não của tâm làm trí tuệ suy yếu / Cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe / Imperfections of the mind that weaken wisdom: Những cấu uế, ô nhiễm của tâm (như năm triền cái) làm cho tâm bị che lấp và trí tuệ không thể phát triển, trở nên yếu ớt.
  • Túc mạng minh / Pubbenivāsānussatiñāṇa / Knowledge of the recollection of past lives: Trí tuệ nhớ lại vô số kiếp sống quá khứ của mình và chúng sinh. Một trong Tam Minh.
  • Thiên nhãn minh / Cutūpapātañāṇa / Knowledge of the passing away and reappearance of beings: Trí tuệ thấy rõ sự chết đi và tái sinh của chúng sinh trong các cõi giới khác nhau, hiểu rõ nghiệp quả chi phối sự tái sinh đó. Một trong Tam Minh.
  • Lậu tận minh / Āsavakkhayañāṇa / Knowledge of the destruction of the taints: Trí tuệ nhận biết rõ ràng các lậu hoặc đã được đoạn trừ hoàn toàn, chứng ngộ sự giải thoát cuối cùng (Niết-bàn). Một trong Tam Minh.
  • Khổ / Dukkha / Suffering: Sự đau khổ, bất toại nguyện, không hoàn hảo vốn có trong mọi khía cạnh của đời sống luân hồi (sinh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não…). Là sự thật cao quý thứ nhất.
  • Lậu hoặc / Āsava / Taints (cankers, outflows, corruptions): Những ô nhiễm, phiền não sâu kín làm chúng sinh trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi. Gồm có dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu (đôi khi thêm kiến lậu).
  • Giải thoát / Vimutti / Liberated (liberation): Sự thoát khỏi mọi ràng buộc, khổ đau của vòng sinh tử luân hồi, đạt đến trạng thái Niết-bàn.
  • Dục lậu / Kāmāsava / Taint of sensual desire: Ô nhiễm do sự tham ái, dính mắc vào các dục lạc thế gian.
  • Hữu lậu / Bhavāsava / Taint of being: Ô nhiễm do sự tham ái, dính mắc vào sự tồn tại, sự hiện hữu trong các cõi sắc giới và vô sắc giới.
  • Vô minh lậu / Avijjāsava / Taint of ignorance: Ô nhiễm do sự không hiểu biết về Tứ Diệu Đế, về bản chất thật sự của các pháp (vô thường, khổ, vô ngã).
  • Quy y / Saraṇaṃ gacchati / Go for refuge: Nương tựa, tìm nơi ẩn náu an ổn. Quy y Tam Bảo là nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng.
  • Tăng đoàn / Saṅgha / Sangha: Cộng đồng những người tu hành theo lời Phật dạy, đặc biệt là cộng đồng các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đã thọ giới Cụ túc. Là một trong Tam Bảo.
  • Xuất gia / Pabbajjā / Going forth: Rời bỏ đời sống gia đình, thế tục để sống đời sống không nhà cửa, tu hành theo giáo pháp.
  • Thọ đại giới / Upasampadā / Full admission: Nghi lễ chính thức để một người Sa di trở thành Tỳ kheo (hoặc Sa di ni thành Tỳ kheo ni), thọ nhận đầy đủ các giới luật.