Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 133. Kinh Đại Ca Chiên và Người Có Một Đêm An Lành

(Mahākaccānabhaddekaratta Sutta)

[192] 1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong Khu Rừng Suối Nước Nóng. Bấy giờ, khi trời gần sáng, Tôn giả Samiddhi đi đến suối nước nóng để tắm rửa chân tay. Tắm xong, ngài lên bờ, đứng mặc một y, hong khô người. Lúc ấy, khi đêm đã khuya, một vị trời (deity - một chúng sinh ở cõi trời) có dung sắc xinh đẹp, chiếu sáng cả khu suối nước nóng, đến gần Tôn giả Samiddhi. Đứng một bên, vị trời ấy nói với ngài:

2. “Này Tỳ kheo (bhikkhu - nhà sư nam trong Phật giáo Theravada), thầy có nhớ bài tóm tắt và giải thích chi tiết về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ không?”

“Này bạn, tôi không nhớ bài tóm tắt và giải thích chi tiết về ‘Người Có Một Đêm An Lành’. Nhưng này bạn, bạn có nhớ bài tóm tắt và giải thích chi tiết về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ không?”

“Này Tỳ kheo, tôi cũng không nhớ bài tóm tắt và giải thích chi tiết về ‘Người Có Một Đêm An Lành’. Nhưng này Tỳ kheo, thầy có nhớ bài kệ về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ không?”

“Này bạn, tôi không nhớ bài kệ về ‘Người Có Một Đêm An Lành’. Nhưng này bạn, bạn có nhớ bài kệ về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ không?”

"Này Tỳ kheo, tôi cũng không nhớ bài kệ về ‘Người Có Một Đêm An Lành’. Nhưng này Tỳ kheo, hãy học bài tóm tắt và giải thích chi tiết về ‘Người Có Một Đêm An Lành’. Này Tỳ kheo, hãy tinh thông bài tóm tắt và giải thích chi tiết về ‘Người Có Một Đêm An Lành’. Này Tỳ kheo, hãy ghi nhớ bài tóm tắt và giải thích chi tiết về ‘Người Có Một Đêm An Lành’.

Này Tỳ kheo, bài tóm tắt và giải thích chi tiết về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ rất lợi ích, nó thuộc về những điều căn bản của đời sống phạm hạnh (holy life - brahmacariya - cuộc sống thanh tịnh, thường là của người xuất gia, hướng đến giải thoát)."

Vị trời ấy nói như vậy, rồi biến mất ngay lập tức.

3. Sau đó, khi đêm đã tàn, Tôn giả Samiddhi đến gặp Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Ngài, Tôn giả ngồi xuống một bên, [193] kể lại cho Đức Thế Tôn nghe toàn bộ sự việc đã xảy ra và thưa: “Bạch Thế Tôn, thật tốt lành nếu Đức Thế Tôn dạy cho con bài tóm tắt và giải thích chi tiết về ‘Người Có Một Đêm An Lành’.”

4. “Vậy thì, này Tỳ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ những gì Ta sẽ nói.” - “Vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Samiddhi đáp. Đức Thế Tôn dạy:

5. "Đừng tìm về quá khứ, Đừng ước vọng tương lai; Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến.

Chỉ có pháp hiện tại (presently arisen state - paccuppanna dhamma - những gì đang sinh khởi ngay trong giây phút hiện tại), Tuệ quán (insight - vipassanā - sự thấy biết rõ ràng, trực tiếp về bản chất thực sự của sự vật, hiện tượng) chính ở đây; Không động, không lay chuyển, Biết vậy, nên tu tập.

Hôm nay cần tinh tấn, Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được, Với đại quân thần chết.

Ai sống nhiệt tâm như vậy, Đêm ngày không mệt mỏi, Người ấy, bậc Thánh lặng lẽ (Peaceful Sage - Muni - người đã đạt được sự an tịnh nội tâm, bậc thánh) gọi là, Người sống một đêm an lành."

6. Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Nói xong, Đấng Thiện Thệ (Sublime One - Sugata - người đã đi đến nơi tốt đẹp, một danh hiệu của Phật) đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá.

