Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 137. Kinh Phân Tích Sáu Xứ

(Salāyatanavibhanga Sutta)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong Vườn Jeta (Kỳ-đà), Khu vườn của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Ngài gọi các vị tỳ kheo (monks-bhikkhus-nhà sư): “Này các Tỳ kheo.” - “Bạch Thế Tôn,” các vị ấy đáp lời. Đức Thế Tôn dạy như sau:

2. “Này các Tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các thầy bài phân tích về sáu xứ. Hãy lắng nghe và chú tâm kỹ vào những gì Ta sắp nói.” - “Vâng, bạch Thế Tôn,” các vị tỳ kheo đáp lời. Đức Thế Tôn dạy như sau: [216]

3. "Sáu nội xứ cần phải được hiểu rõ. Sáu ngoại xứ cần phải được hiểu rõ. Sáu loại thức cần phải được hiểu rõ. Sáu loại xúc cần phải được hiểu rõ. Mười tám cách khảo sát của tâm (eighteen kinds of mental exploration - mười tám cách tâm xem xét, tìm hiểu đối tượng) cần phải được hiểu rõ. Ba mươi sáu trạng thái chúng sinh (thirty-six positions of beings - ba mươi sáu lập trường/chỗ đứng/trạng thái tâm của chúng sinh) cần phải được hiểu rõ. Trong đó, dựa vào cái này, hãy từ bỏ cái kia. Có ba nền tảng chánh niệm (three foundations of mindfulness - ba cơ sở/điểm tựa để thiết lập sự chú tâm, tỉnh giác) mà Bậc Thánh (Noble One - người đã chứng đắc các đạo quả thánh) tu tập, và khi tu tập những nền tảng này, Bậc Thánh là vị thầy xứng đáng dẫn dắt hội chúng. Trong số các bậc thầy huấn luyện, Ngài được gọi là vị lãnh đạo vô song cho những người cần được điều phục (incomparable leader of persons to be tamed - bậc điều ngự trượng phu tối cao/không ai sánh bằng). Đây là phần tóm tắt của bài phân tích về sáu xứ.

4. "‘Sáu nội xứ cần phải được hiểu rõ.’ Điều này đã được nói. Và nói như vậy là dựa vào đâu? Đó là xứ mắt, xứ tai, xứ mũi, xứ lưỡi, xứ thân, và xứ ý. Chính vì dựa vào điều này mà đã nói rằng: ‘Sáu nội xứ cần phải được hiểu rõ.’

5. "‘Sáu ngoại xứ cần phải được hiểu rõ.’ Điều này đã được nói. Và nói như vậy là dựa vào đâu? Đó là xứ sắc, xứ thanh, xứ khí, xứ vị, xứ xúc (đối tượng của thân), và xứ pháp (đối tượng của ý). Chính vì dựa vào điều này mà đã nói rằng: ‘Sáu ngoại xứ cần phải được hiểu rõ.’

6. "‘Sáu loại thức cần phải được hiểu rõ.’ Điều này đã được nói. Và nói như vậy là dựa vào đâu? Đó là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, và ý thức. Chính vì dựa vào điều này mà đã nói rằng: ‘Sáu loại thức cần phải được hiểu rõ.’

7. "‘Sáu loại xúc cần phải được hiểu rõ.’ Điều này đã được nói. Và nói như vậy là dựa vào đâu? Đó là nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, và ý xúc. Chính vì dựa vào điều này mà đã nói rằng: ‘Sáu loại xúc cần phải được hiểu rõ.’

8. "‘Mười tám cách khảo sát của tâm cần phải được hiểu rõ.’ [^1235] Điều này đã được nói. Và nói như vậy là dựa vào đâu?

"Khi thấy một hình sắc bằng mắt, người ta khảo sát một hình sắc tạo ra niềm vui (hỷ), khảo sát một hình sắc tạo ra nỗi buồn (ưu), khảo sát một hình sắc tạo ra sự bình thản (xả) (equanimity - trạng thái tâm quân bình, không vui không buồn, không yêu không ghét). [^1236] Khi nghe một âm thanh bằng tai… Khi ngửi một mùi hương bằng mũi… Khi nếm một vị bằng lưỡi… [217] Khi chạm một vật xúc chạm bằng thân… Khi nhận biết một đối tượng tâm (pháp) bằng ý, người ta khảo sát một đối tượng tâm tạo ra niềm vui (hỷ), khảo sát một đối tượng tâm tạo ra nỗi buồn (ưu); khảo sát một đối tượng tâm tạo ra sự bình thản (xả). Như vậy, có sáu cách khảo sát với niềm vui (hỷ), sáu cách khảo sát với nỗi buồn (ưu), và sáu cách khảo sát với sự bình thản (xả). Chính vì dựa vào điều này mà đã nói rằng: ‘Mười tám cách khảo sát của tâm cần phải được hiểu rõ.’

