Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 105. Kinh Gửi Sunakkhatta

(Sunakkhatta Sutta)

[252] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Vesālī, trong Đại Lâm (khu rừng lớn), tại Trùng Các Giảng Đường (ngôi nhà có mái nhọn).

2. Bấy giờ, có một số vị tỳ kheo (bhikkhus - các nhà sư đã thọ giới cụ túc) đã tuyên bố đạt thắng trí (final knowledge - trí tuệ cuối cùng, sự hiểu biết hoàn hảo dẫn đến giải thoát, thường chỉ quả vị A-la-hán) trước mặt Đức Thế Tôn rằng: “Chúng con hiểu rằng: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh (holy life - đời sống thanh tịnh, tu tập theo giới luật và giáo pháp) đã thành, những gì cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái tồn tại nào nữa.”

3. Sunakkhatta, người con trai của dòng Licchavi, [^995] nghe được rằng: “Hình như có một số vị tỳ kheo đã tuyên bố đạt thắng trí trước mặt Đức Thế Tôn rằng: ‘Chúng con hiểu rằng: Sinh đã tận… không còn trở lại trạng thái tồn tại nào nữa.’” Bấy giờ, Sunakkhatta, người con trai của dòng Licchavi, đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch Đức Thế Tôn:

4. “Bạch Thế Tôn, con nghe rằng có một số vị tỳ kheo đã tuyên bố đạt thắng trí trước mặt Đức Thế Tôn. Liệu họ tuyên bố như vậy có đúng sự thật không, hay ở đây có những vị tỳ kheo tuyên bố đạt thắng trí vì họ tự đánh giá quá cao về mình?”

5. “Này Sunakkhatta, khi các vị tỳ kheo ấy tuyên bố đạt thắng trí trước mặt Ta, có những vị đã tuyên bố đúng sự thật và cũng có những vị tuyên bố vì tự đánh giá quá cao về mình. [^996] Trong đó, khi các vị tỳ kheo tuyên bố đạt thắng trí đúng sự thật, lời tuyên bố của họ là chân thật. Nhưng khi các vị tỳ kheo tuyên bố đạt thắng trí vì tự đánh giá quá cao về mình, Như Lai (Tathāgata - bậc đã đến như vậy/đi như vậy, một danh hiệu của Đức Phật) nghĩ rằng: ‘Ta sẽ dạy Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý) cho họ.’ [^997] Này Sunakkhatta, trong trường hợp này, Như Lai nghĩ: ‘Ta sẽ dạy Pháp cho họ.’ Nhưng có một số kẻ si mê ở đây lại soạn sẵn câu hỏi, đến gặp Như Lai và hỏi. Trong trường hợp đó, này Sunakkhatta, [253] dù Như Lai đã nghĩ: ‘Ta sẽ dạy Pháp cho họ,’ Ngài lại thay đổi ý định.” [^998]

6. “Bạch Đức Thế Tôn, đây là thời điểm thích hợp, bạch Đấng Thiện Thệ, đây là thời điểm thích hợp để Đức Thế Tôn giảng dạy Pháp. Sau khi nghe Pháp từ Đức Thế Tôn, các vị tỳ kheo sẽ ghi nhớ.”

“Vậy thì, này Sunakkhatta, hãy lắng nghe và chú tâm vào những gì Ta sắp nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Sunakkhatta, người con trai của dòng Licchavi, đáp lời Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này:

7. "Này Sunakkhatta, có năm sợi dây dục lạc giác quan (five cords of sensual pleasure - năm loại đối tượng giác quan hấp dẫn gây tham ái: hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, vật xúc chạm) này. Năm loại đó là gì? Các hình sắc được nhận biết qua mắt mà người ta mong muốn, khao khát, ưa thích, dễ chịu, liên hệ đến dục vọng và khêu gợi lòng tham ái. Các âm thanh được nhận biết qua tai… Các mùi hương được nhận biết qua mũi… Các vị nếm được nhận biết qua lưỡi… Các vật xúc chạm được nhận biết qua thân mà người ta mong muốn, khao khát, ưa thích, dễ chịu, liên hệ đến dục vọng và khêu gợi lòng tham ái. Đó là năm sợi dây dục lạc giác quan.

8. "Này Sunakkhatta, có thể có người ở đây chuyên tâm vào những thứ vật chất thế gian (worldly material things - các đối tượng vật chất thuộc về đời sống thông thường, đối lập với các mục tiêu tâm linh). [^999] Khi một người chuyên tâm vào những thứ vật chất thế gian, người ấy chỉ hứng thú với những cuộc nói chuyện liên quan đến chúng, suy nghĩ và tư duy của người ấy cũng theo hướng đó, người ấy giao du với hạng người như vậy, và tìm thấy sự hài lòng nơi họ. Nhưng khi có cuộc nói chuyện về trạng thái bất động (imperturbable - cảnh giới thiền định không bị dao động, ở đây chỉ các tầng thiền Vô Sắc giới thứ nhất đến thứ ba) diễn ra, người ấy sẽ không muốn nghe, không lắng tai, không dụng tâm để hiểu. Người ấy không giao du với hạng người đó, và không tìm thấy sự hài lòng nơi họ.

9. “Ví như, này Sunakkhatta, có một người đã rời xa làng hay thị trấn của mình từ lâu, và người ấy gặp một người khác vừa mới rời khỏi làng hay thị trấn đó. Người ấy sẽ hỏi người kia xem dân chúng ở làng hay thị trấn đó có được an ổn, thịnh vượng và khỏe mạnh không, và người kia sẽ cho người ấy biết dân chúng ở đó có được an ổn, thịnh vượng, [254] và khỏe mạnh hay không. Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ sao? Người đầu tiên đó có lắng nghe người kia, có lắng tai và dụng tâm để hiểu không?” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” - "Cũng vậy, này Sunakkhatta, có thể có người ở đây chuyên tâm vào những thứ vật chất thế gian. Khi một người chuyên tâm vào những thứ vật chất thế gian… và không tìm thấy sự hài lòng nơi họ. Người ấy nên được hiểu là người chuyên tâm vào những thứ vật chất thế gian.

