Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 95. Kinh Caṅkī

(Caṅkī Sutta)

[164] 1. Tôi nghe như vầy. Có một thời Đức Thế Tôn đang du hành ở nước Kosala cùng với một đại Tăng đoàn gồm các vị tỳ kheo (bhikkhus - nhà sư), và cuối cùng ngài đến một làng Bà-la-môn của xứ Kosala tên là Opasāda. Tại đó, Đức Thế Tôn trú trong Rừng Chư Thiên, khu rừng cây Sāla ở phía bắc Opasāda.

2. Vào lúc đó, Bà-la-môn Caṅkī đang cai quản Opasāda, một vùng đất của vua ban, trù phú, đông dân cư, nhiều cỏ, rừng cây, sông ngòi và ngũ cốc, là lộc vua ban, là đất thánh mà Vua Pasenadi xứ Kosala đã ban cho ông.

3. Các gia chủ Bà-la-môn ở Opasāda nghe tin: “Sa môn Gotama…(như Kinh 91, §3)…Thật tốt lành thay khi được gặp các bậc A-la-hán như vậy.”

4. Sau đó, các gia chủ Bà-la-môn ở Opasāda từng đoàn, từng nhóm rời khỏi Opasāda, hướng về phía bắc đến Rừng Chư Thiên, khu rừng cây Sāla.

5. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Caṅkī đã lên lầu thượng trong dinh thự của mình để nghỉ trưa. Ông nhìn thấy các gia chủ Bà-la-môn ở Opasāda từng đoàn, từng nhóm rời khỏi Opasāda, hướng về phía bắc đến Rừng Chư Thiên, khu rừng cây Sāla. Thấy vậy, ông hỏi vị quản gia của mình: “Này quản gia, tại sao các gia chủ Bà-la-môn ở Opasāda lại từng đoàn, từng nhóm rời khỏi Opasāda, hướng về phía bắc đến Rừng Chư Thiên, khu rừng cây Sāla vậy?”

6. “Thưa ngài, có Sa môn Gotama, là con của dòng họ Thích Ca, đã xuất gia từ dòng tộc Thích Ca, đang du hành ở nước Kosala…(như Kinh 91, §3)…Họ đang đi đến để gặp Tôn giả Gotama.”

“Vậy thì, này quản gia, hãy đi đến gặp các gia chủ Bà-la-môn ở Opasāda và nói với họ rằng: ‘Thưa quý vị, Bà-la-môn Caṅkī nhắn rằng: “Xin quý vị vui lòng chờ một chút. Bà-la-môn Caṅkī cũng sẽ đi đến gặp Sa môn Gotama.”’” “Vâng, thưa ngài,” vị quản gia đáp lời, [165] rồi đi đến gặp các gia chủ Bà-la-môn ở Opasāda và chuyển lời nhắn.

7. Lúc đó, có khoảng năm trăm vị Bà-la-môn từ nhiều tiểu quốc khác nhau đang ở tại Opasāda vì một vài công việc. Họ nghe tin: “Nghe nói Bà-la-môn Caṅkī sắp đi đến gặp Sa môn Gotama.” Rồi họ đến gặp Bà-la-môn Caṅkī và hỏi: “Thưa ngài, có thật là ngài sắp đi đến gặp Sa môn Gotama không?”

“Đúng vậy, thưa quý vị. Tôi sắp đi đến gặp Sa môn Gotama.”

8. “Thưa ngài, xin đừng đi gặp Sa môn Gotama. Thưa Tôn giả Caṅkī, việc ngài đi gặp Sa môn Gotama là không thích hợp; đúng ra, Sa môn Gotama mới nên đến gặp ngài. Bởi vì, thưa ngài, ngài có xuất thân cao quý cả hai bên nội ngoại, dòng dõi thuần khiết bảy đời tổ tiên, không thể bị chê trách hay nghi ngờ về mặt huyết thống. Vì lẽ đó, thưa Tôn giả Caṅkī, việc ngài đi gặp Sa môn Gotama là không thích hợp; đúng ra, Sa môn Gotama mới nên đến gặp ngài. Thưa ngài, ngài giàu có, tài sản lớn, sở hữu nhiều của cải. Thưa ngài, ngài thông thuộc Tam Vệ Đà cùng với từ vựng, nghi lễ, ngữ âm, từ nguyên, và lịch sử là phần thứ năm; ngài giỏi về ngữ văn và ngữ pháp, hoàn toàn tinh thông triết học tự nhiên và các tướng của bậc Đại nhân. Thưa ngài, ngài có dung mạo khôi ngô, ưa nhìn, khả ái, nước da đẹp tuyệt trần, vẻ đẹp và phong thái cao quý, đáng chiêm ngưỡng. Thưa ngài, ngài có đạo đức, đức hạnh chín chắn, sở hữu đức hạnh trưởng thành. Thưa ngài, ngài khéo ăn nói, trình bày mạch lạc; [166] ngài nói những lời lịch sự, rõ ràng, không sai sót và truyền đạt được ý nghĩa. Thưa ngài, ngài là thầy của nhiều vị thầy, và ngài dạy ba trăm sinh viên Bà-la-môn tụng đọc các bài thánh ca. Thưa ngài, ngài được Vua Pasenadi xứ Kosala kính trọng, quý mến, tôn sùng, đảnh lễ và ngưỡng mộ. Thưa ngài, ngài được Bà-la-môn Pokkharasāti kính trọng, quý mến, tôn sùng, đảnh lễ và ngưỡng mộ. Thưa ngài, ngài cai quản Opasāda, một vùng đất của vua ban, trù phú, đông dân cư… là đất thánh mà Vua Pasenadi xứ Kosala đã ban cho ngài. Vì những lẽ đó, thưa Tôn giả Caṅkī, việc ngài đi gặp Sa môn Gotama là không thích hợp; đúng ra, Sa môn Gotama mới nên đến gặp ngài.”