7. Bấy giờ, không lâu sau khi Đức Thế Tôn đi vào, các vị Tỳ kheo bàn luận với nhau: [^1219] “Này các bạn, Đức Thế Tôn đã đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá sau khi chỉ nói tóm tắt mà không giải thích ý nghĩa chi tiết. Vậy ai sẽ giải thích chi tiết điều này?” [194] Rồi họ nghĩ: “Tôn giả Đại Ca Chiên (Mahā Kaccāna) được Bậc Đạo Sư (Teacher - Satthā - người thầy dẫn đường tâm linh, chỉ Đức Phật) tán thán và được các bạn đồng tu thông thái kính trọng. Ngài có khả năng giải thích ý nghĩa chi tiết. Hay là chúng ta đến gặp ngài và hỏi ngài về ý nghĩa của điều này.”

8. Sau đó, các vị Tỳ kheo đến gặp Tôn giả Đại Ca Chiên và chào hỏi ngài. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi thân tình, họ ngồi xuống một bên và kể lại cho ngài nghe những gì đã xảy ra, rồi nói thêm: “Xin Tôn giả Đại Ca Chiên hãy giải thích cho chúng tôi.”

9. [Tôn giả Đại Ca Chiên đáp:] “Này các bạn, ví như có người cần lõi cây (heartwood - sāra - phần cốt lõi, tinh túy nhất của cây; ẩn dụ cho chân lý, giải thoát), tìm kiếm lõi cây, đi lang thang để tìm lõi cây, [195] lại nghĩ rằng nên tìm lõi cây ở giữa cành và lá của một cây lớn có lõi cây, sau khi đã bỏ qua gốc và thân cây. Các Tôn giả cũng vậy, khi đối diện với Bậc Đạo Sư mà lại bỏ qua Đức Thế Tôn, rồi lại nghĩ rằng nên hỏi tôi về ý nghĩa của điều này. Bởi vì, Đức Thế Tôn biết là do Ngài biết, thấy là do Ngài thấy; Ngài là mắt, là trí, là Pháp, là bậc Thánh; Ngài là người nói, người tuyên thuyết, người làm sáng tỏ ý nghĩa, người ban tặng sự bất tử (Deathless - amata - trạng thái không còn sinh tử, tức Niết Bàn), là chủ của Pháp, là Như Lai (Tathāgata - người đã đến như vậy / người đã đi như vậy, một danh hiệu cao quý nhất của Phật). Đó mới là lúc các vị nên hỏi Đức Thế Tôn về ý nghĩa. Ngài đã dạy các vị như thế nào, các vị nên ghi nhớ như thế ấy.”

10. “Chắc chắn rồi, thưa Tôn giả Ca Chiên, Đức Thế Tôn biết là do Ngài biết, thấy là do Ngài thấy; Ngài là mắt… là Như Lai. Đó mới là lúc chúng tôi nên hỏi Đức Thế Tôn về ý nghĩa. Ngài đã dạy chúng tôi như thế nào, chúng tôi nên ghi nhớ như thế ấy. Tuy nhiên, Tôn giả Đại Ca Chiên được Bậc Đạo Sư tán thán và được các bạn đồng tu thông thái kính trọng. Tôn giả Đại Ca Chiên có khả năng giải thích ý nghĩa chi tiết của bài tóm tắt ngắn gọn này mà Đức Thế Tôn đã nói nhưng chưa giải thích chi tiết. Xin Tôn giả Đại Ca Chiên hãy giải thích mà đừng thấy phiền hà.”

11. “Vậy thì, này các bạn, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ những gì tôi sẽ nói.” - “Vâng, thưa Tôn giả,” các vị Tỳ kheo đáp. Tôn giả Đại Ca Chiên nói như sau:

12. "Này các bạn, khi Đức Thế Tôn đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá sau khi chỉ nói tóm tắt mà không giải thích ý nghĩa chi tiết, tức là: ‘Đừng tìm về quá khứ… Người sống một đêm an lành,’ Tôi hiểu ý nghĩa chi tiết của nó như sau.

13. "Này các bạn, thế nào là tìm về quá khứ? [196] Khi nghĩ rằng: ‘Mắt của ta trong quá khứ là như vậy và các hình sắc là như vậy,’ [^1220] tâm thức (consciousness - viññāṇa - sự biết đối tượng qua các giác quan và ý) của người ấy bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục (desire and lust - chandarāga - sự ham muốn, đam mê mạnh mẽ đối với đối tượng) đối với điều đó. Vì tâm thức bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục, người ấy thích thú (delights - abhinandati - tìm thấy niềm vui, sự hài lòng trong đối tượng) với điều đó. Khi thích thú với điều đó, người ấy đang tìm về quá khứ.

