Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 119. Kinh Niệm Thân

(Kāyagatāsati Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại thành Xá-vệ (Sāvatthī), trong vườn Kỳ Đà (Jeta’s Grove), tu viện của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika).

2. Khi ấy, một số tỳ kheo (bhikkhus - các nhà sư), sau khi đi khất thực về, dùng bữa xong, đã tụ họp tại giảng đường và cuộc thảo luận này khởi lên giữa họ: “Thật vi diệu thay, chư hiền, thật kỳ diệu thay, lời dạy của Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A La Hán (accomplished - người đã hoàn thiện, đã đạt giác ngộ), bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (fully enlightened - người tự mình giác ngộ hoàn toàn), rằng pháp niệm thân (mindfulness of the body - sự chú tâm, ghi nhớ về thân), khi được tu tập và thực hành sung mãn, sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn.”

Tuy nhiên, cuộc thảo luận của họ bị gián đoạn; vì vào buổi chiều, Đức Thế Tôn xả thiền định, đi đến giảng đường và ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi Ngài hỏi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, các ông đang ngồi lại đây bàn luận về vấn đề gì? Và cuộc thảo luận nào của các ông đã bị gián đoạn?” [89]

“Bạch Thế Tôn, chúng con đang ngồi tại giảng đường, sau khi đi khất thực về, dùng bữa xong, thì cuộc thảo luận này khởi lên giữa chúng con: ‘Thật vi diệu thay, chư hiền, thật kỳ diệu thay, lời dạy của Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, bậc Kiến Giả, bậc A La Hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, rằng pháp niệm thân, khi được tu tập và thực hành sung mãn, sẽ mang lại quả lớn, lợi ích lớn.’ Bạch Thế Tôn, đó là cuộc thảo luận của chúng con đã bị gián đoạn khi Đức Thế Tôn đến.”

3. "Và này các tỳ kheo, niệm thân được tu tập và thực hành sung mãn như thế nào để mang lại quả lớn, lợi ích lớn?

(NIỆM HƠI THỞ)

4. "Ở đây, này các tỳ kheo, [^1129] một tỳ kheo đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc đến một ngôi nhà trống, ngồi xuống; xếp chân theo thế kiết già, giữ thân thẳng, và an trú chánh niệm (mindfulness - sự chú tâm, ghi nhớ không quên đối tượng) trước mặt, luôn luôn chánh niệm khi thở vào, chánh niệm khi thở ra. Thở vào dài, vị ấy biết rõ: ‘Tôi thở vào dài’; hay thở ra dài, vị ấy biết rõ: ‘Tôi thở ra dài.’ Thở vào ngắn, vị ấy biết rõ: ‘Tôi thở vào ngắn’; hay thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: ‘Tôi thở ra ngắn.’ Vị ấy tập luyện như sau: ‘Tôi sẽ thở vào, cảm nhận toàn thân [hơi thở]’; vị ấy tập luyện như sau: ‘Tôi sẽ thở ra, cảm nhận toàn thân [hơi thở].’ Vị ấy tập luyện như sau: ‘Tôi sẽ thở vào, làm an tịnh thân hành (tranquillising the bodily formation - làm lắng dịu các hoạt động liên quan đến hơi thở và thân thể)’; vị ấy tập luyện như sau: ‘Tôi sẽ thở ra, làm an tịnh thân hành.’ Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm, những ký ức và ý định liên quan đến đời sống thế tục (household life - đời sống tại gia, không xuất gia) được từ bỏ; với sự từ bỏ ấy, tâm trở nên vững vàng nội tại, lắng dịu, đạt đến nhất tâm và định tĩnh. Đó là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân.

(BỐN OAI NGHI)

5. "Lại nữa, này các tỳ kheo, khi đi, tỳ kheo biết rõ: ‘Tôi đang đi’; khi đứng, vị ấy biết rõ: ‘Tôi đang đứng’; khi ngồi, vị ấy biết rõ: ‘Tôi đang ngồi’; khi nằm, vị ấy biết rõ: ‘Tôi đang nằm’; hoặc vị ấy biết rõ tùy theo thân thể đang ở tư thế nào. Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm, những ký ức và ý định liên quan đến đời sống thế tục được từ bỏ… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân. [90]

(TỈNH GIÁC HOÀN TOÀN)

6. "Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo là người hành động với sự tỉnh giác hoàn toàn (full awareness - sự biết rõ ràng, trọn vẹn những gì đang diễn ra) khi đi tới và đi lui; người hành động với sự tỉnh giác hoàn toàn khi nhìn thẳng và nhìn quanh; người hành động với sự tỉnh giác hoàn toàn khi co và duỗi các chi; người hành động với sự tỉnh giác hoàn toàn khi mặc y và mang y bát; người hành động với sự tỉnh giác hoàn toàn khi ăn, uống, nhai, nếm; người hành động với sự tỉnh giác hoàn toàn khi đại tiện hoặc tiểu tiện; người hành động với sự tỉnh giác hoàn toàn khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và giữ im lặng. Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm, những ký ức và ý định liên quan đến đời sống thế tục được từ bỏ… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân.