10. "Này Sunakkhatta, có thể có người ở đây chuyên tâm vào trạng thái bất động. [^1000] Khi một người chuyên tâm vào trạng thái bất động, người ấy chỉ hứng thú với những cuộc nói chuyện liên quan đến nó, suy nghĩ và tư duy của người ấy cũng theo hướng đó, người ấy giao du với hạng người như vậy, và tìm thấy sự hài lòng nơi họ. Nhưng khi có cuộc nói chuyện về những thứ vật chất thế gian diễn ra, người ấy sẽ không muốn nghe, không lắng tai, không dụng tâm để hiểu. Người ấy không giao du với hạng người đó, và không tìm thấy sự hài lòng nơi họ.

11. "Ví như chiếc lá vàng đã rụng khỏi cành thì không thể nào xanh trở lại, cũng vậy, này Sunakkhatta, khi một người chuyên tâm vào trạng thái bất động, người ấy đã rũ bỏ kiết sử (fetter - những ràng buộc trói buộc chúng sinh vào vòng luân hồi) về vật chất thế gian. Người ấy nên được hiểu là người không còn bị trói buộc bởi kiết sử về vật chất thế gian, là người chuyên tâm vào trạng thái bất động.

12. "Này Sunakkhatta, có thể có người ở đây chuyên tâm vào Vô Sở Hữu Xứ (base of nothingness - tầng thiền Vô Sắc thứ ba, nơi tâm trú vào sự không có gì). Khi một người chuyên tâm vào Vô Sở Hữu Xứ, người ấy chỉ hứng thú với những cuộc nói chuyện liên quan đến nó, suy nghĩ và tư duy của người ấy cũng theo hướng đó, người ấy giao du với hạng người như vậy, và tìm thấy sự hài lòng nơi họ. [255] Nhưng khi có cuộc nói chuyện về trạng thái bất động diễn ra, người ấy sẽ không muốn nghe, không lắng tai, không dụng tâm để hiểu. Người ấy không giao du với hạng người đó, và không tìm thấy sự hài lòng nơi họ.

13. "Ví như tảng đá dày đã vỡ làm đôi thì không thể nào gắn liền lại được, cũng vậy, này Sunakkhatta, khi một người chuyên tâm vào Vô Sở Hữu Xứ, kiết sử về trạng thái bất động của người ấy đã bị phá vỡ. Người ấy nên được hiểu là người không còn bị trói buộc bởi kiết sử về trạng thái bất động, là người chuyên tâm vào Vô Sở Hữu Xứ.

14. "Này Sunakkhatta, có thể có người ở đây chuyên tâm vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (base of neither-perception-nor-non-perception - tầng thiền Vô Sắc cao nhất, nơi nhận thức cực kỳ vi tế, không phải có cũng không phải không). Khi một người chuyên tâm vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, người ấy chỉ hứng thú với những cuộc nói chuyện liên quan đến nó, suy nghĩ và tư duy của người ấy cũng theo hướng đó, người ấy giao du với hạng người như vậy, và tìm thấy sự hài lòng nơi họ. Nhưng khi có cuộc nói chuyện về Vô Sở Hữu Xứ diễn ra, người ấy sẽ không muốn nghe, không lắng tai, không dụng tâm để hiểu. Người ấy không giao du với hạng người đó, và không tìm thấy sự hài lòng nơi họ.

15. “Ví như một người đã ăn thức ăn ngon rồi nôn ra. Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ sao? Người đó có còn ham muốn ăn lại thức ăn đó nữa không?”

“Thưa không, bạch Thế Tôn. Tại sao vậy? Vì thức ăn đó được xem là đáng ghê tởm.”

"Cũng vậy, này Sunakkhatta, khi một người chuyên tâm vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, kiết sử về Vô Sở Hữu Xứ của người ấy đã bị loại bỏ. Người ấy nên được hiểu là người không còn bị trói buộc bởi kiết sử về Vô Sở Hữu Xứ, là người chuyên tâm vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.

16. "Này Sunakkhatta, có thể có người ở đây hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn (Nibbāna - sự chấm dứt khổ đau, trạng thái giải thoát cuối cùng). Khi một người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn, người ấy chỉ hứng thú với những cuộc nói chuyện liên quan đến nó, suy nghĩ và tư duy của người ấy cũng theo hướng đó, người ấy giao du với hạng người như vậy, và tìm thấy sự hài lòng nơi họ. Nhưng khi có cuộc nói chuyện về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ diễn ra, [256] người ấy sẽ không muốn nghe, không lắng tai, không dụng tâm để hiểu. Người ấy không giao du với hạng người đó, và không tìm thấy sự hài lòng nơi họ.

17. "Ví như cây kè bị chặt mất ngọn thì không thể nào mọc lại được nữa, cũng vậy, này Sunakkhatta, khi một người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn, kiết sử về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ của người ấy đã bị cắt đứt – cắt đứt tận gốc, làm cho như thân cây kè cụt ngọn, bị xóa bỏ để không còn phải chịu sự sinh khởi trong tương lai nữa. Người ấy nên được hiểu là người không còn bị trói buộc bởi kiết sử về Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, là người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn.

