Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 104. Tại Sāmagāma

(Kinh Sāmagāma)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú ở xứ Sakya, tại làng Sāmagāma.

2. Bấy giờ, Ni-kiền-tử Nātaputta [^976] vừa mới qua đời tại Pāvā. Sau khi ông qua đời, các Ni-kiền-tử chia rẽ, phân thành hai phái; họ bắt đầu cãi cọ, xung đột và tranh chấp sâu sắc, dùng lời nói như dao găm đâm chém nhau: “Ông không hiểu Pháp và Luật (Dhamma and Discipline - giáo lý và giới luật) này. Tôi mới hiểu Pháp và Luật này. Làm sao ông có thể hiểu Pháp và Luật này? Cách của ông sai. Cách của tôi đúng. Tôi nhất quán. Ông không nhất quán. Điều đáng lẽ phải nói trước [244] thì ông lại nói sau. Điều đáng lẽ phải nói sau thì ông lại nói trước. Điều ông đã suy nghĩ kỹ lưỡng đã bị đảo lộn. Luận điểm của ông đã bị vạch trần. Ông đã bị bác bỏ. Hãy đi học lại cho tốt hơn, hoặc tự gỡ rối nếu có thể!” Dường như chỉ có sự tàn sát lẫn nhau giữa các đệ tử của Ni-kiền-tử Nātaputta. Và các đệ tử cư sĩ áo trắng của ông thì chán ghét, mất tinh thần và thất vọng với các đệ tử của Ni-kiền-tử Nātaputta, cũng như với Pháp và Luật được tuyên bố và giảng giải tồi tệ của ông, một giáo pháp không giải thoát (unemancipating - không dẫn đến sự giải thoát khỏi khổ đau), không dẫn đến an lạc (unconducive to peace - không mang lại sự bình yên nội tâm), được giảng bởi một người chưa hoàn toàn giác ngộ (not fully enlightened - chưa đạt được sự giác ngộ viên mãn như Phật), và nay như điện thờ đã sụp đổ, không còn nơi nương tựa (shrine broken, left without a refuge - giáo pháp mất đi nền tảng và uy tín, không còn là chỗ dựa tinh thần). [^977]

3. Khi ấy, sa-di Cunda, [^978] người đã an cư mùa mưa tại Pāvā, đi đến chỗ Tôn giả Ānanda, sau khi đảnh lễ ngài, ngồi xuống một bên và kể lại sự việc đang diễn ra.

Tôn giả Ānanda bèn nói với sa-di Cunda: “Này hiền giả Cunda, đây là tin tức nên trình lên Đức Thế Tôn. Nào, chúng ta hãy đến gặp Đức Thế Tôn và trình bày việc này.”

“Vâng, thưa Tôn giả,” sa-di Cunda đáp lời.

4. Sau đó, Tôn giả Ānanda và sa-di Cunda cùng nhau đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên, và [245] Tôn giả Ānanda bạch Đức Thế Tôn: “Bạch Đức Thế Tôn, sa-di Cunda này nói như sau: ‘Thưa Tôn giả, Ni-kiền-tử Nātaputta vừa mới qua đời. Sau khi ông qua đời, các Ni-kiền-tử chia rẽ, phân thành hai phái… và nay như điện thờ đã sụp đổ, không còn nơi nương tựa.’ Bạch Đức Thế Tôn, con đã nghĩ rằng: ‘Mong rằng không có tranh chấp nào phát sinh trong Tăng đoàn (Sangha - cộng đồng những người xuất gia theo Phật) sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt. Vì một sự tranh chấp như vậy sẽ gây tổn hại và bất hạnh cho nhiều người, gây mất mát, tổn hại và đau khổ cho chư thiên và loài người.’”

5. “Này Ānanda, ông nghĩ sao? Những điều mà Ta đã dạy cho các ông sau khi tự mình chứng ngộ - tức là, bốn nền tảng chánh niệm (four foundations of mindfulness - tứ niệm xứ: quán thân, thọ, tâm, pháp), bốn loại nỗ lực chân chính (four right kinds of striving - tứ chánh cần: tinh tấn ngăn ngừa ác pháp chưa sanh, diệt trừ ác pháp đã sanh, phát sanh thiện pháp chưa sanh, tăng trưởng thiện pháp đã sanh), bốn nền tảng năng lực tâm linh (four bases for spiritual power - tứ như ý túc: dục, tinh tấn, tâm, thẩm), năm năng lực (five faculties - ngũ căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ), năm sức mạnh (five powers - ngũ lực: tín, tấn, niệm, định, tuệ - ở mức độ mạnh hơn ngũ căn), bảy yếu tố giác ngộ (seven enlightenment factors - thất giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả), Con Đường Tám Chánh (Noble Eightfold Path - Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo): chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định) - này Ānanda, ông có thấy dù chỉ hai vị tỳ kheo (bhikkhus - nhà sư nam đã thọ giới cụ túc) có những khẳng định khác nhau về những điều này không?”

“Bạch Đức Thế Tôn, con không thấy dù chỉ hai vị tỳ kheo có những khẳng định khác nhau về những điều này. Nhưng, bạch Đức Thế Tôn, có những người sống kính trọng Đức Thế Tôn, sau khi Ngài nhập diệt, có thể gây ra tranh chấp trong Tăng đoàn về sinh kế và về Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (Pātimokkha - bộ giới luật được tụng đọc hai lần mỗi tháng bởi Tăng đoàn). [^979] Một sự tranh chấp như vậy sẽ gây tổn hại và bất hạnh cho nhiều người, gây mất mát, tổn hại và đau khổ cho chư thiên và loài người.”

"Này Ānanda, tranh chấp về sinh kế hay về Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa chỉ là chuyện nhỏ nhặt. Nhưng nếu có tranh chấp phát sinh trong Tăng đoàn về đạo lộ hay con đường (path or the way - con đường thực hành dẫn đến giác ngộ), [^980] một sự tranh chấp như vậy mới thực sự gây tổn hại và bất hạnh cho nhiều người, gây mất mát, tổn hại và đau khổ cho chư thiên và loài người.