(QUÁN BẤT TỊNH - CÁC BỘ PHẬN CƠ THỂ)

7. "Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo quán xét chính thân này, từ lòng bàn chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống, được bao bọc bởi da, đầy những thứ bất tịnh (impurity - sự không trong sạch, ô uế) như sau: ‘Trong thân này có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột già, ruột non, thức ăn trong dạ dày, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, và nước tiểu.’ Ví như có một cái bao có hai đầu mở, đựng đầy các loại hạt khác nhau, như gạo lứt, gạo đỏ, đậu, đậu Hà Lan, kê, và gạo trắng, và một người mắt sáng mở bao ra xem xét như sau: ‘Đây là gạo lứt, đây là gạo đỏ, đây là đậu, đây là đậu Hà Lan, đây là kê, đây là gạo trắng’; cũng vậy, tỳ kheo quán xét chính thân này đầy những thứ bất tịnh như sau: ‘Trong thân này có tóc… và nước tiểu.’ Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm, những ký ức và ý định liên quan đến đời sống thế tục được từ bỏ… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân. [91]

(QUÁN CÁC YẾU TỐ)

8. "Lại nữa, này các tỳ kheo, tỳ kheo quán xét chính thân này, dù ở tư thế nào, trạng thái nào, bao gồm các yếu tố (elements - các thành phần cơ bản cấu tạo nên vật chất) như sau: ‘Trong thân này có yếu tố đất, yếu tố nước, yếu tố lửa, và yếu tố gió.’ Ví như một người đồ tể lành nghề hoặc người học việc của ông ta giết một con bò, xẻ thịt ra thành từng mảnh và ngồi bán ở ngã tư đường; cũng vậy, tỳ kheo quán xét chính thân này, dù ở tư thế nào, trạng thái nào, bao gồm các yếu tố như sau: ‘Trong thân này có yếu tố đất, yếu tố nước, yếu tố lửa, và yếu tố gió.’ Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm, những ký ức và ý định liên quan đến đời sống thế tục được từ bỏ… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân.

(CHÍN GIAI ĐOẠN QUÁN TỬ THI Ở NGHĨA ĐỊA)

9. "Lại nữa, này các tỳ kheo, ví như tỳ kheo thấy một tử thi bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chết một, hai, hoặc ba ngày, sình trương, tím bầm, và rỉ mủ, vị ấy so sánh chính thân này với tử thi đó như sau: ‘Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, nó sẽ trở thành như thế, nó không thoát khỏi số phận đó.’ Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân.

10. "Lại nữa, ví như tỳ kheo thấy một tử thi bị quăng bỏ trong nghĩa địa, đang bị quạ, diều hâu, kền kền, chó, chó rừng, hoặc các loại giòi bọ khác ăn thịt, vị ấy so sánh chính thân này với tử thi đó như sau: ‘Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, nó sẽ trở thành như thế, nó không thoát khỏi số phận đó.’ Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân. [92]

11-14. "Lại nữa, ví như tỳ kheo thấy một tử thi bị quăng bỏ trong nghĩa địa, một bộ xương còn dính thịt và máu, được các sợi gân giữ lại… một bộ xương không còn thịt nhưng dính máu, được các sợi gân giữ lại… một bộ xương không còn thịt và máu, được các sợi gân giữ lại… những khúc xương rời rạc vương vãi khắp nơi - đây là xương tay, kia là xương chân, đây là xương ống chân, kia là xương đùi, đây là xương hông, kia là xương sống, đây là xương sườn, kia là xương ức, đây là xương cánh tay, kia là xương vai, đây là xương cổ, kia là xương hàm, đây là răng, kia là hộp sọ - vị ấy so sánh chính thân này với tử thi đó như sau: ‘Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, nó sẽ trở thành như thế, nó không thoát khỏi số phận đó.’ Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân.

15-17. "Lại nữa, ví như tỳ kheo thấy một tử thi bị quăng bỏ trong nghĩa địa, những khúc xương trắng bệch, màu như vỏ sò… những đống xương, đã hơn một năm… những khúc xương mục nát và tan thành bụi, vị ấy so sánh chính thân này với tử thi đó như sau: ‘Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, nó sẽ trở thành như thế, nó không thoát khỏi số phận đó.’ Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân.

(CÁC TẦNG THIỀN NA)

18. "Lại nữa, này các tỳ kheo, hoàn toàn ly dục (secluded from sensual pleasures - xa lìa các ham muốn giác quan), ly bất thiện pháp (secluded from unwholesome states - xa lìa các trạng thái tâm bất lợi), một tỳ kheo chứng và trú tầng thiền na thứ nhất (first jhāna - tầng thiền định đầu tiên), một trạng thái có tầm và tứ (applied and sustained thought - sự hướng tâm đến đối tượng và sự duy trì tâm trên đối tượng), với hỷ và lạc do ly dục sinh (rapture and pleasure born of seclusion - niềm vui và hạnh phúc sinh ra từ sự xa lìa). Vị ấy làm cho hỷ và lạc do ly dục sinh thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn và lan tỏa khắp thân này, đến nỗi không có một phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi hỷ và lạc do ly dục sinh. Ví như một người tắm lành nghề hoặc người học việc của ông ta [^1130] đổ bột tắm vào một cái chậu kim loại, rưới nước từ từ vào, nhào trộn cho đến khi nước làm ẩm viên bột tắm, thấm đẫm và lan tỏa cả trong lẫn ngoài, nhưng chính viên bột lại không chảy nhão; cũng vậy, tỳ kheo làm cho hỷ và lạc do ly dục sinh [93] thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn và lan tỏa khắp thân này, đến nỗi không có một phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi hỷ và lạc do ly dục sinh. Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân.

