Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 112. Sáu Pháp Thanh Tịnh

(Kinh Chabbisodhana)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong Vườn Jeta (Kỳ-đà), Khu vườn của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Ngài gọi các vị tỳ kheo (bhikkhus): “Này các Tỳ kheo.” – “Bạch Thế Tôn,” họ đáp lời. Đức Thế Tôn dạy điều này:

2. "Này các Tỳ kheo, ở đây, có vị tỳ kheo tuyên bố đạt được chánh trí (final knowledge - trí tuệ giải thoát cuối cùng) như sau: ‘Tôi hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái nào nữa.’

3. "Lời nói của vị tỳ kheo ấy không nên tán thành cũng không nên bác bỏ. Không tán thành hay bác bỏ, nên đặt câu hỏi như sau: ‘Này hiền giả, có bốn cách trình bày được Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết và thấy, tuyên thuyết đúng đắn. Bốn cách đó là gì? Nói cái được thấy đúng như nó được thấy; nói cái được nghe đúng như nó được nghe; nói cái được cảm nhận đúng như nó được cảm nhận; nói cái được nhận biết đúng như nó được nhận biết. [^1056] [30] Này hiền giả, đó là bốn cách trình bày được Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết và thấy, tuyên thuyết đúng đắn. Đối với bốn cách trình bày này, tôn giả biết như thế nào, thấy như thế nào, để nhờ không chấp thủ (attachment - sự bám víu, dính mắc) mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc (taints - những ô nhiễm tinh thần làm rò rỉ năng lượng thiện)?’

4. "Này các Tỳ kheo, khi một vị tỳ kheo là người đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích chân chính, đã phá hủy các xiềng xích của sự tồn tại, và hoàn toàn giải thoát nhờ chánh trí, thì đây là bản chất câu trả lời của vị ấy:

"‘Này các hiền giả, đối với cái được thấy, tôi an trú không bị lôi cuốn, không bị đẩy lui, độc lập, không dính mắc, tự do, không liên kết, với tâm không còn rào cản. [^1057] Đối với cái được nghe… Đối với cái được cảm nhận… Đối với cái được nhận biết, tôi an trú không bị lôi cuốn, không bị đẩy lui, độc lập, không dính mắc, tự do, không liên kết, với tâm không còn rào cản. Chính nhờ biết như vậy, thấy như vậy, đối với bốn cách trình bày này, mà nhờ không chấp thủ, tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc.’

5. "Nói ‘lành thay,’ người ta có thể hoan hỷ và vui mừng với lời nói của vị tỳ kheo ấy. Sau khi làm vậy, có thể đặt thêm câu hỏi như sau:

"‘Này hiền giả, có năm uẩn chịu ảnh hưởng bởi chấp thủ (five aggregates affected by clinging - năm nhóm yếu tố tạo thành con người bị sự bám víu chi phối), được Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết và thấy, tuyên thuyết đúng đắn. Năm uẩn đó là gì? Đó là sắc uẩn chịu ảnh hưởng bởi chấp thủ, thọ uẩn chịu ảnh hưởng bởi chấp thủ, tưởng uẩn chịu ảnh hưởng bởi chấp thủ, hành uẩn chịu ảnh hưởng bởi chấp thủ, và thức uẩn chịu ảnh hưởng bởi chấp thủ. Này hiền giả, đó là năm uẩn chịu ảnh hưởng bởi chấp thủ, được Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết và thấy, tuyên thuyết đúng đắn. Đối với năm uẩn chịu ảnh hưởng bởi chấp thủ này, tôn giả biết như thế nào, thấy như thế nào, để nhờ không chấp thủ mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc?’

6. "Này các Tỳ kheo, khi một vị tỳ kheo là người đã đoạn tận các lậu hoặc… và hoàn toàn giải thoát nhờ chánh trí, thì đây là bản chất câu trả lời của vị ấy:

"'Này các hiền giả, sau khi biết sắc là yếu ớt, tàn phai, và không thoải mái, [31] với sự đoạn diệt, phai nhạt, chấm dứt, từ bỏ, và xả ly sự lôi cuốn và chấp thủ đối với sắc, các định kiến, sự cố chấp, và các khuynh hướng tiềm ẩn (mental standpoints, adherences, and underlying tendencies - các quan điểm, sự bám chặt, và các khuynh hướng ngầm ẩn trong tâm) đối với sắc, [^1058] tôi đã hiểu rằng tâm mình được giải thoát.