6. "Này Ānanda, có sáu nguồn gốc tranh chấp (roots of disputes - những nguyên nhân sâu xa dẫn đến xung đột) này. [^981] Sáu điều đó là gì? Này Ānanda, ở đây, một vị tỳ kheo sân hận và thù oán. Vị tỳ kheo như vậy sống thiếu tôn kính và bất phục đối với Bậc Đạo Sư, đối với Pháp, và đối với Tăng đoàn, và vị ấy không hoàn thành việc tu học. Một vị tỳ kheo sống thiếu tôn kính và bất phục đối với Bậc Đạo Sư, đối với Pháp, và đối với Tăng đoàn, [246] và không hoàn thành việc tu học, sẽ gây ra tranh chấp trong Tăng đoàn, điều đó sẽ gây tổn hại và bất hạnh cho nhiều người, gây mất mát, tổn hại và đau khổ cho chư thiên và loài người. Này, nếu các ông thấy bất kỳ gốc rễ tranh chấp nào như vậy ở trong chính mình hay ở bên ngoài, các ông nên cố gắng từ bỏ chính gốc rễ tranh chấp xấu xa đó. Và nếu các ông không thấy bất kỳ gốc rễ tranh chấp nào như vậy ở trong chính mình hay ở bên ngoài, các ông nên thực hành sao cho gốc rễ tranh chấp xấu xa đó không bùng phát trong tương lai. Như vậy là có sự từ bỏ gốc rễ tranh chấp xấu xa đó; như vậy là có sự không bùng phát của gốc rễ tranh chấp xấu xa đó trong tương lai.

7-11. "Lại nữa, một vị tỳ kheo khinh miệt và áp đặt… ganh tị và tham lam… lừa dối và gian trá… có ước muốn xấu xa và tà kiến (wrong view - quan điểm sai lầm, không phù hợp với Chánh pháp)… chấp chặt vào quan điểm riêng, giữ chúng một cách ngoan cố, và khó từ bỏ. Vị tỳ kheo như vậy sống thiếu tôn kính và bất phục đối với Bậc Đạo Sư, đối với Pháp, và đối với Tăng đoàn, và vị ấy không hoàn thành việc tu học. Một vị tỳ kheo sống thiếu tôn kính và bất phục đối với Bậc Đạo Sư, đối với Pháp, và đối với Tăng đoàn, và không hoàn thành việc tu học, sẽ gây ra tranh chấp trong Tăng đoàn, điều đó sẽ gây tổn hại và bất hạnh cho nhiều người, gây mất mát, tổn hại và đau khổ cho chư thiên và loài người. Này, nếu các ông thấy bất kỳ gốc rễ tranh chấp nào như vậy ở trong chính mình hay ở bên ngoài, các ông nên cố gắng từ bỏ chính gốc rễ tranh chấp xấu xa đó. Và nếu các ông không thấy bất kỳ gốc rễ tranh chấp nào như vậy ở trong chính mình hay ở bên ngoài, các ông nên thực hành sao cho gốc rễ tranh chấp xấu xa đó không bùng phát trong tương lai. [247] Như vậy là có sự từ bỏ gốc rễ tranh chấp xấu xa đó; như vậy là có sự không bùng phát của gốc rễ tranh chấp xấu xa đó trong tương lai. Đó là sáu nguồn gốc tranh chấp.

12. "Này Ānanda, có bốn loại tranh tụng (litigation - các vụ việc cần giải quyết theo luật trong Tăng đoàn) này. Bốn loại đó là gì? Tranh tụng do tranh cãi (về Pháp, Luật), tranh tụng do cáo buộc (về giới hạnh), tranh tụng do phạm lỗi, và tranh tụng liên quan đến thủ tục (của Tăng đoàn). Đó là bốn loại tranh tụng. [^982]

13. "Này Ānanda, có bảy cách giải quyết tranh tụng (settlement of litigation - các phương pháp dàn xếp, hòa giải vụ việc) này. [^983] Để giải quyết và dàn xếp các vụ tranh tụng bất cứ khi nào chúng phát sinh: có thể áp dụng cách dàn xếp tranh tụng bằng cách đối chất (removal of litigation by confrontation - sammukhā-vinaya: giải quyết khi có mặt đầy đủ các bên liên quan và Tăng đoàn, dựa trên Pháp và Luật), có thể áp dụng cách dàn xếp tranh tụng dựa vào trí nhớ (removal of litigation on account of memory - sati-vinaya: áp dụng khi tỳ kheo bị cáo buộc khẳng định mình có chánh niệm và không nhớ đã phạm lỗi), có thể áp dụng cách dàn xếp tranh tụng dựa vào tình trạng mất trí trong quá khứ (removal of litigation on account of past insanity - amūḷha-vinaya: áp dụng khi tỳ kheo phạm lỗi trong lúc mất trí), thực hiện việc thừa nhận lỗi (the effecting of acknowledgement of an offence - paṭiññāta-karaṇa: giải quyết bằng cách đương sự tự thú nhận lỗi), ý kiến số đông (the opinion of the majority - yebhuyyasikā: giải quyết theo biểu quyết của đa số Tăng chúng khi không thể đạt đồng thuận), tuyên bố về hành vi xấu của ai đó (the pronouncement of bad character against someone - tassapāpiyyasikā: áp dụng cho người phạm lỗi nặng, quanh co chối tội rồi sau mới thú nhận), và phủ cỏ lên (covering over with grass - tiṇavatthāraka: phương pháp hòa giải tập thể khi cả hai bên đều có lỗi, giống như phủ cỏ lên đống rác để không ai thấy nữa).