9. "‘Ba mươi sáu trạng thái chúng sinh cần phải được hiểu rõ.’ [^1237] Điều này đã được nói. Và nói như vậy là dựa vào đâu? Có sáu loại hỷ dựa vào đời sống tại gia và sáu loại hỷ dựa vào sự xuất ly (renunciation - sự từ bỏ đời sống thế tục, hoặc từ bỏ các trạng thái tâm bất thiện). [^1238] Có sáu loại ưu dựa vào đời sống tại gia và sáu loại ưu dựa vào sự xuất ly. Có sáu loại xả dựa vào đời sống tại gia và sáu loại xả dựa vào sự xuất ly.

10. "Ở đây, sáu loại hỷ dựa vào đời sống tại gia là gì? Khi một người coi như một sự đạt được việc có được các hình sắc nhận biết được qua mắt mà chúng đáng mong ước, đáng khao khát, dễ chịu, làm hài lòng, và liên quan đến thế tục - hoặc khi người đó nhớ lại những gì đã đạt được trước đây mà nay đã qua đi, chấm dứt và thay đổi - niềm vui (hỷ) khởi sinh. Niềm vui như vậy được gọi là hỷ dựa vào đời sống tại gia.

"Khi một người coi như một sự đạt được việc có được các âm thanh nhận biết được qua tai… việc có được các mùi hương nhận biết được qua mũi… việc có được các vị nhận biết được qua lưỡi… việc có được các vật xúc chạm nhận biết được qua thân… việc có được các đối tượng tâm (pháp) nhận biết được qua ý mà chúng đáng mong ước, đáng khao khát, dễ chịu, làm hài lòng, và liên quan đến thế tục - hoặc khi người đó nhớ lại những gì đã đạt được trước đây mà nay đã qua đi, chấm dứt và thay đổi - niềm vui (hỷ) khởi sinh. Niềm vui như vậy được gọi là hỷ dựa vào đời sống tại gia. Đây là sáu loại hỷ dựa vào đời sống tại gia.

11. "Ở đây, sáu loại hỷ dựa vào sự xuất ly là gì? Khi, nhờ biết rõ sự vô thường (impermanence - tính chất không bền vững, luôn thay đổi), biến đổi, phai nhạt và chấm dứt của các hình sắc, người đó thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh rằng các hình sắc cả trước đây và bây giờ đều vô thường, khổ (suffering - sự không hài lòng, đau đớn, phiền não vốn có trong mọi hiện hữu), và chịu sự biến đổi, niềm vui (hỷ) khởi sinh. Niềm vui như vậy được gọi là hỷ dựa vào sự xuất ly. [^1239]

"Khi, nhờ biết rõ sự vô thường, biến đổi, phai nhạt và chấm dứt của các âm thanh… của các mùi hương… của các vị… của các vật xúc chạm… [218] của các đối tượng tâm (pháp), người đó thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh rằng các đối tượng tâm cả trước đây và bây giờ đều vô thường, khổ, và chịu sự biến đổi, niềm vui (hỷ) khởi sinh. Niềm vui như vậy được gọi là hỷ dựa vào sự xuất ly. Đây là sáu loại hỷ dựa vào sự xuất ly.

12. "Ở đây, sáu loại ưu dựa vào đời sống tại gia là gì? Khi một người coi như một sự không đạt được việc không có được các hình sắc nhận biết được qua mắt mà chúng đáng mong ước, đáng khao khát, dễ chịu, làm hài lòng, và liên quan đến thế tục - hoặc khi người đó nhớ lại những gì đã không đạt được trước đây mà nay đã qua đi, chấm dứt và thay đổi - nỗi buồn (ưu) khởi sinh. Nỗi buồn như vậy được gọi là ưu dựa vào đời sống tại gia.

"Khi một người coi như một sự không đạt được việc không có được các âm thanh nhận biết được qua tai… việc không có được các mùi hương nhận biết được qua mũi… việc không có được các vị nhận biết được qua lưỡi… việc không có được các vật xúc chạm nhận biết được qua thân… việc không có được các đối tượng tâm (pháp) nhận biết được qua ý mà chúng đáng mong ước, đáng khao khát, dễ chịu, làm hài lòng, và liên quan đến thế tục - hoặc khi người đó nhớ lại những gì đã không đạt được trước đây mà nay đã qua đi, chấm dứt và thay đổi - nỗi buồn (ưu) khởi sinh. Nỗi buồn như vậy được gọi là ưu dựa vào đời sống tại gia. Đây là sáu loại ưu dựa vào đời sống tại gia.

13. "Ở đây, sáu loại ưu dựa vào sự xuất ly là gì? Khi, nhờ biết rõ sự vô thường, biến đổi, phai nhạt và chấm dứt của các hình sắc, người đó thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh rằng các hình sắc cả trước đây và bây giờ đều vô thường, khổ, và chịu sự biến đổi, người đó khởi lên lòng khao khát đối với sự giải thoát tối thượng (supreme liberations - sự giải thoát hoàn toàn khỏi khổ đau, tức Niết Bàn) như sau: ‘Khi nào ta sẽ chứng đạt và an trú trong cảnh giới mà các bậc Thánh hiện đang chứng đạt và an trú?’ [^1240] Ở người khởi lên lòng khao khát đối với sự giải thoát tối thượng như vậy, nỗi buồn (ưu) khởi sinh với lòng khao khát đó làm điều kiện. Nỗi buồn như vậy được gọi là ưu dựa vào sự xuất ly.

