Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 139. Kinh Phân Tích Về Sự Không Xung Đột

(Araṇavibhaṅga Sutta)

[230] 1. Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn trú tại thành Xá-vệ (Sāvatthī), vườn ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika), rừng cây Kỳ-đà (Jeta). Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ kheo (bhikkhus - các nhà sư nam đã thọ giới cụ túc): “Này các tỳ kheo.” - “Bạch Thế Tôn,” các vị ấy vâng đáp. Đức Thế Tôn nói thế này:

2. “Này các tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các thầy bài giảng về sự không xung đột. Hãy lắng nghe và chú tâm kỹ vào những gì Ta sẽ nói.” - “Vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ kheo vâng đáp. Đức Thế Tôn nói thế này:

3. "Không nên theo đuổi thú vui nhục dục (sensual pleasure - niềm vui thích phát sinh từ các đối tượng của giác quan), vốn hạ liệt, tầm thường, thô thiển, không cao thượng, và không lợi ích; và không nên theo đuổi khổ hạnh ép xác (self-mortification - sự hành hạ bản thân bằng các phương pháp khổ hạnh), vốn đau khổ, không cao thượng, và không lợi ích. Con đường Trung đạo (Middle Way - con đường tránh hai cực đoan: hưởng thụ dục lạc và khổ hạnh ép xác) do Như Lai (Tathāgata - bậc đã đến như vậy/đi như vậy, một danh hiệu của Đức Phật) khám phá ra tránh cả hai cực đoan này; mang lại tầm nhìn, mang lại tri kiến, nó dẫn đến sự an tịnh, đến thắng trí (direct knowledge - sự hiểu biết trực tiếp, không qua suy luận), đến giác ngộ (enlightenment - sự tỉnh thức hoàn toàn), đến Niết-bàn (Nibbāna - trạng thái chấm dứt khổ đau, giải thoát cuối cùng). [^1257] Cần phải biết thế nào là tán dương và thế nào là chê bai, và khi biết cả hai, không nên tán dương cũng không nên chê bai mà chỉ nên giảng dạy Pháp (Dhamma - lời dạy của Đức Phật, chân lý). Cần phải biết cách định nghĩa về lạc (pleasure - cảm giác dễ chịu, hạnh phúc), và khi biết điều đó, nên theo đuổi lạc nội tâm. Không nên nói lời kín đáo (covert speech - lời nói bóng gió, ám chỉ), và không nên nói lời gay gắt trực diện (overt sharp speech - lời nói thẳng thắn nhưng mang tính chỉ trích, làm tổn thương). Nên nói chậm rãi, không vội vàng. Không nên khăng khăng dùng ngôn ngữ địa phương, và không nên bác bỏ cách dùng thông thường. Đây là tóm tắt của bài giảng về sự không xung đột.

4. "‘Không nên theo đuổi thú vui nhục dục, vốn hạ liệt, tầm thường, thô thiển, không cao thượng, và không lợi ích; và không nên theo đuổi khổ hạnh ép xác, vốn đau khổ, không cao thượng, và không lợi ích.’ Lời ấy đã được nói. Nhưng lời ấy được nói dựa vào đâu?

"Việc theo đuổi sự hưởng thụ niềm vui gắn liền với các ham muốn dục lạc [^1258] - hạ liệt, tầm thường, thô thiển, không cao thượng, và không lợi ích - là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não (fever - sự thiêu đốt, bức bối do phiền não), và đó là con đường sai lầm (wrong way - micchāpaṭipadā). [^1259] [231] Sự từ bỏ việc theo đuổi sự hưởng thụ niềm vui gắn liền với các ham muốn dục lạc - hạ liệt, tầm thường, thô thiển, không cao thượng, và không lợi ích - là một trạng thái không có khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường đúng đắn (right way - sammāpaṭipadā).

"Việc theo đuổi khổ hạnh ép xác - đau khổ, không cao thượng, và không lợi ích - là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường sai lầm. Sự từ bỏ việc theo đuổi khổ hạnh ép xác - đau khổ, không cao thượng, và không lợi ích - là một trạng thái không có khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường đúng đắn.

