Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 134. Lomasakangiya và Người Có Một Đêm An Lành

(Kinh Lomasakangiyabhaddekaratta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong Vườn Jeta (Kỳ Đà Lâm), khu vườn của Anāthapindika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ, Đại đức Lomasakangiya đang trú tại xứ Sakya (Thích Ca), ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), trong Vườn Nigrodha (Ni-câu-luật). [^1221]

2. Rồi, khi đêm đã về khuya, vị trời trẻ Candana, với dung sắc xinh đẹp, tỏa sáng khắp Vườn Nigrodha, đã đến gặp Đại đức Lomasakangiya. Sau khi đến, vị trời trẻ Candana đứng sang một bên và nói với Đại đức:

“Này Tỳ kheo (bhikkhu - nhà sư nam đã thọ giới cụ túc trong Phật giáo Theravada), ngài có nhớ bài tóm tắt và giải thích về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ (Bhaddekaratta - Người sống trọn vẹn với hiện tại, không nuối tiếc quá khứ, không mơ tưởng tương lai) không?” [200]

“Này bạn, tôi không nhớ bài tóm tắt và giải thích về ‘Người Có Một Đêm An Lành.’ Nhưng này bạn, bạn có nhớ bài tóm tắt và giải thích về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ không?”

“Này Tỳ kheo, tôi cũng không nhớ bài tóm tắt và giải thích về ‘Người Có Một Đêm An Lành.’ Nhưng này Tỳ kheo, ngài có nhớ bài kệ về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ không?”

“Này bạn, tôi không nhớ bài kệ về ‘Người Có Một Đêm An Lành.’ Nhưng này bạn, bạn có nhớ bài kệ về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ không?”

“Này Tỳ kheo, tôi nhớ bài kệ về ‘Người Có Một Đêm An Lành.’”

“Nhưng này bạn, bạn nhớ bài kệ về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ như thế nào?”

"Này Tỳ kheo, có một lần Đức Thế Tôn trú giữa các vị trời ở cõi trời Ba Mươi Ba (Tāvatiṃsa - một trong các cõi trời dục giới trong Phật giáo), trên Phiến đá Hồng Ngọc (Paṇḍukambalasilā - phiến đá nơi Đế Thích thường ngồi) dưới gốc cây Pāricchattaka. [^1222] Tại đó, Đức Thế Tôn đã đọc bài tóm tắt và giải thích về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ cho các vị trời ở cõi trời Ba Mươi Ba nghe:

3. 'Đừng tìm về quá khứ, Đừng ước vọng tương lai; Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến.

Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán (vipassanā - sự thấy biết sâu sắc, trực tiếp về bản chất của sự vật) chính ở đây. Thấy rõ pháp hiện tại, Bất động, không lay chuyển.

Hôm nay cần tinh tấn, Ai biết chết ngày mai? Không ai mặc cả được, Với đại quân thần chết.

Người sống nhiệt tâm như vậy, Không mỏi mệt đêm ngày - Xứng gọi: Người biết sống, Một đêm thật an lành, Bậc Thánh Tĩnh Lặng dạy.’

4. “Này Tỳ kheo, tôi nhớ bài kệ về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ như vậy đó. Này Tỳ kheo, hãy học thuộc lòng bài tóm tắt và giải thích về ‘Người Có Một Đêm An Lành.’ Này Tỳ kheo, hãy nắm vững bài tóm tắt và giải thích về ‘Người Có Một Đêm An Lành.’ Này Tỳ kheo, hãy ghi nhớ bài tóm tắt và giải thích về ‘Người Có Một Đêm An Lành.’ Này Tỳ kheo, bài tóm tắt và giải thích về ‘Người Có Một Đêm An Lành’ là lợi ích, thuộc về căn bản của đời sống phạm hạnh (brahmacariya - đời sống trong sạch, cao thượng, thường liên quan đến việc tu tập giải thoát).”

Vị trời trẻ Candana nói như vậy, rồi biến mất ngay lập tức.