"Khi, nhờ biết rõ sự vô thường, biến đổi, phai nhạt và chấm dứt của các âm thanh… của các mùi hương… của các vị… của các vật xúc chạm… của các đối tượng tâm (pháp), người đó thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh rằng các đối tượng tâm cả trước đây và bây giờ đều vô thường, khổ, và chịu sự biến đổi, [219] người đó khởi lên lòng khao khát đối với sự giải thoát tối thượng như sau: ‘Khi nào ta sẽ chứng đạt và an trú trong cảnh giới mà các bậc Thánh hiện đang chứng đạt và an trú?’ Ở người khởi lên lòng khao khát đối với sự giải thoát tối thượng như vậy, nỗi buồn (ưu) khởi sinh với lòng khao khát đó làm điều kiện. Nỗi buồn như vậy được gọi là ưu dựa vào sự xuất ly. Đây là sáu loại ưu dựa vào sự xuất ly.

14. "Ở đây, sáu loại xả dựa vào đời sống tại gia là gì? Khi thấy một hình sắc bằng mắt, sự bình thản (xả) khởi sinh nơi người phàm phu (ordinary person - puthujjana - người chưa chứng đắc đạo quả thánh) ngu si, mê muội, người phàm phu chưa được học hỏi, chưa chinh phục được giới hạn của mình hay chưa chinh phục được kết quả [của hành động] và mù quáng trước sự nguy hiểm. Sự bình thản như vậy không vượt qua khỏi hình sắc; đó là lý do tại sao nó được gọi là xả dựa vào đời sống tại gia. [^1241]

"Khi nghe một âm thanh bằng tai… Khi ngửi một mùi hương bằng mũi… Khi nếm một vị bằng lưỡi… Khi chạm một vật xúc chạm bằng thân… Khi nhận biết một đối tượng tâm (pháp) bằng ý, sự bình thản (xả) khởi sinh nơi người phàm phu ngu si, mê muội, người phàm phu chưa được học hỏi, chưa chinh phục được giới hạn của mình hay chưa chinh phục được kết quả [của hành động] và mù quáng trước sự nguy hiểm. Sự bình thản như vậy không vượt qua khỏi đối tượng tâm (pháp); đó là lý do tại sao nó được gọi là xả dựa vào đời sống tại gia. Đây là sáu loại xả dựa vào đời sống tại gia.

15. "Ở đây, sáu loại xả dựa vào sự xuất ly là gì? Khi, nhờ biết rõ sự vô thường, biến đổi, phai nhạt và chấm dứt của các hình sắc, người đó thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh rằng các hình sắc cả trước đây và bây giờ đều vô thường, khổ, và chịu sự biến đổi, sự bình thản (xả) khởi sinh. Sự bình thản như vậy vượt qua khỏi hình sắc; đó là lý do tại sao nó được gọi là xả dựa vào sự xuất ly. [^1242]

"Khi, nhờ biết rõ sự vô thường, biến đổi, phai nhạt và chấm dứt của các âm thanh… của các mùi hương… của các vị… của các vật xúc chạm… của các đối tượng tâm (pháp), người đó thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh rằng các đối tượng tâm cả trước đây và bây giờ đều vô thường, khổ, và chịu sự biến đổi, sự bình thản (xả) khởi sinh. Sự bình thản như vậy vượt qua khỏi đối tượng tâm (pháp); đó là lý do tại sao nó được gọi là xả dựa vào sự xuất ly. Đây là sáu loại xả dựa vào sự xuất ly.

"Chính vì dựa vào điều này mà đã nói rằng: ‘Ba mươi sáu trạng thái chúng sinh cần phải được hiểu rõ.’ [220]

16. "‘Trong đó, dựa vào cái này, hãy từ bỏ cái kia.’ Điều này đã được nói. Và nói như vậy là dựa vào đâu?

"Ở đây, này các Tỳ kheo, dựa vào và nương tựa vào sáu loại hỷ dựa vào sự xuất ly, hãy từ bỏ và vượt qua sáu loại hỷ dựa vào đời sống tại gia. Chúng được từ bỏ như vậy; chúng được vượt qua như vậy. Dựa vào và nương tựa vào sáu loại ưu dựa vào sự xuất ly, hãy từ bỏ và vượt qua sáu loại ưu dựa vào đời sống tại gia. Chúng được từ bỏ như vậy; chúng được vượt qua như vậy. Dựa vào và nương tựa vào sáu loại xả dựa vào sự xuất ly, hãy từ bỏ và vượt qua sáu loại xả dựa vào đời sống tại gia. Chúng được từ bỏ như vậy; chúng được vượt qua như vậy.