"Vì vậy, lời ấy được nói dựa vào điều này: ‘Không nên theo đuổi thú vui nhục dục, vốn hạ liệt, tầm thường, thô thiển, không cao thượng, và không lợi ích; và không nên theo đuổi khổ hạnh ép xác, vốn đau khổ, không cao thượng, và không lợi ích.’

5. "‘Con đường Trung đạo do Như Lai khám phá ra tránh cả hai cực đoan này; mang lại tầm nhìn, mang lại tri kiến, nó dẫn đến sự an tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết-bàn.’ Lời ấy đã được nói. Nhưng lời ấy được nói dựa vào đâu? Đó chính là Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) (Noble Eightfold Path - con đường tám yếu tố dẫn đến giải thoát) này; nghĩa là, chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Vì vậy, lời ấy được nói dựa vào điều này: ‘Con đường Trung đạo do Như Lai khám phá ra tránh cả hai cực đoan này… đến Niết-bàn.’

6. "‘Cần phải biết thế nào là tán dương và thế nào là chê bai, và khi biết cả hai, không nên tán dương cũng không nên chê bai mà chỉ nên giảng dạy Pháp.’ Lời ấy đã được nói. Nhưng lời ấy được nói dựa vào đâu?

7. "Làm thế nào, này các tỳ kheo, lại có sự tán dương và chê bai, và không chỉ giảng dạy Pháp? Khi một người nói: ‘Tất cả những ai tham gia vào việc theo đuổi sự hưởng thụ niềm vui gắn liền với các ham muốn dục lạc - hạ liệt… và không lợi ích - đều bị bao vây bởi khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và họ đã đi vào con đường sai lầm,’ người ấy như vậy là chê bai một số người. Khi một người nói: ‘Tất cả những ai từ bỏ việc theo đuổi sự hưởng thụ niềm vui gắn liền với các ham muốn dục lạc - hạ liệt… và không lợi ích - đều không có khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và họ đã đi vào con đường đúng đắn,’ người ấy như vậy là tán dương một số người.

"Khi một người nói: ‘Tất cả những ai tham gia vào việc theo đuổi khổ hạnh ép xác - đau khổ, không cao thượng, và không lợi ích - [232] đều bị bao vây bởi khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và họ đã đi vào con đường sai lầm,’ người ấy như vậy là chê bai một số người. Khi một người nói: ‘Tất cả những ai từ bỏ việc theo đuổi khổ hạnh ép xác - đau khổ, không cao thượng, và không lợi ích - đều không có khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và họ đã đi vào con đường đúng đắn,’ người ấy như vậy là tán dương một số người.

"Khi một người nói: ‘Tất cả những ai chưa đoạn trừ kiết sử hữu (fetter of being - bhavasaṃyojana, sự trói buộc vào sự tồn tại, vào các cõi sống) [^1260] đều bị bao vây bởi khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và họ đã đi vào con đường sai lầm,’ người ấy như vậy là chê bai một số người. Khi một người nói: ‘Tất cả những ai đã đoạn trừ kiết sử hữu đều không có khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và họ đã đi vào con đường đúng đắn,’ người ấy như vậy là tán dương một số người. Đây là cách dẫn đến sự tán dương và chê bai, và không chỉ giảng dạy Pháp.

8. "Và làm thế nào, này các tỳ kheo, để không có sự tán dương cũng không có sự chê bai mà chỉ giảng dạy Pháp? Khi một người không nói: ‘Tất cả những ai tham gia vào việc theo đuổi sự hưởng thụ niềm vui gắn liền với các ham muốn dục lạc… đã đi vào con đường sai lầm,’ mà thay vào đó nói: ‘Việc theo đuổi là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường sai lầm,’ thì người ấy chỉ giảng dạy Pháp. [^1261] Khi một người không nói: ‘Tất cả những ai từ bỏ việc theo đuổi sự hưởng thụ niềm vui gắn liền với các ham muốn dục lạc… đã đi vào con đường đúng đắn,’ mà thay vào đó nói: ‘Sự từ bỏ là một trạng thái không có khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường đúng đắn,’ thì người ấy chỉ giảng dạy Pháp.