19. "Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự chấm dứt tầm và tứ, một tỳ kheo chứng và trú tầng thiền na thứ hai (second jhāna - tầng thiền định thứ hai), một trạng thái có nội tĩnh nhất tâm (self-confidence and singleness of mind - sự tự tin nội tại và tâm chuyên nhất), không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh (rapture and pleasure born of concentration - niềm vui và hạnh phúc sinh ra từ sự tập trung). Vị ấy làm cho hỷ và lạc do định sinh thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn và lan tỏa khắp thân này, đến nỗi không có một phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi hỷ và lạc do định sinh. Ví như có một hồ nước mà nước tự phun lên từ đáy, không có dòng chảy từ phía đông, tây, nam, hay bắc, và cũng không được bổ sung nước mưa theo thời gian, thì dòng nước mát phun lên trong hồ sẽ làm cho nước mát thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn và lan tỏa khắp hồ, đến nỗi không có một phần nào của toàn hồ không được thấm nhuần bởi nước mát; cũng vậy, tỳ kheo làm cho hỷ và lạc do định sinh thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn và lan tỏa khắp thân này, đến nỗi không có một phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi hỷ và lạc do định sinh. Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân.

20. "Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự ly hỷ (fading away of rapture - sự phai nhạt và chấm dứt của niềm vui thích), tỳ kheo trú trong xả (equanimity - trạng thái bình thản, không dao động của tâm), chánh niệm và tỉnh giác, vẫn cảm nhận lạc thọ nơi thân, vị ấy chứng và trú tầng thiền na thứ ba (third jhāna - tầng thiền định thứ ba), mà các bậc Thánh (noble ones - những người đã đạt các cấp độ giác ngộ) tuyên bố rằng: ‘Người có tâm xả và chánh niệm là người sống an lạc.’ Vị ấy làm cho lạc không còn hỷ thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn và lan tỏa khắp thân này, đến nỗi không có một phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi lạc không còn hỷ. Ví như trong một hồ sen xanh, sen trắng hoặc sen hồng, có những bông sen sinh ra và lớn lên trong nước, phát triển ngập trong nước mà không vươn lên khỏi mặt nước, [94] và nước mát thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn và lan tỏa khắp từ ngọn đến gốc, đến nỗi không có một phần nào của tất cả những bông sen đó không được thấm nhuần bởi nước mát; cũng vậy, tỳ kheo làm cho lạc không còn hỷ thấm nhuần, tràn ngập, sung mãn và lan tỏa khắp thân này, đến nỗi không có một phần nào của toàn thân không được thấm nhuần bởi lạc không còn hỷ. Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn… Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân.

21. "Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự xả lạc, xả khổ, và sự diệt trừ hỷ và ưu trước đó, một tỳ kheo chứng và trú tầng thiền na thứ tư (fourth jhāna - tầng thiền định thứ tư), một trạng thái không khổ không lạc (neither-pain-nor-pleasure - trạng thái cảm thọ trung tính) và có sự thanh tịnh của niệm nhờ xả (purity of mindfulness due to equanimity - trạng thái chánh niệm trong sáng hoàn toàn do tâm xả). Vị ấy ngồi, làm cho tâm thuần tịnh, trong sáng lan tỏa khắp thân này, đến nỗi không có một phần nào của toàn thân không được lan tỏa bởi tâm thuần tịnh, trong sáng. Ví như một người ngồi, trùm một tấm vải trắng từ đầu xuống chân, đến nỗi không có một phần nào của toàn thân không được phủ bởi tấm vải trắng; cũng vậy, tỳ kheo ngồi, làm cho tâm thuần tịnh, trong sáng lan tỏa khắp thân này, đến nỗi không có một phần nào của thân không được lan tỏa bởi tâm thuần tịnh, trong sáng. Khi vị ấy an trú như vậy, tinh tấn, nhiệt tâm, và quyết tâm, những ký ức và ý định liên quan đến đời sống thế tục được từ bỏ; với sự từ bỏ ấy, tâm trở nên vững vàng nội tại, lắng dịu, đạt đến nhất tâm và định tĩnh. Đó cũng là cách một tỳ kheo tu tập niệm thân.

(SỰ TIẾN BỘ NHỜ NIỆM THÂN)

22. "Này các tỳ kheo, bất cứ ai đã tu tập và thực hành sung mãn niệm thân thì cũng đã bao gồm trong mình tất cả các thiện pháp (wholesome states - các trạng thái tâm tốt lành, có lợi) nào thuộc về minh kiến (true knowledge - sự hiểu biết chân chính, trí tuệ). [^1131] Ví như bất cứ ai đã trải rộng tâm mình bao trùm cả đại dương thì cũng đã bao gồm trong đó tất cả các dòng sông nào chảy vào đại dương; cũng vậy, bất cứ ai đã tu tập và thực hành sung mãn niệm thân thì cũng đã bao gồm trong mình tất cả các thiện pháp nào thuộc về minh kiến.

23. “Này các tỳ kheo, khi một người không tu tập và thực hành sung mãn niệm thân, Ma Vương (Māra - hiện thân của cám dỗ, sự chết, và các chướng ngại trên con đường tu tập) tìm thấy cơ hội và chỗ dựa nơi người ấy. Giả sử một người ném một quả cầu đá nặng vào một đống đất sét ướt. Các ông nghĩ sao, này các tỳ kheo? Quả cầu đá nặng đó có thể lún sâu vào đống đất sét ướt đó không?” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” - [95] "Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một người không tu tập và thực hành sung mãn niệm thân, Ma Vương tìm thấy cơ hội và chỗ dựa nơi người ấy.