"Dựa vào và nương tựa vào sáu loại hỷ dựa vào sự xuất ly, hãy từ bỏ và vượt qua sáu loại ưu dựa vào sự xuất ly. Chúng được từ bỏ như vậy; chúng được vượt qua như vậy. Dựa vào và nương tựa vào sáu loại xả dựa vào sự xuất ly, hãy từ bỏ và vượt qua sáu loại hỷ dựa vào sự xuất ly. Chúng được từ bỏ như vậy; chúng được vượt qua như vậy.

17. "Này các Tỳ kheo, có sự bình thản (xả) đa dạng, dựa trên sự đa dạng; và có sự bình thản (xả) đồng nhất, dựa trên sự đồng nhất. [^1243]

18. "Và này các Tỳ kheo, thế nào là sự bình thản (xả) đa dạng, dựa trên sự đa dạng? Đó là sự bình thản đối với các hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, và vật xúc chạm. Này các Tỳ kheo, đây là sự bình thản (xả) đa dạng, dựa trên sự đa dạng.

19. "Và này các Tỳ kheo, thế nào là sự bình thản (xả) đồng nhất, dựa trên sự đồng nhất? Đó là sự bình thản liên quan đến Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này các Tỳ kheo, đây là sự bình thản (xả) đồng nhất, dựa trên sự đồng nhất.

20. "Ở đây, này các Tỳ kheo, dựa vào và nương tựa vào sự bình thản (xả) đồng nhất, dựa trên sự đồng nhất, hãy từ bỏ và vượt qua sự bình thản (xả) đa dạng, dựa trên sự đa dạng. Nó được từ bỏ như vậy; nó được vượt qua như vậy. [^1244]

"Này các Tỳ kheo, dựa vào và nương tựa vào sự không đồng hóa (non-identification - atammayatā - trạng thái không bị cuốn theo, không dính mắc vào đối tượng, đặc biệt là các tầng thiền cao), hãy từ bỏ và vượt qua sự bình thản (xả) đồng nhất, dựa trên sự đồng nhất. Nó được từ bỏ như vậy; nó được vượt qua như vậy. [221]

"Chính vì dựa vào điều này mà đã nói rằng: ‘Trong đó, dựa vào cái này, hãy từ bỏ cái kia.’

21. "‘Có ba nền tảng chánh niệm mà Bậc Thánh tu tập, và khi tu tập những nền tảng này, Bậc Thánh là vị thầy xứng đáng dẫn dắt hội chúng.’ [^1246] Điều này đã được nói. Và nói như vậy là dựa vào đâu?

22. "Ở đây, này các Tỳ kheo, với lòng bi mẫn và mong cầu lợi ích cho họ, Bậc Đạo Sư giảng dạy Giáo Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý) cho các đệ tử vì lòng bi mẫn: ‘Điều này là vì lợi ích của các con; điều này là vì hạnh phúc của các con.’ Các đệ tử của Ngài không muốn nghe, không lắng tai, không dụng tâm để hiểu; họ lầm lạc và đi lệch khỏi Giáo Pháp của Bậc Đạo Sư. Với điều đó, Như Lai (Tathāgata - một danh hiệu của Đức Phật, nghĩa là “Người đến như vậy” hoặc “Người đi như vậy”) không hài lòng và không cảm thấy thỏa mãn; tuy nhiên Ngài vẫn an trú không lay động, chánh niệm (mindful - sati - sự chú tâm, ghi nhớ đối tượng hiện tại) và tỉnh giác (fully aware - sampajañña - sự biết rõ ràng, nhận thức đầy đủ về những gì đang xảy ra). Này các Tỳ kheo, đây được gọi là nền tảng chánh niệm thứ nhất mà Bậc Thánh tu tập, và khi tu tập nền tảng này, Bậc Thánh là vị thầy xứng đáng dẫn dắt hội chúng.

23. "Hơn nữa, này các Tỳ kheo, với lòng bi mẫn và mong cầu lợi ích cho họ, Bậc Đạo Sư giảng dạy Giáo Pháp cho các đệ tử vì lòng bi mẫn: ‘Điều này là vì lợi ích của các con; điều này là vì hạnh phúc của các con.’ Một số đệ tử của Ngài sẽ không nghe, không lắng tai, không dụng tâm để hiểu; họ lầm lạc và đi lệch khỏi Giáo Pháp của Bậc Đạo Sư. Một số đệ tử của Ngài sẽ nghe, lắng tai và dụng tâm để hiểu; họ không lầm lạc và đi lệch khỏi Giáo Pháp của Bậc Đạo Sư. Với điều đó, Như Lai không hài lòng và không cảm thấy thỏa mãn, và Ngài cũng không bất mãn và không cảm thấy không hài lòng; giữ tâm không vướng vào cả sự hài lòng lẫn không hài lòng, Ngài an trú trong sự bình thản (xả), chánh niệm và tỉnh giác. Này các Tỳ kheo, đây được gọi là nền tảng chánh niệm thứ hai mà Bậc Thánh tu tập, và khi tu tập nền tảng này, Bậc Thánh là vị thầy xứng đáng dẫn dắt hội chúng.