"'Này các hiền giả, sau khi biết thọ… Sau khi biết tưởng… Sau khi biết hành… Sau khi biết thức là yếu ớt, tàn phai, và không thoải mái, với sự đoạn diệt, phai nhạt, chấm dứt, từ bỏ, và xả ly sự lôi cuốn và chấp thủ đối với thức, các định kiến, sự cố chấp, và các khuynh hướng tiềm ẩn đối với thức, tôi đã hiểu rằng tâm mình được giải thoát.

"‘Chính nhờ biết như vậy, thấy như vậy, đối với năm uẩn chịu ảnh hưởng bởi chấp thủ này, mà nhờ không chấp thủ, tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc.’

7. "Nói ‘lành thay,’ người ta có thể hoan hỷ và vui mừng với lời nói của vị tỳ kheo ấy. Sau khi làm vậy, có thể đặt thêm câu hỏi như sau: "‘Này hiền giả, có sáu giới (six elements - sáu yếu tố cơ bản cấu thành thực tại: đất, nước, lửa, gió, không gian, thức) này được Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết và thấy, tuyên thuyết đúng đắn. Sáu giới đó là gì? Đó là địa đại (đất), thủy đại (nước), hỏa đại (lửa), phong đại (gió), không đại (không gian), và thức đại (thức). Này hiền giả, đó là sáu giới được Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết và thấy, tuyên thuyết đúng đắn. Đối với sáu giới này, tôn giả biết như thế nào, thấy như thế nào, để nhờ không chấp thủ mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc?’

8. "Này các Tỳ kheo, khi một vị tỳ kheo là người đã đoạn tận các lậu hoặc… và hoàn toàn giải thoát nhờ chánh trí, thì đây là bản chất câu trả lời của vị ấy:

"'Này các hiền giả, tôi đã xem địa đại là vô ngã, không có cái ngã nào dựa trên địa đại. [^1059] Và với sự đoạn diệt, phai nhạt, chấm dứt, từ bỏ, và xả ly sự lôi cuốn và chấp thủ dựa trên địa đại, các định kiến, sự cố chấp, và các khuynh hướng tiềm ẩn dựa trên địa đại, tôi đã hiểu rằng tâm mình được giải thoát.

"'Này các hiền giả, tôi đã xem thủy đại… hỏa đại… phong đại… không đại… thức đại là vô ngã, không có cái ngã nào dựa trên thức đại. Và với sự đoạn diệt, phai nhạt, chấm dứt, từ bỏ, và xả ly sự lôi cuốn và chấp thủ dựa trên thức đại, các định kiến, sự cố chấp, và các khuynh hướng tiềm ẩn dựa trên thức đại, tôi đã hiểu rằng tâm mình được giải thoát.

"‘Chính nhờ biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu giới này, mà nhờ không chấp thủ, tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc.’

9. "Nói ‘lành thay,’ [32] người ta có thể hoan hỷ và vui mừng với lời nói của vị tỳ kheo ấy. Sau khi làm vậy, có thể đặt thêm câu hỏi như sau:

"‘Nhưng, này hiền giả, có sáu nội ngoại xứ (six internal and external bases - sáu giác quan bên trong và sáu đối tượng tương ứng bên ngoài) này được Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết và thấy, tuyên thuyết đúng đắn. Sáu xứ đó là gì? Đó là mắt và sắc, tai và thanh, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Này hiền giả, đó là sáu nội ngoại xứ được Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc biết và thấy, tuyên thuyết đúng đắn. Đối với sáu nội ngoại xứ này, tôn giả biết như thế nào, thấy như thế nào, để nhờ không chấp thủ mà tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc?’