24. “Giả sử có một khúc gỗ khô không còn nhựa, và một người mang đến một que cọ lửa, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ nhóm lửa, ta sẽ tạo ra nhiệt.’ Các ông nghĩ sao, này các tỳ kheo? Người đó có thể nhóm lửa và tạo ra nhiệt bằng cách dùng que cọ lửa cọ xát vào khúc gỗ khô không còn nhựa đó không?” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” - "Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một người không tu tập và thực hành sung mãn niệm thân, Ma Vương tìm thấy cơ hội và chỗ dựa nơi người ấy.

25. “Giả sử có một cái bình nước rỗng không, đặt trên giá, và một người mang nước đến. Các ông nghĩ sao, này các tỳ kheo? Người đó có thể đổ nước vào bình không?” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” - "Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một người không tu tập và thực hành sung mãn niệm thân, Ma Vương tìm thấy cơ hội và chỗ dựa nơi người ấy.

26. “Này các tỳ kheo, khi một người đã tu tập và thực hành sung mãn niệm thân, Ma Vương không thể tìm thấy cơ hội hay chỗ dựa nơi người ấy. Giả sử một người ném một cuộn chỉ nhẹ vào một tấm cửa làm hoàn toàn bằng gỗ lõi. Các ông nghĩ sao, này các tỳ kheo? Cuộn chỉ nhẹ đó có thể xuyên qua tấm cửa làm hoàn toàn bằng gỗ lõi đó không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - "Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một người đã tu tập và thực hành sung mãn niệm thân, Ma Vương không thể tìm thấy cơ hội hay chỗ dựa nơi người ấy.

27. “Giả sử có một khúc gỗ ướt còn nhựa, và một người mang đến một que cọ lửa, nghĩ rằng: ‘Ta sẽ nhóm lửa, ta sẽ tạo ra nhiệt.’ [96] Các ông nghĩ sao, này các tỳ kheo? Người đó có thể nhóm lửa và tạo ra nhiệt bằng cách lấy que cọ lửa cọ xát vào khúc gỗ ướt còn nhựa đó không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - "Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một người đã tu tập và thực hành sung mãn niệm thân, Ma Vương không thể tìm thấy cơ hội hay chỗ dựa nơi người ấy.

28. “Giả sử, đặt trên giá, có một bình nước đầy tràn đến miệng để quạ có thể uống được, và một người mang nước đến. Các ông nghĩ sao, này các tỳ kheo? Người đó có thể đổ thêm nước vào bình không?” - “Thưa không, bạch Thế Tôn.” - "Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một người đã tu tập và thực hành sung mãn niệm thân, Ma Vương không thể tìm thấy cơ hội hay chỗ dựa nơi người ấy.

29. “Này các tỳ kheo, khi một người đã tu tập và thực hành sung mãn niệm thân, thì khi vị ấy hướng tâm đến việc chứng ngộ bất kỳ trạng thái nào có thể chứng ngộ bằng thắng trí (direct knowledge - sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt), vị ấy đạt được khả năng chứng nghiệm mọi khía cạnh của trạng thái đó, khi có cơ sở thích hợp. Giả sử, đặt trên giá, có một bình nước đầy tràn đến miệng để quạ có thể uống được. Bất cứ khi nào một người khỏe mạnh nghiêng bình, nước có chảy ra không?” - “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” - "Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một người đã tu tập và thực hành sung mãn niệm thân, thì khi vị ấy hướng tâm đến việc chứng ngộ bất kỳ trạng thái nào có thể chứng ngộ bằng thắng trí, vị ấy đạt được khả năng chứng nghiệm mọi khía cạnh của trạng thái đó, khi có cơ sở thích hợp.

30. “Giả sử có một cái ao vuông trên mặt đất bằng phẳng, có bờ bao quanh, đầy nước tràn đến miệng để quạ có thể uống được. Bất cứ khi nào một người khỏe mạnh phá bờ ao, nước có chảy ra không?” - [97] “Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” - "Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một người đã tu tập và thực hành sung mãn niệm thân… vị ấy đạt được khả năng chứng nghiệm mọi khía cạnh của trạng thái đó, khi có cơ sở thích hợp.

31. "Giả sử có một cỗ xe trên mặt đất bằng phẳng ở ngã tư đường, được thắng vào những con ngựa thuần chủng, đang chờ sẵn với cây roi thúc ngựa đặt gần đó, để một người huấn luyện ngựa lành nghề, một người đánh xe ngựa giỏi, có thể leo lên, tay trái cầm dây cương, tay phải cầm roi, có thể đánh xe đi và về bất cứ con đường nào tùy ý. Cũng vậy, này các tỳ kheo, khi một người đã tu tập và thực hành sung mãn niệm thân… vị ấy đạt được khả năng chứng nghiệm mọi khía cạnh của trạng thái đó, khi có cơ sở thích hợp.

(LỢI ÍCH CỦA NIỆM THÂN)

32. "Này các tỳ kheo, khi niệm thân được thực hành lặp đi lặp lại, được tu tập, được thực hành sung mãn, được dùng làm cỗ xe, được dùng làm nền tảng, được thiết lập, được củng cố, và được thực hiện tốt đẹp, mười lợi ích này có thể được mong đợi. Mười lợi ích đó là gì?