24. "Hơn nữa, này các Tỳ kheo, với lòng bi mẫn và mong cầu lợi ích cho họ, Bậc Đạo Sư giảng dạy Giáo Pháp cho các đệ tử vì lòng bi mẫn: ‘Điều này là vì lợi ích của các con; điều này là vì hạnh phúc của các con.’ Các đệ tử của Ngài sẽ nghe, lắng tai và dụng tâm để hiểu; họ không lầm lạc và đi lệch khỏi Giáo Pháp của Bậc Đạo Sư. Với điều đó, Như Lai hài lòng và cảm thấy thỏa mãn; tuy nhiên Ngài vẫn an trú không lay động, chánh niệm và tỉnh giác. Này các Tỳ kheo, đây được gọi là nền tảng chánh niệm thứ ba mà Bậc Thánh tu tập, và khi tu tập nền tảng này, Bậc Thánh là vị thầy xứng đáng dẫn dắt hội chúng. [222]

"Chính vì dựa vào điều này mà đã nói rằng: ‘Có ba nền tảng chánh niệm mà Bậc Thánh tu tập, và khi tu tập nền tảng này, Bậc Thánh là vị thầy xứng đáng dẫn dắt hội chúng.’

25. "‘Trong số các bậc thầy huấn luyện, Ngài được gọi là vị lãnh đạo vô song cho những người cần được điều phục.’ [^1247] Điều này đã được nói. Và nói như vậy là dựa vào đâu?

"Này các Tỳ kheo, dưới sự hướng dẫn của người huấn luyện voi, con voi cần được điều phục đi theo một hướng - đông, tây, nam, hoặc bắc. Này các Tỳ kheo, dưới sự hướng dẫn của người huấn luyện ngựa, con ngựa cần được điều phục đi theo một hướng - đông, tây, nam, hoặc bắc. Này các Tỳ kheo, dưới sự hướng dẫn của người huấn luyện bò, con bò cần được điều phục đi theo một hướng - đông, tây, nam, hoặc bắc.

26. "Này các Tỳ kheo, dưới sự hướng dẫn của Như Lai, bậc A-la-hán (arahant - bậc đã đạt được giải thoát hoàn toàn, chấm dứt luân hồi), Chánh Đẳng Chánh Giác (sammāsambuddha - bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn và chỉ dạy cho chúng sinh), người cần được điều phục đi theo tám hướng. [^1248]

"Người có sắc, thấy các sắc: đây là hướng thứ nhất. Không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài: đây là hướng thứ hai. Chỉ quyết tâm hướng đến cái đẹp (tịnh): đây là hướng thứ ba. Với sự vượt qua hoàn toàn nhận thức về sắc, với sự biến mất của nhận thức về đối ngại (sân), với sự không chú ý đến nhận thức đa dạng, nhận biết rằng ‘không gian là vô biên,’ vị ấy chứng đạt và an trú trong Không vô biên xứ: đây là hướng thứ tư. Bằng cách vượt qua hoàn toàn Không vô biên xứ, nhận biết rằng ‘thức là vô biên,’ vị ấy chứng đạt và an trú trong Thức vô biên xứ: đây là hướng thứ năm. Bằng cách vượt qua hoàn toàn Thức vô biên xứ, nhận biết rằng ‘không có gì cả,’ vị ấy chứng đạt và an trú trong Vô sở hữu xứ: đây là hướng thứ sáu. Bằng cách vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu xứ, vị ấy chứng đạt và an trú trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ: đây là hướng thứ bảy. Bằng cách vượt qua hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vị ấy chứng đạt và an trú trong Diệt thọ tưởng định (cessation of perception and feeling - trạng thái thiền định nơi nhận thức và cảm giác tạm thời chấm dứt hoàn toàn): đây là hướng thứ tám.

"Này các Tỳ kheo, dưới sự hướng dẫn của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, người cần được điều phục đi theo tám hướng này.

28. “Chính vì dựa vào điều này mà đã nói rằng: ‘Trong số các bậc thầy huấn luyện, Ngài được gọi là vị lãnh đạo vô song cho những người cần được điều phục.’”

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã dạy. Các vị tỳ kheo hoan hỷ và vui mừng đón nhận lời dạy của Đức Thế Tôn.

137. KINH PHÂN BIỆT SÁU XỨ

137. KINH PHÂN BIỆT SÁU XỨ (Salàyatanavibhanga Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” --“Bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:

– Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông phân biệt sáu xứ. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Có sáu nội xứ cần phải biết. Có sáu ngoại xứ cần phải biết. Có sáu thức thân cần phải biết. Có sáu xúc thân cần phải biết. Có mười tám ý hành cần phải biết. Có ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết. Tại đây, do y cứ cái này, đoạn tận cái này, có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng. Trong các bậc Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là bậc Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục các hạng người đáng được điều phục. Ðây là tổng thuyết về phân biệt sáu xứ.

