Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 107. Kinh Gaṇaka Moggallāna

(Ganakamoggallāna Sutta)

[1] 1. Như vầy tôi nghe. Một thời, Đức Thế Tôn trú tại thành Xá-vệ (Sāvatthī), trong Đông Viên, tại Lộc Mẫu Giảng Đường. Khi ấy, Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna đi đến chỗ Đức Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau khi những lời thăm hỏi xã giao thân mật này kết thúc, ông ngồi xuống một bên và thưa với Đức Thế Tôn:

2. “Thưa Tôn giả Gotama, tại Lộc Mẫu Giảng Đường này, người ta có thể thấy rõ sự huấn luyện tuần tự, sự thực hành tuần tự, và sự tiến bộ tuần tự, nghĩa là, cho đến bậc thang cuối cùng. [^1024] Trong giới Bà-la-môn chúng tôi cũng vậy, có thể thấy sự huấn luyện tuần tự, sự thực hành tuần tự, và sự tiến bộ tuần tự, nghĩa là, trong việc học tập. Trong giới xạ thủ cũng vậy, có thể thấy sự huấn luyện tuần tự… nghĩa là, trong thuật bắn cung. Và cả trong giới kế toán [^1025] như chúng tôi, những người kiếm sống bằng nghề kế toán, cũng có thể thấy sự huấn luyện tuần tự… nghĩa là, trong việc tính toán. Vì khi chúng tôi nhận một người học việc, trước tiên chúng tôi dạy họ đếm: một một, hai hai, ba ba, bốn bốn, năm năm, sáu sáu, bảy bảy, tám tám, chín chín, mười mười; và chúng tôi cũng dạy họ đếm đến một trăm. Vậy thưa Tôn giả Gotama, có thể mô tả sự huấn luyện tuần tự, sự thực hành tuần tự, và sự tiến bộ tuần tự trong Giáo Pháp và Giới Luật (Dhamma and Discipline - Lời dạy của Đức Phật và các quy tắc ứng xử cho tu sĩ) này không?” [2]

107. KINH GANAKA MOGGALLÀNA

107. KINH GANAKA MOGGALLÀNA (Ganakamoggallàna Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Pubbarama, nơi lâu đài của Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường) . Rồi Bà-la-môn Ganaka Moggallana đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:

– Ví như, thưa Tôn giả Gotama, tại lâu đài Migaramatu này, có thể thấy được một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là những tầng cấp của lầu thượng cuối cùng; thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị Bà-la-môn này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập Veda). Thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị bắn cung này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung. Cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama, đối với chúng con là những người toán số, sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là toán số. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng khi có được người đệ tử, trước hết chúng con bắt người ấy đếm như sau: “Một, một lần, hai, hai lần, ba, ba lần, bốn, bốn lần, năm, năm lần, sáu, sáu lần, bảy, bảy lần, tám, tám lần, chín, chín lần, mười, mười lần”. Và thưa Tôn giả Gotama, chúng con bắt đếm tới một trăm. Có thể trình bày chăng, thưa Tôn giả Gotama, trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự công trình, một tuần tự đạo lộ như vậy?

3. "Này Bà-la-môn, có thể mô tả sự huấn luyện tuần tự, sự thực hành tuần tự, và sự tiến bộ tuần tự trong Giáo Pháp và Giới Luật này. Cũng như, này Bà-la-môn, khi một người luyện ngựa giỏi có được một con ngựa non thuần chủng tốt, trước tiên ông ta tập cho nó quen với việc đeo hàm thiếc, rồi sau đó mới huấn luyện thêm, [^1026] cũng vậy, khi Như Lai gặp một người đáng được điều phục, trước tiên Ngài rèn luyện người ấy như sau: 'Này tỳ kheo, hãy giữ giới, hãy hộ trì với sự hộ trì của giới bổn Pātimokkha (Pātimokkha restraint - giới luật của tu sĩ), hãy sống hoàn hảo trong phẩm hạnh và nơi hành xử, và thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, hãy rèn luyện bằng cách thực hành các học giới.

– Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có một tuần tự học tập, có một tuần tự công trình, có một tuần tự đạo lộ. Ví như, này Bà-la-môn, một người huấn luyện ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa hiền thiện, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương, rồi tập luyện cho nó quen các hạnh khác; cũng vậy, này Bà-la-môn, Như Lai khi được một người đáng được điều phục, trước tiên huấn luyện người ấy như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới”.

4. "Này Bà-la-môn, khi vị tỳ kheo đã giữ giới… và thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, rèn luyện bằng cách thực hành các học giới, thì Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Này tỳ kheo, hãy bảo vệ các cửa ngõ giác quan của mình (guard the doors of your sense faculties - kiểm soát các giác quan). Khi mắt thấy một hình ảnh, đừng đắm chìm vào tướng chung, tướng riêng của nó (do not grasp at its signs and features - không yêu thích vẻ bề ngoài hay chi tiết của đối tượng). Vì nếu ông không bảo vệ con mắt, các trạng thái tâm bất thiện (evil unwholesome states - những trạng thái tiêu cực) như ham muốn (covetousness/abhijjhā - sự tham muốn) và khó chịu (grief/domanassa - sự khó chịu, ghét bỏ) sẽ xâm chiếm ông, hãy thực hành cách chế ngự, bảo vệ con mắt, thực hiện sự chế ngự con mắt. Khi tai nghe một âm thanh… Khi mũi ngửi một mùi hương… Khi lưỡi nếm một vị… Khi thân chạm một vật xúc chạm… Khi ý căn (giác quan não) nghĩ về một đối tượng (tâm ý/pháp), đừng đắm chìm vào tướng chung, tướng riêng của nó. Vì nếu ông không bảo vệ ý căn, các trạng thái tâm bất thiện xấu xa có thể xâm chiếm ông, hãy thực hành cách chế ngự, bảo vệ ý căn, thực hiện sự chế ngự ý căn.’

Này Bà-la-môn, khi vị Tỷ-kheo giữ giới hạnh, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”.

5. "Này Bà-la-môn, khi vị tỳ kheo bảo vệ các cửa ngõ giác quan của mình, thì Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Này tỳ kheo, hãy tiết độ trong ăn uống. Quán xét một cách khôn ngoan, ông nên dùng thức ăn không phải để giải trí, không phải để say sưa, không phải để làm đẹp thân thể hay cho hấp dẫn, mà chỉ để duy trì và bảo dưỡng thân này, để chấm dứt sự khó chịu, và để hỗ trợ đời sống phạm hạnh (holy life), hãy suy xét rằng: “Như vậy, ta sẽ chấm dứt cảm giác cũ (do đói) mà không làm phát sinh cảm giác mới (do ăn quá no) và ta sẽ khỏe mạnh, không bị chê trách và sống thoải mái.”’

Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn”.

6. "Này [3] Bà-la-môn, khi vị tỳ kheo tiết độ trong ăn uống, thì Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Này tỳ kheo, hãy chuyên tâm vào việc giữ mình tỉnh táo (devotion to wakefulness - sự nỗ lực duy trì trạng thái tỉnh táo, không mê mờ). Ban ngày, khi đi và ngồi hãy luyện tập tâm khỏi các trạng thái mê mờ (obstructive states). Trong canh đầu của đêm, khi đi và ngồi, hãy thanh lọc tâm khỏi các trạng thái mê mờ. Trong canh giữa của đêm, ông nên nằm xuống nghiêng về bên phải theo tư thế sư tử, chân này gác lên chân kia, giữ tâm tỉnh thức và nhận biết rõ ràng (mindful and fully aware - sự ghi nhớ đối tượng hiện tại và sự nhận biết rõ ràng về những gì đang xảy ra), ghi trong đầu ý nghĩ sẽ tiếp tục khi thức dậy. Sau khi thức dậy, trong canh cuối của đêm, khi đi kinh hành và ngồi thiền, hãy thanh lọc tâm khỏi các trạng thái mê mờ.’

Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp”.