"Khi một người không nói: ‘Tất cả những ai tham gia vào việc theo đuổi khổ hạnh ép xác… đã đi vào con đường sai lầm,’ mà thay vào đó nói: ‘Việc theo đuổi là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường sai lầm,’ thì người ấy chỉ giảng dạy Pháp. Khi một người không nói: ‘Tất cả những ai từ bỏ việc theo đuổi khổ hạnh ép xác… đã đi vào con đường đúng đắn,’ mà thay vào đó nói: ‘Sự từ bỏ là một trạng thái không có khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường đúng đắn,’ thì người ấy chỉ giảng dạy Pháp.

"Khi một người không nói: ‘Tất cả những ai chưa đoạn trừ kiết sử hữu… đã đi vào con đường sai lầm,’ [233] mà thay vào đó nói: ‘Chừng nào kiết sử hữu chưa được đoạn trừ, thì sự tồn tại (being - sự hiện hữu trong vòng luân hồi) cũng chưa được đoạn trừ,’ thì người ấy chỉ giảng dạy Pháp.

Khi một người không nói: ‘Tất cả những ai đã đoạn trừ kiết sử hữu… đã đi vào con đường đúng đắn,’ mà thay vào đó nói: ‘Khi kiết sử hữu được đoạn trừ, thì sự tồn tại cũng được đoạn trừ,’ thì người ấy chỉ giảng dạy Pháp.

"Vì vậy, lời ấy được nói dựa vào điều này: ‘Cần phải biết thế nào là tán dương và thế nào là chê bai, và khi biết cả hai, không nên tán dương cũng không nên chê bai mà chỉ nên giảng dạy Pháp.’

9. "‘Cần phải biết cách định nghĩa về lạc, và khi biết điều đó, nên theo đuổi lạc nội tâm.’ Lời ấy đã được nói. Nhưng lời ấy được nói dựa vào đâu?

"Này các tỳ kheo, có năm sợi dây dục lạc (five cords of sensual pleasure - pañca kāmaguṇā) này. Năm loại nào? Hình sắc nhận biết qua mắt… âm thanh nhận biết qua tai… mùi hương nhận biết qua mũi… vị nếm nhận biết qua lưỡi… vật xúc chạm nhận biết qua thân, những thứ được mong muốn, ưa thích, dễ chịu, đáng yêu, liên quan đến ham muốn dục lạc và kích thích lòng ham muốn. Đây là năm sợi dây dục lạc. Nay, niềm vui và sự thích thú phát sinh phụ thuộc vào năm sợi dây dục lạc này được gọi là dục lạc - một niềm vui ô uế, một niềm vui thô thiển, một niềm vui không cao thượng. Ta nói về loại lạc này rằng không nên theo đuổi, không nên phát triển, không nên vun bồi, và nên sợ hãi.

"Ở đây, này các tỳ kheo, hoàn toàn ly dục (secluded from sensual pleasures), ly bất thiện pháp (unwholesome states - akusala dhamma, các trạng thái tâm tiêu cực, có hại như tham, sân, si), một tỳ kheo chứng và trú vào thiền thứ nhất… thiền thứ hai… thiền thứ ba… thiền thứ tư (jhāna - các tầng thiền định sâu sắc). Đây được gọi là hỷ lạc của sự từ bỏ, hỷ lạc của sự ẩn dật, hỷ lạc của sự an tịnh, hỷ lạc của giác ngộ. Ta nói về loại lạc này rằng nên theo đuổi, nên phát triển, nên vun bồi, và không nên sợ hãi. [234]

"Vì vậy, lời ấy được nói dựa vào điều này: ‘Cần phải biết cách định nghĩa về lạc, và khi biết điều đó, nên theo đuổi lạc nội tâm.’

10. "‘Không nên nói lời kín đáo, và không nên nói lời gay gắt trực diện.’ Lời ấy đã được nói. Nhưng lời ấy được nói dựa vào đâu?

"Ở đây, này các tỳ kheo, khi biết lời nói kín đáo là không đúng sự thật, không chính xác, và không lợi ích, người ấy không nên nói trong bất kỳ trường hợp nào. Khi biết lời nói kín đáo là đúng sự thật, chính xác, nhưng không lợi ích, người ấy nên cố gắng không nói. Nhưng khi biết lời nói kín đáo là đúng sự thật, chính xác, và có lợi ích, người ấy có thể nói, biết đúng thời điểm để nói.