14. "Và thế nào là dàn xếp tranh tụng bằng cách đối chất? [^984] Ở đây, các tỳ kheo đang tranh cãi: ‘Đây là Pháp,’ hay ‘Đây không phải là Pháp,’ hoặc ‘Đây là Luật,’ hay ‘Đây không phải là Luật.’ Tất cả các tỳ kheo đó nên họp lại trong sự hòa hợp. Sau đó, khi đã họp lại, đường lối của Pháp cần được đưa ra. [^985] Một khi đường lối của Pháp đã được đưa ra, vụ tranh tụng đó nên được giải quyết theo cách phù hợp với đường lối đó. Như vậy là dàn xếp tranh tụng bằng cách đối chất. Và như thế, một số vụ tranh tụng ở đây được giải quyết bằng cách dàn xếp tranh tụng bằng cách đối chất.

15. "Và thế nào là ý kiến số đông? Nếu các tỳ kheo đó không thể giải quyết vụ tranh tụng tại trú xứ đó, họ nên đến một trú xứ có số lượng tỳ kheo đông hơn. Ở đó, tất cả họ nên họp lại trong sự hòa hợp. Sau đó, khi đã họp lại, đường lối của Pháp cần được đưa ra. Một khi đường lối của Pháp đã được đưa ra, vụ tranh tụng đó nên được giải quyết theo cách phù hợp với đường lối đó. Như vậy là ý kiến số đông. Và như thế, một số vụ tranh tụng ở đây được giải quyết bằng ý kiến số đông.

16. "Và thế nào là dàn xếp tranh tụng dựa vào trí nhớ? [^986] Ở đây, một tỳ kheo khiển trách một tỳ kheo khác về một trọng tội nào đó, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ (grave offence, one involving defeat or bordering on defeat - pārājikaṃ vā pārājikasāmantam vā: Các tội nghiêm trọng nhất trong giới luật. Bất cộng trụ (pārājika) là tội khiến tỳ kheo bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Tăng đoàn. Gần như bất cộng trụ (saṅghādisesa) là tội nặng cần Tăng đoàn xử lý và thực hiện hình thức sám hối đặc biệt): [^987] ‘Thưa Tôn giả, ngài có nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ không?’ Vị kia nói: ‘Thưa các hiền giả, tôi không nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ.’ [248] Trong trường hợp này, nên tuyên bố dàn xếp tranh tụng dựa vào trí nhớ. Như vậy là dàn xếp tranh tụng dựa vào trí nhớ. Và như thế, một số vụ tranh tụng ở đây được giải quyết bằng cách dàn xếp tranh tụng dựa vào trí nhớ.

17. "Và thế nào là dàn xếp tranh tụng dựa vào tình trạng mất trí trong quá khứ? [^988] Ở đây, một tỳ kheo khiển trách một tỳ kheo khác về một trọng tội nào đó, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ: ‘Thưa Tôn giả, ngài có nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ không?’ Vị kia nói: ‘Thưa các hiền giả, tôi không nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ.’ Mặc dù vị kia phủ nhận, vị khiển trách vẫn tiếp tục hỏi: ‘Chắc chắn Tôn giả phải biết rõ nếu ngài nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ chứ?’ Vị kia nói: ‘Thưa hiền giả, tôi đã mất trí, tâm thần không ổn định, và khi tôi mất trí, tôi đã nói và làm nhiều điều không phù hợp với một vị sa-môn. Tôi không nhớ, tôi đã mất trí khi làm điều đó.’ Trong trường hợp này, nên tuyên bố dàn xếp tranh tụng dựa vào tình trạng mất trí trong quá khứ. Như vậy là dàn xếp tranh tụng dựa vào tình trạng mất trí trong quá khứ. Và như thế, một số vụ tranh tụng ở đây được giải quyết bằng cách dàn xếp tranh tụng dựa vào tình trạng mất trí trong quá khứ.

18. "Và thế nào là thực hiện việc thừa nhận lỗi? Ở đây, một vị tỳ kheo, dù bị khiển trách hay không, nhớ ra một lỗi, tiết lộ và trình bày lỗi đó. Vị ấy nên đến gặp một vị tỳ kheo trưởng lão, vắt y qua một bên vai, và đảnh lễ dưới chân vị ấy. Sau đó, ngồi xổm, chắp tay và nói: ‘Bạch Tôn giả, con đã phạm lỗi như vậy; con xin sám hối.’ Vị kia hỏi: ‘Ông có thấy (lỗi của mình) không?’ - ‘Vâng, con thấy.’ - ‘Ông sẽ thực hành sự thu thúc trong tương lai chứ?’ - ‘Con sẽ thực hành sự thu thúc trong tương lai.’ Như vậy là thực hiện việc thừa nhận lỗi. [^989] Và như thế, một số vụ tranh tụng ở đây được giải quyết bằng việc thực hiện thừa nhận lỗi. [249]

19. "Và thế nào là tuyên bố về hành vi xấu của ai đó? [^990] Ở đây, một tỳ kheo khiển trách một vị khác về một trọng tội nào đó, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ: ‘Thưa Tôn giả, ngài có nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ không?’ Vị kia nói: ‘Thưa các hiền giả, tôi không nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ.’ Mặc dù vị kia phủ nhận, vị khiển trách vẫn tiếp tục hỏi: ‘Chắc chắn Tôn giả phải biết rõ nếu ngài nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ chứ?’ Vị kia nói: ‘Thưa các hiền giả, tôi không nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ. Nhưng, thưa các hiền giả, tôi nhớ đã phạm một lỗi nhỏ như vậy.’ Mặc dù vị kia phủ nhận, vị khiển trách vẫn tiếp tục hỏi: ‘Chắc chắn Tôn giả phải biết rõ nếu ngài nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ chứ?’ Vị kia nói: ‘Thưa các hiền giả, khi không được hỏi, tôi còn thừa nhận đã phạm lỗi nhỏ này; vậy thì khi được hỏi, tại sao tôi lại không thừa nhận đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ?’ Vị khiển trách nói: ‘Thưa hiền giả, nếu ông không được hỏi, ông đã không thừa nhận phạm lỗi nhỏ này; vậy thì tại sao, khi được hỏi, ông lại thừa nhận đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ? Chắc chắn Tôn giả phải biết rõ nếu ngài nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ chứ?’ Vị kia nói: ‘Thưa các hiền giả, tôi nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ. Tôi đã vội vàng, tôi đã bối rối, khi tôi nói rằng tôi không nhớ đã phạm một trọng tội như vậy, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ.’ Như vậy là tuyên bố về hành vi xấu của ai đó. Và như thế, một số vụ tranh tụng ở đây được giải quyết bằng việc tuyên bố về hành vi xấu của ai đó. [250]