7. "Này Bà-la-môn, khi vị tỳ kheo chuyên tâm vào sự tỉnh táo, thì Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Này tỳ kheo, hãy có tỉnh thức và nhận biết rõ ràng. Hành động với sự tỉnh giác khi đi tới và đi lui; hành động với sự tỉnh giác khi nhìn thẳng và nhìn quanh; hành động với sự tỉnh giác khi co và duỗi chân tay; hành động với sự tỉnh giác khi mặc y và mang y bát; hành động với sự tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; hành động với sự tỉnh giác khi đại tiện và tiểu tiện; hành động với sự tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm ngủ, thức dậy, nói chuyện, và giữ im lặng.’

Này, Bà-la-môn, sau khi vị Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm nữa như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác”.

8. "Này Bà-la-môn, khi vị tỳ kheo có tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, thì Như Lai rèn luyện vị ấy thêm: ‘Này tỳ kheo, hãy tìm đến một nơi ở ẩn dật, yên tĩnh: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, nghĩa địa, lùm cây rậm, ngoài trời, đống rơm.’

9. "Vị ấy tìm đến một nơi ở ẩn dật, yên tĩnh: khu rừng… đống rơm. Sau khi đi khất thực về, sau bữa ăn, vị ấy ngồi xuống, xếp bằng, giữ thân thẳng, và đặt sự tỉnh thức trước mặt. Từ bỏ tham lam đối với thế gian, vị ấy trú với tâm không tham lam; vị ấy thanh lọc tâm khỏi tham lam. Từ bỏ thù hận và ác ý (ill will and hatred - tâm trạng thù ghét, mong muốn làm hại), vị ấy trú với tâm không sân hận, có lòng từ bi đối với hạnh phúc của tất cả chúng sinh; vị ấy thanh lọc tâm khỏi sân hận và ác ý. Từ bỏ lười biếng và buồn ngủ (hôn trầm và thụy miên) (sloth and torpor - sự lười biếng, uể oải), vị ấy trú thoát khỏi lười biếng và buồn ngủ, với nhận thức sáng suốt, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng; vị ấy làm tâm lười biếng và buồn ngủ. Từ bỏ bồn chồn và hối tiêc (trạo cử và hối quá) (restlessness and remorse - sự dao động, không yên của tâm và sự hối hận về việc đã làm hoặc chưa làm), vị ấy trú không dao động với tâm nội tĩnh; vị ấy thanh lọc tâm khỏi sự bồn chồn và hối tiếc. Từ bỏ sự nghi ngờ, sống vượt qua được sự nghi ngờ, không còn phân vân về những điều tốt lành, làm cho tâm trong sạch khỏi sự nghi ngờ.

10. "Sau khi đã từ bỏ năm ngăn cản (triền cái) này (five hindrances/pañca nīvaraṇe) - năm pháp cản trở thiền định và trí tuệ: tham lam, thù hận và ác ý, lười biếng và buồn ngủ, bồn chồn và hối tiêc, nghi ngờ), những ô nhiễm (cetaso upakkilese) làm suy yếu trí tuệ, vị ấy tách khỏi các ham muốn dục lạc (ly dục) (secluded from sensual pleasures - xa lìa các ham muốn giác quan), tách khỏi các trạng thái tâm không tốt lành (ly bất thiện pháp) (secluded from unwholesome states - xa lìa các trạng thái tâm tiêu cực), vị ấy chứng và trú thiền thứ nhất (first jhāna - tầng thiền đầu tiên), một trạng thái có điều hướng sự chú ý (tầm) và quan sát (tứ) (applied and sustained thought - sự hướng tâm đến đối tượng và sự duy trì tâm trên đối tượng), với phấn khởi (hỷ) và bình an (lạc) do ly dục sinh (rapture and pleasure born of seclusion - niềm vui và hạnh phúc phát sinh từ sự xa lìa các chướng ngại). Làm lắng dịu tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai (second jhāna - tầng thiền thứ hai), một trạng thái có sự tự tin nội tâm và nhất tâm (singleness of mind - tâm chuyên chú vào một đối tượng duy nhất) không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh (born of concentration - phát sinh từ sự tập trung tâm ý). Ly hỷ, vị ấy trú xả (equanimity - trạng thái tâm quân bình, không dao động), tỉnh thức và nhận biết rõ ràng, cảm nhận lạc bằng thân, vị ấy chứng và trú thiền thứ ba (third jhāna - tầng thiền thứ ba), mà các bậc Thánh gọi là ‘người trú an lạc nhờ có xả và niệm’. Xả lạc và xả khổ, cùng với sự biến mất trước đó của hỷ và ưu, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư (fourth jhāna - tầng thiền thứ tư), một trạng thái không khổ không lạc (neither-pain-nor-pleasure - trạng thái cảm thọ trung tính), có sự thanh tịnh của niệm nhờ xả (purity of mindfulness due to equanimity - chánh niệm trở nên hoàn toàn trong sáng do tâm xả).