33. (i) "Người ấy chế ngự được sự bất mãn và thích thú, và sự bất mãn không chế ngự được người ấy; người ấy an trú, vượt qua sự bất mãn bất cứ khi nào nó khởi lên.

34. (ii) "Người ấy chế ngự được sợ hãi và kinh hoàng, và sợ hãi và kinh hoàng không chế ngự được người ấy; người ấy an trú, vượt qua sợ hãi và kinh hoàng bất cứ khi nào chúng khởi lên.

35. (iii) "Người ấy chịu đựng được lạnh và nóng, đói và khát, sự tiếp xúc của ruồi, muỗi, gió, nắng, và các loài bò sát; người ấy chịu đựng được những lời nói ác ý, không vừa lòng và những cảm giác đau đớn, dữ dội, nhói buốt, khó chịu, khổ sở, và nguy hiểm đến tính mạng khởi lên nơi thân.

36. (iv) "Người ấy đạt được bốn tầng thiền na (jhānas - các trạng thái nhập định sâu) theo ý muốn, không khó khăn, không trở ngại, những trạng thái này tạo thành tâm cao thượng và [98] mang lại sự an trú dễ chịu ngay trong hiện tại.

37. (v) "Người ấy thể hiện được các loại thần thông khác nhau… (như trong Kinh 108, §18)… người ấy làm chủ được thân thể cho đến tận cõi Phạm thiên.

38. (vi) "Với thiên nhĩ thông (divine ear element - khả năng nghe được âm thanh cõi trời và người, xa và gần), thanh tịnh và siêu việt hơn tai người, người ấy nghe được cả hai loại âm thanh, của trời và người, dù ở xa hay gần.

39. (vii) "Người ấy hiểu được tâm của các chúng sinh khác, của những người khác, bằng cách dùng tâm mình bao trùm tâm họ. Người ấy biết tâm bị tham ái chi phối là tâm bị tham ái chi phối… (như trong Kinh 108, §20)… tâm chưa giải thoát là tâm chưa giải thoát.

40. (viii) "Người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của mình, nghĩa là, [99] một kiếp, hai kiếp… (như trong Kinh 51, §24)… Như vậy, với các khía cạnh và chi tiết, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của mình (túc mạng thông - recollection of past lives - khả năng nhớ lại các kiếp sống quá khứ).

41. (ix) "Với thiên nhãn thông (divine eye - khả năng thấy chúng sinh tái sinh… theo nghiệp), thanh tịnh và siêu việt hơn mắt người, người ấy thấy chúng sinh chết đi và tái sinh, hạ liệt và cao sang, xinh đẹp và xấu xí, may mắn và bất hạnh, và người ấy hiểu rõ chúng sinh tiếp diễn như thế nào tùy theo hành động (nghiệp) của họ.

42. (x) "Bằng cách tự mình chứng ngộ với thắng trí, ngay trong hiện tại, vị ấy nhập và trú trong tâm giải thoát (deliverance of mind - sự giải thoát khỏi các ràng buộc của tâm) và tuệ giải thoát (deliverance by wisdom - sự giải thoát nhờ trí tuệ) không còn lậu hoặc (taintless - không còn các ô nhiễm, phiền não) do sự đoạn trừ các lậu hoặc (destruction of the taints - sự diệt tận các phiền não gốc rễ).

43. “Này các tỳ kheo, khi niệm thân được thực hành lặp đi lặp lại, được tu tập, được thực hành sung mãn, được dùng làm cỗ xe, được dùng làm nền tảng, được thiết lập, được củng cố, và được thực hiện tốt đẹp, mười lợi ích này có thể được mong đợi.”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã dạy. Các tỳ kheo hoan hỷ và tín thọ lời Đức Thế Tôn dạy.

119. KINH THÂN HÀNH NIỆM

119. KINH THÂN HÀNH NIỆM (Kàyagatàsati Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi một số đông Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong hội trường, câu chuyện này được khởi lên giữa chúng Tăng:

– Thật vi diệu thay, chư Hiền giả! Thật hy hữu thay, chư Hiền giả! Thân hành niệm, khi được tu tập và làm cho sung mãn, có được quả lớn, có được công đức lớn, như đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố.

Và câu chuyện này giữa các Tỷ-kheo ấy đã bị gián đoạn.

Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiện tịnh độc cư đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến ngồi lên chỗ soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

– Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông hiện nay đang ngồi bàn vấn đề gì? Câu chuyện gì của các Ông bị gián đoạn?

– Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi ăn xong, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi tụ họp tại hội trường, và câu chuyện sau này được khởi lên: “Thật vi diệu thay, chư Hiền giả! Thật hy hữu thay, chư Hiền giả! Thân hành niệm này được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có công đức lớn, đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố”. Bạch Thế Tôn, câu chuyện này của chúng con chưa bàn xong thời Thế Tôn đến.

– Và này các Tỷ-kheo, thân hành niệm tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có công đức lớn?

(Quán niệm hơi thở)

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô. Chánh niệm, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”. An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

(Bốn oai nghi)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, biết rằng: “Tôi đi”. Hay đứng, biết rằng: “Tôi đứng”. Hay ngồi, biết rằng: “Tôi ngồi”. Hay nằm, biết rằng: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân thể như thế ấy. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

(Ðầy đủ chánh niệm)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi bước tới, bước lui biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo tăng- già-lê (sanghati), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng biết rõ việc mình đang làm.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

(Quán thân bất tịnh)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”. Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ- kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: 'Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu".