"Khi nghĩ rằng: ‘Tai của ta trong quá khứ là như vậy và các âm thanh là như vậy… Mũi và các mùi hương… Lưỡi và các vị nếm… Thân và các vật xúc chạm… Ý của ta trong quá khứ là như vậy và các đối tượng của ý là như vậy,’ tâm thức của người ấy bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục đối với điều đó. Vì tâm thức bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục, người ấy thích thú với điều đó. Khi thích thú với điều đó, người ấy đang tìm về quá khứ. Đó là cách một người tìm về quá khứ.

14. "Thế nào là không tìm về quá khứ? Khi nghĩ rằng: ‘Mắt của ta trong quá khứ là như vậy và các hình sắc là như vậy,’ tâm thức của người ấy không bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục đối với điều đó. Vì tâm thức không bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục, người ấy không thích thú với điều đó. Khi không thích thú với điều đó, người ấy không tìm về quá khứ.

"Khi nghĩ rằng: ‘Tai của ta trong quá khứ là như vậy và các âm thanh là như vậy… Mũi và các mùi hương… Lưỡi và các vị nếm… Thân và các vật xúc chạm… Ý của ta trong quá khứ là như vậy và các đối tượng của ý là như vậy,’ tâm thức của người ấy không bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục đối với điều đó. Vì tâm thức không bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục, người ấy không thích thú với điều đó. Khi không thích thú với điều đó, người ấy không tìm về quá khứ. Đó là cách một người không tìm về quá khứ.

15. "Này các bạn, thế nào là xây dựng hy vọng vào tương lai? Khi nghĩ rằng: ‘Mắt của ta trong tương lai có thể là như vậy và các hình sắc có thể là như vậy,’ người ấy đặt tâm vào việc đạt được những gì chưa đạt được. Vì đặt tâm như vậy, người ấy thích thú với điều đó. Khi thích thú với điều đó, người ấy đang xây dựng hy vọng vào tương lai.

"Khi nghĩ rằng: ‘Tai của ta trong tương lai có thể là như vậy và các âm thanh có thể là như vậy… Mũi và các mùi hương… Lưỡi và các vị nếm… Thân và các vật xúc chạm… Ý của ta trong tương lai có thể là như vậy và [197] các đối tượng của ý có thể là như vậy,’ người ấy đặt tâm vào việc đạt được những gì chưa đạt được. Vì đặt tâm như vậy, người ấy thích thú với điều đó. Khi thích thú với điều đó, người ấy đang xây dựng hy vọng vào tương lai. Đó là cách một người xây dựng hy vọng vào tương lai.

16. "Này các bạn, thế nào là không xây dựng hy vọng vào tương lai? Khi nghĩ rằng: ‘Mắt của ta trong tương lai có thể là như vậy và các hình sắc có thể là như vậy,’ người ấy không đặt tâm vào việc đạt được những gì chưa đạt được. Vì không đặt tâm như vậy, người ấy không thích thú với điều đó. Khi không thích thú với điều đó, người ấy không xây dựng hy vọng vào tương lai.

"Khi nghĩ rằng: ‘Tai của ta trong tương lai có thể là như vậy và các âm thanh có thể là như vậy… Mũi và các mùi hương… Lưỡi và các vị nếm… Thân và các vật xúc chạm… Ý của ta trong tương lai có thể là như vậy và các đối tượng của ý có thể là như vậy,’ người ấy không đặt tâm vào việc đạt được những gì chưa đạt được. Vì không đặt tâm như vậy, người ấy không thích thú với điều đó. Khi không thích thú với điều đó, người ấy không xây dựng hy vọng vào tương lai. Đó là cách một người không xây dựng hy vọng vào tương lai.

17. "Thế nào là bị khuất phục đối với các trạng thái hiện tại? Đối với mắt và các hình sắc đang hiện khởi trong hiện tại, tâm thức của người ấy bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục đối với cái đang hiện khởi đó. Vì tâm thức bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục, người ấy thích thú với điều đó. Khi thích thú với điều đó, người ấy bị khuất phục đối với các trạng thái hiện tại.

"Đối với tai và các âm thanh đang hiện khởi trong hiện tại… mũi và các mùi hương… lưỡi và các vị nếm… thân và các vật xúc chạm… ý và các đối tượng của ý đang hiện khởi trong hiện tại, tâm thức của người ấy bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục đối với cái đang hiện khởi đó. Vì tâm thức bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục, người ấy thích thú với điều đó. Khi thích thú với điều đó, người ấy bị khuất phục đối với các trạng thái hiện tại. Đó là cách một người bị khuất phục đối với các trạng thái hiện tại.