11. “Này Bà-la-môn, đây là lời chỉ dạy của ta cho những tỳ kheo đang trong giai đoạn huấn luyện cao hơn (higher training - sự tu tập giới, định, tuệ ở mức độ cao hơn), những người mà tâm chưa đạt được mục đích, đang mong cầu sự an ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc (supreme security from bondage - trạng thái giải thoát hoàn toàn khỏi khổ đau và tái sinh, tức Niết Bàn). Nhưng những điều này cũng vừa giúp sống an lạc ngay trong hiện tại, vừa giúp duy trì tỉnh thức và nhận biết rõ ràng cho những tỳ kheo là bậc A-la-hán (arahants - bậc Thánh đã giác ngộ hoàn toàn, chấm dứt mọi phiền não), những vị đã đoạn tận các lậu hoặc (taints destroyed - đã diệt trừ hoàn toàn các ô nhiễm tâm thức như dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu), đã sống đời phạm hạnh, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã phá hủy các xiềng xích của sự tồn tại (fetters of being - những ràng buộc khiến chúng sinh luân hồi), và hoàn toàn giải thoát nhờ chánh trí (completely liberated through final knowledge - giải thoát hoàn toàn thông qua trí tuệ cuối cùng, trí tuệ của bậc A-la-hán).”[^1027]

12. Khi nghe vậy, Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna hỏi Đức Thế Tôn: “Khi các đệ tử của Tôn giả Gotama được Ngài khuyên dạy và chỉ bảo như vậy, tất cả họ đều đạt được Niết Bàn (Nibbāna - sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau và tái sinh, mục tiêu cuối cùng của Phật giáo), mục đích tối hậu, hay có một số không đạt được?”

“Này Bà-la-môn, khi họ được ta khuyên dạy và chỉ bảo như vậy, một số đệ tử của ta đạt được Niết Bàn, mục đích tối hậu, và một số không đạt được.”

13. “Thưa Tôn giả Gotama, vì Niết Bàn có thật, con đường dẫn đến Niết Bàn có thật, và Tôn giả Gotama có mặt như người chỉ đường, vậy đâu là nguyên nhân và lý do tại sao, khi các đệ tử của Tôn giả Gotama được Ngài khuyên dạy và chỉ bảo như vậy, một số người trong họ đạt được Niết Bàn, mục đích tối hậu, và một số không đạt được?”

14. “Về điều đó, này Bà-la-môn, ta sẽ hỏi lại ông một câu hỏi. Hãy trả lời tùy ý ông. [5] Này Bà-la-môn, ông nghĩ sao? Ông có quen thuộc con đường dẫn đến thành Vương Xá (Rājagaha) không?”

“Vâng, thưa Tôn giả Gotama, tôi quen thuộc con đường dẫn đến thành Vương Xá.”