10. "Này các Tỳ kheo, khi một vị tỳ kheo là người đã đoạn tận các lậu hoặc… và hoàn toàn giải thoát nhờ chánh trí, thì đây là bản chất câu trả lời của vị ấy:

"'Này các hiền giả, với sự đoạn diệt, phai nhạt, chấm dứt, từ bỏ, và xả ly dục vọng, tham ái, thích thú, khao khát, lôi cuốn, và chấp thủ, cùng các định kiến, sự cố chấp, và các khuynh hướng tiềm ẩn đối với mắt, sắc, nhãn thức, và các pháp được nhận biết [bởi tâm] qua nhãn thức, tôi đã hiểu rằng tâm mình được giải thoát. [^1060]

"'Với sự đoạn diệt, phai nhạt, chấm dứt, từ bỏ, và xả ly dục vọng, tham ái, thích thú, khao khát, lôi cuốn, và chấp thủ, cùng các định kiến, sự cố chấp, và các khuynh hướng tiềm ẩn đối với tai, thanh, nhĩ thức, và các pháp được nhận biết [bởi tâm] qua nhĩ thức… đối với mũi, hương, tỷ thức, và các pháp được nhận biết [bởi tâm] qua tỷ thức… đối với lưỡi, vị, thiệt thức, và các pháp được nhận biết [bởi tâm] qua thiệt thức… đối với thân, xúc, thân thức, và các pháp được nhận biết [bởi tâm] qua thân thức… đối với ý, pháp, ý thức, và các pháp được nhận biết [bởi tâm] qua ý thức, tôi đã hiểu rằng tâm mình được giải thoát.

"‘Chính nhờ biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu nội ngoại xứ này, mà nhờ không chấp thủ, tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc.’

11. "Nói ‘lành thay,’ người ta có thể hoan hỷ và vui mừng với lời nói của vị tỳ kheo ấy. Sau khi làm vậy, có thể đặt thêm câu hỏi như sau:

"'Nhưng, này hiền giả, tôn giả biết như thế nào, thấy như thế nào, để đối với thân này cùng với thức của nó và tất cả các dấu hiệu bên ngoài, sự tạo tác cái tôi, sự tạo tác cái của tôi, và khuynh hướng ngầm của sự kiêu mạn (I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit - sự hình thành quan niệm ‘tôi’, ‘của tôi’, và khuynh hướng kiêu ngạo tiềm ẩn) đã được đoạn trừ nơi ngài? [^1061] [33]

12. "Này các Tỳ kheo, khi một vị tỳ kheo là người đã đoạn tận các lậu hoặc… và hoàn toàn giải thoát nhờ chánh trí, thì đây là bản chất câu trả lời của vị ấy: "'Này các hiền giả, trước kia khi còn sống đời tại gia, tôi là người vô minh. Sau đó, Như Lai (Tathāgata - Bậc đã đến/đi như vậy, một danh hiệu của Đức Phật) hoặc đệ tử của Ngài đã dạy Pháp (Dhamma - Giáo pháp của Đức Phật, chân lý) cho tôi. Nghe Pháp xong, tôi có được niềm tin nơi Như Lai. Với niềm tin đó, tôi suy xét như vầy: “Đời sống gia đình thì chật chội, bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở. Thật không dễ khi sống tại gia mà có thể thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và trong sạch như vỏ ốc được đánh bóng. Hay là ta cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.” Vào một dịp sau đó, từ bỏ tài sản ít hay nhiều, từ bỏ bà con quyến thuộc ít hay nhiều, tôi đã cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, và từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.

13-17. "'Xuất gia như vậy và thọ trì giới luật cùng nếp sống của tỳ kheo…(như Kinh 51, §§14-19) [34, 35]…Tôi đã thanh lọc tâm khỏi nghi ngờ (purification of doubt - sự làm trong sạch tâm khỏi sự hoài nghi). [36]

18. "'Sau khi từ bỏ năm triền cái này, những bất toàn của tâm làm suy yếu trí tuệ, tôi ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Diệt tầm và tứ, tôi chứng và trú thiền thứ hai… Ly hỷ… tôi chứng và trú thiền thứ ba… Xả lạc và khổ… tôi chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

19. "'Khi tâm tôi định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, và đạt đến trạng thái bất động như vậy, tôi hướng tâm đến trí tuệ về sự đoạn tận các lậu hoặc (knowledge of the destruction of the taints - sự hiểu biết về việc chấm dứt hoàn toàn các ô nhiễm tinh thần). [^1062] Tôi biết rõ như thật: “Đây là Khổ”… “Đây là Nguồn gốc của Khổ”… “Đây là Sự diệt Khổ”… “Đây là Con đường dẫn đến Sự diệt Khổ.” Tôi biết rõ như thật: “Đây là các lậu hoặc”… “Đây là nguồn gốc của các lậu hoặc”… “Đây là sự diệt các lậu hoặc”… “Đây là con đường dẫn đến sự diệt các lậu hoặc.”