9. Nghe vậy, Bà-la-môn Caṅkī nói với các vị Bà-la-môn kia: "Này quý vị, bây giờ hãy nghe tôi nói tại sao việc tôi đi gặp Tôn giả Gotama là thích hợp, và tại sao việc Tôn giả Gotama đến gặp tôi là không thích hợp. Thưa quý vị, Sa môn Gotama có xuất thân cao quý cả hai bên nội ngoại, dòng dõi thuần khiết bảy đời tổ tiên, không thể bị chê trách hay nghi ngờ về mặt huyết thống. Vì lẽ đó, thưa quý vị, việc Tôn giả Gotama đến gặp tôi là không thích hợp; đúng ra, tôi mới nên đi gặp Tôn giả Gotama. Thưa quý vị, Sa môn Gotama đã xuất gia, từ bỏ rất nhiều vàng bạc cất giữ trong kho tàng. Thưa quý vị, Sa môn Gotama đã từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không nhà khi còn trẻ, một thanh niên tóc đen, đầy sức trẻ, đang trong độ tuổi thanh xuân. Thưa quý vị, Sa môn Gotama đã cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, từ bỏ đời sống gia đình để sống đời không nhà mặc dù cha mẹ ngài không mong muốn và khóc lóc với gương mặt đẫm lệ. Thưa quý vị, Sa môn Gotama có dung mạo khôi ngô, ưa nhìn, khả ái, nước da đẹp tuyệt trần, [167] vẻ đẹp và phong thái cao quý, đáng chiêm ngưỡng. Thưa quý vị, Sa môn Gotama có đạo đức, với giới hạnh cao quý, với giới hạnh thiện lành, sở hữu giới hạnh thiện lành. Thưa quý vị, Sa môn Gotama khéo ăn nói, trình bày mạch lạc; ngài nói những lời lịch sự, rõ ràng, không sai sót và truyền đạt được ý nghĩa. Thưa quý vị, Sa môn Gotama là thầy của nhiều vị thầy. Thưa quý vị, Sa môn Gotama đã thoát khỏi dục vọng và không còn tự mãn cá nhân. Thưa quý vị, Sa môn Gotama chủ trương về hiệu quả đạo đức của hành động (nghiệp), chủ trương về hiệu quả đạo đức của việc làm (quả của nghiệp); ngài không tìm cách gây hại cho dòng dõi Bà-la-môn. Thưa quý vị, Sa môn Gotama đã xuất gia từ một gia đình quý tộc, từ một trong những dòng dõi quý tộc lâu đời. Thưa quý vị, Sa môn Gotama đã xuất gia từ một gia đình giàu có, từ một gia đình có tài sản lớn và sở hữu nhiều của cải. Thưa quý vị, người ta từ các vương quốc xa xôi, các quận huyện xa xôi đến để hỏi đạo Sa môn Gotama. Thưa quý vị, hàng ngàn chư thiên đã quy y trọn đời nơi Sa môn Gotama. Thưa quý vị, tiếng lành về Sa môn Gotama đã được đồn xa như sau: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc xứng đáng tôn kính, bậc giác ngộ hoàn toàn, hoàn hảo về trí tuệ và đức hạnh, bậc thiện thệ, bậc hiểu biết thế gian, bậc lãnh đạo vô song của những người cần được điều phục, bậc thầy của trời và người, bậc giác ngộ, bậc được tôn quý.’ Thưa quý vị, Sa môn Gotama sở hữu ba mươi hai tướng của bậc Đại nhân. Thưa quý vị, Vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha cùng vợ con đã quy y trọn đời nơi Sa môn Gotama. Thưa quý vị, Vua Pasenadi xứ Kosala cùng vợ con đã quy y trọn đời nơi Sa môn Gotama. Thưa quý vị, Bà-la-môn Pokkharasāti cùng vợ con đã quy y trọn đời nơi Sa môn Gotama. Thưa quý vị, Sa môn Gotama đã đến Opasāda và đang trú tại Opasāda trong Rừng Chư Thiên, khu rừng cây Sāla ở phía bắc Opasāda. Bất kỳ sa môn hay Bà-la-môn nào đến thị trấn của chúng ta đều là khách, và khách thì nên được chúng ta tôn trọng, quý mến, tôn sùng và đảnh lễ. Vì Sa môn Gotama đã đến Opasāda, ngài là khách của chúng ta, và là khách thì nên được chúng ta tôn trọng, quý mến, tôn sùng và đảnh lễ. [168] Vì những lẽ đó, thưa quý vị, việc Tôn giả Gotama đến gặp tôi là không thích hợp; đúng ra, tôi mới nên đi gặp Tôn giả Gotama.

“Thưa quý vị, đó là những lời tán thán về Tôn giả Gotama mà tôi biết được, nhưng sự tán thán về Tôn giả Gotama không chỉ giới hạn ở đó, vì sự tán thán về Tôn giả Gotama là không thể đo lường. Vì Tôn giả Gotama sở hữu từng yếu tố này, nên việc ngài đến gặp tôi là không thích hợp; đúng ra, tôi mới nên đi gặp Tôn giả Gotama. Do đó, thưa quý vị, tất cả chúng ta hãy cùng đi gặp Sa môn Gotama.”

10. Sau đó, Bà-la-môn Caṅkī cùng với một đoàn đông các vị Bà-la-môn đi đến gặp Đức Thế Tôn và chào hỏi thăm hỏi ngài. Sau khi cuộc trò chuyện lịch sự và thân mật kết thúc, ông ngồi xuống một bên.

11. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang ngồi trò chuyện thân mật với một số vị Bà-la-môn rất cao niên. Trong hội chúng lúc đó, có một sinh viên Bà-la-môn tên là Kāpathika đang ngồi. Chàng trai trẻ, đầu cạo trọc, mười sáu tuổi, thông thuộc Tam Vệ Đà cùng với từ vựng, nghi lễ, ngữ âm, từ nguyên, và lịch sử là phần thứ năm; giỏi về ngữ văn và ngữ pháp; hoàn toàn tinh thông triết học tự nhiên và các tướng của bậc Đại nhân. Trong khi các vị Bà-la-môn rất cao niên đang nói chuyện với Đức Thế Tôn, cậu ta thường xen vào và ngắt lời họ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn quở trách sinh viên Bà-la-môn Kāpathika như sau: “Mong Tôn giả Bhāradvāja (chỉ Kāpathika theo tên dòng họ) đừng xen vào và ngắt lời các vị Bà-la-môn rất cao niên khi họ đang trò chuyện. Mong Tôn giả Bhāradvāja hãy đợi cho đến khi cuộc nói chuyện kết thúc.”

Nghe vậy, Bà-la-môn Caṅkī thưa với Đức Thế Tôn: “Xin Tôn giả Gotama đừng quở trách sinh viên Bà-la-môn Kāpathika. Sinh viên Bà-la-môn Kāpathika là người cùng dòng tộc, cậu ấy rất uyên bác, có tài ăn nói, thông thái; cậu ấy có khả năng tham gia vào cuộc thảo luận này với Tôn giả Gotama.”

12. Bấy giờ, Đức Thế Tôn nghĩ: “Chắc chắn, [169] vì các vị Bà-la-môn tôn trọng cậu ta như vậy, sinh viên Bà-la-môn Kāpathika hẳn phải tinh thông kinh điển Tam Vệ Đà.”

Rồi sinh viên Bà-la-môn Kāpathika nghĩ: “Khi Sa môn Gotama nhìn về phía mình, mình sẽ hỏi ngài một câu hỏi.”

Bấy giờ, biết được ý nghĩ trong tâm của sinh viên Bà-la-môn Kāpathika bằng tâm của mình, Đức Thế Tôn hướng mắt về phía cậu ta. Rồi sinh viên Bà-la-môn Kāpathika nghĩ: “Sa môn Gotama đã hướng về phía mình. Hay là mình hỏi ngài một câu hỏi.” Rồi cậu ta thưa với Đức Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, đối với các bài thánh ca Bà-la-môn cổ xưa được truyền lại qua truyền khẩu và trong các bộ sưu tập kinh điển, các vị Bà-la-môn đi đến kết luận chắc chắn rằng: ‘Chỉ có điều này là thật, ngoài ra đều sai.’ Tôn giả Gotama nói gì về điều này?”

13. “Vậy này Bhāradvāja, trong số các Bà-la-môn, có dù chỉ một vị Bà-la-môn nào nói rằng: ‘Tôi biết điều này, tôi thấy điều này: chỉ có điều này là thật, ngoài ra đều sai’ không?” - “Thưa Tôn giả Gotama, không.”

“Vậy này Bhāradvāja, trong số các Bà-la-môn, có dù chỉ một vị thầy hoặc một vị thầy của thầy cho đến bảy đời thầy trở về trước nói rằng: ‘Tôi biết điều này, tôi thấy điều này: chỉ có điều này là thật, ngoài ra đều sai’ không?” - “Thưa Tôn giả Gotama, không.”

“Vậy này Bhāradvāja, các vị hiền triết Bà-la-môn cổ xưa, những người sáng tạo ra các bài thánh ca, những người soạn ra các bài thánh ca, mà những bài thánh ca cổ xưa của họ trước đây đã được tụng đọc, xướng lên và biên soạn, ngày nay các vị Bà-la-môn vẫn tụng đọc và lặp lại, lặp lại những gì đã được nói và đọc lại những gì đã được đọc - đó là Atṭthaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Angirasa, Bhāradvāja, Vāseṭtha, Kassapa, và Bhagu - liệu ngay cả những vị hiền triết Bà-la-môn cổ xưa này có nói rằng: ‘Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này: chỉ có điều này là thật, ngoài ra đều sai’ không?” - [170] “Thưa Tôn giả Gotama, không.”