“Này Bà-la-môn, ông nghĩ sao? Giả sử có một người muốn đi đến thành Vương Xá, người đó đến gặp ông và nói: ‘Thưa ngài, tôi muốn đi đến thành Vương Xá. Xin chỉ cho tôi con đường đến thành Vương Xá.’ Rồi ông bảo người đó: ‘Này bạn, con đường này dẫn đến thành Vương Xá. Cứ đi theo nó một đoạn, ông sẽ thấy một ngôi làng nào đó, đi thêm một chút nữa ông sẽ thấy một thị trấn nào đó, đi thêm một chút nữa ông sẽ thấy thành Vương Xá với những công viên, lùm cây, đồng cỏ và ao hồ xinh đẹp.’ Sau đó, được ông khuyên dạy và chỉ bảo như vậy, người đó lại đi sai đường và hướng về phía tây. Rồi một người thứ hai đến, cũng muốn đi đến thành Vương Xá, người đó đến gặp ông và nói: ‘Thưa ngài, tôi muốn đi đến thành Vương Xá.’ Rồi ông bảo người đó: ‘Này bạn, con đường này dẫn đến thành Vương Xá. Cứ đi theo nó một đoạn… và ông sẽ thấy thành Vương Xá với những công viên, lùm cây, đồng cỏ và ao hồ xinh đẹp.’ Sau đó, được ông khuyên dạy và chỉ bảo như vậy, người đó đã đến được thành Vương Xá an toàn. Này Bà-la-môn, vì thành Vương Xá có thật, con đường dẫn đến thành Vương Xá có thật, và ông có mặt như người chỉ đường, vậy đâu là nguyên nhân và lý do tại sao, khi những người đó được ông khuyên dạy và chỉ bảo như vậy, một người lại đi sai đường và hướng về phía tây, còn người kia lại đến được thành Vương Xá an toàn?” [6]

“Thưa Tôn giả Gotama, tôi có thể làm gì được chứ? Tôi chỉ là người chỉ đường thôi.”

“Cũng vậy, này Bà-la-môn, Niết Bàn có thật, con đường dẫn đến Niết Bàn có thật, và ta có mặt như người chỉ đường. Tuy nhiên, khi các đệ tử của ta được ta khuyên dạy và chỉ bảo như vậy, một số người trong họ đạt được Niết Bàn, mục đích tối hậu, và một số không đạt được. Ta có thể làm gì được chứ, này Bà-la-môn? Như Lai chỉ là người chỉ đường thôi.”[^1028]

15. Khi nghe vậy, Bà-la-môn Gaṇaka Moggallāna thưa với Đức Thế Tôn: [^1029] "Có những người không có đức tin và đã xuất gia từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà cửa không phải vì đức tin mà để kiếm sống, họ là những người gian trá, lừa đảo, xảo quyệt, kiêu căng, rỗng tuếch, tự phụ, lời nói thô lỗ, nói năng bừa bãi, không bảo vệ các giác quan, ăn uống không tiết độ, không chuyên tâm tỉnh thức, không quan tâm đến đời sống ẩn sĩ, không hết lòng tôn trọng việc học giới, sống xa hoa, lơ là, dẫn đầu trong sự buông thả, xao lãng việc ẩn cư, lười biếng, thiếu nghị lực, không chánh niệm, không tỉnh giác, không tập trung, tâm tán loạn, thiếu trí tuệ, nói lời vô ích. Tôn giả Gotama không sống chung với những người này.

"Nhưng có những thiện nam tử đã xuất gia vì đức tin từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà cửa, họ là những người không gian trá, lừa đảo, xảo quyệt, kiêu căng, rỗng tuếch, tự phụ, lời nói thô lỗ, và nói năng bừa bãi; họ bảo vệ các giác quan, tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm tỉnh thức, quan tâm đến đời sống ẩn sĩ, hết lòng tôn trọng việc học giới, không sống xa hoa hay lơ là, họ thiết tha tránh sự buông thả, dẫn đầu trong việc ẩn cư, tinh tấn, kiên quyết, thiết lập chánh niệm, tỉnh giác, tập trung, tâm thống nhất, có trí tuệ, không nói lời vô ích. Tôn giả Gotama sống chung với những người này.