5. Rồi, khi đêm đã mãn, Đại đức Lomasakangiya dọn dẹp chỗ ở, mang y bát, lên đường đi khất thực từng chặng đến Sāvatthī. [201] Cuối cùng, ngài đến Sāvatthī, vào Vườn Jeta, khu vườn của Anāthapiṇ̣ika, đảnh lễ Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ, ngài ngồi xuống một bên, kể lại toàn bộ sự việc đã xảy ra cho Đức Thế Tôn nghe, và thưa: “Bạch Thế Tôn, thật lành thay nếu Đức Thế Tôn dạy cho con bài tóm tắt và giải thích về ‘Người Có Một Đêm An Lành’.”

6. “Này Tỳ kheo, ông có biết vị trời trẻ đó không?”

“Bạch Thế Tôn, con không biết.”

“Này Tỳ kheo, vị trời trẻ đó tên là Candana. Vị ấy lắng nghe Giáo Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý), chú tâm vào Giáo Pháp, toàn tâm toàn ý với Giáo Pháp, lắng tai nghe Giáo Pháp. Vậy, này Tỳ kheo, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ những gì Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Đại đức Lomasakangiya vâng đáp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nói điều này:

7-14. "Đừng tìm về quá khứ…

(Lặp lại toàn bộ từ đoạn 3 đến đoạn 10 của Kinh 131 cho đến:) [202]

Người có một đêm an lành."

Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Đại đức Lomasakangiya hoan hỷ và tín thọ lời Đức Thế Tôn dạy.

134. KINH LOMASAKANGIYA NHẤT DẠ HIỀN GIẢ

134. KINH LOMASAKANGIYA NHẤT DẠ HIỀN GIẢ (Lomasakangiyabhaddekaratta Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Lomasakangiya trú ở giữa dòng họ Sakya (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la- vệ), ở tinh xá Nigrodha (Ni Câu Luật). Rồi Thiên tử Candana sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng cả vùng tinh xá Nigrodha, đi đến Tôn giả Lomasakangiya, sau khi đến liền đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Candana thưa với Tôn giả Lomasakangiya:

– Này Tỷ-kheo, Ngài có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

– Này Hiền giả, tôi không thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

– Này Tỷ-kheo, tôi cũng không thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Tỷ- kheo, Ngài có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

– Này Hiền giả, tôi không thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

– Này Tỷ-kheo, tôi có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả.

– Này Hiền giả, Hiền giả thọ trì như thế nào bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả?

– Một thời này Tỷ-kheo, Thế Tôn trú giữa chư Thiên Tam thập tam thiên, dưới cây Paricchattaka (Trú độ thọ), trên hòn đá Pandukambala (Vô cấu bạch thạch). Tại đấy Thế Tôn đọc lên tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả cho chư Thiên ở Tam thập tam thiên:

Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập Hôm nay nhiệt tâm làm Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm Ðêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, Bậc an tịnh, trầm lặng.

Này Tỷ-kheo, tôi thọ trì về bài kệ Nhứt Dạ Hiền Giả như vậy. Này Tỷ-kheo, hãy học tổng thuyết và biệt

thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy học cho thuần thục tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Vì rằng này Tỷ- kheo, tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả liên hệ đến mục đích, là căn bản của Phạm hạnh.

Rồi Tôn giả Lomasakangiya, sau khi đêm ấy đã mãn, dọn dẹp sàng tọa, lấy y áo và lên đường đi đến Savatthi. Tuần tự du hành, (Tôn giả) đi đến Savatthi, Jetavana, tinh xá ông Anathapindika, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lomasakangiya bạch Thế Tôn :

– Bạch Thế Tôn, một thời con trú giữa dòng họ Sakya, tại Kapilavatthu, tinh xá ông Anathapindika. Rồi bạch Thế Tôn, một Thiên tử, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng cả vùng tinh xá Nigrodha, đến con và đứng một bên. Ðứng một bên, bạch Thế Tôn, Thiên tử ấy thưa với con: “Này Tỷ- kheo, Ngài có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?” Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với Thiên tử ấy: “Này Hiền giả, tôi không thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả”. "-- Này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì… là căn bản của Phạm hạnh.

Bạch Thế Tôn, Thiên tử ấy nói như vậy. Nói như vậy xong, vị ấy biến mất tại đấy. Lành thay bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn giảng cho con tổng thuyết và biệt thuyết về bài kệ Nhứt Dạ Hiền Giả.