“Vậy, Bhāradvāja, dường như trong số các Bà-la-môn không có dù chỉ một vị Bà-la-môn nào nói rằng: ‘Tôi biết điều này, tôi thấy điều này: chỉ có điều này là thật, ngoài ra đều sai.’ Và trong số các Bà-la-môn không có dù chỉ một vị thầy hoặc một vị thầy của thầy cho đến bảy đời thầy trở về trước nói rằng: ‘Tôi biết điều này, tôi thấy điều này: chỉ có điều này là thật, ngoài ra đều sai.’ Và các vị hiền triết Bà-la-môn cổ xưa, những người sáng tạo ra các bài thánh ca, những người soạn ra các bài thánh ca… ngay cả những vị hiền triết Bà-la-môn cổ xưa này cũng không nói rằng: ‘Chúng tôi biết điều này, chúng tôi thấy điều này: chỉ có điều này là thật, ngoài ra đều sai.’ Giả sử có một đoàn người mù, người sau vịn vào người trước: người đầu tiên không thấy, người ở giữa không thấy, và người cuối cùng cũng không thấy. Cũng vậy, Bhāradvāja, đối với lời tuyên bố của họ, các vị Bà-la-môn dường như giống như một đoàn người mù: người đầu tiên không thấy, người ở giữa không thấy, và người cuối cùng cũng không thấy. Này Bhāradvāja, thầy nghĩ sao, nếu sự việc là như vậy, chẳng phải niềm tin của các vị Bà-la-môn hóa ra là không có cơ sở sao?”

14. “Thưa Tôn giả Gotama, các vị Bà-la-môn tôn kính điều này không chỉ vì niềm tin. Họ còn tôn kính nó như là truyền khẩu.”

“Này Bhāradvāja, trước tiên thầy dựa vào niềm tin, bây giờ thầy lại nói về truyền khẩu. Này Bhāradvāja, có năm điều có thể diễn ra theo hai cách khác nhau ở đây và bây giờ. Năm điều đó là gì? Niềm tin (saddhā - sự tin tưởng), sự tán thành (ruci - sự ưa thích, chấp thuận), truyền khẩu (anussava - nghe đi nghe lại, truyền miệng), suy lý (takka-pariyāhataṃ - sự cân nhắc dựa trên lập luận logic), và chấp nhận quan điểm sau khi suy ngẫm (diṭṭhi-nijjhāna-kkhanti - sự chấp nhận một cách kiên nhẫn sau khi đã quán chiếu một quan điểm). Năm điều này có thể diễn ra theo hai cách khác nhau ở đây và bây giờ. Có điều gì đó có thể được hoàn toàn chấp nhận vì niềm tin, nhưng nó có thể là trống rỗng, hão huyền và sai lầm; nhưng có điều khác có thể không được hoàn toàn chấp nhận vì niềm tin, nhưng nó lại có thể là sự thật, đúng đắn và không sai lầm. Tương tự, [171] có điều gì đó có thể được hoàn toàn tán thành… có thể được suy lý kỹ càng… có thể được suy ngẫm kỹ càng, nhưng nó có thể là trống rỗng, hão huyền và sai lầm; nhưng có điều khác có thể không được suy ngẫm kỹ càng, nhưng nó lại có thể là sự thật, đúng đắn và không sai lầm. [Trong những điều kiện này] một người trí tuệ biết bảo vệ sự thật thì không nên đi đến kết luận chắc chắn rằng: ‘Chỉ có điều này là thật, ngoài ra đều sai.’”

15. “Nhưng, thưa Tôn giả Gotama, thế nào là bảo vệ sự thật (sacca-anurakkhaṇā - sự gìn giữ, bảo tồn sự thật)? Làm thế nào để bảo vệ sự thật? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về việc bảo vệ sự thật.”

"Này Bhāradvāja, nếu một người có niềm tin, người đó bảo vệ sự thật khi nói rằng: ‘Niềm tin của tôi là như vậy’; nhưng người đó chưa đi đến kết luận chắc chắn rằng: ‘Chỉ có điều này là thật, ngoài ra đều sai.’ Bằng cách này, Bhāradvāja, có sự bảo vệ sự thật; bằng cách này người đó bảo vệ sự thật; bằng cách này chúng ta mô tả sự bảo vệ sự thật. Nhưng đó chưa phải là sự khám phá sự thật (sacca-anubodha - sự giác ngộ, nhận ra sự thật).

“Nếu một người tán thành điều gì đó… nếu người đó tiếp nhận một truyền khẩu… nếu người đó [đi đến kết luận dựa trên] suy lý… nếu người đó có được sự chấp nhận quan điểm sau khi suy ngẫm, người đó bảo vệ sự thật khi nói rằng: ‘Sự chấp nhận quan điểm sau khi suy ngẫm của tôi là như vậy’; nhưng người đó chưa đi đến kết luận chắc chắn rằng: ‘Chỉ có điều này là thật, ngoài ra đều sai.’ Bằng cách này nữa, Bhāradvāja, có sự bảo vệ sự thật; bằng cách này người đó bảo vệ sự thật; bằng cách này chúng ta mô tả sự bảo vệ sự thật. Nhưng đó chưa phải là sự khám phá sự thật.”

16. “Theo cách đó, thưa Tôn giả Gotama, là có sự bảo vệ sự thật; theo cách đó người ta bảo vệ sự thật; theo cách đó chúng con nhận ra sự bảo vệ sự thật. Nhưng thưa Tôn giả Gotama, thế nào là sự khám phá sự thật? Làm thế nào để khám phá sự thật? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về sự khám phá sự thật.”

17. "Ở đây, Bhāradvāja, một vị tỳ kheo có thể đang sống nương tựa vào một làng hay thị trấn nào đó. Rồi một người gia chủ hoặc con trai của gia chủ đến gặp vị ấy và quan sát vị ấy về ba loại tâm: [172] về các tâm dựa trên tham, về các tâm dựa trên sân, và về các tâm dựa trên si: ‘Vị tôn giả này có các tâm nào dựa trên tham không, mà do tâm bị ám ảnh bởi các tâm đó, trong khi không biết lại có thể nói, “Tôi biết,” hoặc trong khi không thấy lại có thể nói, “Tôi thấy,” hoặc có thể thúc giục người khác hành động theo cách dẫn đến tổn hại và đau khổ lâu dài cho họ không?’ Khi quan sát vị ấy, người đó biết được: ‘Không có các tâm dựa trên tham như vậy nơi vị tôn giả này. Hành vi thân và khẩu của vị tôn giả này không phải là của người bị ảnh hưởng bởi tham. Và Pháp mà vị tôn giả này giảng dạy thì sâu sắc, khó thấy và khó hiểu, tịch tịnh và cao siêu, không thể đạt được chỉ bằng lý luận suông, vi tế, dành cho người trí tự mình trải nghiệm. Pháp này không thể dễ dàng được giảng dạy bởi một người bị ảnh hưởng bởi tham.’

18. "Sau khi đã quan sát và thấy rằng vị ấy đã thanh lọc khỏi các tâm dựa trên tham, người đó tiếp tục quan sát vị ấy về các tâm dựa trên sân: ‘Vị tôn giả này có các tâm nào dựa trên sân không, mà do tâm bị ám ảnh bởi các tâm đó… có thể thúc giục người khác hành động theo cách dẫn đến tổn hại và đau khổ lâu dài cho họ không?’ Khi quan sát vị ấy, người đó biết được: ‘Không có các tâm dựa trên sân như vậy nơi vị tôn giả này. Hành vi thân và khẩu của vị tôn giả này không phải là của người bị ảnh hưởng bởi sân. Và Pháp mà vị tôn giả này giảng dạy thì sâu sắc… dành cho người trí tự mình trải nghiệm. Pháp này không thể dễ dàng được giảng dạy bởi một người bị ảnh hưởng bởi sân.’

19. "Sau khi đã quan sát và thấy rằng vị ấy đã thanh lọc khỏi các tâm dựa trên sân, [173] người đó tiếp tục quan sát vị ấy về các tâm dựa trên si: ‘Vị tôn giả này có các tâm nào dựa trên si không, mà do tâm bị ám ảnh bởi các tâm đó… có thể thúc giục người khác hành động theo cách dẫn đến tổn hại và đau khổ lâu dài cho họ không?’ Khi quan sát vị ấy, người đó biết được: ‘Không có các tâm dựa trên si như vậy nơi vị tôn giả này. Hành vi thân và khẩu của vị tôn giả này không phải là của người bị ảnh hưởng bởi si. Và Pháp mà vị tôn giả này giảng dạy thì sâu sắc… dành cho người trí tự mình trải nghiệm. Pháp này không thể dễ dàng được giảng dạy bởi một người bị ảnh hưởng bởi si.’