16. "Cũng như rễ cây orris đen được xem là tốt nhất trong các loại hương từ rễ, gỗ đàn hương đỏ được xem là tốt nhất trong các loại hương từ gỗ, và hoa nhài được xem là tốt nhất trong các loại hương từ hoa, [7] cũng vậy, lời khuyên của Tôn giả Gotama là tối thượng giữa các giáo lý ngày nay. [^1030]

17. “Thật vi diệu, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama đã làm sáng tỏ Giáo Pháp bằng nhiều cách, như thể lật ngửa những gì bị úp xuống, phơi bày những gì bị che giấu, chỉ đường cho người lạc lối, hay giơ cao ngọn đèn trong bóng tối cho những ai có mắt để thấy các hình dạng. Con xin quy y (go for refuge - tìm nơi nương tựa, che chở) Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn (Sangha - cộng đồng các vị sư, ni) các tỳ kheo. Xin Tôn giả Gotama ghi nhận con là một người cư sĩ tại gia (lay follower - người theo đạo Phật nhưng không xuất gia) đã quy y Ngài trọn đời.”

Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm”.

Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.

Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Này Bà-la-môn, đối với những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy. Còn đối với những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:

– Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?

– Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được.

– Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết- bàn, một số không chứng được?

– Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông

nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến Rajagaha (Vương Xá)?

– Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.

– Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau: “Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến Rajagaha”. Ông nói với người ấy như sau: “Ðược, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu”. Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây. Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rajagaha. Người này đến Ông và hỏi như sau: “Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi”. Rồi Ông nói với người ấy như sau: “Ðược, này Bạn, đây là đường đi đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu”. Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến Rajagaha một cách an toàn.

Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rajagaha, trong khi có mặt con đường đưa đến Rajagaha, trong khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rajagaha một cách an toàn?

– Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.

– Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người như vậy.

Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống (hòa hợp) với những vị ấy.

Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.

Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Đức Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Bậc Giác Ngộ được tôn kính, một trong những danh hiệu của Đức Phật.
  • Bà-la-môn / Brāhmaṇa / Brahmin: Thành viên của giai cấp tu sĩ và học giả trong xã hội Ấn Độ cổ, thường thực hành các nghi lễ Vệ Đà.
  • Giáo Pháp và Giới Luật / Dhamma-Vinaya / Dhamma and Discipline: Toàn bộ lời dạy của Đức Phật (Pháp) và các quy tắc ứng xử, kỷ luật cho cộng đồng tu sĩ (Luật).
  • Như Lai / Tathāgata / Tathāgata: Danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là “người đã đến như vậy” hoặc “người đã đi như vậy”, chỉ người đã đạt chân lý tối thượng.
  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Bhikkhu: Tu sĩ Phật giáo nam đã thọ giới cụ túc, sống đời khất thực.
  • Giới bổn Pātimokkha / Pātimokkha / Pātimokkha restraint: Bộ giới luật căn bản gồm các điều học mà Tỳ kheo và Tỳ kheo ni phải tụng đọc và thực hành định kỳ. Sự hộ trì Pātimokkha là việc tuân thủ các giới luật này.
  • Học giới / Sikkhāpada / Training precept: Mỗi điều luật hay quy tắc rèn luyện trong giới bổn mà tu sĩ phải học hỏi và tuân giữ.
  • Bảo vệ các cửa ngõ giác quan / Indriya-saṃvara / Guarding the doors of the sense faculties: Sự thực hành kiểm soát, thu thúc sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) để không bị cuốn theo các đối tượng bên ngoài (hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, pháp), tránh phát sinh phiền não.
  • Nắm bắt tướng chung và tướng riêng / Nimitta-gāhī, Anuvyañjana-gāhī / Grasping signs and features: Việc chú ý và bám víu vào vẻ bề ngoài tổng thể (tướng chung) hoặc các chi tiết cụ thể (tướng riêng) của một đối tượng giác quan, dẫn đến tham ái hoặc sân hận.
  • Trạng thái tâm bất thiện / Akusala dhamma / Evil unwholesome state: Các trạng thái tâm tiêu cực, có hại, gây khổ đau cho mình và người khác, ví dụ như tham, sân, si.
  • Tham ái / Abhijjhā / Covetousness: Lòng tham muốn mãnh liệt, sự thèm khát đối với các đối tượng giác quan hoặc sự tồn tại.
  • Ưu phiền / Domanassa / Grief: Nỗi buồn khổ, sầu não, bất mãn về mặt tinh thần.
  • Đời sống phạm hạnh / Brahmacariya / Holy life: Đời sống thanh tịnh, cao thượng, thường chỉ đời sống xuất gia tu tập theo giáo pháp của Đức Phật, nhằm mục đích giải thoát.
  • Chuyên tâm vào sự tỉnh thức / Jāgariyānuyoga / Devotion to wakefulness: Sự nỗ lực, tinh tấn trong việc duy trì trạng thái tỉnh táo, sáng suốt, không để tâm bị mê mờ, đặc biệt là trong việc thực hành thiền định và chánh niệm.
  • Trạng thái chướng ngại / Nīvaraṇa (thường được ngụ ý) / Obstructive state: Những yếu tố tâm lý cản trở sự tiến bộ trong tu tập, đặc biệt là thiền định. Năm triền cái là ví dụ điển hình.
  • tỉnh thức và nhận biết rõ ràng / Sati-sampajañña / Mindfulness and full awareness: Chánh niệm (sati) là sự ghi nhớ, chú tâm vào đối tượng hiện tại. Tỉnh giác (sampajañña) là sự nhận biết rõ ràng về những gì đang diễn ra trong thân, tâm và môi trường xung quanh, cùng với mục đích của hành động.
  • Sân hận và ác ý / Byāpāda / Ill will and hatred: Tâm trạng thù ghét, tức giận, mong muốn làm hại người khác. Là một trong năm triền cái.
  • Hôn trầm và thụy miên / Thīna-middha / Sloth and torpor: Hôn trầm (thīna) là sự uể oải, lười biếng của tâm. Thụy miên (middha) là sự buồn ngủ, nặng nề của thân. Là một trong năm triền cái.
  • Trạo cử và hối tiếc / Uddhacca-kukkucca / Restlessness and remorse: Trạo cử (uddhacca) là sự dao động, không yên của tâm. Hối tiếc (kukkucca) là sự hối hận, ăn năn về những việc đã làm hoặc chưa làm. Là một trong năm triền cái.
  • Nghi ngờ / Vicikicchā / Doubt: Sự hoài nghi, do dự, thiếu niềm tin vào Phật, Pháp, Tăng, giới luật và con đường tu tập. Là một trong năm triền cái.
  • Trạng thái thiện / Kusala dhamma / Wholesome state: Các trạng thái tâm tích cực, tốt đẹp, có lợi, dẫn đến an lạc và giải thoát, ví dụ như lòng từ, bi, hỷ, xả, trí tuệ.