18. "Này Sunakkhatta, có thể có vị tỳ kheo ở đây nghĩ rằng: ‘Tham ái (craving - sự khao khát, ham muốn mãnh liệt, gốc rễ của khổ đau) đã được vị Sa Môn gọi là mũi tên; [^1001] chất độc của vô minh (ignorance - sự không hiểu biết về Tứ Diệu Đế, Duyên Khởi, bản chất thật của sự vật) lan tỏa bởi tham dục, sân hận. Mũi tên tham ái đó đã được nhổ ra khỏi ta; chất độc vô minh đã được loại trừ. Ta là người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn.’ Vì lầm tưởng về mình như vậy, [^1002] vị ấy có thể chạy theo những thứ không thích hợp với người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn. Vị ấy có thể dùng mắt chạy theo các hình sắc không thích hợp, dùng tai chạy theo các âm thanh không thích hợp, dùng mũi chạy theo các mùi hương không thích hợp, dùng lưỡi chạy theo các vị nếm không thích hợp, dùng thân chạy theo các vật xúc chạm không thích hợp, hoặc dùng ý chạy theo các pháp trần không thích hợp. Khi vị ấy dùng mắt chạy theo các hình sắc không thích hợp… dùng ý chạy theo các pháp trần không thích hợp, tham dục xâm chiếm tâm trí vị ấy. Với tâm trí bị tham dục xâm chiếm, vị ấy sẽ gặp phải cái chết hoặc sự đau khổ cùng cực.

19. "Ví như, này Sunakkhatta, một người bị trúng tên tẩm thuốc độc đậm đặc, bạn bè và người thân của anh ta đưa đến một bác sĩ phẫu thuật. Vị bác sĩ sẽ dùng dao rạch quanh miệng vết thương, rồi dùng dụng cụ dò tìm mũi tên, [257] rồi nhổ mũi tên ra và loại bỏ chất độc, nhưng vẫn còn sót lại dấu vết. Biết rằng vẫn còn sót lại dấu vết, [^1003] vị ấy sẽ nói: ‘Này người tốt kia, mũi tên đã được nhổ ra khỏi ông; chất độc đã được loại bỏ nhưng còn sót lại dấu vết, tuy nhiên nó không thể làm hại ông được nữa. Chỉ nên ăn thức ăn thích hợp; đừng ăn thức ăn không thích hợp kẻo vết thương có thể mưng mủ. Thỉnh thoảng hãy rửa vết thương và thỉnh thoảng hãy thoa thuốc lên miệng vết thương, để mủ và máu không che lấp miệng vết thương. Đừng đi lại ngoài gió và nắng kẻo bụi bẩn có thể làm nhiễm trùng miệng vết thương. Hãy chăm sóc vết thương của ông, này người tốt kia, và lo cho vết thương được lành.’

20. "Người đó sẽ nghĩ: ‘Mũi tên đã được nhổ ra khỏi ta; chất độc đã được loại bỏ không còn sót lại dấu vết nào, và nó không thể làm hại ta được nữa.’ Anh ta ăn thức ăn không thích hợp, và vết thương mưng mủ. Anh ta không rửa vết thương thỉnh thoảng cũng không thoa thuốc lên miệng vết thương thỉnh thoảng, và mủ cùng máu che lấp miệng vết thương. Anh ta đi lại ngoài gió và nắng, và bụi bẩn làm nhiễm trùng miệng vết thương. Anh ta không chăm sóc vết thương của mình, cũng không lo cho vết thương được lành. Khi đó, cả vì anh ta làm những điều không thích hợp và vì chất độc ghê tởm đã được loại bỏ nhưng còn sót lại dấu vết, vết thương sẽ sưng lên, và với sự sưng tấy đó, anh ta sẽ gặp phải cái chết hoặc sự đau khổ cùng cực.

21. "Cũng vậy, này Sunakkhatta, có thể có vị tỳ kheo ở đây nghĩ rằng: ‘Tham ái đã được vị Sa Môn gọi là mũi tên; chất độc của vô minh lan tỏa bởi tham dục, sân hận. Mũi tên tham ái đó đã được nhổ ra khỏi ta; [258] chất độc vô minh đã được loại trừ. Ta là người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn.’ Vì lầm tưởng về mình như vậy, vị ấy có thể chạy theo những thứ không thích hợp với người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn… (như trên)… Với tâm trí bị tham dục xâm chiếm, vị ấy sẽ gặp phải cái chết hoặc sự đau khổ cùng cực.

22. "Vì rằng, này Sunakkhatta, trong Giới Luật của bậc Thánh (Noble One - người đã đạt được một trong các giai đoạn giác ngộ), cái chết chính là khi một người từ bỏ việc tu học và hoàn tục trở về đời sống thấp kém; và sự đau khổ cùng cực là khi người ấy phạm phải một tội lỗi ô nhiễm nào đó. [^1004]

23. "Này Sunakkhatta, có thể có vị tỳ kheo ở đây nghĩ rằng: ‘Tham ái đã được vị Sa Môn gọi là mũi tên; chất độc của vô minh lan tỏa bởi tham dục, sân hận. Mũi tên tham ái đó đã được nhổ ra khỏi ta; chất độc vô minh đã được loại trừ. Ta là người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn.’ Là người thực sự hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn, vị ấy sẽ không chạy theo những thứ không thích hợp với người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn. Vị ấy sẽ không dùng mắt chạy theo các hình sắc không thích hợp, không dùng tai chạy theo các âm thanh không thích hợp, không dùng mũi chạy theo các mùi hương không thích hợp, không dùng lưỡi chạy theo các vị nếm không thích hợp, không dùng thân chạy theo các vật xúc chạm không thích hợp, hoặc không dùng ý chạy theo các pháp trần không thích hợp. Vì vị ấy không dùng mắt chạy theo các hình sắc không thích hợp… không dùng ý chạy theo các pháp trần không thích hợp, tham dục không xâm chiếm tâm trí vị ấy. [259] Vì tâm trí không bị tham dục xâm chiếm, vị ấy sẽ không gặp phải cái chết hoặc sự đau khổ cùng cực.