20. "'Khi biết và thấy như vậy, tâm tôi được giải thoát khỏi dục lậu (lậu hoặc do tham ái dục lạc), hữu lậu (lậu hoặc do tham ái sự tồn tại), và vô minh lậu (lậu hoặc do vô minh). Khi tâm được giải thoát, trí tuệ khởi lên: “Tâm đã giải thoát.” Tôi biết rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái nào nữa.”

"‘Chính nhờ biết như vậy, thấy như vậy, này các hiền giả, mà đối với thân này cùng với thức của nó và tất cả các dấu hiệu bên ngoài, sự tạo tác cái tôi, sự tạo tác cái của tôi, và khuynh hướng ngầm của sự kiêu mạn đã được đoạn trừ nơi tôi.’

21. "Nói ‘lành thay,’ này các Tỳ kheo, người ta có thể hoan hỷ và vui mừng với lời nói của vị tỳ kheo ấy. Sau khi làm vậy, nên nói với vị ấy: ‘Thật là lợi ích cho chúng tôi, hiền giả, [37] thật là lợi ích lớn cho chúng tôi, hiền giả, khi chúng tôi được thấy một vị đồng phạm hạnh như tôn giả.’"1063

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã dạy. Các vị tỳ kheo hài lòng và hoan hỷ với lời dạy của Đức Thế Tôn.

112. KINH SÁU THANH TỊNH

112. KINH SÁU THANH TỊNH (Chabbisodhana Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anathapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ- kheo, “Này các Tỷ-kheo”. – “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau :

– Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói lên chánh trí (annam) như sau: “Ta tuệ tri như vầy:“Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””.

Này các Tỷ-kheo, lời nói của vi Tỷ-kheo ấy, không nên tán thán cũng không nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, cần hỏi câu hỏi: “Này Hiền giả, có bốn hình thức tuyên bố này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Thế nào là bốn? Cái gì được thấy được nói lên như là được thấy. Cái gì được nghe được nói lên là được nghe. Cái gì được cảm giác được nói lên như là cảm giác. Cái gì được nhận thức được nói lên như là được nhận thức. Bốn hình thức tuyên bố này, Này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, đối với bốn hình thức tuyên bố này, Tôn giả có thể nói là tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ?”

Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp (anudhamma) của vị ấy phải như sau:

“Này chư Hiền, tôi không cảm thấy luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế, đối với những vật được thấy… được nghe… được cảm giác… được nhận thức. Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với bốn hình thức tuyên bố này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!” Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi.:

“Này Hiền giả, năm thủ uẩn này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, thọ thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Năm thủ uẩn này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, đối với năm thủ uẩn này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?”

Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:

"Này chư Hiền, sau khi biết sắc này là vô lực, biến hoại, không an ổn, đối với những sắc là những chấp thủ phương tiện (upayupadana), là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên, đối với những sắc ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.

Này chư Hiền, sau khi biết thọ này…

Này chư Hiền, sau khi biết tưởng này…

Này chư Hiền, sau khi biết hành này…

Này chư Hiền, sau khi biết thức này là vô lực, biến hoại, không an ổn, đối với thức là những chấp thủ phương tiện, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên. Ðối với những thức ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.

Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với năm thủ uẩn này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ".

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!”. Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi thêm:

“Này Hiền giả, sáu giới này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Thế nào là sáu? Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thực giới. Sáu giới này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì với sáu giới này, Tôn giả có thể nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?”

Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục địch, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:

"Chư Hiền, tôi đã đi đến địa giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc địa giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc địa giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.

Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thủy giới…

Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến hỏa giới…

Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến phong giới…

Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến không giới…

Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thức giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc thức giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc thức giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.

Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu giới này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ".

Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tủy hỷ với lời nói: “Lành thay!”. Sau khi tán thán tùy hỷ với lời nói:“Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi:

"Này Hiền giả, sáu nội ngoại xứ này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Thế nào là sáu? Mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Sáu nội ngoại xứ này, này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, thấy cái gì đối với sáu nội ngoại xứ này, Tôn

giả có thể nói tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?".

Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:

"Chư Hiền, đối với mắt, đối với sắc, đối với nhãn thức, đối với những pháp được nhận thức bởi nhãn thức, phàm có dục gì, tham gì, hỷ gì, ái gì, phàm có những pháp chấp thủ phương tiện, những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên. Ðối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát. Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu nội ngoại xứ này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Chư Hiền, đối với tai, đối với tiếng, đối với nhĩ thức…; chư Hiền, đối với mũi, đối với hương, đối với tỷ thức…; chư Hiền, đối với lưỡi, đối với vị, đối với thiệt thức…; chư Hiền, đối với thân, đối với xúc, đối với thân thức…; chư Hiền, đối với ý, đối với pháp, đối với ý thức, đối với các pháp được nhận thức bởi ý thức, phàm có dục gì, tham gì, hỷ gì, ái gì, phàm có những chấp thủ phương tiện, những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.

Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu nội ngoại xứ này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ".

Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!” Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay”, một câu hỏi nữa cần phải được hỏi thêm:

“Nhưng này Hiền giả, do biết gì, thấy gì, do đối với các thân có nhận thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, Tôn giả có thể nói về mạn tùy miên: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, mạn tùy miên của Tôn giả được đoạn trừ một cách hoàn toàn?”.

Chư Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm, đã làm, đã đặt gánh xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp của vị ấy phải như sau:

"Chư Hiền, thuở xưa, khi tôi chưa xuất gia, tôi còn ngu muội. Tôi được Như Lai, đệ tử Như Lai thuyết pháp. Sau khi nghe pháp. Tôi có lòng tịnh tín đối với Như Lai. Thánh tựu được tịnh tín ấy, tôi suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.

"Chư Hiền, một thời gian sau, tôi từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Khi đã xuất gia như vậy, tôi thành tựu học giới và nếp sống các vị Tỷ-kheo, tôi từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loại hữu tình. Tôi từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh không có trộm cướp. Tôi từ bỏ phi Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống tránh xa (phi Phạm hạnh), từ bỏ dâm dục tục pháp.

Tôi từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chơn thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời. Tôi từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều này ở chỗ kia, không đi nói với những người này, để sinh chia rẽ ở những người kia. Tôi sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Tôi từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, tôi nói những lời nhẹ nhàng, thuận tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, tôi nói những lời nói như vậy. Tôi từ bỏ nói lời phù phiếm, tránh xa nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.

Tôi từ bỏ không làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn phi thời. Tôi từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn. Tôi từ bỏ không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, các thời trang, các thời sức. Tôi từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn. Tôi từ bỏ không nhận các hạt sống. Tôi từ bỏ không nhận thịt sống. Tôi từ bỏ không nhận đàn bà, con gái. Tôi từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai. Tôi từ bỏ không nhận cừu dê. Tôi từ bỏ không nhận gia cầm và heo. Tôi từ bỏ không voi, bò, ngựa và ngựa cái. Tôi từ bỏ không nhận ruộng nương và đất đai. Tôi từ bỏ không nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Tôi từ bỏ không buôn bán. Tôi từ bỏ các sự gian lận bằng cân tiền bạc và đo lường. Tôi từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Tôi từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.

Tôi bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, tôi bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Tôi thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm.

Khi mắt thấy sắc, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, tôi tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, tôi không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, tôi tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Tôi thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.

Khi đi tới, khi đi lui, tôi đều tỉnh giác. Khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh, tôi đều tỉnh giác. Khi co tay, khi duỗi tay, tôi đều tỉnh giác. Khi mang y kép, y bát, tôi đều tỉnh giác. Khi ăn, uống, nhai, nuốt, tôi đều tỉnh giác. Khi đi đại tiện, tiểu tiện, tôi đều tỉnh giác. Khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng, tôi đều tỉnh giác.

"Và tôi đều thành tự Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này chọn một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm.

