MN 121. Tiểu Kinh Không
(Cūlasuññata Sutta)
[104] 1. Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī (Xá-vệ), tại Đông Viên (Eastern Park), trong Lộc Mẫu Giảng Đường (Palace of Migāra’s Mother).
2. Rồi vào buổi chiều, Đại đức Ānanda xuất thiền, đi đến chỗ Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch Đức Thế Tôn:
3. “Bạch Thế Tôn, có một lần Đức Thế Tôn trú ở xứ Sakya, tại một thị trấn của dòng họ Sakya tên là Nagaraka. Tại đó, bạch Thế Tôn, con đã được nghe và học điều này từ chính kim khẩu của Đức Thế Tôn: ‘Này Ānanda, Như Lai thường an trú trong tánh không (voidness - sự trống rỗng, không có tự ngã cố hữu, trạng thái tâm không bị che lấp bởi những nhận thức sai lầm). [^1137]’ Bạch Thế Tôn, con nghe vậy có đúng không, con học vậy có đúng không, con tác ý vậy có đúng không, con ghi nhớ vậy có đúng không?”
"Chắc chắn rồi, Ānanda, ông nghe vậy là đúng, học vậy là đúng, tác ý vậy là đúng, ghi nhớ vậy là đúng. Này Ānanda, như trước đây, nay Như Lai cũng thường an trú trong tánh không.
4. "Này Ānanda, ví như Lộc Mẫu Giảng Đường này trống không voi, bò, ngựa đực, ngựa cái; trống không vàng bạc; trống không sự tụ hội của đàn ông và đàn bà; và chỉ có sự không trống rỗng này hiện hữu, tức là tính duy nhất (singleness - sự đơn độc, sự tập trung vào một đối tượng duy nhất) phụ thuộc vào Tăng đoàn gồm các vị tỳ kheo (bhikkhus - nhà sư xuất gia nam theo Phật giáo Theravada); cũng vậy, một vị tỳ kheo – không tác ý đến tưởng về làng, không tác ý đến tưởng về người – tác ý đến tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về rừng. [^1138] Tâm vị ấy nhập vào tưởng về rừng đó và đạt được sự tự tin, vững chãi và quyết đoán. Vị ấy hiểu rõ như sau: ‘Bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về làng, những thứ đó không có mặt ở đây; bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về người, những thứ đó không có mặt ở đây. Chỉ có chừng này sự phiền nhiễu hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về rừng.’ [^1139] Vị ấy hiểu: ‘Phạm vi nhận thức này trống không tưởng về làng; phạm vi nhận thức này trống không tưởng về người. Chỉ có sự không trống rỗng này hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về rừng.’ Như vậy, vị ấy xem nó là trống không những gì không có ở đó, nhưng đối với những gì [105] còn lại ở đó, vị ấy hiểu rõ cái đang hiện hữu như sau: ‘Cái này đang hiện hữu.’ Như vậy đó, Ānanda, đây là sự nhập vào tánh không chân chính, không xuyên tạc, thanh tịnh của vị ấy.
5. "Lại nữa, Ānanda, một vị tỳ kheo – không tác ý đến tưởng về người, không tác ý đến tưởng về rừng – tác ý đến tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về đất. [^1140] Tâm vị ấy nhập vào tưởng về đất đó và đạt được sự tự tin, vững chãi và quyết đoán. Ví như tấm da bò được căng thẳng hoàn toàn bằng trăm cái cọc thì không còn nếp gấp; cũng vậy, một vị tỳ kheo – không tác ý đến bất kỳ chỗ lồi lõm nào của trái đất này, đến sông ngòi khe suối, những vùng gốc cây gai góc, núi non và những nơi không bằng phẳng – tác ý đến tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về đất. Tâm vị ấy nhập vào tưởng về đất đó và đạt được sự tự tin, vững chãi và quyết đoán. Vị ấy hiểu rõ như sau: ‘Bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về người, những thứ đó không có mặt ở đây; bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về rừng, những thứ đó không có mặt ở đây. Chỉ có chừng này sự phiền nhiễu hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về đất.’ Vị ấy hiểu: ‘Phạm vi nhận thức này trống không tưởng về người; phạm vi nhận thức này trống không tưởng về rừng. Chỉ có sự không trống rỗng này hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về đất.’ Như vậy, vị ấy xem nó là trống không những gì không có ở đó, nhưng đối với những gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu rõ cái đang hiện hữu như sau: ‘Cái này đang hiện hữu.’ Như vậy đó, Ānanda, đây cũng là sự nhập vào tánh không chân chính, không xuyên tạc, thanh tịnh của vị ấy.