20. “Sau khi đã quan sát và thấy rằng vị ấy đã thanh lọc khỏi các tâm dựa trên si, người đó đặt niềm tin vào vị ấy; tràn đầy niềm tin, người đó đến thăm và đảnh lễ vị ấy; sau khi đảnh lễ, người đó lắng tai nghe (sotaṃ odahati - hướng tai về, chú tâm lắng nghe); khi lắng tai nghe, người đó nghe Pháp; sau khi nghe Pháp, người đó ghi nhớ Pháp và quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ; khi quán xét ý nghĩa, người đó có được sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy đó; khi có được sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy đó, nhiệt tâm (chanda - lòng mong muốn, ý muốn hành động) khởi lên; khi nhiệt tâm khởi lên, người đó quyết tâm (ussahati - cố gắng, nỗ lực ý chí); sau khi quyết tâm, người đó thẩm xét (tuleti / vīmaṃsati - cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng); sau khi thẩm xét, người đó tinh tấn (padahati - nỗ lực, gắng sức); kiên trì tinh tấn, người đó thân chứng sự thật tối hậu (kāyena ca paramasaccaṃ sacchikaroti - tự mình trải nghiệm sự thật cao nhất qua thân tâm) và thấy rõ bằng trí tuệ (paññāya ca ativijjha passati - dùng trí tuệ để thâm nhập và thấy rõ). Bằng cách này, Bhāradvāja, có sự khám phá sự thật; bằng cách này người ta khám phá sự thật; bằng cách này chúng ta mô tả sự khám phá sự thật. Nhưng đó chưa phải là sự đạt đến sự thật (sacca-anuppatti - sự thành tựu, chứng đắc sự thật).”

21. “Theo cách đó, thưa Tôn giả Gotama, là có sự khám phá sự thật; theo cách đó người ta khám phá sự thật; theo cách đó chúng con nhận ra sự khám phá sự thật. Nhưng thưa Tôn giả Gotama, thế nào là sự đạt đến sự thật? Làm thế nào để đạt đến sự thật? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về sự đạt đến sự thật.” [174]

“Này Bhāradvāja, sự đạt đến sự thật nằm ở sự thực hành lặp đi lặp lại, sự phát triển và sự tu tập chính những điều đó. Bằng cách này, Bhāradvāja, có sự đạt đến sự thật; bằng cách này người ta đạt đến sự thật; bằng cách này chúng ta mô tả sự đạt đến sự thật.”

22. “Theo cách đó, thưa Tôn giả Gotama, là có sự đạt đến sự thật; theo cách đó người ta đạt đến sự thật; theo cách đó chúng con nhận ra sự đạt đến sự thật. Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho sự đạt đến sự thật? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho sự đạt đến sự thật.” “Tinh tấn là hữu ích nhất cho sự đạt đến sự thật, này Bhāradvāja. Nếu không tinh tấn, người ta sẽ không đạt đến sự thật; nhưng vì tinh tấn, người ta mới đạt đến sự thật. Đó là lý do tại sao tinh tấn là hữu ích nhất cho sự đạt đến sự thật.”

23. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho sự tinh tấn? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho sự tinh tấn.”

“Thẩm xét là hữu ích nhất cho sự tinh tấn, này Bhāradvāja. Nếu không thẩm xét, người ta sẽ không tinh tấn; nhưng vì thẩm xét, người ta mới tinh tấn. Đó là lý do tại sao thẩm xét là hữu ích nhất cho sự tinh tấn.”

24. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho sự thẩm xét? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho sự thẩm xét.”

“Quyết tâm là hữu ích nhất cho sự thẩm xét, này Bhāradvāja. Nếu không quyết tâm, người ta sẽ không thẩm xét; nhưng vì quyết tâm, người ta mới thẩm xét. Đó là lý do tại sao quyết tâm là hữu ích nhất cho sự thẩm xét.”

25. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho sự quyết tâm? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho sự quyết tâm.”

“Nhiệt tâm là hữu ích nhất cho sự quyết tâm, này Bhāradvāja. Nếu không khơi dậy nhiệt tâm, người ta sẽ không quyết tâm; nhưng vì khơi dậy nhiệt tâm, người ta mới quyết tâm. Đó là lý do tại sao nhiệt tâm là hữu ích nhất cho sự quyết tâm.”

26. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho nhiệt tâm? [175] Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho nhiệt tâm.”

“Sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy là hữu ích nhất cho nhiệt tâm, này Bhāradvāja. Nếu không có được sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy, nhiệt tâm sẽ không khởi lên; nhưng vì có được sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy, nhiệt tâm mới khởi lên. Đó là lý do tại sao sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy là hữu ích nhất cho nhiệt tâm.”

27. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy.”

“Quán xét ý nghĩa là hữu ích nhất cho sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy, này Bhāradvāja. Nếu không quán xét ý nghĩa, người ta sẽ không có được sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy; nhưng vì quán xét ý nghĩa, người ta mới có được sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy. Đó là lý do tại sao quán xét ý nghĩa là hữu ích nhất cho sự chấp nhận sau khi suy ngẫm những lời dạy.”

28. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho việc quán xét ý nghĩa? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho việc quán xét ý nghĩa.”

“Ghi nhớ những lời dạy là hữu ích nhất cho việc quán xét ý nghĩa, này Bhāradvāja. Nếu không ghi nhớ một lời dạy, người ta sẽ không quán xét ý nghĩa của nó; nhưng vì ghi nhớ một lời dạy, người ta mới quán xét ý nghĩa của nó.”

29. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho việc ghi nhớ những lời dạy? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho việc ghi nhớ những lời dạy.”

“Nghe Pháp là hữu ích nhất cho việc ghi nhớ những lời dạy, này Bhāradvāja. Nếu không nghe Pháp, người ta sẽ không ghi nhớ những lời dạy; nhưng vì nghe Pháp, người ta mới ghi nhớ những lời dạy. Đó là lý do tại sao nghe Pháp là hữu ích nhất cho việc ghi nhớ những lời dạy.”

30. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho việc nghe Pháp? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho việc nghe Pháp.”

“Lắng tai nghe là hữu ích nhất cho việc nghe Pháp, này Bhāradvāja. [176] Nếu không lắng tai nghe, người ta sẽ không nghe Pháp; nhưng vì lắng tai nghe, người ta mới nghe Pháp. Đó là lý do tại sao lắng tai nghe là hữu ích nhất cho việc nghe Pháp.”

31. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho việc lắng tai nghe? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho việc lắng tai nghe.”

“Đảnh lễ là hữu ích nhất cho việc lắng tai nghe, này Bhāradvāja. Nếu không đảnh lễ, người ta sẽ không lắng tai nghe; nhưng vì đảnh lễ, người ta mới lắng tai nghe. Đó là lý do tại sao đảnh lễ là hữu ích nhất cho việc lắng tai nghe.”

32. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho việc đảnh lễ? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho việc đảnh lễ.”

“Đến thăm là hữu ích nhất cho việc đảnh lễ, này Bhāradvāja. Nếu không đến thăm [một vị thầy], người ta sẽ không đảnh lễ vị ấy; nhưng vì đến thăm [một vị thầy], người ta mới đảnh lễ vị ấy. Đó là lý do tại sao đến thăm là hữu ích nhất cho việc đảnh lễ.”

33. “Nhưng thưa Tôn giả Gotama, điều gì hữu ích nhất cho việc đến thăm? Chúng con xin hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho việc đến thăm.” “Niềm tin là hữu ích nhất cho việc đến thăm, này Bhāradvāja. Nếu niềm tin [vào một vị thầy] không khởi lên, người ta sẽ không đến thăm vị ấy; nhưng vì niềm tin [vào một vị thầy] khởi lên, người ta mới đến thăm vị ấy. Đó là lý do tại sao niềm tin là hữu ích nhất cho việc đến thăm.”