24. "Ví như, này Sunakkhatta, một người bị trúng tên tẩm thuốc độc đậm đặc, bạn bè và người thân của anh ta đưa đến một bác sĩ phẫu thuật. Vị bác sĩ sẽ dùng dao rạch quanh miệng vết thương, rồi dùng dụng cụ dò tìm mũi tên, rồi nhổ mũi tên ra và loại bỏ chất độc mà không còn sót lại chút dấu vết nào. Biết rằng không còn sót lại dấu vết, vị ấy sẽ nói: ‘Này người tốt kia, mũi tên đã được nhổ ra khỏi ông; chất độc đã được loại bỏ không còn sót lại chút dấu vết nào, và nó không thể làm hại ông được nữa. Chỉ nên ăn thức ăn thích hợp; đừng ăn thức ăn không thích hợp kẻo vết thương có thể mưng mủ. Thỉnh thoảng hãy rửa vết thương và thỉnh thoảng hãy thoa thuốc lên miệng vết thương, để mủ và máu không che lấp miệng vết thương. Đừng đi lại ngoài gió và nắng kẻo bụi bẩn có thể làm nhiễm trùng miệng vết thương. Hãy chăm sóc vết thương của ông, này người tốt kia, và lo cho vết thương được lành.’

25. "Người đó sẽ nghĩ: ‘Mũi tên đã được nhổ ra khỏi ta; chất độc đã được loại bỏ không còn sót lại dấu vết nào, và nó không thể làm hại ta được nữa.’ Anh ta chỉ ăn thức ăn thích hợp, và vết thương không mưng mủ. Thỉnh thoảng anh ta rửa vết thương và thỉnh thoảng thoa thuốc lên miệng vết thương, và mủ cùng máu không che lấp miệng vết thương. Anh ta không đi lại ngoài gió và nắng, và bụi bẩn không làm nhiễm trùng miệng vết thương. Anh ta chăm sóc vết thương của mình và lo cho vết thương được lành. Khi đó, cả vì anh ta làm những điều thích hợp và vì chất độc ghê tởm đã được loại bỏ không còn sót lại dấu vết, vết thương sẽ lành, và vì nó đã lành và được da bao phủ, anh ta sẽ không gặp phải cái chết hoặc sự đau khổ cùng cực.

26. "Cũng vậy, này Sunakkhatta, có thể có vị tỳ kheo ở đây nghĩ rằng: ‘Tham ái đã được vị Sa Môn gọi là mũi tên; [260] chất độc của vô minh lan tỏa bởi tham dục, sân hận. Mũi tên tham ái đó đã được nhổ ra khỏi ta; chất độc vô minh đã được loại trừ. Ta là người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn.’ Là người thực sự hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn, vị ấy sẽ không chạy theo những thứ không thích hợp với người hoàn toàn chuyên tâm hướng đến Niết Bàn… (như trên)… Vì tâm trí không bị tham dục xâm chiếm, vị ấy sẽ không gặp phải cái chết hoặc sự đau khổ cùng cực.

27. "Này Sunakkhatta, Ta đưa ra ví dụ này là để truyền đạt một ý nghĩa. Ý nghĩa ở đây là: ‘Vết thương’ là thuật ngữ chỉ sáu nội xứ (six internal bases - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). ‘Chất độc’ là thuật ngữ chỉ vô minh. ‘Mũi tên’ là thuật ngữ chỉ tham ái. ‘Dụng cụ dò tìm’ là thuật ngữ chỉ chánh niệm (mindfulness - sự tỉnh thức, nhận biết rõ ràng những gì đang xảy ra trong hiện tại). ‘Dao’ là thuật ngữ chỉ thánh trí tuệ (noble wisdom - trí tuệ siêu thế, thấy rõ bản chất thật của sự vật, dẫn đến giải thoát). ‘Bác sĩ phẫu thuật’ là thuật ngữ chỉ Như Lai, bậc A-la-hán (Accomplished One - người đã hoàn thiện tu tập, xứng đáng được cúng dường), bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (Fully Enlightened One - người đã tự mình giác ngộ hoàn toàn, như Đức Phật).

28. "Này Sunakkhatta, khi một vị tỳ kheo thực hành sự thu thúc trong sáu căn tiếp xúc, và sau khi hiểu rằng chấp thủ (attachment - sự bám víu, dính mắc vào các đối tượng, quan điểm, hoặc cái tôi, là nguyên nhân của khổ) là gốc rễ của khổ đau, [^1005] vị ấy không còn chấp thủ, được giải thoát (liberated - thoát khỏi khổ đau và vòng luân hồi) nhờ đoạn trừ chấp thủ, thì không thể nào vị ấy lại hướng thân hay khởi tâm đến bất kỳ đối tượng chấp thủ nào.

29. “Ví như, này Sunakkhatta, có một cốc nước bằng đồng có màu sắc, mùi vị thơm ngon, nhưng lại bị pha thuốc độc, và có một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc thú và ghê sợ khổ đau đến. [^1006] Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ sao, người đó có uống cốc nước ấy không, khi biết rằng: ‘Nếu ta uống cái này, ta sẽ gặp phải cái chết hoặc sự đau khổ cùng cực’?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” [261] - "Cũng vậy, khi một vị tỳ kheo thực hành sự thu thúc trong sáu căn tiếp xúc, và sau khi hiểu rằng chấp thủ là gốc rễ của khổ đau, vị ấy không còn chấp thủ, được giải thoát nhờ đoạn trừ chấp thủ, thì không thể nào vị ấy lại hướng thân hay khởi tâm đến bất kỳ đối tượng chấp thủ nào.

30. “Ví như, này Sunakkhatta, có một con rắn độc chết người, và có một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc thú và ghê sợ khổ đau đến. Này Sunakkhatta, ngươi nghĩ sao, người đó có đưa tay hay ngón tay cái của mình cho con rắn độc đó không, khi biết rằng: ‘Nếu bị nó cắn, ta sẽ gặp phải cái chết hoặc sự đau khổ cùng cực’?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - “Cũng vậy, khi một vị tỳ kheo thực hành sự thu thúc trong sáu căn tiếp xúc, và sau khi hiểu rằng chấp thủ là gốc rễ của khổ đau, vị ấy không còn chấp thủ, được giải thoát nhờ đoạn trừ chấp thủ, thì không thể nào vị ấy lại hướng thân hay khởi tâm đến bất kỳ đối tượng chấp thủ nào.”