6. "Lại nữa, Ānanda, một vị tỳ kheo – không tác ý đến tưởng về rừng, không tác ý đến tưởng về đất – tác ý đến tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Không vô biên xứ (base of infinite space - tầng thiền vô sắc thứ nhất, nơi tâm trải nghiệm không gian vô tận, không còn giới hạn vật chất). [^1141] Tâm vị ấy nhập vào tưởng về Không vô biên xứ đó và đạt được sự tự tin, vững chãi và quyết đoán. Vị ấy hiểu rõ như sau: ‘Bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về rừng, những thứ đó không có mặt ở đây; bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có [106] do phụ thuộc vào tưởng về đất, những thứ đó không có mặt ở đây. Chỉ có chừng này sự phiền nhiễu hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Không vô biên xứ.’ Vị ấy hiểu: ‘Phạm vi nhận thức này trống không tưởng về rừng; phạm vi nhận thức này trống không tưởng về đất. Chỉ có sự không trống rỗng này hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Không vô biên xứ.’ Như vậy, vị ấy xem nó là trống không những gì không có ở đó, nhưng đối với những gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu rõ cái đang hiện hữu như sau: ‘Cái này đang hiện hữu.’ Như vậy đó, Ānanda, đây cũng là sự nhập vào tánh không chân chính, không xuyên tạc, thanh tịnh của vị ấy.
7. "Lại nữa, Ānanda, một vị tỳ kheo – không tác ý đến tưởng về đất, không tác ý đến tưởng về Không vô biên xứ – tác ý đến tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Thức vô biên xứ (base of infinite consciousness - tầng thiền vô sắc thứ hai, nơi tâm trải nghiệm ý thức vô tận, không còn giới hạn). Tâm vị ấy nhập vào tưởng về Thức vô biên xứ đó và đạt được sự tự tin, vững chãi và quyết đoán. Vị ấy hiểu rõ như sau: ‘Bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về đất, những thứ đó không có mặt ở đây; bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về Không vô biên xứ, những thứ đó không có mặt ở đây. Chỉ có chừng này sự phiền nhiễu hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Thức vô biên xứ.’ Vị ấy hiểu: ‘Phạm vi nhận thức này trống không tưởng về đất; phạm vi nhận thức này trống không tưởng về Không vô biên xứ. Chỉ có sự không trống rỗng này hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Thức vô biên xứ.’ Như vậy, vị ấy xem nó là trống không những gì không có ở đó, nhưng đối với những gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu rõ cái đang hiện hữu như sau: ‘Cái này đang hiện hữu.’ Như vậy đó, Ānanda, đây cũng là sự nhập vào tánh không chân chính, không xuyên tạc, thanh tịnh của vị ấy.