"Ở đây, này các tỳ kheo, khi biết lời nói gay gắt trực diện là không đúng sự thật, không chính xác, và không lợi ích, người ấy không nên nói trong bất kỳ trường hợp nào. Khi biết lời nói gay gắt trực diện là đúng sự thật, chính xác, nhưng không lợi ích, người ấy nên cố gắng không nói. Nhưng khi biết lời nói gay gắt trực diện là đúng sự thật, chính xác, và có lợi ích, người ấy có thể nói, biết đúng thời điểm để nói.

"Vì vậy, lời ấy được nói dựa vào điều này: ‘Không nên nói lời kín đáo, và không nên nói lời gay gắt trực diện.’

11. "‘Nên nói chậm rãi, không vội vàng.’ Lời ấy đã được nói. Nhưng lời ấy được nói dựa vào đâu?

"Ở đây, này các tỳ kheo, khi một người nói vội vàng, thân người ấy mệt mỏi và tâm trở nên dao động, giọng nói căng thẳng và cổ họng trở nên khàn đặc, và lời nói của người nói vội vàng thì không rõ ràng và khó hiểu.

"Ở đây, này các tỳ kheo, khi một người nói chậm rãi, thân người ấy không mệt mỏi cũng không tâm dao động, giọng nói không căng thẳng cũng không cổ họng khàn đặc, và lời nói của người nói chậm rãi thì rõ ràng và dễ hiểu.

"Vì vậy, lời ấy được nói dựa vào điều này: ‘Nên nói chậm rãi, không vội vàng.’

12. "‘Không nên khăng khăng dùng ngôn ngữ địa phương, và không nên bác bỏ cách dùng thông thường.’ Lời ấy đã được nói. Nhưng lời ấy được nói dựa vào đâu?

"Làm thế nào, này các tỳ kheo, lại có sự khăng khăng dùng ngôn ngữ địa phương và bác bỏ cách dùng thông thường? Ở đây, này các tỳ kheo, ở các địa phương khác nhau, người ta gọi cùng một vật là ‘đĩa’ [pāti], [235] ‘bát’ [patta], ‘đồ đựng’ [vittha], ‘chén’ [sarāva], ‘chảo’ [dhāropa], ‘nồi’ [poṇa], ‘cốc’ [haṇa] hay ‘chậu’ [pisīla]. Vì vậy, dù người ta gọi nó là gì ở địa phương này hay địa phương khác, người ấy nói theo cách đó, khăng khăng bám chấp [vào cách nói đó] và quả quyết: ‘Chỉ có cái này đúng; cái khác là sai.’ Đây là cách dẫn đến sự khăng khăng dùng ngôn ngữ địa phương và bác bỏ cách dùng thông thường. [^1262]

"Và làm thế nào, này các tỳ kheo, để không có sự khăng khăng dùng ngôn ngữ địa phương và không bác bỏ cách dùng thông thường? Ở đây, này các tỳ kheo, ở các địa phương khác nhau, người ta gọi cùng một vật là ‘đĩa’… hay ‘chậu.’ Vì vậy, dù người ta gọi nó là gì ở địa phương này hay địa phương khác, không bám chấp [vào cách nói đó], người ấy nói theo cách thông thường, nghĩ rằng: ‘Có vẻ các vị tôn giả này đang nói về vật này.’ Đây là cách để không có sự khăng khăng dùng ngôn ngữ địa phương và không bác bỏ cách dùng thông thường.

"Vì vậy, lời ấy được nói dựa vào điều này: ‘Không nên khăng khăng dùng ngôn ngữ địa phương, và không nên bác bỏ cách dùng thông thường.’