20. "Và thế nào là phủ cỏ lên? [^991] Ở đây, khi các tỳ kheo đã cãi cọ, xung đột và tranh chấp sâu sắc, họ có thể đã nói và làm nhiều điều không phù hợp với một vị sa-môn. Tất cả các tỳ kheo đó nên họp lại trong sự hòa hợp. Khi họ đã họp lại, một vị tỳ kheo có trí tuệ trong số các tỳ kheo thuộc một phe nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt y qua một bên vai, chắp tay và tác bạch Tăng sự như sau: ‘Kính bạch chư Tôn đức Tăng, xin Tăng đoàn lắng nghe. Khi chúng con đã cãi cọ, xung đột và tranh chấp sâu sắc, chúng con đã nói và làm nhiều điều không phù hợp với một vị sa-môn. Nếu được Tăng đoàn chấp thuận, thì vì lợi ích của các vị tôn giả này và vì lợi ích của chính con, giữa Tăng đoàn, con xin sám hối, bằng phương pháp phủ cỏ lên, bất kỳ lỗi nào của các vị tôn giả này và bất kỳ lỗi nào của chính con, ngoại trừ những lỗi đáng bị khiển trách nặng và những lỗi liên quan đến cư sĩ.’ [^992]

"Sau đó, một vị tỳ kheo có trí tuệ trong số các tỳ kheo thuộc phe kia nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt y qua một bên vai, chắp tay và tác bạch Tăng sự như sau: ‘Kính bạch chư Tôn đức Tăng, xin Tăng đoàn lắng nghe. Khi chúng con đã cãi cọ, xung đột và tranh chấp sâu sắc, chúng con đã nói và làm nhiều điều không phù hợp với một vị sa-môn. Nếu được Tăng đoàn chấp thuận, thì vì lợi ích của các vị tôn giả này và vì lợi ích của chính con, giữa Tăng đoàn, con xin sám hối, bằng phương pháp phủ cỏ lên, bất kỳ lỗi nào của các vị tôn giả này và bất kỳ lỗi nào của chính con, ngoại trừ những lỗi đáng bị khiển trách nặng và những lỗi liên quan đến cư sĩ.’ Như vậy là phủ cỏ lên. Và như thế, một số vụ tranh tụng ở đây được giải quyết bằng phương pháp phủ cỏ lên.

21. "Này Ānanda, có sáu pháp đáng nhớ (six memorable qualities - sāraṇīya dhamma: những phẩm chất giúp sống hòa hợp, đáng được ghi nhớ) này tạo ra tình thương và sự kính trọng, và đưa đến sự giúp đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và đoàn kết. [^993] Sáu pháp đó là gì?

"Ở đây, một vị tỳ kheo duy trì những hành động thân thể đầy từ ái cả khi công khai lẫn lúc riêng tư đối với các bạn đồng tu (companions in the holy life - những người cùng thực hành đời sống phạm hạnh) của mình. Đây là một pháp đáng nhớ tạo ra tình thương và sự kính trọng, và đưa đến sự giúp đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và đoàn kết.

"Lại nữa, một vị tỳ kheo duy trì những hành động lời nói đầy từ ái cả khi công khai lẫn lúc riêng tư đối với các bạn đồng tu của mình. Đây là một pháp đáng nhớ tạo ra tình thương và sự kính trọng, và đưa đến… sự đoàn kết.

"Lại nữa, một vị tỳ kheo duy trì những hành động ý nghĩ đầy từ ái cả khi công khai lẫn lúc riêng tư đối với các bạn đồng tu của mình. Đây là một pháp đáng nhớ tạo ra tình thương [251] và sự kính trọng, và đưa đến… sự đoàn kết.

"Lại nữa, một vị tỳ kheo cùng hưởng chung vật dụng với các bạn đồng tu có giới đức của mình; không giữ lại cho riêng mình, vị ấy chia sẻ với họ mọi lợi lộc phù hợp với Pháp và có được một cách đúng Pháp, ngay cả những gì trong bình bát của mình. Đây là một pháp đáng nhớ tạo ra tình thương và sự kính trọng, và đưa đến… sự đoàn kết.

"Lại nữa, một vị tỳ kheo sống cả khi công khai lẫn lúc riêng tư, cùng nhau sở hữu với các bạn đồng tu của mình những giới đức không bị phá vỡ, không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, có tính giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị hiểu sai, và dẫn đến thiền định (concentration - sự tập trung tâm ý, samādhi). Đây cũng là một pháp đáng nhớ tạo ra tình thương và sự kính trọng và đưa đến… sự đoàn kết.

"Lại nữa, một vị tỳ kheo sống cả khi công khai lẫn lúc riêng tư, cùng nhau sở hữu với các bạn đồng tu của mình quan điểm cao thượng và giải thoát (noble and emancipating view - chánh kiến giúp thoát khỏi khổ đau), dẫn dắt người thực hành theo đó đến sự đoạn tận khổ đau hoàn toàn (complete destruction of suffering - sự chấm dứt hoàn toàn mọi khổ đau, mục tiêu cuối cùng của Phật giáo). Đây cũng là một pháp đáng nhớ tạo ra tình thương và sự kính trọng, và đưa đến sự giúp đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và đoàn kết. "Đó là sáu pháp đáng nhớ tạo ra tình thương và sự kính trọng, và đưa đến sự giúp đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và đoàn kết.

22. “Này Ānanda, nếu ông thực hành và duy trì sáu pháp đáng nhớ này, ông có thấy bất kỳ lời nói nào, dù nhỏ nhặt hay thô thiển, mà ông không thể kham nhẫn không?”[^994] - “Bạch Đức Thế Tôn, không ạ.” “Vậy thì, này Ānanda, hãy thực hành và duy trì sáu pháp đáng nhớ này. Điều đó sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho ông.”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã nói. Tôn giả Ānanda hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.