34. "Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về việc bảo vệ sự thật, và Tôn giả Gotama đã trả lời về việc bảo vệ sự thật; chúng con tán thành và chấp nhận câu trả lời đó, và vì vậy chúng con hài lòng. Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về việc khám phá sự thật, và Tôn giả Gotama đã trả lời về việc khám phá sự thật; chúng con tán thành và chấp nhận câu trả lời đó, và vì vậy chúng con hài lòng. Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về sự đạt đến sự thật, và Tôn giả Gotama đã trả lời về sự đạt đến sự thật; chúng con tán thành và chấp nhận câu trả lời đó, và vì vậy chúng con hài lòng. [177] Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về điều hữu ích nhất cho sự đạt đến sự thật, và Tôn giả Gotama đã trả lời về điều hữu ích nhất cho sự đạt đến sự thật; chúng con tán thành và chấp nhận câu trả lời đó, và vì vậy chúng con hài lòng. Bất cứ điều gì chúng con hỏi Tôn giả Gotama, ngài đều đã trả lời chúng con; chúng con tán thành và chấp nhận câu trả lời đó, và vì vậy chúng con hài lòng. Trước đây, thưa Tôn giả Gotama, chúng con từng nghĩ: ‘Ai là những sa môn đầu trọc này, những kẻ hạ tiện da đen, hậu duệ từ chân của Đấng Thân Thuộc (ám chỉ đẳng cấp thấp theo thần thoại Bà-la-môn, sinh ra từ chân Phạm Thiên), mà lại có thể hiểu được Pháp?’ Nhưng Tôn giả Gotama thực sự đã khơi dậy trong con lòng yêu mến sa môn, niềm tin vào sa môn, sự kính trọng đối với sa môn.

35. “Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!..(như Kinh 91, §37)…Từ hôm nay, xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một cận sự nam đã quy y ngài trọn đời.”

95. KINH CANKÌ

95. KINH CANKÌ (Cankì Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn du hành trong nước Kosala cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo, và đi đến một làng Bà-la- môn của dân chúng Kosala, tên là Opasada.

Thế Tôn trú tại Opasada, tại rừng chư Thiên (Devavana), rừng cây sala (salavana), phía Bắc làng Opasada. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Canki trú ở Opasada, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, lúa gạo phì nhiêu, một vương địa do vua Pasenadi, vua nước Kosala cấp, một ân tứ của vua, một tịnh ấp.

Các Bà-la-môn gia chủ ở Opasada được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya (Thích-ca) đang du hành ở Videha, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, Ngài tuyên dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Tốt đẹp thay sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”.

Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Opasada, từng đoàn, từng đoàn lũ lượt đi ra khỏi Opasada và đi đến ngõ phía Bắc, rừng chư Thiên, rừng cây sala. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Canki đi lên trên lầu để nghỉ trưa. Bà- la-môn Canki thấy các Bà-la-môn gia chủ ở Opasada từng đoàn, từng đoàn lũ lượt đi ra khỏi Opasada và đi đến ngõ phía Bắc rừng chư Thiên, rừng cây sala. Thấy vậy, Bà-la-môn Canki bèn gọi người gác cửa:

– Này người Gác cửa, vì sao các Bà-la-môn gia chủ ở Opasada từng đoàn, từng đoàn lũ lượt đi ra khỏi Opasada và đi đến ngõ phía Bắc, rừng chư Thiên, rừng cây sala như vậy?

– Thưa Tôn giả Canki, có Sa-môn Gotama, dòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca đang du hành trong nước Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ, Ngài tuyên dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch”. Nay những người ấy đi đến yết kiến Tôn giả Gotama.

– Này người Gác cửa, hãy đi đến các Bà-la-môn gia chủ ở Opasada, khi đến nơi, hãy nói với những Bà- la-môn gia chủ: "Bà-la-môn Canki có nói: “Này các Hiền giả, hãy chờ đợi. Bà-la-môn Canki sẽ tự thân hành đến yết kiến Sa-môn Gotama”.

Lúc bấy giờ, có khoảng năm trăm Bà-la-môn, từ nhiều địa phương khác nhau, đến tại Opasada vì một vài công vụ. Những Bà-la-môn nghe: “Bà-la-môn Canki sẽ đi yết kiến Sa-môn Gotama”. Những Bà-la- môn ấy đến Bà-la-môn Canki, khi đến xong, liền thưa với Bà-la-môn Canki:

– Có phải Tôn giả Canki sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama?

– Này các Hiền giả, đó là ý định của ta. Ta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama.

– Tôn giả Canki, chớ có đến yết kiến Sa-môn Gotama. Thật không xứng đáng cho tôn giả Canki đến yết kiến Sa-môn Gotama; trái lại, thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Canki. Lại nữa, Tôn giả Canki thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vì Tôn giả Canki thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một chỉ trích nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Canki đến yết kiến Sa-môn Gotama; trái lại, thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiết Bà-la- môn Canki. Lại nữa, Tôn giả Canki là nhà giàu có, đại phú, sung túc. Lại nữa, Tôn giả Canki là nhà phúng tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập Veda với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biện tài về Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Tôn giả Canki đẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng. Tôn giả Canki có giới hạnh, trưởng thành trong giới hạnh, thành tựu sự trưởng thành trong giới hạnh. Tôn giả Canki thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác. Tôn giả Canki là bậc Tôn sư của hàng Tôn sư nhiều người, dạy ba trăm thanh niên Bà-la-môn tụng đọc chú thuật. Tôn giả Candi được vua Pasenadi xứ Kosala kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Tôn giả Canki được Bà-la-môn Pokkarasati kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Tôn giả Canki sống ở Opasada, một địa phương dân chúng đông đúc, cỏ cây, ao nước phì nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lãnh địa, một tịnh thí địa, một ân tứ của vua Pasenadi nước Kosala. Do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Canki đến yết kiến Sa-môn Gotama; trái lại, thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiết Tôn giả Canki.

Nghe nói vậy, Bà-la-môn Canki nói với những vị Bà-la-môn ấy:

– Các Hiền giả hãy nghe ta giải thích, vì sao thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama; trái lại, thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Do điểm này thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta, trái lại, thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia, từ bỏ rất nhiều vàng bạc, bỏ cả loại đang chôn dưới đất lẫn loại trên mặt đất. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama trong tuổi thanh niên, tóc còn đen nhánh, trong tuổi trẻ đẹp của thời niên thiếu, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Hiền giả, thật vậy Sa-môn Gotama, dầu song thân không đồng ý, khóc than, nước mắt thấm ướt cả mặt, vẫn cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đẹp trai, khả ái, làm đẹp lòng mọi người với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa- môn Gotama có giới hạnh, gìn giữ giới hạnh của bậc Thánh, có thiện đức, đầy đủ thiện đức. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ, phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama là bậc Tôn sư các hàng Tôn sư của nhiều người. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đã diệt trừ tham dục, đã diệt được mọi xao động của tâm. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama chủ trương về nghiệp, chủ trương về hành động, đặt trọng tâm vào chí thiện khi thuyết pháp với chúng Bà- la-môn. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc cao quý, từ dòng họ Sát-đế-lỵ thanh tịnh. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc khá giả, đại phú, tài sản sung mãn. Này các Hiền giả, thật vậy, dân chúng băng ngàn vượt biển (băng qua nhiều địa phương, băng qua nhiều quốc độ) đến hỏi đạo Sa-môn Gotama. Này các Hiền giả, thật vậy, có hàng ngàn Thiên nhân đến quy y Sa-môn Gotama. Này các Hiền giả, thật vậy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn Gotama: “Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân. Này các Hiền giả, thật vậy, vua Seniya Bimbisara nước Magadha, cùng với vương tử, cung phi, thị tùng đều quy y Sa-môn Gotama.