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

(Quán tứ đại)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại”. Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

(Quán tử thi)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị

các loài côn trùng ăn; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại… với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại… chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xướng sống, ở đây là xương đầu; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật… Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thế quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc… chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm… chỉ còn là xương thối trở thành bột; Tỷ- kheo quán thân ấy như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy”.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật… Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

(Các bậc Thiền)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm và tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm; sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ- kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật… Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.

Này các Tỷ-kheo, ví như một hồ nước, nước tự trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân, không

được hỷ lạc do đính sanh ấy thấm nhuần.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật… Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, chứng và an trú Thiền thứ ba. Tỷ-kheo, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân, không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

Này các Tỷ-kheo, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.

Trong khi vị ấy sống không phóng dật… Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy ngồi, thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

Này các Tỷ-kheo, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.

Trong khi vị ấy sống an trú không phóng dật… Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

(Sự phát triển qua thân hành niệm)

Này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập, làm cho sung mãn thân hành niệm, các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm (antogadha) đều thuộc về minh phần (vijjabhagiya). Ví như, này các Tỷ-kheo, biến lớn của ai được thấm nhuần bởi tâm, thời các con sông của vị ấy đi vào trong biển, đều thuộc về biển lớn; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập làm cho sung mãn thân hành niệm, các thiện pháp của vị ấy đi vào nội tâm, đều thuộc về minh phần.

Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo nào không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, thời Ma (vương) có cơ hội với vị ấy, Ma (vương) có cơ duyên với vị ấy. Ví như này các Tỷ-kheo, có người quăng một hòn đá nặng vào một đống đất sét ướt nhuyễn, này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Có phải hòn đá nặng ấy có cơ hội (lún sâu) vào đống đất sét ướt nhuyễn ấy?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với ai không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, Ma (vương) có cơ hội với vị ấy, Ma (vương) có cơ duyên với vị ấy.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây khô không có nhựa, có người đến cầm phần phía trên của đồ quay lửa

và nói: “Tôi sẽ làm cho ngọn lửa sanh ra, tôi sẽ làm cho sức nóng hiện lên”. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy mang đến phần phía trên của đồ quay lửa, quay với cành cây khô không có nhựa ấy, người ấy có làm cho ngọn lửa sanh ra, có làm cho sức nóng hiện lên không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với ai không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, Ma (vương) có cơ hội với người ấy, Ma (vương) có cơ duyên với người ấy.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước, trống rỗng, trống không, được đặt trên cái giá, có một người đi đến, mang theo đầy nước. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể đổ nước (vào bình) không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị nào không tu tập thân hành niệm, không làm cho sung mãn, Ma (vương) có cơ hội với vị ấy, Ma (vương) có cơ duyên với vị ấy.

Này các Tỷ-kheo, vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma (vương) không có cơ hội với vị ấy. Ma (vương) không có duyên với vị ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người quăng một trái banh dây nhẹ vào một cánh cửa làm hoàn toàn bằng lõi cây. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Trái banh dây nhẹ ấy có cơ hội đối với cánh cửa làm hoàn toàn bằng lõi cây không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma (vương) không có cơ hội đối với vị ấy, Ma (vương) không có cơ duyên đối với vị ấy.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây ướt có nhựa, rồi một người đi đến mang theo phần trên đồ quay lửa và nói: “Tôi sẽ làm cho lửa sinh ra, tôi sẽ làm cho hơi nóng hiện lên”. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy mang theo phần trên đồ quay lửa, quay với các cây ướt và có nhựa, có thể làm cho lửa sanh ra, làm cho hơi nóng hiện lên được không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào có tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma (vương) không có cơ hội đối với vị ấy, Ma (vương) không có cơ duyên đối với vị ấy.

Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước đầy tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống được, được đặt trên cái giá, rồi có người đi đến, mang theo đầy nước. Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy có thể đổ được nước vào (bình ấy) không?

– Thưa không, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, Ma (vương) không có cơ hộ đối với người ấy, Ma (vương) không có cơ duyên đối với người ấy.

Này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt đạt được sự tinh xảo, (của pháp ấy) dầu thuộc giới xứ nào (sati sati ayatane). Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình đầy tràn

nước đến nỗi con quạ có thể uống được, được đặt trên cái giá và có người lực sĩ đến và lắc qua lắc lại cái bình ấy, như vậy nước có thể trào ra ngoài không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp ấy) dầu thuộc giới xứ nào.

Ví như có một hồ nước trên một miếng đất bằng, bốn phía có đê đắp làm cho vững chắc, và tràn đầy nước đến nỗi con quạ có thể uống được. Rồi có người lực sĩ đến và phá một khúc đê, nước có thể tràn ra ngoài không?

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

– Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp ấy) dầu thuộc giới xứ nào.

Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng tại chỗ ngã tư có một chiếc xe đậu, thắng với những con ngựa thuần thục, có roi ngựa đặt ngang sẵn sàng, có người mã thuật sư thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm dây cương, tay mặt cầm lấy roi ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui, tại chỗ nào và như thế nào theo ý mình muốn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vị nào tu tập thân hành niệm, làm cho sung mãn, vị ấy hướng tâm đã được chứng ngộ nhờ thắng trí đến pháp nào cần phải chứng ngộ nhờ thắng trí, vị ấy đối mặt được sự tinh xảo (của pháp ấy), dầu thuộc giới xứ nào.