13. "Ở đây, này các tỳ kheo, việc theo đuổi sự hưởng thụ niềm vui gắn liền với các ham muốn dục lạc - hạ liệt… và không lợi ích - là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường sai lầm. Do đó, đây là một trạng thái có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, sự từ bỏ việc theo đuổi sự hưởng thụ niềm vui gắn liền với các ham muốn dục lạc - hạ liệt… và không lợi ích - là một trạng thái không có khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường đúng đắn. Do đó, đây là một trạng thái không có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, việc theo đuổi khổ hạnh ép xác - đau khổ, không cao thượng, và không lợi ích - là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường sai lầm. Do đó, đây là một trạng thái có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, sự từ bỏ việc theo đuổi khổ hạnh ép xác - đau khổ, không cao thượng, và không lợi ích - là một trạng thái không có khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường đúng đắn. [236] Do đó, đây là một trạng thái không có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, Con đường Trung đạo do Như Lai khám phá ra tránh cả hai cực đoan này; mang lại tầm nhìn, mang lại tri kiến, nó dẫn đến sự an tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết-bàn. Đó là một trạng thái không có khổ đau… và đó là con đường đúng đắn. Do đó, đây là một trạng thái không có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, sự tán dương và chê bai, và không chỉ giảng dạy Pháp là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau… và đó là con đường sai lầm. Do đó, đây là một trạng thái có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, không tán dương và không chê bai, và chỉ giảng dạy Pháp là một trạng thái không có khổ đau… và đó là con đường đúng đắn. Do đó, đây là một trạng thái không có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, dục lạc - một niềm vui ô uế, một niềm vui thô thiển, một niềm vui không cao thượng - là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau… và đó là con đường sai lầm. Do đó, đây là một trạng thái có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, hỷ lạc của sự từ bỏ, hỷ lạc của sự ẩn dật, hỷ lạc của sự an tịnh, hỷ lạc của giác ngộ, là một trạng thái không có khổ đau… và đó là con đường đúng đắn. Do đó, đây là một trạng thái không có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, lời nói kín đáo không đúng sự thật, không chính xác, và không lợi ích là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau… Do đó, đây là một trạng thái có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, lời nói kín đáo đúng sự thật, chính xác, nhưng không lợi ích là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau… Do đó, đây là một trạng thái có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, lời nói kín đáo đúng sự thật, chính xác, và có lợi ích là một trạng thái không có khổ đau… Do đó, đây là một trạng thái không có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, lời nói gay gắt trực diện không đúng sự thật, không chính xác, và không lợi ích là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau… Do đó, đây là một trạng thái có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, lời nói gay gắt trực diện đúng sự thật, chính xác, nhưng không lợi ích là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau… Do đó, đây là một trạng thái có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, lời nói gay gắt trực diện [237] đúng sự thật, chính xác, và có lợi ích là một trạng thái không có khổ đau… Do đó, đây là một trạng thái không có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, lời nói của người nói vội vàng là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường sai lầm. Do đó, đây là một trạng thái có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, lời nói của người nói chậm rãi là một trạng thái không có khổ đau… Do đó, đây là một trạng thái không có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, sự khăng khăng dùng ngôn ngữ địa phương và bác bỏ cách dùng thông thường là một trạng thái bị bao vây bởi khổ đau… Do đó, đây là một trạng thái có xung đột.

"Ở đây, này các tỳ kheo, sự không khăng khăng dùng ngôn ngữ địa phương và không bác bỏ cách dùng thông thường là một trạng thái không có khổ đau, phiền muộn, tuyệt vọng và nhiệt não, và đó là con đường đúng đắn. Do đó, đây là một trạng thái không có xung đột.

14. “Vì vậy, này các tỳ kheo, các thầy nên tự rèn luyện như sau: ‘Chúng ta sẽ biết trạng thái có xung đột và chúng ta sẽ biết trạng thái không có xung đột, và khi biết được những điều này, chúng ta sẽ đi vào con đường không xung đột.’ Này các tỳ kheo, Subhūti (Tu-bồ-đề) là một thiện nam tử đã đi vào con đường không xung đột.”[^1263]

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã nói. Các tỳ kheo hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn.

139. KINH VÔ TRÁNH PHÂN BIỆT

139. KINH VÔ TRÁNH PHÂN BIỆT (Aranavibhanga Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. – “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông Vô tránh phân biệt. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

– Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp. Nên biết phán xét về lạc. Sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc. Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng. Nên nói thật từ từ, không có vội vàng. Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng. Như vậy là tổng thuyết về vô tránh phân biệt.

Khi được nói đến “Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích”, do duyên gì được nói đến như vậy?

Phàm lạc gì liên hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy là có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Phàm lạc gì liên kết với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo.

Phàm hành trì tự kỷ khổ hạnh nào, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Phàm không hành trì khổ hạnh nào, đau khổ không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo".

Khi được nói đến “Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích”, chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn”, do duyên gì được nói đến như vậy? Ðây là con đường Thánh tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Khi được nói đến "Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con

đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn", chính do duyên này, được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp”, do duyên gì được nói đến như vậy?