Này các Hiền giả, thật vậy, vua Pasenadi nước Kosala, cùng với nương tử, cung phi, thị tùng đều quy y Sa-môn Gotama. Này các Hiền giả, thật vậy, Bà-la-môn Pokkharasati cùng với các con, vợ, thị giả đều quy y Sa-môn Gotama. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đã đến Opasada, nay đang ở tại Opasada về phía Bắc Opasada, trong rừng chư Thiên, rừng cây sala. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đến ruộng làng chúng ta đều là khách của chúng ta. Ðối với khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Này các Hiền giả, nay Sa-môn Gotama đã đến Opasada, hiện ở tại Opasada, về phía Bắc Opasada, trong rừng chư Thiên, rừng cây sala. Như vậy Sa-môn Gotama là khách của chúng ta. Và đã là khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Gotama đến yết kiến chúng ta, trái lại, thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Tôn giả Gotama. Này các Hiền giả, đó là những ưu điểm mà ta được biết về Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama không phải có chừng ấy ưu điểm mà thôi. Tôn giả Gotama có đến vô lượng ưu điểm.

Này các Hiền giả, chỉ với một ưu điểm thôi, thật không xứng đáng cho Tôn giả Gotama đến yết kiến chúng ta; thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Tôn giả Gotama. Vậy tất cả chúng ta hãy đi đến yết kiến Tôn giả Gotama."

Rồi Bà-la-môn Canki, cùng với đại chúng Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những người chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi và nói lên với những Bà-la-môn trưởng thượng những lời thân hữu về vấn đề này, vấn đề khác. Khi ấy có thanh niên Bà-la-môn tên Kapathika, trẻ tuổi, đầu cạo trọc, mới có mười sáu tuổi, từ khi sanh, thông hiểu ba tập Veda với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế luận và Ðại nhân tướng, thanh niên này đang ngồi giữa hội chúng ấy. Thanh niên này thỉnh thoảng cắt đứt cuộc đàm luận giữa Thế Tôn và các vị Bà-la-môn trưởng thượng. Rồi Thế Tôn khiển trách thanh niên Bà-la-môn Kapathika:

– Hiền giả Bharadvaja, chớ có cắt ngang cuộc đàm luận của các Bà-la-môn trưởng thượng. Hiền giả Bharadvaja hãy chờ cho đến khi câu chuyện chấm dứt.

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Canki bạch Thế Tôn:

– Tôn giả Gotama, chớ có khiển trách thanh niên Bà-la-môn Kapathika. Thanh niên Bà-la-môn Kapathika là Thiện nam tử. Thanh niên Bà-la-môn Kapathipa là bậc đa văn. Thanh niên Bà-la-môn Kapathika phát ngôn thiện xảo. Và thanh niên Bà-la-môn Kapathia là bậc có trí. Và thanh niên Bà-la- môn Kapathika có thể đàm luận với Tôn giả Gotama trong vấn đề này.

Thế Tôn nghĩ như sau: “Thật sự thanh niên Bà-la-môn Kapathika này đã thông hiểu ba tập Veda, và các Bà-la-môn tôn trọng người này”.

Và thanh niên Bà-la-môn Kapathika nghĩ như sau: “Khi nào Sa-môn Gotama lấy mắt nhìn con mắt ta, ta sẽ hỏi Sa-môn Gotama”.

Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết được tâm tư của thanh niên Bà-la-môn Kapathika liền lấy mắt nhìn thanh niên Bà-la-môn Kapathika. Thanh niên Bà-la-môn Kapathika suy nghĩ: “Sa-môn Gotama chăm chú nhìn ta, vậy ta hãy hỏi Sa-môn Gotama một câu hỏi”. Rồi thanh niên Bà-la-môn Kapathika bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, câu chú thuật (mantapadam) của các cổ Bà-la-môn y cứ tiếng đồn, truyền thống và Thánh tạng. Và ở đây, các vị Bà-la-môn chắc chắn đi đến kết luận: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Ở đây, Tôn giả Gotama đã nói gì?

– Nhưng này Bharadvaja, có một Bà-la-môn nào giữa các vị Bà-la-môn đã nói như sau: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này. Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”?

– Thưa không, Tôn giả Gotama.

– Nhưng này Bharadvaja, có một vị Tôn sư nào của các vị Bà-la-môn, cho đến vị Tôn sư của các vị Tôn sư trở lui cho đến bảy đời, các vị Ðại Tôn sư đã nói như sau: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”?

– Thưa không, Tôn giả Gotama.

– Nhưng này Bharadvaja, thuở xưa những vị ẩn sĩ giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú mà nay những Bà-la- môn hiện tại cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đã làm. Như là Atthaka, Vamaka, Vamadeva, Vessamitta, Yamatagggi, Angirasa, Bharadvaja, Vasettha, Kassapa, Bhagu, những vị ấy đã nói như sau: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”?

– Thưa không, Tôn giả Gotama.

– Như vậy này Bharadvaja, không có một Bà-la-môn nào nói như vậy với một Bà-la-môn: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này. Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Không có một vị Tôn sư nào của các vị Bà-la-môn, một vị Ðại Tôn sư, cho đến bảy đời, vị Ðại Tôn sư đã nói như sau: “Tôi biết việc này, tôi thấy việc này. Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Thuở xưa những vị ẩn sĩ, giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú và nay, những Bà-la-môn hiện tại cũng đã hát lên, nói lên giống như các vị trước đã làm. Như là Attaka, Vamaka, Vamadeva, Vessamitta, Yamataggi, Angirasa, Bharadvaja, Vasettha, Kassapa, Bhagu, những vị ấy không có nói như sau: “Chúng tôi biết việc này, chúng tôi thấy việc này. Chỉ có đây là sự thật, ngoài ta đều là sai lầm”. Ví như này, Bharadvaja, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy; cũng vậy, này Bharadvaja. Ta nghĩ rằng, lời nói của các Bà-la-môn cũng giống như chuỗi người mù: người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. Này Bharadvaja, Ông nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, có phải lòng tin của các vị Bà-la-môn trở thành không có căn cứ?

– Thưa Tôn giả Gotama, các Bà-la-môn không phải chỉ dựa trên lòng tin, các Bà-la-môn ở đây còn dựa trên điều nghe (tùy văn: anussava).

– Trước hết, này Bharadvaja, Ông đi đến lòng tin, nay Ông nói đến tùy văn. Này Bharadvaja, năm pháp này có hai quả báo ngay trong hiện tại. Thế nào là năm? Tín, tùy hỷ, tùy văn, cân nhắc suy tư các lý do và chấp nhận quan điểm. Này Bharadvaja, năm pháp này có hai quả báo ngay trong hiện tại. Tuy vậy, này Bharadvaja, có điều được khéo tin tưởng, có thể là trống không, trống rỗng, hư vọng. Trái lại, có điều không được khéo tin tưởng, có thể là thật, chân, không thay đổi. Lại nữa này Bharadvaja, có điều được khéo tùy hỷ… được khéo tùy văn… được khéo cân nhắc suy tư… được khéo chấp nhận có thể là trống không, trống rỗng, hư vọng. Trái lại, có điều không được khéo chấp nhận có thể là thật, chân, không thay đổi. Hộ trì chân lý, này Bharadvaja không đủ để một người có trí đi đến kết luận một chiều là: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”

– Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cho đến mức độ nào là hộ trì chân lý? Cho đến mức độ nào, chân lý được hộ trì? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama về hộ trì chân lý.

– Này Bharadvaja, nếu có người có lòng tin và nói: “Ðây là lòng tin của tôi”, người ấy hộ trì chân lý, nhưng người ấy không đi đến kết luận một chiều: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều là sai lầm”. Cho đến như vậy, này Bharadvaja, là sự hộ trì chân lý. Cho đến như vậy, chân lý được hộ trì. Và cho đến như vậy, chúng tôi chủ trương hộ trì chân lý. Nhưng ở đây, chưa phải là giác ngộ chân lý. Này Bharadvaja, nếu có người có lòng tùy hỷ, này Bharadvaja, nếu có người có lòng tùy văn; này Bharadvaja, nếu có người có sự cân nhắc suy tư các lý do; này Bharadvaja, nếu có người chấp nhận một quan điểm và nói: “Ðây là sự chấp nhận quan điểm của tôi”, người ấy hộ trì chân lý. Nhưng người ấy không đi đến kết luận một chiều: “Chỉ đây là sự thật, ngoài ra là sai lầm”. Cho đến như vậy, này Bharadvaja, là hộ trì chân lý. Cho đến như vậy, này Bharadvaja, chúng tôi chủ trương hộ trì và cho đến như vậy, này Bharadvaja, chúng tôi chủ trường hộ trì chân lý. Nhưng ở đây chưa phải sự giác ngộ chân lý.

– Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama là hộ trì chân lý. Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama, chân lý được hộ trì. Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama chúng con nhìn thấy thộ trì chân lý. Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cho đến mức độ nào là giác ngộ chân lý? Cho đến mức độ nào chân lý được giác ngộ? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama về giác ngộ chân lý?

– Ở đây, này Bharadvaja, Tỷ-kheo sống gần một làng hay một thị trấn. Một gia chủ hay con trai một gia chủ đi đến vị ấy và tìm hiểu vị ấy trong ba pháp, tức là tham pháp, sân pháp, si pháp. Người này nghĩ rằng: “Không hiểu vị Tôn giả ấy có tham ái hay không, do những tham ái này, tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy,” hay xui khiến người khác có những hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài”. Trong khi xem xét vị ấy, người này biết như sau: “Vị Tôn giả ấy không có những tham pháp, do những tham pháp này tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy”; hay xui khiến người khác có những hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài. Thân hành của vị ấy là như vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của một người không có lòng tham. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp nhận; pháp ấy không thể do một người có lòng tham khéo giảng”.

Sau khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch không có những tham pháp, người kia lại xem xét thêm vị ấy về các sân pháp: “Không hiểu vị Tôn giả ấy có sân pháp hay không, do những sân pháp này, tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy”, hay xui khiến người khác có những hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài”. Trong khi xem xét vị ấy, người này biết như sau: “Tôn giả ấy không có những sân pháp, do những sân pháp này, tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy”, hay xui khiến người khác có những hành động, khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài. Thân hành của vị ấy là như vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của một người không có lòng sân. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp nhận, pháp ấy không thể do một người có lòng sân khéo giảng”.

Sau khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch, không có những sân pháp, người kia lại xem xét thêm vị ấy về các si pháp: “Không hiểu tôn giả ấy có si pháp hay không, do những si pháp này, tâm của vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết, vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy vẫn nói: “Tôi thấy”, hay xui khiến người khác có hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài”. Trong khi xem xét vị ấy, người này biết như sau: "Tôn giả ấy không có những si pháp, do những si pháp này, tâm vị ấy bị chi phối đến nỗi dầu không biết, vẫn nói: “Tôi biết”, dầu không thấy, vẫn nói: “Tôi thấy”, hay xui khiến người khác có những hành động khiến người ấy không được hạnh phúc, phải đau khổ lâu dài.

Thân hành của vị ấy là như vậy, khẩu hành là như vậy, là hành động của một người không có lòng si. Còn Tôn giả ấy thuyết pháp, pháp ấy thâm sâu, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, thù thắng, vượt ngoài luận lý suông, tế nhị, được người trí chấp nhận, pháp ấy không thể do một người có lòng si khéo giảng".

Sau khi xem xét vị ấy và thấy vị ấy trong sạch, không có những si pháp, người này sanh lòng tin đối với vị ấy, với lòng tin sanh, người này đến gần, khi đến gần liền thân cận giao thiệp, do thân cận giao thiệp, nên lóng tai, lóng tai, người ấy nghe pháp, sau khi nghe, liền thọ trì pháp, rồi tìm hiểu ý nghĩa các pháp được thọ trì; trong khi tìm hiểu ý nghĩa, các pháp được hoan hỷ chấp nhận; khi các pháp được hoan hỷ chấp nhận, ước muốn sanh, khi ước muốn sanh, liền cố gắng, sau khi cố gắng liền cân nhắc, sau khi cân nhắc, người ấy tinh cần. Trong khi tinh cần, người ấy tự thân chứng ngộ tối thượng chân lý, và khi thể nhập chân lý ấy với trí tuệ, người ấy thấy. Cho đến mức độ này, này Bharadvaja là sự giác ngộ chân lý, cho đến mức độ này, chân lý được giác ngộ, và cho đến mức độ này, chúng tôi chủ trương sự giác ngộ chân lý, nhưng như vậy chưa phải là chứng đạt chân lý.

– Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama, là giác ngộ chân lý, cho đến như vậy, chân lý được giác ngộ, và cho đến như vậy chúng con thấy giác ngộ chân lý. Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cho đến mức độ nào là chứng đạt được chân lý, cho đến mức độ nào chân lý được chứng đạt. Chúng con hỏi Tôn giả Gotama về sự chúng đạt chân lý.

– Này Bharadvaja, chính nhờ luyện tập, tu tập và hành tập nhiều lần, chân lý mới được chứng đạt. Cho đến như vậy, này Bharadvaja, là chứng đạt chân lý, cho đến như vậy, chân lý được chứng đạt, cho đến như vậy, chúng tôi chủ trương sự chứng đạt chân lý.

– Cho đến như vậy, thưa Tôn giả Gotama, là chứng đạt chân lý, cho đến như vậy chân lý được chứng đạt, và cho đến như vậy, chúng con thấy chứng đạt chân lý. Nhưng trong sự chứng đạt chân lý, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự chứng đạt chân lý, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự chứng đạt chân lý, này Bharadvaja tinh cần được hành trì nhiều. Nếu không tinh cần (theo đuổi) chân lý thì không thể chứng đạt chân lý. Nhưng nếu tinh cần thì chứng đạt được chân lý. Do vậy, trong sự chứng đạt chân lý, tinh cần được hành trì nhiều.

– Trong sự tinh cần, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự tinh cần, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự tinh cần, này Bharadvaja, sự cân nhắc được hành trì nhiều. Nếu không cân nhắc thì không thể tinh cần (theo đuổi) chân lý. Nếu có cân nhắc sẽ được tinh cần; do vậy, trong sự tinh cần, cân nhắc được hành trì nhiều.

– Trong sự cân nhắc, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự cân nhắc, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự cân nhắc, này Bharadvaja, cố gắng được hành trì nhiều. Nếu không cố gắng thì không thể cân nhắc. Nhưng nếu có cố gắng thì có cân nhắc; do vậy trong sự cân nhắc, thì cố gắng được hành trì nhiều.

– Trong sự cố gắng, Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự cố gắng, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự cố gắng này Bharadvaja, ước muốn được hành trình nhiều. Nếu ước muốn đối với chân lý ấy

không khởi lên thì không có cố gắng. Vì ước muốn có khởi lên nên có cố gắng, do vậy, trong sự cố gắng, ước muốn được hành trì nhiều.

– Trong ước muốn, thưa Tôn giả Gotama pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con muốn hỏi Tôn giả Gotama, trong ước muốn, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong ước muốn, này Bharadvaja, hoan hỷ chấp nhận pháp được hành trì nhiều. Nếu không hoan hỷ chấp nhận pháp thì ước muốn không khởi lên. Vì có hoan hỷ chấp nhận pháp nên ước muốn khởi lên; do vậy, trong ước muốn, hoan hỷ chấp nhận pháp được hành trì nhiều.

– Nhưng trong sự hoan hỷ chấp nhận pháp, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự hoan hỷ chấp nhận pháp, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự hoan hỷ chấp nhận pháp, này Bharadvaja, tìm hiểu ý nghĩa được hành trì nhiều. Nếu không tìm hiểu ý nghĩa thì không hoan hỷ chấp nhận pháp. Và vì có tìm hiểu ý nghĩa nên có sự chấp nhận pháp; do vậy, trong sự hoan hỷ chấp nhận pháp, tìm hiểu ý nghĩa được hành trì nhiều.