104. KINH LÀNG SAMA

104. KINH LÀNG SAMA (Sàmagàma Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở giữa các vị Sakka (Thích Ca), tại Samagama (Xá-di thôn).

Lúc bấy giờ, Nigantha Nataputta vừa mới tạ thế ở Pava. Sau khi vị này tạ thế, các vị Nigantha chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí miệng lưỡi. “Ông không biết Pháp và Luật này, ta biết Pháp Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp Luật này? Ông theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói ta tương ưng, lời nói Ông không tương ưng. Ðiều đáng nói trước Ông nói sau; điều đáng nói sau, Ông nói trước. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Ông đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được!” Hình như các đệ tử của Nigantha Nataputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigantha Nataputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các Nigantha, vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.

Rồi Sa-di Cunda, sau khi an cư mùa mưa ở Pava, đến thăm Tôn giả Ananda ở Samagama, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Sa-di Cunda bạch Tôn giả Ananda:

– Bạch Tôn giả, Nigantha Nataputtta đã từ trần ở Pava. Sau khi vị này tạ thế, các Nigantha chia ra làm hai phái… tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ananda nói với Sa di Cunda:

– Này Hiền giả Cunda, đây vấn đề đáng đưa ra để yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi yết kiến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy trình bày vấn đề này để Thế Tôn biết.

– Thưa vâng, Tôn giả .

Sa di Cunda vâng lời Tôn giả Ananda. Rồi Tôn giả Ananda cùng với Sa di Cunda đi đến yết kiến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Sa di Cunda có nói: “Nigantha Nataputta đã từ trần ở Pava. Sau khi vị này từ trần, các vị Nigantha chia ra làm hai phái… tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ”. Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: “Sau khi Thế Tôn nhập diệt, chớ để cho tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng. Tranh luận ấy đưa đến sự bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài người”.

– Này Ananda, Ông nghĩ thế nào? Những pháp Ta dạy cho các Ông với thượng trí, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành. Ông có thấy chăng, này Ananda, có hai Tỷ-kheo đối với những pháp này tuyên bố sai khác nhau?

– Bạch Thế Tôn, những pháp Thế Tôn dạy cho con với thượng trí, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành, con không thấy cho đến hai Tỷ-kheo đối với những pháp này tuyên bố sai khác nhau. Bạch Thế Tôn, và những người nào sống y cứ

sùng kính Thế Tôn, những người ấy sau khi Thế Tôn nhập diệt, có thể khởi lên những tranh luận giữa tăng chúng, hoặc về Tăng thượng hoạt mạng, hoặc về Tăng thượng (Patimokkha - Giới bổn). Tranh luận ấy đem đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người.

– Là nhỏ nhặt này Ananda, là sự tranh luận ấy, tức là (tranh luận) về Tăng thượng hoạt mạng hay Tăng thượng giới bổn. Này Ananda, sự tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng về con đường (magga) hay về đường hướng tu hành (patipada), sự tranh luận ấy mới đưa đến bất an cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người.

Này Ananda, có sáu căn bản tranh chấp này. Thế nào là sáu? Ở đây, Tỷ-kheo phẫn nộ, sân hận. Này Ananda, vị Tỷ-kheo nào phẩn nộ, sân hận, vị ấy sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng, và sống không viên mãn sự học tập. Này Ananda, Tỷ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập, vị ấy khởi lên tranh luận giữa Tăng chúng. Sự tranh luận nào đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người. Này Ananda nếu Ông thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác, ở đây, này Ananda, Ông phải tinh tấn đoạn trừ ác căn bản tranh luận ấy. Này Ananda, nếu Ông không thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác; ở đây, này Ananda, Ông phải theo một đường hướng để không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy. Có sự đoạn diệt ác căn bản tranh luận ấy, như vậy mới không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy như vậy.

Lại nữa này Ananda, vị Tỷ-kheo hiềm hận não hại… tật đố, xan tham… gian manh, xảo trá… ác dục tà kiến… chấp thủ thế trí, cố chấp, khó thuyết phục. Này Ananda, Tỷ-kheo nào chấp thủ thế trí, cố chấp khó thuyết phục, vị ấy sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập. Này Ananda, vị Tỷ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập, vị ấy khởi lên sự tranh luận giữa Tăng chúng. Sự tranh luận nào đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người, này Ananda, nếu Ông thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác, ở đây, này Ananda, Ông phải tinh tấn đoạn trừ ác căn bản tranh luận ấy. Này Ananda, nếu Ông không thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa người khác, ở đây, này Ananda, Ông phải theo một đường hướng để không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy. Có sự đoạn diệt ác căn bản tranh luận ấy, như vậy mới không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận như vậy. Những pháp này, này Ananda, là sáu căn bản tranh chấp.

Này Ananda, có bốn tránh sự này. Thế nào là bốn? Tránh sự khởi lên do tranh luận, tránh sự khởi lên do chỉ trích, tránh sự khởi lên do phạm giới tội, tránh sự khởi lên do trách nhiệm (kiccadhikaranam: hành tránh sự). Những pháp này, này Ananda, là bốn tránh sự.

Nhưng này Ananda, có bảy diệt tránh pháp này để giải quyết diệt trừ các tránh pháp thỉnh thoảng khởi lên: phán quyết với sự hiện diện cần được ban cho (sammukhavinayo databbo: ưng dữ hiện tiền tỳ- ni), phán quyết ức niệm cần được ban cho (sativinayadatabbo: ưng dữ ức niệm tỳ-ni), phán quyết bất si cần được ban cho (amulhavinayo databbo: ưng dữ bất si tỳ-ni), quyết định tùy theo thú nhận (patinnaya karetabbam), quyết định đa số (yebhuya ssika: đa nhân mích tội), quyết định tùy theo giới tội người phạm (tassa papiyyasika), trải cỏ che lấp (tinavattha rako: như thảo phú địa).

Này Ananda, thế nào là phán quyết với sự hiện diện cần được ban cho? Ở đây, này Ananda, các Tỷ-kheo tranh chấp nhau: “Ðây là pháp, hay đây là phi pháp, hay đây là luật, hay đây là phi luật”. Này Ananda,

tất cả các Tỷ-kheo ấy phải tập hợp hòa hợp với nhau, sau khi tập hợp, pháp quy chế (dhammanetti) phải được thảo luận, phân tích. Sau khi pháp quy chế được thảo luận, phân tích, ở đây, làm thế nào để đồng nhất đạt được, như vậy, tránh sự phải được giải quyết. Như vậy, này Ananda, là phán quyết với sự hiện diện; và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là dùng phán quyết với sự hiện diện.

Và này Ananda, thế nào là quyết định đa số (yebbuyyasika)? Này Ananda, nếu các Tỷ-kheo kia không có thể giải quyết tránh ấy tại trú xứ ấy, thời này Ananda, các vị Tỷ-kheo kia cần phải đi đến chỗ trú xứ có nhiều Tỷ-kheo hơn, tại đấy tất cả các Tỷ-kheo phải hòa đồng tập hợp lại; sau khi tập hợp, pháp quy chế (dhammanetti) phải được thảo luận, phân tích. Sau khi pháp quy chế được thảo luận, phân tích, ở đây làm thế nào, để đồng nhất đạt được như vậy tránh sự phải được giải quyết. Như vậy, này Ananda, là sự giải quyết một số tránh sự tức là dùng sự quyết định đa số.

Và này Ananda, thế nào phán quyết ức niệm? Ở đây, này Ananda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nói rằng: “Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Như vậy, này Ananda, một phán quyết ức niệm cần phải cho Tỷ-kheo ấy. Như vậy, này Ananda, là phán quyết ức niệm. Như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là nhờ phán quyết ức niệm.

Và này Ananda, thế nào là phán quyết bất si? Ở đây, này Ananda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di nói rằng: “Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Tỷ-kheo ấy bị (các vị Tỷ- kheo kia)dồn ép phải thú nhận: “Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả có nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Này Chư Hiền, tôi đã bị cuồng si, tâm trí tôi điên đảo; do tôi cuồng si như vậy, nhiều việc đã được tôi làm, tôi nói không xứng Sa-môn hạnh. Vì bị cuồng si, tôi không nhớ đã làm như vậy”. Này Ananda, phán quyết bất si cần phải cho Tỷ- kheo ấy. Như vậy, này Ananda, là pháp quyết bất si. Và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh pháp, tức là nhờ phán quyết bất si.

Và này Ananda, thế nào là quyết định tùy theo thú nhận? Ở đây, này Ananda, bị buộc tội hay không bị buộc tội, Tỷ-kheo nhớ một giới tội, tỏ lộ, trình bày. Tỷ-kheo ấy phải đến một Tỷ-kheo lớn tuổi hơn, đắp y phía một bên vai, đảnh lễ chân vị ấy, ngồi gối hai chân, chấp tay và nói như sau: “Bạch Tôn giả, tôi có phạm giới tội tên như thế này, nay xin sám hối”. Tỷ-kheo kia nói như sau: “Ông có thấy chăng?”- “Tôi có thấy” – “Ông có gìn giữ trong tương lai không?” – “Tôi sẽ gìn giữ”. Như vậy, này Ananda, là quyết định tùy theo thú nhận, như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là nhờ quyết định tùy theo thú nhận.

Và này Ananda, thế nào là quyết định tùy theo giới tội người phạm? Ở đây, này Ananda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nói rằng: “Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Tỷ-kheo ấy bị (các Tỷ-kheo kia) dồn ép phải tỏ lộ ra: “Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả có nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?” Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi không có nhớ tôi có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di. Chư Hiền, tôi nhớ tôi có phạm khinh tội như thế này”. Tỷ-kheo ấy bị (các Tỷ-kheo kia) dồn ép phải tỏ lộ: “Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di hoặc gần Ba-la-di?”. Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, dầu không ai hỏi tội, tôi sẽ thú nhận có phạm khinh tội như thế này, làm sao tôi có thể, khi có người hỏi tôi, lại không thú nhận có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba la di, hoặc gần Ba-la-di?” Vị kia nói như sau: "Này Hiền giả, dầu Ông có phạm khinh tội này, nếu không hỏi, Ông sẽ không thú nhận, làm sao khi đã phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di,

nếu có hỏi, Ông lại có thể thú nhận? Tôn giả hãy biết rõ ràng, nếu Tôn giả nhớ có phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di. hoặc gần Ba-la-di?" Vị ấy trả lời như sau: “Chư Hiền, tôi nhớ, tôi có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di. Ðiều tôi đã nói như vậy, là nói chơi, điều tôi đã nói như vậy là để cười (rava?) Tôi không có nhớ tôi đã phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di”. Như vậy, này Ananda, là quyết định tùy theo giới tội người phạm. Và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh tội, tức là nhờ quyết định tùy theo giới tội người phạm.

Và này Ananda, thế nào là trải cỏ che lấp? Ở đây, này Ananda, một số Tỷ-kheo sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, có nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Tất cả các Tỷ-kheo ấy phải tập hợp hòa đồng với nhau. Sau khi tập hợp, một Tỷ-kheo thông minh có kinh nghiệm hơn của một phe nhóm Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y về phía một bên vai, chắp tay, bạch Tăng chúng, nói rằng: “Chư Tôn giả, Tăng chúng hãy nghe tôi. Khi chúng tôi sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Nếu Tăng chúng xem là phải thời, tôi xin tỏ lộ bất cứ giới tội nào của các Tôn giả này và bất cứ giới tội nào của tôi. Vì lợi ích cho chư Tôn giả và cũng vì lợi ích cho tự thân, tôi xin tỏ lộ giữa Tăng chúng, như lấy cỏ trải ra, trừ các trọng tội, trừ tội liên hệ đến cư sĩ”.

Rồi một vị Tỷ-kheo thông minh kinh nghiệm của nhóm Tỷ-kheo khác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y về phía một bên vai, chấp tay bạch Tăng chúng, nói rằng: “Chư Tôn giả, Tăng chúng hãy nghe tôi. Khi chúng tôi sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Nếu Tăng chúng xem là phải thời, tôi xin tỏ lộ bất cứ giới tội nào của các Tôn giả này và bất cứ giới tội nào của tôi. Vì lợi ích cho chư Tôn giả và cũng vì lợi ích cho tự thân, tôi xin tỏ lộ giữa Tăng chúng, như lấy cỏ trải ra, trừ các trọng tội, trừ tội liên hệ đến cư sĩ”. Như vậy, này Ananda, là trải cỏ che lấp, và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh pháp, tức là nhờ trải cỏ che lấp.

Này Ananda, có sáu khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất. Thế nào là sáu?

Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo an trú từ thân nghiệp, đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.

Và lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo an trú từ khẩu nghiệp, đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.

Và lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo an trú từ ý nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.

Và lại nữa, này Ananda, với mọi sở đắc như pháp, mọi lợi dưỡng đúng pháp cho đến những thọ lãnh trong bình bát, Tỷ-kheo là vị san sẻ các lợi dưỡng như vậy, là vị thọ hưởng chúng cùng với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.

Và lại nữa, này Ananda, đối với mọi giới luật nào, không sứt mẻ, không tỳ, không vết, không ô uế, giải thoát, được người trí tán thán, không chấp thủ, đưa đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu những giới luật như vậy cùng với các vị đồng Phạm hạnh giữa chỗ đông người và tại chỗ vắng người. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.

Và lại nữa, này Ananda, đối với mọi tri kiến thánh thiện, đưa đến xuất ly, dẫn đến sự chơn chánh, đoạn diệt khổ đau cho những ai thực hành theo, Tỷ-kheo sống thành tựu những tri kiến như vậy cùng với các vị đồng Phạm hạnh trước chỗ đông người và tại chỗ vắng người. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa đồng, đồng nhất.

Này Ananda sáu pháp khả niệm này tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa đồng, đồng nhất. Này Ananda, nếu Ông thọ trì và thực hành sau pháp khả niệm này, thời này Ananda, Ông thấy có những cách nói nào, hoặc tế hoặc thô, khiến Ông không có thể kham nhẫn?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Do vậy, này Ananda, hãy thọ trì và thực hành sáu pháp khả niệm này, như vậy sẽ đưa đến cho Ông an lạc và hạnh phúc lâu dài.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Pháp và Luật / Dhamma and Vinaya / Dhamma and Discipline: Giáo lý (lời dạy của Đức Phật) và Giới luật (các quy tắc ứng xử cho Tăng đoàn).
  • không giải thoát / anivattana / unemancipating: Không dẫn đến sự giải thoát khỏi vòng luân hồi và khổ đau.
  • không dẫn đến an lạc / asamvattanika / unconducive to peace: Không mang lại sự bình yên, tĩnh lặng cho nội tâm.
  • chưa hoàn toàn giác ngộ / anabhisambuddha / not fully enlightened: Chưa đạt được sự giác ngộ viên mãn, trí tuệ toàn giác như một vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác.
  • điện thờ đã sụp đổ, không còn nơi nương tựa / bhinnavatthuka, apatisaraṇa / shrine broken, left without a refuge: Một cách nói ẩn dụ về giáo pháp đã mất đi nền tảng vững chắc, uy tín và không còn là chỗ dựa tinh thần đáng tin cậy.
  • Tăng đoàn / Saṅgha / Sangha: Cộng đồng những người xuất gia theo Phật, bao gồm tỳ kheo và tỳ kheo ni (nếu có), những người thực hành và duy trì giáo pháp.
  • bốn nền tảng chánh niệm / cattāro satipaṭṭhānā / four foundations of mindfulness: Bốn lĩnh vực quán chiếu để phát triển chánh niệm: quán thân, quán thọ (cảm giác), quán tâm (trạng thái tâm), và quán pháp (các đối tượng tâm). Còn gọi là Tứ Niệm Xứ.
  • bốn loại nỗ lực chân chính / cattāro sammappadhānā / four right kinds of striving: Bốn loại tinh tấn đúng đắn: tinh tấn ngăn ngừa ác pháp chưa sanh, diệt trừ ác pháp đã sanh, phát sanh thiện pháp chưa sanh, và tăng trưởng thiện pháp đã sanh. Còn gọi là Tứ Chánh Cần.
  • bốn nền tảng năng lực tâm linh / cattāro iddhipādā / four bases for spiritual power: Bốn yếu tố làm nền tảng cho các năng lực siêu nhiên và sự thành tựu tâm linh: Dục (mong muốn), Tinh tấn (nỗ lực), Tâm (chú tâm), và Thẩm (trí tuệ thẩm định). Còn gọi là Tứ Như Ý Túc.
  • năm năng lực / pañca indriyāni / five faculties: Năm phẩm chất tinh thần cốt yếu cần được phát triển: Tín (niềm tin), Tấn (tinh tấn), Niệm (chánh niệm), Định (thiền định), và Tuệ (trí tuệ). Còn gọi là Ngũ Căn.
  • năm sức mạnh / pañca balāni / five powers: Năm năng lực (Ngũ Căn) khi đã được phát triển mạnh mẽ, có khả năng vượt qua các trở ngại đối nghịch: Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực, và Tuệ lực. Còn gọi là Ngũ Lực.
  • bảy yếu tố giác ngộ / satta bojjhaṅgā / seven enlightenment factors: Bảy phẩm chất tâm dẫn đến giác ngộ: Niệm (chánh niệm), Trạch pháp (phân tích pháp), Tinh tấn (nỗ lực), Hỷ (niềm vui), Khinh an (thân tâm nhẹ nhàng), Định (thiền định), và Xả (tâm quân bình). Còn gọi là Thất Giác Chi.
  • Con Đường Tám Chánh / Ariyo Aṭṭhaṅgiko Maggo / Noble Eightfold Path: Con đường thực hành gồm tám yếu tố đúng đắn dẫn đến chấm dứt khổ đau: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, và Chánh định. Còn gọi là Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo).
  • tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Nhà sư Phật giáo nam đã thọ nhận giới luật đầy đủ (cụ túc giới).
  • Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa / Pātimokkha / Pātimokkha: Bộ sưu tập các giới luật dành cho tỳ kheo và tỳ kheo ni, được tụng đọc hai tuần một lần trong buổi lễ Bố-tát (Uposatha).
  • đạo lộ hay con đường / magga, paṭipadā / path or the way: Con đường thực hành tâm linh, đặc biệt là Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo), dẫn đến giác ngộ và giải thoát.
  • sáu nguồn gốc tranh chấp / cha vivādamūlāni / six roots of disputes: Sáu trạng thái tâm tiêu cực là nguyên nhân sâu xa dẫn đến xung đột trong cộng đồng: sân hận và thù oán, khinh miệt và áp đặt, ganh tị và tham lam, lừa dối và gian trá, ước muốn xấu xa và tà kiến, chấp thủ quan điểm riêng.
  • tà kiến / micchā diṭṭhi / wrong view: Quan điểm, niềm tin sai lệch, không phù hợp với sự thật và Chánh pháp, ví dụ như không tin vào luật nhân quả, nghiệp báo.
  • bốn loại tranh tụng / cattāri adhikaraṇāni / four kinds of litigation: Bốn loại vụ việc phát sinh trong Tăng đoàn cần được giải quyết theo Luật: tranh cãi về giáo pháp (vivādādhikaraṇa), cáo buộc về giới hạnh (anuvādādhikaraṇa), phạm giới (āpattādhikaraṇa), và các thủ tục của Tăng đoàn (kiccādhikaraṇa).
  • bảy cách giải quyết tranh tụng / satta adhikaraṇasamathā / seven kinds of settlement of litigation: Bảy phương pháp được quy định trong Luật tạng để dàn xếp, hòa giải các vụ tranh tụng trong Tăng đoàn.
  • dàn xếp tranh tụng bằng cách đối chất / sammukhā-vinaya / removal of litigation by confrontation: Giải quyết vụ việc khi có mặt đầy đủ các bên liên quan, Tăng đoàn và dựa trên Pháp và Luật.
  • dàn xếp tranh tụng dựa vào trí nhớ / sati-vinaya / removal of litigation on account of memory: Áp dụng khi một tỳ kheo bị cáo buộc phạm lỗi nhưng khẳng định mình có chánh niệm và không nhớ đã phạm lỗi đó, Tăng đoàn có thể tuyên bố dựa trên sự trong sạch về trí nhớ của vị ấy.
  • dàn xếp tranh tụng dựa vào tình trạng mất trí trong quá khứ / amūḷha-vinaya / removal of litigation on account of past insanity: Áp dụng khi một tỳ kheo phạm lỗi trong lúc tâm thần không bình thường (mất trí), Tăng đoàn có thể tuyên bố miễn trách dựa trên tình trạng đó.
  • thực hiện việc thừa nhận lỗi / paṭiññāta-karaṇa / the effecting of acknowledgement of an offence: Giải quyết vụ việc bằng cách đương sự tự nguyện thú nhận lỗi lầm của mình trước Tăng đoàn hoặc một vị tỳ kheo khác.
  • ý kiến số đông / yebhuyyasikā / the opinion of the majority: Giải quyết vụ việc bằng cách biểu quyết theo đa số thành viên Tăng đoàn khi không thể đạt được sự đồng thuận hoàn toàn.
  • tuyên bố về hành vi xấu của ai đó / tassapāpiyyasikā / the pronouncement of bad character against someone: Một hình thức xử lý áp dụng cho tỳ kheo phạm lỗi nặng, quanh co chối tội, sau đó mới thú nhận. Tăng đoàn tuyên bố về hành vi xấu của vị ấy.
  • phủ cỏ lên / tiṇavatthāraka / covering over with grass: Một phương pháp hòa giải tập thể, áp dụng khi nhiều tỳ kheo trong hai phe tranh chấp đều có những hành vi sai trái. Các lỗi (trừ lỗi nặng và lỗi liên quan cư sĩ) được xem như “phủ cỏ lên”, không khơi lại nữa để đạt được sự hòa hợp.
  • trọng tội, thuộc loại bất cộng trụ hoặc gần như bất cộng trụ / pārājikaṃ vā pārājikasāmantam vā / grave offence, one involving defeat or bordering on defeat: Các tội nghiêm trọng nhất trong giới luật. Bất cộng trụ (pārājika) là tội khiến tỳ kheo bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Tăng đoàn. Gần như bất cộng trụ (saṅghādisesa) là tội nặng cần Tăng đoàn xử lý và thực hiện hình thức sám hối đặc biệt.
  • sáu pháp đáng nhớ / cha sāraṇīyā dhammā / six memorable qualities: Sáu phẩm chất giúp các tỳ kheo sống hòa hợp, thương yêu, kính trọng lẫn nhau, đáng được thực hành và ghi nhớ: thân, khẩu, ý từ ái; chia sẻ lợi lộc; cùng giữ giới đức; cùng có chánh kiến.
  • bạn đồng tu / sabrahmacārī / companions in the holy life: Những người cùng thực hành đời sống phạm hạnh, cùng tu tập theo giáo pháp của Đức Phật.
  • thiền định / samādhi / concentration: Sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, trạng thái tâm vắng lặng, không xao lãng. Là một phần quan trọng của Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) (Chánh Định).
  • quan điểm cao thượng và giải thoát / ariyo niyyāniko diṭṭhi / noble and emancipating view: Chánh kiến, sự hiểu biết đúng đắn về Tứ Diệu Đế, giúp hành giả thoát khỏi khổ đau và đạt được giải thoát.
  • đoạn tận khổ đau hoàn toàn / sammā dukkhakkhayāya / complete destruction of suffering: Sự chấm dứt hoàn toàn mọi hình thức khổ đau, mục tiêu cuối cùng của con đường tu tập Phật giáo, đồng nghĩa với Niết-bàn.