Sau khi đi khất thực về và ăn xong, tôi ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Tôi từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, tôi sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rữa tâm hết sân hân. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, tôi sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trâm thụy miên. Trừ bỏ trạo cử hối quá, tôi sống không trạo cử, hối quá, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, tôi sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

"Tôi từ bỏ năm triền cái, các pháp làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược này, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục, sanh có tầm có tứ. Tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tôi ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tôi xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

"Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, tôi dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Tôi biết như thật:“Ðây là khổ”, biết như thật:“Ðây là nguyên nhân của khổ”, biết như thật:“Ðây là khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là các lậu hoặc được đoạn trừ”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc được diệt trừ”.

“Tôi nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của tôi thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, tôi khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát””. Tôi biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa”.

“Chư Hiền do biết như vậy, thấy như vậy, đối với các thân có nhận thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, mạn tùy miên: “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”, mạn tùy miên này được đoạn trừ một cách hoàn toàn”.

Này các Tỷ-kheo Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy hỷ với lời nói: “Lành thay!” Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: “Lành thay” vị ấy cần phải nói như sau: “Thật lợi ích thay cho chúng tôi, thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một vị sống Phạm hạnh như Tôn giả”.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Buddhist monk: Nhà sư Phật giáo đã thọ giới cụ túc, thường là nam giới trong truyền thống Theravada.
  • Chánh trí / Aññā / Final knowledge: Trí tuệ cuối cùng, sự hiểu biết hoàn toàn dẫn đến giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, đặc trưng của một vị A-la-hán.
  • Lậu hoặc / Āsava / Taints, outflows, corruptions: Những ô nhiễm tinh thần sâu xa (như dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi.
  • Chấp thủ / Upādāna / Clinging, attachment: Sự bám víu, dính mắc vào các đối tượng (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hoặc quan điểm, là nguyên nhân của khổ đau.
  • Năm uẩn / Pañca khandhā / Five aggregates: Năm nhóm yếu tố tạo thành một chúng sinh (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), đối tượng của sự chấp thủ.
  • Sáu giới / Cha dhātuyo / Six elements: Sáu yếu tố cơ bản cấu thành mọi hiện hữu: đất (địa), nước (thủy), lửa (hỏa), gió (phong), không gian (không), và thức (thức).
  • Sáu nội ngoại xứ / Saḷāyatana / Six internal and external sense bases: Sáu cơ quan cảm giác bên trong (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và sáu đối tượng tương ứng bên ngoài (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
  • Tạo tác cái tôi, cái của tôi, kiêu mạn / Ahaṃkāra, mamaṃkāra, mānānusaya / I-making, mine-making, underlying tendency to conceit: Sự hình thành quan niệm sai lầm về một cái “tôi” thường hằng, cái “của tôi”, và khuynh hướng kiêu ngạo tiềm ẩn phát sinh từ đó.
  • Thanh lọc nghi / Kaṅkhāvitaraṇavisuddhi / Purification of doubt: Một trong bảy giai đoạn thanh lọc (visuddhi), là sự làm trong sạch tâm khỏi sự hoài nghi đối với Tam Bảo và con đường tu tập.
  • Trí tuệ đoạn tận lậu hoặc / Āsavakkhayañāṇa / Knowledge of the destruction of the taints: Trí tuệ thấy rõ sự chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc, là dấu hiệu của sự chứng đắc A-la-hán.
  • Bốn sự thật cao quý / Cattāri ariya saccāni / Four Noble Truths: Bốn sự thật nền tảng của Phật giáo: Khổ (sự thật về khổ đau), Tập (sự thật về nguyên nhân khổ đau), Diệt (sự thật về sự chấm dứt khổ đau), Đạo (sự thật về con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau).
  • Thiền / Jhāna / Meditative absorption: Các trạng thái tâm định sâu sắc đạt được qua thiền định, đặc trưng bởi sự vắng lặng các triền cái và sự hiện diện của các yếu tố thiền như tầm, tứ, hỷ, lạc, xả.
  • Như Lai / Tathāgata / Thus Come One/Thus Gone One: Một danh hiệu tôn kính của Đức Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”, chỉ sự chứng ngộ chân lý như thật.
  • Pháp / Dhamma (Pali), Dharma (Sanskrit) / The Buddha’s teachings, reality, phenomena: Giáo pháp của Đức Phật; Chân lý tối hậu; các hiện tượng, sự vật. Nghĩa của từ này thay đổi tùy theo ngữ cảnh.