Đức Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Sunakkhatta, người con trai của dòng Licchavi, đã hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.

105. KINH THIỆN TINH

105. KINH THIỆN TINH (Sunakkhatta Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú tại Vesali (Tỳ-xá-ly), ở Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường (Kutagarasala).

Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: “Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.

Sunakkhatta Licchaviputta (Thiện Tinh Ly-xa Tử) được nghe: “Nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: ‘Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’”. Rồi Sunakkhatta Licchaviputta đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Sunakkhatta Licchaviputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn con có được nghe như sau: “Nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: ‘Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa’”. Bạch Thế Tôn, không biết các Tỷ-kheo ấy đã tuyên bố một cách chơn chánh chứng trí giác, hay ở đây có một số Tỷ-kheo, vì tăng thượng mạn đã tuyên bố chứng trí giác?

– Này Sunakkhatta, những vị Tỷ-kheo trước mặt Ta đã tuyên bố chứng trí giác: “Chúng tôi biết rằng, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”. Ở đây, có một số Tỷ-kheo đã chơn chánh tuyên bố chứng trí giác; nhưng ở đây, cũng có một số Tỷ-kheo chính vì tăng thượng mạn, đã tuyên bố chứng trí giác. Ở đây, này Sunakkhatta, những vị Tỷ-kheo nào đã chơn chánh tuyên bố chứng trí giác, thời đối với các vị ấy, thật là đúng như vậy. Nhưng đối với các vị Tỷ-kheo nào, vì tăng thượng mạn đã tuyên bố chứng tri giác, ở đây, này Sunakkhatta, Như Lai nghĩ như sau: “Ta hãy thuyết pháp cho những vị ấy”. Và như vậy, ở đây, này Sunakkhatta, Như Lai suy nghĩ: “Ta hãy thuyết pháp cho những vị ấy”. Nhưng ở đây, nếu có một số người ngu si, bày đặt câu hỏi, đến hỏi Như Lai; ở đây, này Sunakkhatta, Như Lai suy nghĩ như sau: “Ta hãy thuyết pháp cho những người ấy”. Như Lai suy nghĩ như vậy, không có làm khác.

– Nay đã đúng thời để thuyết pháp, bạch Thế Tôn! Nay đã đúng thời để thuyết pháp, bạch Thiện Thệ! Thế Tôn thuyết pháp như thế nào, sau khi nghe Thế Tôn xong, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

– Vậy này Sunakkhatta, hãy nghe và khéo tác ý kỹ, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Sunakkhatta Licchaviputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Này Sunakkhatta, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… ; các hương do mũi nhận thức… ; các vị do lưỡi nhận thức… ; các xúc do thân cảm xúc khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Sunakkhatta, những pháp này là năm dục trưởng dưỡng.

Nhưng này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra khi ở đây có số người thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên nặng về vật chất thế gian, này Sunakkhatta, câu chuyện (thích hợp với người ấy) phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người nào người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến bất động, thời người ấy không

nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác. Và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.

Ví như này Sunakkhatta, có người đã lâu không trú ở trong làng hay thị trấn của mình, và có thể thấy một người vừa mới từ làng ấy hay thị trấn ấy lại. Người này sẽ hỏi người ấy về sự an ninh của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc và về ít bệnh tật, và người ấy sẽ nói cho người này biết về sự an ổn của làng hay thị trấn ấy, về đồ ăn uống sung túc và về ít bệnh tật. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Có phải người này sẽ nghe người kia, lóng tai, tâm an trú vào trí giác và người này sẽ giao thiệp với người ấy mà người này thích thú?

– Thưa phải vậy, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra khi ở đây có số người thiên nặng về vật chất thế gian. Ðối với người thiên nặng về vật chất thế gian, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai và tâm không an trú vào thượng trí, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú. Người ấy cần được hiểu như vầy: “Là hạng người thiên nặng về vật chất thế gian”.

Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi một số người thiên nặng về Bất động. Ðối với người thiên nặng về Bất động, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp (với người ấy) phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến vật chất thế gian, thời người ấy không nghe, không lóng tai và tâm không an trú vào thượng trí, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.

Ví như, này Sunakkhatta, một lá vàng khô đã rời khỏi cành, không còn xanh trở lại; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Bất động, đã rời khỏi kiết sử vật chất thế gian. Người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử vật chất thế gian, thiên nặng về Bất động”.

Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra. Ở đây, có một số người thiên nặng về Vô sở hữu. Ðối với người thiên nặng về Vô sở hữu, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Bất động, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.

Ví như, này Sunakkhatta, một hòn đá bị vỡ làm đôi không thể nối liền lại được; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Vô sở hữu, đã bị chặt đứt khỏi kiết sử Bất động, người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Bất động, thiên nặng về Vô sở hữu”.

Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra. Ở đây, có một số người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðối với người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Vô sở hữu xứ, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác, và người ấy không giao thiệp với người mà người ấy không thích thú.

Ví như, này Sunakkhatta, một người đã ăn các món ăn mỹ vị và đã quăng bỏ. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có ưa ăn lại món ăn ấy không?

– Bạch Thế Tôn không. Vì sao vậy? Vì rằng, bạch Thế Tôn, món ăn ấy được xem là ghê tởm rồi.

– Cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã để một bên kiết sử Vô sở hữu xứ. Người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Vô sở hữu xứ, thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ”.