Này các Tỷ-kheo, thế nào là tán thán, thế nào là chỉ trích, nhưng không thuyết pháp? Vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những người ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.

Ở đây, vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc về tà đạo”. Ở đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh; đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.

Ở đây, vị ấy chỉ trích một số người và nói như sau: “Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Ở đây, vị ấy tán thán một số người và nói như sau: “Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”. Như vậy, này các Tỷ-kheo là có tán thán và có chỉ trích nhưng không thuyết pháp.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không có tán thán và không có chỉ trích, nhưng có thuyết pháp? Vị ấy không nói như sau: “Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo”. Vị ấy không nói: "Những ai tìm thấy lạc liên hệ với dục, nhưng không đam mê loại hỷ hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. "Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Không đam mê là một pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”.

Vị ấy không nói: "Những ai đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, tất cả những vị ấy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. "Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: "Sự đam mê là một pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. "Vị ấy không nói: “Những ai không đam mê hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích, tất cả những vị ấy đều không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Sự không đam mê là không đau khổ, pháp này không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc về chánh đạo”.

Vị ấy không có nói: “Những ai chưa đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy đều có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não”. Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như sau: “Khi hữu kiết sử chưa đoạn tận, hữu chưa đoạn tận”. Vị ấy không nói như sau: "Những ai đã đoạn tận hữu kiết sử, tất cả những vị ấy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não. "Vị ấy chỉ thuyết pháp và nói như

sau: “Và khi hữu kiết sử được đoạn tận, hữu được đoạn tận”. Như vậy, này các Tỷ-kheo là không tán thán, không chỉ trích, nhưng chỉ thuyết pháp.

Khi được nói đến “Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích; sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, chớ có tán thán, chớ có chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp”, chính do duyên này được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Nên biết phán xét về lạc; sau khi biết pháp xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc”, do duyên gì được nói đến như vậy?

Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc pháp do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức,… ; các hương do mũi nhận thức,… ; các vị do lưỡi nhận thức… ; các xúc do thân cảm giác, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, như vậy là năm dục trưởng dưỡng. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc và hỷ, như vậy gọi là dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc. Ta nói loại lạc này không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Ðình chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm… Thiền thứ ba… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Như vậy gọi là xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc. Ta nói loại lạc này nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi.

Khi được nói đến “Nên biết phán xét về lạc; sau khi phán xét về lạc, hãy chú tâm vào nội lạc”, do chính duyên này được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng”, do duyên gì được nói đến như vậy?

Tại đây, này các Tỷ-kheo, biết được một lời bí mật là không thực, hư vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, chớ nói lên lời bí mật ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy tự tập đừng nói lời ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời bí mật ấy.

Nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là không thực, hư vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, mặt đối mặt; chớ có nói lên lời nói mất lòng ấy. Nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy tập chớ nói lên lời ấy. Và nếu biết một lời mất lòng, mặt đối mặt (với ai) là thực, không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời mất lòng ấy.

Khi được nói đến “Không nên nói lên lời bí mật, mặt đối mặt (với ai), không nên nói lên lời mất lòng”, do chính duyên này được nói đến như vậy.

Khi được nói đến “Nên nói thật từ từ, chớ có vội vàng”, do duyên gì được nói đến như vậy?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu nói vội vàng, thời thân mệt mõi, tâm bị tổn hại, tiếng bị tổn hại và cổ họng bị đau. Lời nói một người vội vàng không được rõ ràng và không được nhận hiểu.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, nói lời từ từ, thân không mệt mỏi, tâm không tổn hại, tiếng không tổn hại và cổ họng không bị đau. Lời nói một người nói từ từ được rõ ràng và được nhận hiểu. Khi được nói đến

"Nên nói thật từ từ, chớ có nói vội vàng ", chính do duyên này được nói đến như vậy.