8. "Lại nữa, Ānanda, một vị tỳ kheo – không tác ý đến tưởng về Không vô biên xứ, không tác ý đến tưởng về Thức vô biên xứ – tác ý đến tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Vô sở hữu xứ (base of nothingness - tầng thiền vô sắc thứ ba, nơi tâm trải nghiệm sự trống không hoàn toàn, không còn đối tượng nào của ý thức). Tâm vị ấy nhập vào tưởng về Vô sở hữu xứ đó và đạt được sự tự tin, vững chãi và quyết đoán. Vị ấy hiểu rõ như sau: ‘Bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về Không vô biên xứ, những thứ đó không có mặt ở đây; bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về Thức vô biên xứ, những thứ đó không có mặt ở đây. Chỉ có chừng này sự phiền nhiễu hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Vô sở hữu xứ.’ Vị ấy hiểu: ‘Phạm vi nhận thức này trống không tưởng về Không vô biên xứ; [107] phạm vi nhận thức này trống không tưởng về Thức vô biên xứ. Chỉ có sự không trống rỗng này hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Vô sở hữu xứ.’ Như vậy, vị ấy xem nó là trống không những gì không có ở đó, nhưng đối với những gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu rõ cái đang hiện hữu như sau: ‘Cái này đang hiện hữu.’ Như vậy đó, Ānanda, đây cũng là sự nhập vào tánh không chân chính, không xuyên tạc, thanh tịnh của vị ấy.
9. "Lại nữa, Ānanda, một vị tỳ kheo – không tác ý đến tưởng về Thức vô biên xứ, không tác ý đến tưởng về Vô sở hữu xứ – tác ý đến tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ (base of neither-perception-nor-non-perception - tầng thiền vô sắc thứ tư, trạng thái tâm vi tế nhất, nơi nhận thức không thể nói là có hay không có). Tâm vị ấy nhập vào tưởng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ đó và đạt được sự tự tin, vững chãi và quyết đoán. Vị ấy hiểu rõ như sau: ‘Bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về Thức vô biên xứ, những thứ đó không có mặt ở đây; bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về Vô sở hữu xứ, những thứ đó không có mặt ở đây. Chỉ có chừng này sự phiền nhiễu hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.’ Vị ấy hiểu: ‘Phạm vi nhận thức này trống không tưởng về Thức vô biên xứ; phạm vi nhận thức này trống không tưởng về Vô sở hữu xứ. Chỉ có sự không trống rỗng này hiện hữu, tức là tính duy nhất phụ thuộc vào tưởng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.’ Như vậy, vị ấy xem nó là trống không những gì không có ở đó, nhưng đối với những gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu rõ cái đang hiện hữu như sau: ‘Cái này đang hiện hữu.’ Như vậy đó, Ānanda, đây cũng là sự nhập vào tánh không chân chính, không xuyên tạc, thanh tịnh của vị ấy.
10. "Lại nữa, Ānanda, một vị tỳ kheo – không tác ý đến tưởng về Vô sở hữu xứ, không tác ý đến tưởng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ – tác ý đến tính duy nhất phụ thuộc vào vô tướng tâm định (signless concentration of mind - sự tập trung tâm không còn bám chấp vào các dấu hiệu hay đặc điểm phân biệt của các pháp). [^1142] Tâm vị ấy nhập vào vô tướng tâm định đó và đạt được sự tự tin, vững chãi và quyết đoán. Vị ấy hiểu rõ như sau: ‘Bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về Vô sở hữu xứ, những thứ đó không có mặt ở đây; bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào tưởng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, những thứ đó không có mặt ở đây. Chỉ có chừng này sự phiền nhiễu hiện hữu, tức là cái liên quan đến sáu căn (six bases - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) vốn phụ thuộc vào thân này và [108] được duyên sinh bởi mạng sống.’ Vị ấy hiểu: ‘Phạm vi nhận thức này trống không tưởng về Vô sở hữu xứ; phạm vi nhận thức này trống không tưởng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Chỉ có sự không trống rỗng này hiện hữu, tức là cái liên quan đến sáu căn vốn phụ thuộc vào thân này và được duyên sinh bởi mạng sống.’ Như vậy, vị ấy xem nó là trống không những gì không có ở đó, nhưng đối với những gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu rõ cái đang hiện hữu như sau: ‘Cái này đang hiện hữu.’ Như vậy đó, Ānanda, đây cũng là sự nhập vào tánh không chân chính, không xuyên tạc, thanh tịnh của vị ấy.
11. "Lại nữa, Ānanda, một vị tỳ kheo – không tác ý đến tưởng về Vô sở hữu xứ, không tác ý đến tưởng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ – tác ý đến tính duy nhất phụ thuộc vào vô tướng tâm định. Tâm vị ấy nhập vào vô tướng tâm định đó và đạt được sự tự tin, vững chãi và quyết đoán. Vị ấy hiểu rõ như sau: ‘Vô tướng tâm định này là pháp hữu vi (conditioned - bị điều kiện hóa, do duyên tạo thành) và do chủ ý tạo tác (volitionally produced - được tạo ra một cách có chủ đích). Nhưng bất cứ cái gì là pháp hữu vi và do chủ ý tạo tác đều là vô thường (impermanent - không tồn tại mãi mãi, luôn thay đổi), chịu sự đoạn diệt (subject to cessation - có bản chất phải chấm dứt, không thể tồn tại vĩnh viễn).’ [^1143] Khi biết và thấy như vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi dục lậu (taint of sensual desire - ô nhiễm tinh thần sâu kín do tham ái dục lạc), khỏi hữu lậu (taint of being - ô nhiễm tinh thần sâu kín do tham ái sự tồn tại trong các cõi), và khỏi vô minh lậu (taint of ignorance - ô nhiễm tinh thần sâu kín do sự không hiểu biết chân lý, đặc biệt là Tứ Diệu Đế). Khi đã giải thoát, trí tuệ khởi lên: ‘Đã giải thoát.’ Vị ấy hiểu rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh (holy life - đời sống thanh tịnh, hướng đến giải thoát) đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái nào nữa.’
12. "Vị ấy hiểu rõ như sau: ‘Bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào dục lậu, những thứ đó không có mặt ở đây; bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào hữu lậu, những thứ đó không có mặt ở đây; bất kỳ sự phiền nhiễu nào có thể có do phụ thuộc vào vô minh lậu, những thứ đó không có mặt ở đây. Chỉ có chừng này sự phiền nhiễu hiện hữu, tức là cái liên quan đến sáu căn vốn phụ thuộc vào thân này và được duyên sinh bởi mạng sống.’ Vị ấy hiểu: ‘Phạm vi nhận thức này trống không dục lậu; phạm vi nhận thức này trống không hữu lậu; phạm vi nhận thức này trống không vô minh lậu. Chỉ có sự không trống rỗng này hiện hữu, tức là cái liên quan đến sáu căn vốn phụ thuộc vào thân này và được duyên sinh bởi mạng sống.’ Như vậy, vị ấy xem nó là trống không những gì không có ở đó, nhưng đối với những gì còn lại ở đó, vị ấy hiểu rõ cái đang hiện hữu như sau: ‘Cái này đang hiện hữu.’ Như vậy đó, Ānanda, đây là sự nhập vào tánh không [109] chân chính, không xuyên tạc, thanh tịnh, tối thượng và vô thượng (supreme and unsurpassed - cao cả nhất, không gì sánh bằng, không thể vượt qua) của vị ấy. [^1144]
13. “Này Ānanda, bất kỳ vị Sa môn (recluses - người xuất gia tu hành khổ hạnh hoặc thiền định) và Bà la môn (brahmins - tu sĩ thuộc giai cấp Bà la môn trong xã hội Ấn Độ cổ đại) nào trong quá khứ đã nhập và an trú trong tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô thượng, tất cả đều đã nhập và an trú trong chính tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô thượng này. Bất kỳ vị Sa môn và Bà la môn nào trong tương lai sẽ nhập và an trú trong tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô thượng, tất cả sẽ nhập và an trú trong chính tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô thượng này. Bất kỳ vị Sa môn và Bà la môn nào trong hiện tại đang nhập và an trú trong tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô thượng, tất cả đang nhập và an trú trong chính tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô thượng này. Vì vậy, Ānanda, các ông nên tu tập như sau: ‘Chúng ta sẽ nhập và an trú trong tánh không thanh tịnh, tối thượng, vô thượng.’”
Đó là những gì Đức Thế Tôn đã dạy. Đại đức Ānanda hoan hỷ và tín thọ lời Đức Thế Tôn dạy.