(Công đức của thân hành niệm)

Này các Tỷ-kheo, thân hành niệm được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như thành cỗ xe, được làm như thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành, thời mười công đức này có thể được mong đợi. Thế nào là mười?

(1) Lạc bất lạc được nhiếp phục, và bất lạc không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục bất lạc được khởi lên; (2) khiếp đảm sợ hãi được nhiếp phục, và khiếp đảm sợ hãi không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm sợ hãi được khởi lên. (3) Vị ấy kham nhẫn được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, mặt trời, các loài rắn rết, các cách nói khó chịu, khó chấp nhận. Vị ấy có khả năng chịu đựng được những cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, thô bạo, chói đau, bất khả ý, bất khả ái, đưa đến chết điếng. (4) Tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, vị ấy chứng được bốn Thiền, thuần túy tâm tư, hiện tại lạc trú. (5) Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện một thân; hiện hình biến đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể, thân có thần thông bay cho đến Phạm thiên; (6) với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, ở xa hay ở gần. (7) Với tâm của vị ấy, vị ấy biết tâm của các chúng sanh, các loại người; tâm có tham, biết tâm có tham; tâm không tham, biết tâm không tham; tâm có sân, biết tâm có sân; tâm không sân, biết tâm không sân; tâm có si, biết tâm có si; tâm không si, biết tâm không si; tâm chuyên chú, biết tâm chuyên chú; tâm tán loạn, biết tâm tán loạn; tâm đại hành, biết tâm đại hành; tâm không đại hành, biết tâm không đại hành; tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng;

tâm vô thượng, biết tâm vô thượng; tâm Thiền định, biết tâm Thiền định; tâm không Thiền định, biết tâm không Thiền định; tâm giải thoát, biết tâm giải thoát; tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát. (8) Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời… vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết. (9) Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. (10) Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri với thượng trí, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát không có lậu hoặc.