Khi được nói đến "Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng, "do duyên gì, được nói đến như vậy? Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chấp trước địa phương ngữ và đi quá xa ngôn ngữ thường dùng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết (những chữ) Pati… Patta… Vittha… Sarava… Dharopa… Pona… Pisila. Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy những chữ là như vậy, như vậy, có người lại làm như vậy, kiên trì chấp thủ, chấp trước và nói: “Chỉ như vây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chấp trước địa phương ngữ, là đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không chấp trước địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong nhiều quốc độ, người ta biết những chữ Pati… Patta… Vittha… Sarava… Dharopa… Pona… Pisila… Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy, những chữ là như vậy, như vậy, một người không chấp thủ mà giải thích: "Các vị ấy y cứ như thế này, giải thích như vậy. "Như vậy, này các Tỷ-kheo là không chấp trước địa phương ngữ, không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.

Khi được nói đến “Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng”, do chính duyên này được nói đến như vậy.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, phàm lạc gì liên hệ với dục nhưng có đam mê loại hỷ, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lạc gì, liên kết với dục, nhưng không có đam mê loại hỷ, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm không có hành trì tự kỷ khổ hạnh, không đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích, pháp như vậy không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, đây là Trung đạo đã được Thế Tôn giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết - bàn. Pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp tán thán và chỉ trích nhưng không thuyết pháp này, pháp này có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có phiền não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp không tán thán, cũng không chỉ trích, chỉ có thuyết pháp, pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp dục lạc này là uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, pháp xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, pháp này là pháp không đau khổ, không phiền lao, không ưu não, không nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào không thật, hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào là chân thật, không hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói bí mật nào là chân thật, không hư vọng, có liên hệ mục đích, pháp này là pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai), không chân thật, hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai) là chân thật, không hư vọng, không liên hệ mục đích, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói mất lòng nào, mặt đối mặt (với ai) là chân thật, không hư vọng, liên hệ mục đích, pháp này là pháp không đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, phàm lời nói nào được nói lên một cách vội vàng, pháp này có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây này các Tỷ-kheo, phàm lời nói nào được nói lên một cách từ từ, pháp này không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, chấp trước địa phương ngữ và đi quá xa ngôn ngữ thường dùng, pháp này là pháp có đau khổ, có phiền lao, có ưu não, có nhiệt não, thuộc tà đạo. Do vậy, pháp này là pháp hữu tránh.