Khi được nói đến “Sáu nội xứ cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Khi được nói đến: “Sáu nội xứ cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Sáu ngoại xứ cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ, pháp xứ. Khi được nói đến: “Sáu ngoại xứ cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Sáu thức thân cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Khi được nói đến: “Sáu thức thân cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Sáu xúc thân cần phải biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Khi được nói đến: “Sáu xúc thân cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Mười tám ý hành cần phải biết”, do duyên gì được nói đến như vậy? Sau khi mắt thấy sắc, (ý) chạy theo sắc trú xứ của hỷ, chạy theo sắc trú xứ của ưu, chạy theo sắc trú xứ của xả; sau khi tai nghe tiếng… ; sau khi mũi ngửi hương… sau khi lưỡi nếm vị… sau khi thân cảm xúc… sau khi ý nhận thức pháp, ý chạy theo pháp khởi lên hỷ chạy theo pháp khởi lên ưu, chạy theo pháp khởi lên xả. Như vậy, có sáu hỷ hành, có sáu ưu hành, có sáu xả hành. Khi được nói đến “Mười tám ý hành cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Sáu hỷ liên hệ tại gia, sáu hỷ liên hệ xuất ly, sáu ưu liên hệ tại gia, sáu ưu liên hệ xuất ly, sáu xả liên hệ tại gia, sáu xả liên hệ xuất ly.

Ở đây, thế nào là sáu hỷ liên hệ tại gia? Có hỷ khởi lên, hoặc do nhận được hay thấy sự nhận được các sắc do con mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì đã nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ tại gia. Có hỷ khởi lên, hoặc do nhận được hay thấy sự nhận được các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức… các pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì đã nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến tại gia. Sáu hỷ này liên hệ đến tại gia.

Ở đây, thế nào là sáu hỷ liên hệ đến xuất ly? Sau khi biết các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly. Sau khi biết được các tiếng… các hương… các vị… các xúc… các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt và nghĩ rằng: “Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly. Sáu hỷ này liên hệ đến xuất ly.

Ở đây, thế nào là sáu ưu liên hệ tại gia? Có ưu khởi lên; hoặc do không nhận được hay thấy sự không nhận được các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì không nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ tại gia. Có ưu khởi lên, hoặc do không nhận được hay thấy sự không nhận được các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức… các pháp do ý nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến thế vật; hoặc do nhớ được những gì không nhận được về trước, đã qua, đã diệt, đã biến hoại. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ đến tại gia. Sáu ưu này liên hệ đến tại gia.

Ở đây, thế nào là sáu ưu liên hệ đến xuất ly? Sau khi biết được các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước muốn đối với vô thượng giải thoát, nghĩ rằng: “Khi nào ta có thể chứng đạt và an trú trong xứ (ayatana) mà các bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?” Như vậy, do ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước muốn. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Sau khi biết được các tiếng… các hương… các vị… các xúc… các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục, biến diệt và nghĩ rằng: “Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi sự thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, nghĩ rằng: “Khi nào ta có thể chứng đạt và an trú trong xứ (ayatana) mà các bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?” Như vậy, do ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước muốn. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly. Sáu ưu này liên hệ xuất ly.

Ở đây, thế nào là sáu xả liên hệ tại gia? Khi một người ngu si, ám độn, phàm phu thấy sắc với con mắt, xả khởi lên của một vô văn phàm phu, không chinh phục được (phiền não), không chinh phục được quả dị thục, không thấy sự nguy hiểm. Loại xả như vậy không vượt khỏi sắc pháp. Do vậy, đây được gọi là xả liên hệ tại gia. Khi một người ngu si, ám độn, phàm phu nghe tiếng với tai… ngửi hương với mũi… nếm vị với lưỡi… cảm xúc với thân… nhận thức pháp với ý, xả khởi lên của một vô văn phàm phu, không chinh phục được (phiền não), không chinh phục được quả dị thục, không thấy sự nguy hiểm. Loại xả như vậy không vượt khỏi các pháp. Do vậy, đây được gọi là xả liên hệ tại gia. Sáu xả này liên hệ tại gia.

Ở đây, thế nào là sáu xả liên hệ xuất ly? Sau khi biết sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt, nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, xả khởi lên. Loại xả như vậy được gọi là xả liên hệ xuất ly. Sau khi biết được các tiếng… các hương… các vị… các xúc… các pháp là vô thường, biến hoại, ly dục,

biến diệt, nghĩ rằng: “Các pháp xưa kia và các pháp hiện tại, tất cả các pháp là vô thường, khổ, biến, hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, xả khởi lên. Loại xả như vậy được gọi là xả liên hệ xuất ly. Sáu xả này liên hệ xuất ly.

Khi được nói đến “Ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Ở đây, do y cứ cái này, đoạn tận cái này”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu ưu liên hệ xuất ly; đoạn tận, vượt qua sáu ưu liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu xả liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu xả liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu ưu liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng.