Này các Tỷ-kheo, thân hành niệm được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được làm như cỗ xe, được làm như thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành, thời mười công đức này có thể mong đợi.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • niệm thân / kāyagatāsati / mindfulness of the body: Sự chú tâm, ghi nhớ liên tục vào các hoạt động, trạng thái, thành phần của thân thể như hơi thở, oai nghi, hành động, các bộ phận cơ thể, các yếu tố cấu thành, và tính vô thường, bất tịnh của thân.
  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Nhà sư nam trong Phật giáo Theravada, đã thọ giới cụ túc (giới luật đầy đủ), sống đời sống xuất gia, khất thực.
  • A La Hán / arahaṃ / accomplished/arahant: Bậc Thánh đã giác ngộ hoàn toàn, đoạn trừ mọi phiền não (lậu hoặc), không còn tái sinh trong luân hồi.
  • Chánh Đẳng Chánh Giác / sammāsambuddho / fully enlightened: Bậc giác ngộ hoàn toàn, tự mình tìm ra chân lý và thuyết giảng cho chúng sinh (chỉ Đức Phật).
  • chánh niệm / sati / mindfulness: Sự chú tâm, ghi nhớ, hay biết rõ đối tượng đang hiện hữu trong giây phút hiện tại mà không phán xét, không quên lãng.
  • thân hành / kāyasaṅkhāra / bodily formation: Các hoạt động liên quan đến thân, đặc biệt trong ngữ cảnh thiền hơi thở là chính hơi thở ra vào. Làm an tịnh thân hành nghĩa là làm cho hơi thở trở nên nhẹ nhàng, vi tế.
  • đời sống thế tục / gehasita / household life: Đời sống của người tại gia, còn vướng bận gia đình, tài sản, các mối quan hệ xã hội, đối lập với đời sống xuất gia.
  • tỉnh giác hoàn toàn / sampajañña / full awareness/clear comprehension: Sự biết rõ ràng, trọn vẹn những gì đang diễn ra trong hiện tại, bao gồm mục đích, sự thích hợp, phạm vi hoạt động và bản chất thực của hành động. Thường đi cùng với chánh niệm (sati-sampajañña).
  • bất tịnh / asubha / impurity/foulness: Sự không trong sạch, ô uế, đáng ghê tởm. Quán bất tịnh là một phương pháp thiền định để thấy rõ bản chất không sạch sẽ của thân thể, nhằm giảm bớt sự tham đắm.
  • yếu tố / dhātu / element: Các thành phần cơ bản cấu tạo nên vật chất. Trong kinh này đề cập đến bốn yếu tố chính (tứ đại): đất (đặc tính cứng, mềm), nước (đặc tính kết dính, lỏng), lửa (đặc tính nóng, lạnh), gió (đặc tính chuyển động, nâng đỡ).
  • thiền na / jhāna / meditative absorption: Trạng thái nhập định sâu, tâm an trú vững chắc vào một đối tượng thiền, đặc trưng bởi sự vắng mặt các chướng ngại và sự hiện diện của các yếu tố thiền như tầm, tứ, hỷ, lạc, xả, nhất tâm (tùy theo tầng thiền).
  • ly dục / vivicceva kāmehi / secluded from sensual pleasures: Sự xa lìa, tách khỏi các ham muốn liên quan đến năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân).
  • ly bất thiện pháp / vivicca akusalehi dhammehi / secluded from unwholesome states: Sự xa lìa, tách khỏi các trạng thái tâm tiêu cực, có hại như tham, sân, si, nghi, trạo cử, hôn trầm.
  • tầm và tứ / vitakka-vicāra / applied and sustained thought: Tầm là sự hướng tâm đến đối tượng thiền. Tứ là sự duy trì tâm trên đối tượng đó, khảo sát đối tượng. Đây là hai yếu tố có mặt ở tầng thiền thứ nhất.
  • hỷ / pīti / rapture: Niềm vui thích, phấn khởi, một yếu tố của thiền định (có mặt ở tầng thiền 1, 2, 3 theo một số phân tích, hoặc chỉ 1, 2 theo kinh này).
  • lạc / sukha / pleasure/happiness: Cảm giác hạnh phúc, dễ chịu, an lạc, một yếu tố của thiền định (có mặt ở tầng thiền 1, 2, 3).
  • nội tĩnh nhất tâm / ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ / self-confidence and singleness of mind: Trạng thái tâm lắng dịu, trong sáng, tin tưởng nội tại và hợp nhất vào một điểm (định), đặc trưng của tầng thiền thứ hai.
  • định / samādhi / concentration: Sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất một cách vững chắc, không dao động.
  • xả / upekkhā / equanimity: Trạng thái tâm bình thản, quân bình, không vui không buồn, không ưa không ghét, không dao động trước các đối tượng. Là yếu tố chính của tầng thiền thứ ba và thứ tư.
  • bậc Thánh / ariya / noble one: Những người đã đạt được các cấp độ giác ngộ trong Phật giáo (Nhập lưu, Nhất lai, Bất lai, A La Hán).
  • không khổ không lạc / adukkhamasukhaṃ / neither-pain-nor-pleasure: Trạng thái cảm thọ trung tính, không phải khổ cũng không phải lạc, đặc trưng của tầng thiền thứ tư.
  • thanh tịnh của niệm nhờ xả / upekkhāsatipārisuddhiṃ / purity of mindfulness due to equanimity: Trạng thái chánh niệm hoàn toàn trong sáng, thuần khiết do tâm đã đạt đến trạng thái xả hoàn toàn, đặc trưng của tầng thiền thứ tư.
  • thiện pháp / kusalā dhammā / wholesome states: Các trạng thái tâm tốt lành, có lợi, dẫn đến an lạc và giải thoát, như lòng tin, tinh tấn, chánh niệm, định, tuệ, từ, bi…
  • minh kiến / vijjā / true knowledge: Sự hiểu biết chân chính, trí tuệ thấy rõ bản chất của các pháp, đối lập với vô minh (avijjā). Trong ngữ cảnh cao hơn, có thể chỉ các loại thắng trí.
  • Ma Vương / Māra / Māra: Thường được hiểu theo nhiều nghĩa: (1) Thiên ma (Devaputta Māra): một vị trời ở cõi Tha Hóa Tự Tại muốn ngăn cản người tu hành; (2) Phiền não ma (Kilesa Māra): các phiền não bên trong; (3) Ngũ uẩn ma (Khandha Māra): chính năm uẩn là nguồn gốc khổ đau; (4) Tử ma (Maccu Māra): cái chết chấm dứt mạng sống. Trong kinh này, Ma Vương tượng trưng cho các thế lực cản trở sự giải thoát.
  • thắng trí / abhiññā / direct knowledge/higher knowledge: Các loại trí tuệ siêu việt đạt được qua thiền định, bao gồm: thần túc thông (các loại thần thông), thiên nhĩ thông (nghe xa), tha tâm thông (biết tâm người), túc mạng thông (nhớ kiếp trước), thiên nhãn thông (thấy chúng sinh tái sinh), lậu tận thông (biết rõ sự đoạn trừ lậu hoặc - đây là trí tuệ giải thoát).
  • thần thông / iddhividha / supernormal power: Các năng lực phi thường như hiện thân, phân thân, đi xuyên tường, độn thổ, đi trên nước, bay trên trời…
  • thiên nhĩ thông / dibbasota-dhātu / divine ear element: Khả năng nghe được âm thanh cõi trời và người, xa và gần, siêu việt hơn tai người thường.
  • tha tâm thông / cetopariyañāṇa / knowledge of others’ minds: Khả năng biết được tâm niệm của chúng sinh khác.
  • túc mạng thông / pubbenivāsānussatiñāṇa / recollection of past lives: Khả năng nhớ lại các kiếp sống quá khứ của mình và chúng sinh khác.
  • thiên nhãn thông / dibbacakkhu / divine eye: Khả năng thấy được sự sinh tử, tái sinh của chúng sinh ở các cõi khác nhau, thấy được chúng sinh trôi lăn theo nghiệp.
  • tâm giải thoát / cetovimutti / deliverance of mind: Sự giải thoát của tâm khỏi tham ái và các phiền não liên quan đến cảm xúc.
  • tuệ giải thoát / paññāvimutti / deliverance by wisdom: Sự giải thoát nhờ trí tuệ đoạn trừ hoàn toàn vô minh (avijjā).
  • lậu hoặc / āsava / taint/canker/influx: Những phiền não, ô nhiễm sâu kín làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi, thường gồm: dục lậu (tham ái dục lạc), hữu lậu (tham ái sự tồn tại), vô minh lậu (không hiểu biết Tứ Thánh Đế), kiến lậu (tà kiến).
  • đoạn trừ các lậu hoặc / āsavakkhaya / destruction of the taints: Sự diệt tận hoàn toàn các lậu hoặc, đồng nghĩa với việc đạt được giác ngộ cuối cùng (A La Hán).