Tại đây, này các Tỷ-kheo, không chấp trước địa phương ngữ và không đi quá xa ngôn ngữ thường dùng, pháp này là pháp không có đau khổ, không có phiền lao, không có ưu não, không có nhiệt não, thuộc chánh đạo. Do vậy, pháp này là pháp vô tránh.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu học như sau: “Chúng ta sẽ biết hữu tránh pháp và chúng ta sẽ biết vô tránh pháp. Sau khi biết hữu tránh pháp và sau khi biết vô tránh pháp, chúng ta sẽ hành trì vô tránh đạo”. Và này các Tỷ-kheo, Thiện gia nam tử Subhuti (Tu-bồ-đề) đã hành trì vô tránh pháp.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo) / Ariya Aṭṭhaṅgika Magga / Noble Eightfold Path: Con đường gồm tám yếu tố (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định) do Đức Phật giảng dạy, dẫn đến sự chấm dứt khổ đau và Niết-bàn.
  • Bất thiện pháp / Akusala Dhamma / Unwholesome states: Các trạng thái tâm tiêu cực, có hại, gây ra khổ đau cho mình và người khác, chủ yếu là tham, sân, và si cùng các biến thể của chúng.
  • Con đường sai lầm / Micchāpaṭipadā / Wrong way: Thực hành hay lối sống đi ngược lại Chánh pháp, dẫn đến khổ đau và tiếp tục luân hồi, ví dụ như nuông chiều dục lạc hoặc khổ hạnh ép xác cực đoan.
  • Con đường đúng đắn / Sammāpaṭipadā / Right way: Thực hành hay lối sống phù hợp với Chánh pháp, đặc biệt là Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo), dẫn đến an lạc, trí tuệ và giải thoát.
  • Con đường Trung đạo / Majjhimā Paṭipadā / Middle Way: Con đường do Đức Phật khám phá, tránh hai cực đoan là hưởng thụ dục lạc thái quá và khổ hạnh ép xác vô ích. Đây chính là Tám Bước Thiện (Bát Chánh Đạo).
  • Dục lạc / Kāmasukha / Sensual pleasure: Niềm vui, sự thích thú phát sinh từ sự tiếp xúc của các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) với các đối tượng tương ứng (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, vật xúc chạm). Thường mang tính tạm thời và có thể dẫn đến dính mắc, khổ đau.
  • Giác ngộ / Bodhi / Enlightenment: Sự tỉnh thức hoàn toàn, trí tuệ viên mãn, thấy rõ bản chất của thực tại, chấm dứt mọi ảo tưởng và khổ đau.
  • Kiết sử hữu / Bhavasaṃyojana / Fetter of being: Sự trói buộc vi tế vào sự tồn tại, sự ham muốn được tiếp tục hiện hữu trong các cõi sống (dục giới, sắc giới, vô sắc giới). Đây là một trong những trói buộc cuối cùng cần đoạn trừ để đạt Niết-bàn.
  • Khổ hạnh ép xác / Attakilamathānuyoga / Self-mortification: Sự thực hành hành hạ, làm khổ thân xác với niềm tin rằng điều đó sẽ dẫn đến thanh tịnh hoặc giải thoát tâm linh. Đức Phật xem đây là một cực đoan cần tránh.
  • Lạc / Sukha / Pleasure: Cảm giác dễ chịu, hạnh phúc, an lạc. Trong kinh này, Đức Phật phân biệt giữa dục lạc (thấp kém) và hỷ lạc của sự từ bỏ, thiền định (cao thượng).
  • Lời gay gắt trực diện / Samukhā parikaṭukavāca / Overt sharp speech: Lời nói thẳng thắn, trực tiếp nhưng mang tính chỉ trích, gay gắt, có thể làm tổn thương người nghe.
  • Lời nói kín đáo / Rahovāda / Covert speech: Lời nói không trực tiếp, bóng gió, ám chỉ, có thể mang ý nghĩa ngầm hoặc che giấu ý định thực sự.
  • Năm sợi dây dục lạc / Pañca kāmaguṇā / Five cords of sensual pleasure: Năm loại đối tượng của giác quan (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, vật xúc chạm) được ưa thích, mong muốn, có khả năng trói buộc chúng sinh vào vòng luân hồi như những sợi dây.
  • Nhiệt não / Pariḷāha / Fever: Sự thiêu đốt, bức bối, khổ sở bên trong do phiền não (tham, sân, si) gây ra.
  • Niết-bàn / Nibbāna / Nibbāna: Mục tiêu cuối cùng của Phật giáo Theravada, trạng thái chấm dứt hoàn toàn khổ đau, phiền não và vòng luân hồi sinh tử. Nghĩa đen là “sự thổi tắt” ngọn lửa tham, sân, si.
  • Như Lai / Tathāgata / Tathāgata: Một danh hiệu tôn kính của Đức Phật, có nghĩa là “Người đã đến như vậy” hoặc “Người đã đi như vậy”, chỉ một bậc đã đạt đến chân lý tối hậu và thể nhập thực tại như nó là.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Lời dạy của Đức Phật, chân lý về bản chất của thực tại, con đường dẫn đến giải thoát. Cũng có thể chỉ các hiện tượng, các yếu tố cấu thành thực tại.
  • Sự tồn tại / Bhava / Being: Sự hiện hữu, quá trình trở thành, sự tiếp nối trong vòng luân hồi qua các cõi sống khác nhau, được duy trì bởi nghiệp và phiền não.
  • Thắng trí / Abhiññā / Direct knowledge: Sự hiểu biết trực tiếp, sâu sắc về thực tại, không qua trung gian suy luận hay khái niệm, thường đạt được qua thiền định và tuệ quán.
  • Thiền / Jhāna / Jhāna: Các tầng thiền định sâu sắc, trạng thái tâm nhất tâm, vắng lặng, trong sáng, đạt được qua việc thực hành thiền định (samatha). Có bốn tầng thiền sắc giới và bốn tầng thiền vô sắc giới.
  • Thú vui nhục dục / Kāmasukhallikānuyoga / Sensual pleasure: Sự đam mê, theo đuổi, tận hưởng các lạc thú phát sinh từ năm giác quan. Đây là một trong hai cực đoan mà Đức Phật khuyên nên tránh.
  • Tỳ kheo / Bhikkhu / Bhikkhu: Nhà sư Phật giáo nam đã thọ giới cụ túc (upasampadā), sống đời sống xuất gia, tuân thủ giới luật và thực hành lời Phật dạy để đạt đến giải thoát.