  • Năm triền cái / Pañca nīvaraṇāni / Five hindrances: Năm pháp cản trở thiền định và trí tuệ: tham dục (kāmacchanda), sân hận (byāpāda), hôn trầm-thụy miên (thīna-middha), trạo cử-hối tiếc (uddhacca-kukkucca), và nghi ngờ (vicikicchā).
  • Ly dục / Vivicceva kāmehi / Secluded from sensual pleasures: Sự xa lìa, tách khỏi các ham muốn, thú vui liên quan đến năm giác quan.
  • Ly bất thiện pháp / Vivicca akusalehi dhammehi / Secluded from unwholesome states: Sự xa lìa, tách khỏi các trạng thái tâm bất thiện, tiêu cực.
  • Thiền / Jhāna / Jhāna: Trạng thái tâm định sâu sắc, an lạc và vắng lặng, đạt được qua thực hành thiền định (samatha). Có bốn tầng thiền sắc giới và bốn tầng thiền vô sắc giới.
  • Tầm và Tứ / Vitakka-vicāra / Applied and sustained thought: Tầm (vitakka) là sự hướng tâm đến đối tượng thiền. Tứ (vicāra) là sự duy trì tâm trên đối tượng đó, khảo sát đối tượng. Hai yếu tố này có mặt trong thiền thứ nhất.
  • Hỷ và Lạc / Pīti-sukha / Rapture and pleasure: Hỷ (pīti) là niềm vui thích, phấn khởi phát sinh trong thiền định. Lạc (sukha) là cảm giác hạnh phúc, dễ chịu về thân và tâm.
  • Nhất tâm / Ekaggatā / Singleness of mind: Trạng thái tâm chuyên chú vào một đối tượng duy nhất, không phân tán. Là yếu tố chính của định.
  • Định / Samādhi / Concentration: Sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất một cách vững chắc, không dao động.
  • Xả / Upekkhā / Equanimity: Trạng thái tâm quân bình, thản nhiên, không dao động trước các trạng thái vui buồn, được mất, khen chê. Là yếu tố chính trong thiền thứ ba và thứ tư.
  • Không khổ không lạc / Adukkhamasukha / Neither-pain-nor-pleasure: Trạng thái cảm thọ trung tính, không phải khổ cũng không phải lạc. Là cảm thọ chính trong thiền thứ tư.
  • Thanh tịnh của niệm nhờ xả / Upekkhā-sati-pārisuddhi / Purity of mindfulness due to equanimity: Trạng thái chánh niệm trở nên hoàn toàn trong sáng, tinh khiết nhờ tâm xả đã được phát triển viên mãn trong thiền thứ tư.
  • Huấn luyện cao hơn / Adhisikkhā (ngụ ý, liên quan đến Adhisīla, Adhicitta, Adhipaññā) / Higher training: Sự thực hành và phát triển Giới (Adhisīla), Định (Adhicitta), và Tuệ (Adhipaññā) ở mức độ cao hơn, vượt trội hơn.
  • An ổn tối thượng khỏi mọi ràng buộc / Anuttara yogakkhema / Supreme security from bondage: Trạng thái Niết Bàn, sự giải thoát hoàn toàn khỏi mọi khổ đau, phiền não và vòng luân hồi (ách).
  • A-la-hán / Arahant / Arahant: Bậc Thánh đã giác ngộ hoàn toàn, diệt tận mọi lậu hoặc (phiền não), chấm dứt tái sinh, đạt Niết Bàn.
  • Lậu hoặc / Āsava / Taint: Những ô nhiễm, phiền não sâu kín làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi, gồm dục lậu (kāmāsava), hữu lậu (bhavāsava), kiến lậu (diṭṭhāsava), và vô minh lậu (avijjāsava).
  • Xiềng xích của sự tồn tại / Saṃyojana / Fetters of being: Mười kiết sử (ràng buộc) trói buộc chúng sinh vào vòng luân hồi, gồm thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham dục, sân hận, ái sắc, ái vô sắc, mạn, trạo cử, vô minh.
  • Giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí / Sammā-aññā-vimutta / Completely liberated through final knowledge: Sự giải thoát cuối cùng đạt được thông qua trí tuệ đúng đắn, hoàn hảo của bậc A-la-hán (Arahantship knowledge).
  • Niết Bàn / Nibbāna / Nibbāna: Mục tiêu cuối cùng của Phật giáo, trạng thái chấm dứt hoàn toàn khổ đau, phiền não và vòng luân hồi; sự tịch diệt, an lạc tuyệt đối.
  • Thành Vương Xá / Rājagaha / Rājagaha: Kinh đô của vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha) thời Đức Phật, một địa điểm quan trọng nơi Đức Phật thường thuyết pháp.
  • Quy y / Saraṇaṃ gacchāmi / Go for refuge: Hành động tìm nơi nương tựa, che chở nơi Tam Bảo: Phật (Buddha), Pháp (Dhamma), và Tăng (Sangha).
  • Tăng đoàn / Saṅgha / Sangha: Cộng đồng các vị tu sĩ (Tỳ kheo, Tỳ kheo ni) thực hành theo lời dạy của Đức Phật. Cũng có thể chỉ cộng đồng các bậc Thánh.
  • Cư sĩ tại gia / Upāsaka (nam), Upāsikā (nữ) / Lay follower: Người Phật tử tại gia, không xuất gia, giữ năm giới và thực hành theo giáo pháp.