Này các Tỷ-kheo, có xả đa diện, y cứ đa diện; có xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. Này các Tỷ-kheo, thế nào là xả đa diện, y cứ đa diện? Này các Tỷ-kheo, có xả đối với các sắc pháp, có xả đối với các tiếng, có xả đối với các hương, có xả đối với các vị có xả đối với các xúc. Như vậy, này các Tỷ-kheo là xả đa diện, y cứ đa diện. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả nhứt diện, y cứ nhứt diện? Có xả y cứ Hư không vô biên xứ, có xả y cứ Thức vô biên xứ, có xả y cứ Vô sở hữu xứ, có xả y cứ Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo là xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. Ở đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện, đoạn tận vượt qua xả đa diện, xả y cứ đa diện. Như vậy là sự đoạn tận (xả) này, như vậy là sự vượt qua (xả) này. Này các Tỷ-kheo, do y cứ không tham dục, do duyên không tham dục, đoạn tận, vượt qua xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện ấy. Như vậy là sự đoạn tận (xả) này, như vậy là sự vượt qua (xả) này. Khi được nói đến “Tại đây do y cứ cái này, đoạn tận cái này”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến: “Có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng”, do duyên gì, được nói đến như vậy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Một số đệ tử của bậc Ðạo sư ấy không có khéo nghe, không có lóng tai, không có an trú tâm vào chánh trí, và hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm giác hoan hỷ, nhưng sống không có dao động, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ thứ nhất, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Một số đệ tử bậc Ðạo sư ấy không có khéo nghe, không có lóng tai, không có an trú tâm vào chánh trí, và hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Có một số đệ tử khéo nghe, lóng tai, an trú tâm vào chánh trí, và không hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm giác hoan hỷ, không có không hoan hỷ, không có cảm giác không hoan hỷ; sau khi đoạn bỏ cả hai, hoan hỷ và không hoan hỷ, Như Lai trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ hai, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có bậc Ðạo Sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Ðệ tử của bậc Ðạo Sư ấy khéo nghe, lóng tai, an trú tâm vào chánh trí và không đi ngược lời dạy của bậc Ðạo

Sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như lai hoan hỷ, và cảm giác hoan hỷ, sống không dao động, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, đây là niệm xứ thứ ba, một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng cho đồ chúng.

Khi được nói đến “Có ba niệm xứ, một bậc Thánh phải thực hành, và có (thực hành) niệm xứ ấy, bậc Thánh mới xứng đáng là bậc Ðạo sư diễn giảng cho đồ chúng”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Trong các vị Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là vị Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng người đáng được điều phục”, do duyên gì được nói đến như vậy? Này các Tỷ-kheo, một con voi được điều phục do một vị điều ngự tượng sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam. Này các Tỷ-kheo, một con ngựa được điều phục do một vị điều ngự mã sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam. Này các Tỷ-kheo, một con bò được điều phục do một vị điều ngự sư dắt dẫn chỉ chạy về một phương, phương Ðông, phương Tây, phương Bắc hay phương Nam.

Này các Tỷ-kheo, một người được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp cả tám phương.

Có sắc, thấy các sắc pháp; đó là phương thứ nhất. Không có tưởng nội sắc, thấy các ngoại sắc; đó là phương thứ hai. Nghĩ đến thanh tịnh, chú tâm trên ấy; đó là phương thứ ba. Vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, diệt trừ đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng; và nghĩ rằng “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ; đó là phương thứ tư. Vượt qua một cách hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ; đó là phương thứ năm. Vượt qua một cách hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có gì cả”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ; đó là phương thứ sáu. Vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ; chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là phương thứ bảy. Vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng (định); đó là phương thứ tám.

Này các Tỷ-kheo, một người đáng được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp tám phương này.