– Nhưng trong sự tìm hiểu ý nghĩa, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự tìm hiểu ý nghĩa, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự tìm hiểu ý nghĩa, này Bharadvaja, thọ trì pháp được hành trì nhiều. Nếu không có thọ trì pháp thì không tìm hiểu ý nghĩa. Và vì có thọ trì pháp, nên có tìm hiểu ý nghĩa; do vậy, trong sự tìm hiểu ý nghĩa, thọ trì pháp được hành trì nhiều.

– Trong sự thọ trì pháp, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Trong sự thọ trì pháp, chúng con hỏi Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự thọ trì pháp, này Bharadvaja, nghe pháp được hành trì nhiều. Nếu không nghe pháp thì không có thọ trì pháp. Và do có nghe pháp nên có thọ trì pháp; do vậy, trong sự thọ trì pháp, nghe pháp được hành trì nhiều.

– Trong sự nghe pháp, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự nghe pháp, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự nghe pháp, này Bharadvaja, lóng tai được hành trì nhiều. Nếu không có lóng tai thì không có nghe pháp. Và vì có lóng tai nên có nghe pháp; do vậy, trong sự nghe pháp, lóng tai được hành trì nhiều.

– Trong sự lóng tai, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự lóng tai, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự lóng tai, này Bharadvaja, thân cận giao thiệp được hành trì nhiều. Nếu không có thân cận giao thiệp thì không có lóng tai. Vì có thân cận giao thiệp nên có lóng tai; do vậy, trong sự lóng tai, thân cận giao thiệp được hành trì nhiều.

– Trong sự thân cận giao thiệp, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự thân cận giao thiệp, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự thân cận giao thiệp, này Bharadvaja, đi đến gần được hành trì nhiều. Nếu không đi đến gần thì không có thân cận giao thiệp. Và vì có đi đến gần nên có thân cận giao thiệp; do vậy, trong sự thân cận giao thiệp, đi đến gần được hành trì nhiều.

– Trong sự đi đến gần, thưa Tôn giả Gotama, pháp nào được hành trì nhiều? Chúng con hỏi Tôn giả Gotama, trong sự đi đến gần, pháp nào được hành trì nhiều.

– Trong sự đi đến gần, này Bharadvaja, lòng tin được hành trì nhiều. Nếu lòng tin không sanh thì không đi đến gần. Và vì lòng tin không sanh nên có đi đến gần; do vậy, trong sự đi đến gần, lòng tin được hành trì nhiều.

– Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về hộ trì chân lý. Tôn giả Gotama đã trả lời về hộ trì chân lý. Chúng con tùy hỷ và chấp nhận, và do vậy, chúng con hoan hỷ. Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về giác ngộ chân lý. Tôn giả Gotama đã trả lời về giác ngộ chân lý. Chúng con đã tùy hỷ và chấp nhận; do vậy, chúng con hoan hỷ. Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về chứng đạt chân lý. Tôn giả Gotama đã trả lời về chứng đạt chân lý. Chúng con tùy hỷ và chấp nhận; do vậy, chúng con hoan hỷ. Trong sự chứng đạt chân lý, chúng con hỏi Tôn giả Gotama về pháp nào được hành trì nhiều. Trong sự chứng đạt chân lý, Tôn giả Gotama đã trả lời pháp nào được hành trì nhiều. Chúng con tùy hỷ và chấp nhận; do vậy, chúng con hoan hỷ. Chúng con đã hỏi Tôn giả Gotama về bất cứ điều gì, Tôn giả Gotama đã trả lời các điều ấy. Chúng con tùy hỷ và chấp nhận; do vậy, chúng con hoan hỷ. Thưa Tôn giả Gotama, xưa kia chúng con biết (sự phân biệt) như sau: “Và ai là những Sa-môn trọc đầu, tiện nô, hắc nô, sanh từ gót chân của Phạm thiên, và ai là những người hiểu biết Chánh Pháp”. Thật sự Tôn giả Gotama đã làm sống dậy nơi con lòng ái kính Sa-môn đối với các Sa-môn, lòng tin kính Sa-môn đối với các Sa-môn.

Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Nhà sư Phật giáo Theravada đã thọ giới cụ túc, sống đời sống xuất gia.
  • niềm tin / saddhā / faith: Sự tin tưởng, tín nhiệm vào Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng) hoặc vào một người thầy, dựa trên sự hiểu biết ban đầu hoặc kinh nghiệm cá nhân, là bước đầu tiên quan trọng trên con đường tu tập.
  • sự tán thành / ruci / approval: Sự ưa thích, chấp thuận một ý kiến, quan điểm hay lời dạy nào đó, thường dựa trên cảm tính hoặc sự phù hợp với niềm tin sẵn có.
  • truyền khẩu / anussava / oral tradition: Sự truyền đạt kiến thức, kinh điển hay niềm tin qua lời nói từ thế hệ này sang thế hệ khác, dựa trên việc nghe đi nghe lại.
  • suy lý / takka-pariyāhataṃ / reasoned cogitation: Sự cân nhắc, xem xét dựa trên lập luận logic, suy diễn, phân tích lý trí.
  • chấp nhận quan điểm sau khi suy ngẫm / diṭṭhi-nijjhāna-kkhanti / reflective acceptance of a view: Sự chấp nhận một quan điểm, một lời dạy sau khi đã kiên nhẫn quán chiếu, suy xét kỹ lưỡng về ý nghĩa và sự thật của nó.
  • bảo vệ sự thật / sacca-anurakkhaṇā / preservation of truth: Hành động gìn giữ, bảo tồn sự thật bằng cách trung thực về cơ sở niềm tin của mình (ví dụ: “Tôi tin như vậy”, “Tôi nghe nói như vậy”), mà không vội vàng khẳng định đó là chân lý tuyệt đối duy nhất.
  • khám phá sự thật / sacca-anubodha / discovery of truth: Quá trình tự mình nhận ra, giác ngộ, chứng nghiệm sự thật thông qua thực hành, bắt đầu từ việc tìm hiểu, quán xét và phát triển trí tuệ.
  • lắng tai nghe / sotaṃ odahati / giving ear: Hành động chú tâm, hướng tai về phía người nói hoặc lời dạy để nghe một cách cẩn thận, không xao lãng. Đây là một bước quan trọng để tiếp thu Pháp.
  • nhiệt tâm / chanda / zeal: Lòng mong muốn mạnh mẽ, ý muốn hành động, sự hăng hái, nỗ lực hướng đến mục tiêu (trong ngữ cảnh này là mục tiêu tu tập, khám phá sự thật).
  • quyết tâm / ussahati / application of the will: Sự cố gắng, nỗ lực của ý chí để thực hiện một hành động, đặc biệt là trong việc tu tập và vượt qua khó khăn.
  • thẩm xét / tuleti, vīmaṃsati / scrutiny: Sự cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng, đánh giá một cách cẩn trọng (trong ngữ cảnh này là thẩm xét các pháp, lời dạy hoặc tiến trình tu tập).
  • tinh tấn / padahati / striving: Sự nỗ lực không ngừng, gắng sức, chuyên cần trong việc thực hành Pháp, loại bỏ điều ác, phát triển điều thiện.
  • thân chứng sự thật tối hậu / kāyena ca paramasaccaṃ sacchikaroti / realises with the body the ultimate truth: Tự mình trải nghiệm, chứng ngộ sự thật cao nhất (Niết Bàn) một cách trực tiếp thông qua toàn bộ thân tâm, không chỉ qua lý thuyết hay suy luận.
  • thấy rõ bằng trí tuệ / paññāya ca ativijjha passati / sees it by penetrating it with wisdom: Dùng trí tuệ (paññā) để thâm nhập, xuyên thủng và thấy rõ bản chất của sự thật, của các pháp.
  • đạt đến sự thật / sacca-anuppatti / final arrival at truth: Sự thành tựu cuối cùng, sự chứng đắc hoàn toàn sự thật (Niết Bàn) thông qua việc thực hành, phát triển và tu tập liên tục con đường đã được khám phá.