Này Sunakkhatta sự tình này xảy ra, khi ở đây, có số người thiên nặng về chánh Niết-bàn. Ðối với hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, này Sunakkhatta, câu chuyện thích hợp với người ấy phải tùy thuộc như thế nào để phù hợp với điều người ấy suy tầm và suy tư, và người ấy chỉ giao thiệp với người mà người ấy thích thú. Nhưng nếu câu chuyện chỉ nói liên hệ đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thời người ấy không nghe, không lóng tai, và tâm không an trú vào trí giác. Và người ấy không giao thiệp với người mà người mà ấy không thích.

Ví như, này Sunakkhatta, cây tala ngọn cây đã bị chặt đứt không thể lớn được nữa; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, đã cắt đứt kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã cắt đứt từ rễ, làm cho như cây tala không thể tái sanh, không thể khởi lên lại trong tương lai. Người ấy cần phải được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thiên nặng về chánh Niết-bàn”.

Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi ở đây, có một số người suy nghĩ như sau: “Tham ái được vị Sa- môn gọi là mũi tên. Thuốc độc vô minh làm não hại (con người) với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt; thuốc độc vô minh đã được trừ khử; ta thiên nặng về chánh Niết-bàn”. Vị ấy có thể tự hào với mục đích hiện tại. Vị ấy có thể truy cầu những gì không thích hợp với khuynh hướng chánh Niết-bàn, mắt vị ấy có thể truy cầu sắc không thích hợp, tai có thể truy cầu tiếng không thích hợp, mũi có thể truy cầu hương không thích hợp, lưỡi có thể truy cầu vị không thích hợp, thân có thể truy cầu xúc không thích hợp, ý có thể truy cầu pháp không thích hợp. Khi mắt truy cầu sắc không thích hợp, tai truy cầu tiếng không thích hợp, mũi truy cầu hương không thích hợp, lưỡi truy cầu vị không thích hợp, thân truy cầu xúc không thích hợp, ý truy cầu pháp không thích hợp, thời tham dục nhiễu loạn tâm vị ấy. Vị ấy do tâm bị tham dục nhiễu loạn đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.

Ví như, này Sunakkhatta, một người bị mũi tên bắn, tên ấy có tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống người ấy cho mời một y sĩ giải phẫu. Vị y sĩ giải phẫu ấy có thể cắt xung quanh miệng vết thương với con dao; sau khi cắt xung quanh miệng vết thương với con dao, vị y sĩ giải phẫu có thể dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm. Sau khi dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm, y sĩ có thể rút mũi tên ra. Y sĩ có thể trừ khử hết thuốc độc, còn để lại một ít nhưng nghĩ không có thuốc độc nào còn lại, y sĩ nói như sau: “Này Hiền giả, mũi tên của Bạn đã được rút ra thuốc độc đã được trừ khử, không còn dư tàn, và không còn gì nguy hiểm nữa cho Bạn, nhưng Bạn phải chỉ ăn các đồ ăn thích hợp, và hãy gìn giữ, nếu ăn đồ ăn không thích hợp, vết thương của Bạn sẽ làm mủ lại, và thường thường phải cho rửa vết thương, thường thường phải xức thuốc cho miệng vết thương. Trong khi thường thường cho rửa vết thương, thường thường xức thuốc cho miệng vết thương, chớ có để máu cũ đóng khô trên miệng vết thương và hãy cẩn thận khi đi ra giữa gió và nắng; hãy cẩn thận khi đi ra giữa gió và nắng, nếu không, bụi và nhớp có thể nhiễu hại miệng vết thương. Và này Bạn, nếu Bạn chăm sóc vết thương, thời vết thương sẽ được lành”.

Người ấy suy nghĩ như sau: “Mũi tên đã được rút khỏi (thân) ta, nọc độc đã được trừ khử, không còn dư tàn, và ta đã thoát khỏi nguy hiểm”. Và người ấy ăn những đồ ăn không thích hợp. Vì người ấy ăn những đồ ăn không thích hợp, nên vết thương làm mủ lại. Và thường thường người ấy không rửa vết thương,

thường thường không xức thuốc miệng vết thương. Vì người ấy thường thường không rửa vết thương, vì người ấy thường thường không xức thuốc miệng vết thương, nên máu cũ đông lại trên miệng vết thương. Và người ấy thường hay đi giữa gió và nắng. Do người ấy thường hay đi giữa gió và nắng, bụi và nhớp nhiễu hại miệng vết thương; và vì người ấy không chăm sóc vết thương nên vết thương không được lành. Vì người ấy làm chính những việc không thích hợp, và do thuốc độc được trừ khử nhưng còn dư tàn, do cả hai điều ấy nên miệng vết thương có thể lở to hơn trước. Do vết thương lở to, người ấy có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.

Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự kiện này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo nghĩ như sau: “Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại (con người) với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt; thuốc độc vô minh đã được trừ khử. Ta thiên nặng về chánh Niết-bàn”. Vị ấy có thể tự hào với mục đích hiện tại. Vị ấy có thể truy cầu những gì không thích hợp với khuynh hướng chánh Niết-bàn. Mắt có thể truy cầu sắc không thích hợp, tai có thể truy cầu tiếng không thích hợp, mũi có thể truy cầu hương không thích hợp, lưỡi có thể truy cầu vị không thích hợp, thân có thể truy cầu xúc không thích hợp, ý có thể truy cầu pháp không thích hợp. Khi mắt truy cầu sắc không thích hợp, tai truy cầu tiếng không thích hợp, mũi truy cầu hương không thích hợp, lưỡi truy cầu vị không thích hợp, thân truy cầu xúc không thích hợp, ý truy cầu pháp không thích hợp. thời tham dục nhiễu loạn tâm vị ấy. Vị ấy do tham dục nhiễu loạn tâm, đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.

Như vậy, này Sunakkhatta, là chết trong giới luật của bậc Thánh, khi vị ấy từ bỏ tu tập, trở về hoàn tục, và như vậy, này Sunakkhatta, là khổ như chết, khi vị ấy phạm một ô uế tội nào.