Khi được nói đến “Trong các vị Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục hạng người đáng điều phục”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • sáu nội xứ / cha ajjhattikāni āyatanāni / six internal bases: Sáu cơ quan cảm giác bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
  • sáu ngoại xứ / cha bāhirāni āyatanāni / six external bases: Sáu đối tượng tương ứng của các giác quan: hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, vật xúc chạm, đối tượng của ý (pháp).
  • sáu loại thức / cha viññāṇakāyā / six classes of consciousness: Sáu loại nhận thức sinh khởi dựa trên sự tiếp xúc giữa nội xứ và ngoại xứ: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.
  • sáu loại xúc / cha phassakāyā / six classes of contact: Sáu loại tiếp xúc sinh khởi khi nội xứ, ngoại xứ và thức tương ứng gặp nhau: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.
  • mười tám cách khảo sát của tâm / aṭṭhārasa manopavicārā / eighteen kinds of mental exploration: Mười tám cách tâm phản ứng (vui, buồn, hoặc bình thản) đối với sáu loại đối tượng giác quan.
  • ba mươi sáu trạng thái chúng sinh / chattiṃsa sattapadā / thirty-six positions of beings: Ba mươi sáu trạng thái tâm lý của chúng sinh, bao gồm sáu loại hỷ, sáu loại ưu, sáu loại xả, mỗi loại lại chia thành dựa vào đời sống tại gia và dựa vào sự xuất ly.
  • hỷ / somanassa / joy: Niềm vui, sự hân hoan thuộc về tâm.
  • ưu / domanassa / grief: Nỗi buồn, sự khổ tâm, bất mãn.
  • xả / upekkhā / equanimity: Trạng thái tâm quân bình, không vui không buồn, không thiên vị, không phản ứng thái quá.
  • xuất ly / nekkhamma / renunciation: Sự từ bỏ, thoát ly khỏi đời sống thế tục hoặc các trạng thái tâm bất thiện, hướng đến giải thoát.
  • vô thường / anicca / impermanence: Tính chất không thường hằng, luôn biến đổi của mọi sự vật, hiện tượng.
  • khổ / dukkha / suffering: Sự đau khổ, bất toại nguyện, không hài lòng, là một đặc tính cơ bản của sự tồn tại trong vòng luân hồi.
  • trí tuệ chân chánh / sammā paññā / proper wisdom: Sự hiểu biết đúng đắn, thấy rõ bản chất thật sự của các pháp (vô thường, khổ, vô ngã).
  • sự giải thoát tối thượng / paramā vimutti / supreme liberations: Sự giải thoát hoàn toàn khỏi mọi khổ đau và vòng luân hồi, tức là Niết Bàn.
  • phàm phu / puthujjana / ordinary person: Người bình thường chưa chứng đắc các đạo quả Thánh, còn bị trói buộc bởi phiền não và luân hồi.
  • bình thản đa dạng / nānattā upekkhā / diversified equanimity: Sự bình thản phát sinh liên quan đến các đối tượng của năm giác quan vật lý (sắc, thanh, hương, vị, xúc).
  • bình thản đồng nhất / ekattā upekkhā / unified equanimity: Sự bình thản phát sinh trong các tầng thiền vô sắc (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ).
  • Không vô biên xứ / Ākāsānañcāyatana / base of infinite space: Tầng thiền vô sắc thứ nhất, nơi hành giả quán chiếu không gian là vô tận.
  • Thức vô biên xứ / Viññāṇañcāyatana / base of infinite consciousness: Tầng thiền vô sắc thứ hai, nơi hành giả quán chiếu thức là vô tận.
  • Vô sở hữu xứ / Ākiñcaññāyatana / base of nothingness: Tầng thiền vô sắc thứ ba, nơi hành giả quán chiếu sự trống rỗng, không có gì cả.
  • Phi tưởng phi phi tưởng xứ / Nevasaññānāsaññāyatana / base of neither-perception-nor-non-perception: Tầng thiền vô sắc thứ tư và cao nhất, nơi nhận thức trở nên cực kỳ vi tế, không thể nói là có hay không có.
  • sự không đồng hóa / atammayatā / non-identification: Trạng thái tâm không bị cuốn theo, không dính mắc, không đồng hóa mình với bất kỳ đối tượng hay trạng thái nào, kể cả các tầng thiền cao.
  • nền tảng chánh niệm / satipaṭṭhāna / foundation of mindfulness: Cơ sở, đối tượng để thực hành sự chú tâm, tỉnh giác (thân, thọ, tâm, pháp). Trong kinh này, chỉ ba trạng thái tâm của vị thầy khi dạy dỗ.
  • Bậc Thánh / Ariya / Noble One: Người đã chứng đắc một trong bốn đạo quả thánh (Nhập lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán).
  • vị lãnh đạo vô song cho những người cần được điều phục / anuttaro purisadammasārathi / incomparable leader of persons to be tamed: Một trong những danh hiệu của Đức Phật, chỉ khả năng giáo hóa chúng sinh không ai sánh bằng.
  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Monk: Nam tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc.
  • Đức Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Một danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật, có nghĩa là bậc được tôn quý, có đầy đủ phước đức và trí tuệ.
  • Như Lai / Tathāgata / Thus Gone One/Thus Come One: Một danh hiệu của Đức Phật, chỉ người đã đến và đi như vậy, thể nhập chân lý như thật.
  • Giáo Pháp / Dhamma / Dhamma/Teaching: Lời dạy của Đức Phật, chân lý về sự vận hành của thế giới và con đường giải thoát.
  • Chánh niệm / Sati / Mindfulness: Sự chú tâm, ghi nhớ, không quên đối tượng đang hiện hữu trong giây phút hiện tại.
  • Tỉnh giác / Sampajañña / Full Awareness/Clear Comprehension: Sự biết rõ ràng, nhận thức đầy đủ về những gì đang xảy ra nơi thân, tâm và hoàn cảnh.
  • A-la-hán / Arahant / Accomplished One: Bậc Thánh đã đoạn trừ hoàn toàn phiền não, chấm dứt luân hồi, đạt Niết Bàn.
  • Chánh Đẳng Chánh Giác / Sammāsambuddha / Fully Enlightened One: Bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn mọi chân lý và có khả năng giáo hóa chúng sinh.
  • Diệt thọ tưởng định / Saññāvedayitanirodha / Cessation of perception and feeling: Trạng thái thiền định cao nhất, nơi mọi hoạt động của tâm thức (nhận thức và cảm giác) tạm thời dừng lại hoàn toàn. Đây là một trong tám hướng giải thoát (vimokkha).