– Này Tỷ-kheo, Ông có biết Thiên tử ấy không? Bạch Thế Tôn, con không biết Thiên tử ấy.

– Này Tỷ-kheo, Thiên tử ấy tên là Candana. Này Tỷ-kheo, Candana là Thiên tử, sau khi chú tâm, sau khi tác ý, sau khi tập trung nội tâm, lóng tai nghe pháp. Vậy này Tỷ-kheo, hãy nghe và suy nghiệm kỹ Ta sẽ nói.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn, Tôn giả Lomasakangiya vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập Hôm nay nhiệt tâm làm Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm Ðêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, Bậc an tịnh, trầm lặng.

Và này Tỷ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là hành của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy, “Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Tỷ-kheo, là truy tìm quá khứ.

Và này Tỷ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi… Như vậy là hành của tôi… Như vậy là thức của tôi trong quá khứ”; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Tỷ-kheo, là không truy tìm quá khứ.

Và này Tỷ-kheo, thế nào ước vọng tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy là tưởng của tôi… là hành của tôi… Như vậy là thức của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.

Và này Tỷ-kheo, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và không truy tìm hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và không truy tìm hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là tưởng… sẽ là hành… sẽ là thức của tôi trong tương lai, "và không truy tìm hân hoan trong ấy. Như vậy, này Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.

Và này Tỷ-kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này Tỷ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Và này Tỷ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ… không quán tưởng… không quán hành… không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này Tỷ- kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại, Tuệ quán chính ở đây. Không động, không rung chuyển, Biết vậy nên tu tập Hôm nay nhiệt tâm làm Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được Với đại quân thần chết, Trú như vậy nhiệt tâm Ðêm ngày không mệt mỏi, Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,

Bậc an tịnh, trầm lặng.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Loma-sakangiya hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Tỳ kheo / bhikkhu / bhikkhu: Nhà sư nam đã thọ giới cụ túc trong Phật giáo Theravada.
  • Người Có Một Đêm An Lành / Bhaddekaratta / One Who Has One Fortunate Attachment (lit. Auspicious Single Night/Day): Chỉ người sống chú tâm, trọn vẹn với giây phút hiện tại, không luyến tiếc quá khứ hay mơ vọng tương lai, thấy rõ bản chất của các pháp đang sinh khởi. Đây là trạng thái sống an lạc, lợi ích. Tên gọi này nhấn mạnh vào phẩm chất của người thực hành hơn là một sự “dính mắc” (attachment) may mắn.
  • Cõi trời Ba Mươi Ba / Tāvatiṃsa / Heaven of the Thirty-three: Một trong sáu cõi trời thuộc Dục giới trong vũ trụ quan Phật giáo, do trời Đế Thích (Sakka) cai quản, nằm trên đỉnh núi Meru (Tudi).
  • Phiến đá Hồng Ngọc / Paṇḍukambalasilā / Red Marble Stone: Phiến đá màu vàng nhạt (như len trắng) tại cõi trời Ba Mươi Ba, nơi trời Đế Thích thường ngồi, và đôi khi Đức Phật thuyết pháp cho chư thiên tại đây.
  • Tuệ quán / vipassanā / insight: Sự thấy biết trực tiếp, sâu sắc và rõ ràng về bản chất thật sự của các pháp (hiện tượng tâm vật lý), tức là thấy rõ tính Vô thường (anicca), Khổ (dukkha), Vô ngã (anattā), thông qua sự thực hành thiền định.
  • Đời sống phạm hạnh / brahmacariya / holy life: Đời sống trong sạch, cao thượng, hướng đến mục tiêu tối thượng là Niết-bàn (Nibbāna), giải thoát khỏi vòng luân hồi khổ đau. Đời sống này bao gồm việc giữ giới, tu tập thiền định (samatha và vipassanā) và phát triển trí tuệ.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật Gotama về bản chất của thực tại, nguyên nhân của khổ đau và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau (Niết-bàn). Bao gồm Kinh (Sutta), Luật (Vinaya) và Luận (Abhidhamma).