Này Sunakkhatta, sự tình này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại (con người) với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt, thuốc độc vô minh đã được trừ khử. Ta thiên nặng về chánh Niết-bàn”. Chính vì thiên nặng về chánh Niết-bàn, vị ấy không truy cầu những gì không thích hợp với (khuynh hướng) thiên nặng về Niết-bàn, mắt không truy cầu sắc không thích hợp, tai không truy cầu tiếng không thích hợp, mũi không truy cầu hương không thích hợp, lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, thân không truy cầu xúc không thích hợp, ý không truy cầu pháp không thích hợp. Vì mắt vị ấy không truy cầu sắc không thích hợp, vì tai không truy cầu tiếng không thích hợp, vì mũi không truy cầu hương không thích hợp, vì lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, vì thân không truy cầu xúc không thích hợp, vì ý không truy cầu pháp không thích hợp, nên tham dục không nhiễu loạn tâm, vì tham dục không nhiễu loạn tâm; nên vị ấy không đi đến chết hay đi đến khổ gần như chết.

Ví như, này Sunakkhatta, một người bị tên bắn, và mũi tên bị tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè thân hữu, bà con huyết thống người ấy cho mời một y sĩ giải phẫu. Vị y sĩ giải phẫu ấy có thể cắt xung quanh miệng vết thương với con dao; sau khi cắt xung quanh miệng vết thương với con dao, vị y sĩ giải phẫu có thể dò tìm tên với một vật dụng dò tìm. Sau khi dò tìm mũi tên với một vật dụng dò tìm, y sĩ có thể rút mũi tên ra… Y sĩ có thể trừ khử hết thuốc độc không còn để dư lại và biết rằng không còn để dư lại. Vị ấy nói như sau: “Này Bạn, mũi tên của Bạn đã được rút ra, thuốc độc đã được trừ khử, không có dư tàn, nhưng vẫn còn nguy hiểm cho Bạn. Và Bạn hãy ăn những đồ ăn thích hợp, chớ ăn những đồ ăn không thích hợp khiến vết thương có thể làm mủ; và thường thường hãy rửa vết thương, thường thường hãy xức thuốc miệng vết thương, thường thường rửa vết thương, thường thường xức thuốc miệng vết thương, chớ để máu cũ đóng khô lại trên miệng vết thương. Và chớ có đi ra giữa gió và nắng; đi ra giữa gió và nắng, chớ để bụi và nhớp làm nhiễu hại miệng vết thương, hãy sống gìn giữ vết thương, này Bạn, và vết thương sẽ lành”.

Người ấy suy nghĩ như sau: “Mũi tên đã được rút ra khỏi ta, thuốc độc đã được trừ khử, không có dư tàn. Và ta chưa thoát khỏi nguy hiểm”. Và vị ấy có thể chỉ ăn các đồ ăn thích hợp. Do chỉ ăn các đồ ăn thích hợp miệng vết thương có thể không làm mủ. Và thường thường vị ấy có thể rửa vết thương, thường thường có thể xức thuốc miệng vết thương. Do thường thường rửa vết thương, do thường thường

xức thuốc miệng vết thương, máu cũ không có thể đóng khô lại trên miệng vết thương. Người ấy không sốt sắng đi giữa gió và nắng. Do người ấy không sốt sắng đi giữa gió và nắng, bụi và nhớp có thể không nhiễu hại miệng vết thương và người ấy sống gìn giữ vết thương, và vết thương được lành. Vì người ấy chỉ làm những điều thích hợp và vì thuốc độc được trừ khử không còn dư tàn, do hai (nhân duyên ấy) vết thương được khép kín lại. Khi vết thương được da che kín lại, người ấy không đi đến chết hay không đi đến khổ gần như chết.

Cũng vậy, này Sunakkhatta, sự kiện này xảy ra, khi ở đây một số Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: "Tham ái được bậc Sa-môn gọi là mũi tên, thuốc độc vô minh làm não hại (con người) với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt… không có truy cầu những gì không thích hợp. Mắt không truy cầu sắc không thích hợp, tai không truy cầu tiếng không thích hợp, mũi không truy cầu hương không thích hợp, lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, thân không truy cầu xúc không thích hợp, ý không truy cầu pháp không thích hợp. Do mắt người ấy không truy cầu sắc không thích hợp, do tai không truy cầu tiếng không thích hợp, do mũi không truy cầu hương không thích hợp, do lưỡi không truy cầu vị không thích hợp, do thân không truy cầu xúc không thích hợp, do ý không truy cầu pháp không thích hợp, tham dục có thể không nhiễu hại tâm. Do tâm không bị tham dục nhiễu hại, nên người ấy không đi đến chết, hay không đi đến khổ gần như chết.

Này Sunakkhatta, Ta nói ví dụ này với mục đích làm sáng tỏ ý nghĩa. Nghĩa ở đây như sau: Vết thương, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với sáu xúc xứ (phassayatana); thuốc độc, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với vô minh; mũi tên, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với ái; vật dụng dò tìm, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với niệm; con dao, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Vị y sĩ giải phẫu, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.

Thật vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo tự mình phòng hộ đối với sáu xúc xứ, nghĩ rằng: “Sanh y (Upadhi) là căn bản của khổ”, sau khi biết như vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Vị ấy còn chú thân của mình trên sanh y hay để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra.

Ví như, này Sunakkhatta, một chén uống nước bằng đồng, đẹp đẽ và hương thơm, và chén ấy lại tẩm thuốc độc. Rồi một người đến, muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, yếm ly khổ. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có uống chén bằng đồng này không, nếu người ấy biết: “Sau khi tôi uống từ đây, tôi sẽ đi đến chết hoặc đi đến gần như chết?”