18. "Thế nào là không bị khuất phục đối với các trạng thái hiện tại? Đối với mắt và các hình sắc đang hiện khởi trong hiện tại, tâm thức của người ấy không bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục đối với cái đang hiện khởi đó. Vì tâm thức không bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục, người ấy không thích thú với điều đó. Khi không thích thú với điều đó, người ấy không bị khuất phục đối với các trạng thái hiện tại.

"Đối với tai và các âm thanh đang hiện khởi trong hiện tại… mũi và các mùi hương… lưỡi và các vị nếm… thân và các vật xúc chạm… ý và các đối tượng của ý đang hiện khởi trong hiện tại, [198] tâm thức của người ấy không bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục đối với cái đang hiện khởi đó. Vì tâm thức không bị trói buộc bởi tham muốn và ái dục, người ấy không thích thú với điều đó. Khi không thích thú với điều đó, người ấy không bị khuất phục đối với các trạng thái hiện tại. Đó là cách một người không bị khuất phục đối với các trạng thái hiện tại.

19. "Này các bạn, khi Đức Thế Tôn đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh xá sau khi chỉ nói tóm tắt mà không giải thích ý nghĩa chi tiết, tức là:

‘Đừng tìm về quá khứ… Người sống một đêm an lành,’

Tôi hiểu ý nghĩa chi tiết của bài tóm tắt này là như vậy. Bây giờ, này các bạn, nếu muốn, hãy đến gặp Đức Thế Tôn và hỏi Ngài về ý nghĩa của điều này. Đức Thế Tôn giải thích cho các vị như thế nào, các vị nên ghi nhớ như thế ấy."

20. Sau đó, các vị Tỳ kheo, hoan hỷ và vui mừng trước lời của Tôn giả Đại Ca Chiên, đứng dậy từ chỗ ngồi và đến gặp Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên và kể lại cho Đức Thế Tôn nghe toàn bộ sự việc đã xảy ra sau khi Ngài rời đi, rồi nói thêm: [199] “Sau đó, bạch Thế Tôn, chúng con đã đến gặp Tôn giả Đại Ca Chiên và hỏi ngài về ý nghĩa. Tôn giả Đại Ca Chiên đã giải thích ý nghĩa cho chúng con bằng những thuật ngữ, câu chữ và cách diễn đạt như vậy.”

21. “Đại Ca Chiên là người có trí tuệ (wisdom - paññā - sự hiểu biết đúng đắn, thấu suốt), này các Tỳ kheo, Đại Ca Chiên có trí tuệ lớn. Nếu các vị hỏi Ta ý nghĩa của điều này, Ta cũng sẽ giải thích cho các vị giống như cách Đại Ca Chiên đã giải thích. Ý nghĩa của nó là như vậy, và các vị nên ghi nhớ như vậy.”

Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Các vị Tỳ kheo hài lòng và hoan hỷ với lời dạy của Đức Thế Tôn.

133. KINH ÐẠI CA-CHIÊN-DIÊN NHẤT DẠ HIỀN GIẢ

133. KINH ÐẠI CA-CHIÊN-DIÊN NHẤT DẠ HIỀN GIẢ (Mahàkaccànabhaddekaratta Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), tại Tinh xá Tapoda.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi, thức dậy vừa lúc bình minh đi đến Tapoda để tắm rửa tay chân. Tắm rửa tay chân ở Tapoda xong, sau khi lên khỏi (nước), vị ấy đứng mặc một y để tay chân cho khô. Rồi sau khi đêm vừa mãn, một Thiên thần, chói sáng với dung sắc thù thắng cả vùng Tapoda, đi đến Tôn giả Samiddhi, sau khi đến, liền đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên Thần ấy thưa Tôn giả Samiddhi:

– Này Tỷ-kheo, Ngài có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

– Này Hiền giả, tôi không có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

– Này Tỷ-kheo, tôi cũng không có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Tỷ-kheo, Ngài có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

– Này Hiền giả, tôi không có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

– Này Tỷ-kheo, tôi không có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy học tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy học cho thuần thục tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo hãy thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Vì rằng, này Tỷ-kheo, tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả là liên hệ đến mục đích và căn bản của Phạm hạnh.

Thiên thần ấy nói như vậy. Sau khi nói vậy, vị ấy biến mất ở đấy. Rồi Tôn giả Samiddhi sau khi đêm ấy đã mãn, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn :

– Ở đây, bạch Thế Tôn, con thức dậy vừa lúc bình mình đi đến Tapoda để tắm rửa tay chân. Tắm rửa tay chân ở Tapoda xong, sau khi lên khỏi (nước), con đứng mặc một y để tay chân cho khô. Rồi bạch Thế Tôn, sau khi đêm vừa mãn một Thiên thần, chói sáng với dung sắc thù thắng cả vùng Tapoda, … và là căn bản Phạm hạnh". Thiên thần ấy nói như vậy. Sau khi nói như vậy, vị ấy biến mất ở đấy. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết giảng cho tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả!

– Vậy này Tỷ-kheo, hãy nghe và suy nghiệm kỹ Ta sẽ nói.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau :

Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại,

Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập Hôm nay nhiệt tâm làm Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm Ðêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, Bậc an tịnh, trầm lặng.

Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá,

Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, liền suy nghĩ: "Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi thuyết giảng phần tổng thuyết một cách vắn tắt cho chúng ta không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá :

Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập Hôm nay nhiệt tâm làm Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm Ðêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, Bậc an tịnh, trầm lặng.

Nay không biết ai có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi".

Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: “Tôn giả Mahakaccana (Ðại Ca-chiên-diên) này đã được Thế Tôn tán thán và được các đồng Phạm hạnh có trí kính trọng; Tôn giả Mahakaccana có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đến Tôn giả Mahakaccana, sau khi đến chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahakaccana về ý nghĩa này”.

Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Mahakaccana, sau khi đến nói lên với Tôn giả Mahakaccana những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy thưa với Tôn giả Mahakaccana :

– Thưa Hiền giả Kaccana, Thế Tôn sau khi đọc tổng thuyết này, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá :

Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập Hôm nay nhiệt tâm làm Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm Ðêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, Bậc an tịnh, trầm lặng.

Nay không biết ai có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi. Rồi này Hiền giả Kaccana, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Tôn giả Mahakaccana này đã được Thế Tôn tán thán … chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahakaccana về ý nghĩa này”. Tôn giả Mahakaccana hãy giải thích cho.

– Này chư Hiền, ví như một người cần thiết lõi cây, tìm cầu lõi cây, đang đi tìm cầu lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây. Người ấy bỏ rễ, bỏ thân cây, nghĩ rằng lõi cây cần phải tìm trong các nhánh cây, lá cây. Cũng vậy, là việc làm của chư Tôn giả… Chư Tôn giả đứng trước mặt Thế Tôn, chư Tôn giả lại vượt qua Thế Tôn, và nghĩ rằng cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này. Nhưng này chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc Trí giả, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc Tuyên thuyết giả, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời chư Hiền hãy đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chư Hiền như thế nào, chư Hiền hãy như vậy thọ trì.

– Thưa Hiền giả Kaccana, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc Trí giả, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc Tuyên thuyết giả, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai… Nay đã đến thời chúng tôi đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chúng tôi như thế nào, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. Nhưng Tôn giả Mahakaccana được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi. Mong Tôn giả Mahakaccana giải thích cho nếu Tôn giả không cảm thấy phiền phức.

– Vậy chư hiền, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, tôi sẽ nói.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahakaccana. Tôn giả Mahakaccana nói như sau :

– Này Hiền giả, phần tổng thuyết Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào trong tinh xá:

Quá khứ không truy tìm

Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập Hôm nay nhiệt tâm làm Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm Ðêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, Bậc an tịnh, trầm lặng.

Về phần tổng thuyết này chỉ được Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi, này chư Hiền, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau :

Này chư Hiền, thế nào là truy tìm quá khứ? “Mắt của tôi trong thời quá khứ là như vậy, các sắc pháp là như vậy”, và thức ở đây bị ái và dục trói chặt. Vì thức bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Vì hân hoan trong ấy, vị ấy truy tìm quá khứ. “Tai của tôi trong quá khứ là như vậy, các tiếng là như vậy”… “Mũi của tôi trong quá khứ là như vậy, các hương là như vậy”… “Lưỡi của tôi trong quá khứ là như vậy, các vị là như vậy”… “Thân của tôi trong quá khứ là như vậy, các xúc là như vậy”… “Ý của tôi trong quá khứ là như vậy, các pháp là như vậy”, và thức ở đây, bị dục và ái trói chặt. Vì rằng thức bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Vì hân hoan trong ấy, vị ấy truy tìm quá khứ.

Và này chư Hiền, thế nào là không truy tìm quá khứ? “Mắt của tôi trong thời quá khứ là như vậy, các sắc pháp là như vậy”, và thức ở đây không bị dục và ái trói chặt. Vì thức không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Vì không hân hoan trong ấy, vị ấy không truy tìm quá khứ. “Tai của tôi trong quá khứ là như vậy, các tiếng là như vậy”,… “Mũi của tôi trong quá khứ là như vậy, các hương là như vậy”,… “Lưỡi của tôi trong quá khứ là như vậy, các vị là như vậy”,… “Thân của tôi trong quá khứ là như vậy, các xúc là như vậy”, … “Ý của tôi trong quá khứ là như vậy. các pháp là như vậy”, và thức ở đây không bị dục và ái trói chặt. Vì thức không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Vì không hân hoan trong ấy, vị ấy không truy tìm quá khứ. Như vậy, này chư Hiền, là không truy tìm quá khứ.

Và này chư Hiền, thế nào là ước vọng tương lai? “Mong rằng mắt của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các sắc pháp là như vậy”, và vị ấy hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Vì duyên hướng tâm như vậy, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy ước vọng tương lai. “Mong rằng tai của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các tiếng là như vậy”,… “Mong rằng mũi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các hương là như vậy”,… “Mong rằng lưỡi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các vị là như vậy”,… “Mong rằng thân của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các xúc là như vậy”,… “Mong rằng ý của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các pháp là như vậy”, và vị ấy hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Vì duyên hướng tâm như vậy, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy ước vọng tương lai. Như vậy, này chư Hiền là ước vọng tương lai.

Và này chư Hiền, thế nào là không ước vọng tương lai? “Mong rằng mắt của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các sắc pháp là như vậy”, vị ấy không hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Do duyên không hướng tâm, vị ấy không hân hoan trong ấy, vị ấy không có ước vọng tương lai. “Mong rằng tai của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các tiếng là như vậy”,… "Mong rằng mũi của tôi trong tương lai sẽ

là như vậy, các hương là như vậy", … “Mong rằng lưỡi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các vị là như vậy”,… “Mong rằng thân của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các xúc là như vậy”, … “Mong rằng ý của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các pháp là như vậy”, vị ấy không hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Do duyên không hướng tâm, vị ấy không hân hoan trong ấy. Do không hân hoan trong ấy, vị ấy không có ước vọng tương lai. Như vậy, này chư Hiền, là không ước vọng tương lai.

Và này chư Hiền, thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Này chư Hiền, nếu mắt và các sắc pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Này chư Hiền, nếu tai và các tiếng… nếu mũi và các hương … nếu lưỡi và các vị… nếu thân và các xúc… Này chư Hiền nếu ý và các pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Như vậy, này chư Hiền, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Và này chư Hiền, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Này chư Hiền, nếu mắt và các sắc pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Do không hân hoan trong ấy, vị ấy không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Này chư Hiền, nếu tai và các tiếng… Này chư Hiền, nếu mũi và các hương… Này chư Hiền, nếu lưỡi và các vị… Này chư Hiền, nếu thân và các xúc… Này chư Hiền, nếu ý và các pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Do không hân hoan trong ấy, vị ấy không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Như vậy, này chư Hiền là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Này chư Hiền, phần tổng thuyết Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào trong tinh xá :

Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập Hôm nay nhiệt tâm làm Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm Ðêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, Bậc an tịnh, trầm lặng.

Phần tổng thuyết này, này chư Hiền, được Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi; này chư Hiền, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Và nếu chư Tôn giả muốn, hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích các Tôn giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Mahakaccana giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo

ấy bạch Thế Tôn :

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sau khi đọc phần tổng thuyết một cách vắn tắt cho chúng con, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, và đi vào tinh xá :

Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập Hôm nay nhiệt tâm làm Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm Ðêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, Bậc an tịnh, trầm lặng.

Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau : "Thế Tôn sau khi đọc phần tổng thuyết một cách vắn tắt cho chúng con, không giải nghĩa một cách rộng rãi, và đã đi vào tinh xá :

Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập Hôm nay nhiệt tâm làm Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm Ðêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, Bậc an tịnh, trầm lặng.

Nay không biết ai có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi".

Rồi bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau : "Tôn giả Mahakaccana (Ðại Ca chiên diên) này… chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahakaccana về ý nghĩa này. "Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến Tôn giả Mahakaccana, sau khi đến chúng con hỏi Tôn giả Mahakaccana về ý nghĩa này. Ý nghĩa của những (chữ) ấy đã được Tôn giả Mahakaccana giải thích cho chúng con với những phương pháp này, các những câu này, với những chữ này.

– Này các Tỷ-kheo, Mahakaccana là bậc Hiền trí. Này các Tỷ-kheo, Mahakaccana là bậc Ðại trí tuệ. Này các Tỷ-kheo nếu các Ông hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng giải thích cho các Ông như vậy, như Mahakaccana đã giải thích. Thật sự ý nghĩa ấy là vậy, và các Ông hãy thọ trì như vậy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Bhikkhu: Nhà sư nam đã thọ giới cụ túc trong Phật giáo Theravada.
  • Vị trời / Devatā / Deity: Chúng sinh sống ở các cõi trời (cao hơn cõi người), có tuổi thọ dài và hạnh phúc hơn nhưng vẫn trong vòng luân hồi.
  • Đời sống phạm hạnh / Brahmacariya / Holy life: Cuộc sống thanh tịnh, trong sạch, đặc biệt là đời sống xuất gia, nhằm mục đích đạt đến giải thoát khổ đau.
  • Pháp hiện tại / Paccuppanna dhamma / Presently arisen state: Những hiện tượng tâm-vật lý đang sinh khởi và hiện hữu ngay trong khoảnh khắc hiện tại.
  • Tuệ quán / Vipassanā / Insight: Sự thấy biết rõ ràng, trực tiếp và sâu sắc về bản chất Vô thường, Khổ, Vô ngã của mọi sự vật, hiện tượng.
  • Bậc Thánh lặng lẽ / Muni / Peaceful Sage: Bậc hiền triết đã đạt được sự an tịnh nội tâm, trí tuệ thấu suốt, thường chỉ Đức Phật hoặc các vị A-la-hán.
  • Đấng Thiện Thệ / Sugata / Sublime One: Một danh hiệu của Đức Phật, có nghĩa là người đã đi đến nơi tốt đẹp (Niết Bàn) hoặc người nói lời chân thật, lợi ích.
  • Bậc Đạo Sư / Satthā / Teacher: Người thầy dẫn đường tâm linh tối thượng, ở đây chỉ Đức Phật.
  • Lõi cây / Sāra / Heartwood: Phần cứng chắc, tinh túy nhất bên trong thân cây; được dùng làm ẩn dụ cho chân lý cốt tủy, Niết Bàn, sự giải thoát.
  • Sự bất tử / Amata / Deathless: Trạng thái không còn sinh tử, không còn bị chi phối bởi quy luật vô thường, đồng nghĩa với Niết Bàn.
  • Như Lai / Tathāgata / Tathāgata: Danh hiệu cao quý nhất của Đức Phật, có nhiều nghĩa như “Người đã đến như vậy”, “Người đã đi như vậy”, thể hiện sự chứng ngộ chân lý tuyệt đối.
  • Tham muốn và ái dục / Chandarāga / Desire and lust: Sự ham muốn, đam mê, dính mắc mạnh mẽ vào các đối tượng của giác quan hoặc ý tưởng, là một trong những nguyên nhân chính của khổ đau.
  • Tâm thức / Viññāṇa / Consciousness: Sự biết đối tượng thông qua sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) khi tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
  • Thích thú / Abhinandati / Delights: Tìm thấy niềm vui, sự hài lòng, sự bám víu vào một đối tượng hay trạng thái nào đó, thường đi kèm với tham ái.
  • Trí tuệ / Paññā / Wisdom: Sự hiểu biết đúng đắn, sáng suốt về bản chất của sự vật, hiện tượng, đặc biệt là về Tứ Diệu Đế và con đường giải thoát.
  • Người Có Một Đêm An Lành / Bhaddekaratta / One Who Has One Fortunate Attachment (literal: One who has a single auspicious night/day): Người biết sống trọn vẹn trong giây phút hiện tại, không truy tìm quá khứ, không vọng tưởng tương lai, thấy rõ các pháp hiện tại bằng tuệ quán. Tên kinh này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sống chánh niệm trong hiện tại.