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo ấy chắc chắn phòng hộ đối với sáu xúc xứ. “Sanh y là căn bản của đau khổ”, sau khi biết vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Còn chú thân của vị ấy trên sanh y, để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra. Ví như, này Sunakkhatta, một con rắn độc hết sức độc hại, và có một người đến, muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, yếm ly khổ. Này Sunakkhatta, Ông nghĩ thế nào? Người ấy có đưa tay hay gót chân cho con rắn độc hại này không, nếu người ấy biết: “Nếu ta bị con rắn này cắn, ta sẽ đi đến chết hay khổ gần như chết?”

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo ấy chắc chắn phòng hộ sáu xúc xứ. “Sanh y là căn bản đau khổ”, sau khi biết vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Còn chú thân của vị ấy trên sanh y, hay để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sunakkhatta Licchaviputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Nhà sư Phật giáo đã thọ giới cụ túc (upasampadā), sống đời sống xuất gia theo giới luật.
  • thắng trí / aññā / final knowledge: Trí tuệ cuối cùng, sự hiểu biết hoàn toàn về Tứ Thánh Đế, dẫn đến sự giải thoát hoàn toàn khỏi khổ đau và vòng luân hồi (đạt quả vị A-la-hán).
  • đời sống phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Đời sống thanh tịnh, cao thượng, đặc biệt là đời sống tu tập của người xuất gia nhằm mục đích giải thoát, bao gồm việc giữ giới, tu thiền và phát triển trí tuệ.
  • Như Lai / Tathāgata / Tathāgata: Một trong những danh hiệu cao quý nhất của Đức Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”, chỉ người đã đạt đến chân lý tối hậu và thể nhập thực tại như nó là.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý về bản chất của thực tại, con đường dẫn đến giải thoát khổ đau.
  • năm sợi dây dục lạc giác quan / pañca kāmaguṇā / five cords of sensual pleasure: Năm loại đối tượng của giác quan (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, vật xúc chạm) hấp dẫn, đáng mong ước, gây ra sự tham ái và trói buộc chúng sinh vào dục giới.
  • vật chất thế gian / lokāmisa / worldly material things: Những lợi ích, thú vui vật chất thuộc về đời sống thế tục, thường được xem là đối lập với các mục tiêu tâm linh cao thượng.
  • trạng thái bất động / āneñja / imperturbable: Trạng thái tâm vững chắc, không dao động, thường chỉ các tầng thiền định cao, đặc biệt là ba tầng thiền Vô Sắc giới đầu tiên (Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ).
  • Vô Sở Hữu Xứ / ākiñcaññāyatana / base of nothingness: Tầng thiền Vô Sắc thứ ba, nơi hành giả trú tâm vào trạng thái “không có gì”, vượt qua đối tượng của Thức Vô Biên Xứ.
  • Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ / nevasaññānāsaññāyatana / base of neither-perception-nor-non-perception: Tầng thiền Vô Sắc cao nhất, trạng thái tâm cực kỳ vi tế, nơi nhận thức (tưởng) không hoàn toàn hiện hữu mà cũng không hoàn toàn vắng mặt.
  • Niết Bàn / Nibbāna / Nibbāna: Mục tiêu tối hậu của Phật giáo, trạng thái chấm dứt hoàn toàn khổ đau, tham ái, sân hận và si mê, sự giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.
  • tham ái / taṇhā / craving: Sự khao khát, ham muốn mãnh liệt đối với các đối tượng dục lạc, sự tồn tại hoặc sự không tồn tại. Đây là nguyên nhân chính của khổ đau theo Tứ Thánh Đế.
  • vô minh / avijjā / ignorance: Sự không hiểu biết, si mê về bản chất thật của sự vật, đặc biệt là không hiểu về Tứ Thánh Đế, luật Duyên Khởi và Vô ngã. Vô minh là gốc rễ sâu xa nhất của vòng luân hồi.
  • kiết sử / saṃyojana / fetter: Những trói buộc tâm lý cột chặt chúng sinh vào vòng luân hồi khổ đau, gồm 10 loại như thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham dục, sân hận, v.v.
  • bậc Thánh / ariya / Noble One: Người đã đạt được một trong bốn giai đoạn giác ngộ trên con đường giải thoát (Nhập Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A-la-hán).
  • sáu nội xứ / cha ajjhattikāni āyatanāni / six internal bases: Sáu cơ quan cảm giác bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (tâm).
  • chấp thủ / upādāna / attachment: Sự bám víu, dính mắc mạnh mẽ vào các đối tượng (dục lạc, quan điểm, nghi lễ, ngã), phát sinh từ tham ái và là nguyên nhân trực tiếp của sự khổ (sanh, lão, bệnh, tử…).
  • giải thoát / vimutti / liberated: Sự thoát khỏi mọi khổ đau, phiền não và vòng luân hồi sinh tử, đạt được trạng thái tự do hoàn toàn (Niết Bàn).
  • chánh niệm / sati / mindfulness: Sự tỉnh thức, ý thức rõ ràng về những gì đang xảy ra trong thân, tâm và môi trường xung quanh ngay trong giây phút hiện tại, không phán xét.
  • thánh trí tuệ / ariyā paññā / noble wisdom: Trí tuệ siêu thế, sự hiểu biết sâu sắc và trực tiếp về bản chất thật của các pháp (vô thường, khổ, vô ngã), có khả năng đoạn trừ phiền não và dẫn đến giải thoát.
  • bậc A-la-hán / arahant / Accomplished One: Bậc Thánh đã hoàn toàn giác ngộ, đoạn trừ mọi phiền não và kiết sử, chấm dứt tái sinh, xứng đáng được tôn kính và cúng dường.
  • bậc Chánh Đẳng Chánh Giác / sammāsambuddha / Fully Enlightened One: Bậc giác ngộ hoàn toàn, tự mình tìm ra chân lý và con đường giải thoát mà không cần thầy chỉ dạy, có khả năng thuyết giảng giáo pháp độ sinh (như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni).