Skip to content

Nanamoli-Bodhi [link]

Thích Minh Châu [link]

MN 146. Lời Khuyên của Nan-đa-ka

(Kinh Nan-đa-ka-vada - Nandakovāda Sutta)

1. Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Thế Tôn trú tại thành Xá-vệ (Sāvatthī), trong Vườn Cây Kỳ-đà (Jeta’s Grove), tại Tu viện Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika’s Park).

2. Khi ấy, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di (Mahāpajāpatī Gotamī) cùng với năm trăm vị tỳ kheo ni (bhikkhunīs - ni sư) đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, bà đứng sang một bên và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy khuyên dạy các tỳ kheo ni, xin Thế Tôn hãy chỉ dạy các tỳ kheo ni, xin Thế Tôn hãy thuyết một bài Pháp (Dhamma - Giáo pháp của Đức Phật) cho các tỳ kheo ni.”

3. Vào lúc đó, các trưởng lão tỳ kheo (bhikkhus - nhà sư) đang thay phiên nhau khuyên dạy các tỳ kheo ni, nhưng Tôn giả Nan-đa-ka (Nandaka) lại không muốn khuyên dạy họ khi đến lượt mình. [^1318] Bấy giờ, Đức Thế Tôn gọi Tôn giả A-nan-đa (Ānanda): “Này A-nan-đa, hôm nay đến phiên ai khuyên dạy các tỳ kheo ni?”

“Bạch Thế Tôn, hôm nay đến phiên Tôn giả Nan-đa-ka khuyên dạy các tỳ kheo ni, nhưng ngài ấy không muốn khuyên dạy dù đã đến lượt.”

4. Rồi Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Nan-đa-ka: “Này Nan-đa-ka, hãy khuyên dạy các tỳ kheo ni. Này Nan-đa-ka, hãy chỉ dạy các tỳ kheo ni. Này Bà-la-môn, hãy thuyết một bài Pháp cho các tỳ kheo ni.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” [271] Tôn giả Nan-đa-ka đáp lời. Rồi, vào buổi sáng, Tôn giả Nan-đa-ka đắp y, mang bát và thượng y, vào thành Xá-vệ để khất thực. Sau khi khất thực ở Xá-vệ và trở về, dùng bữa xong, ngài cùng một vị tỳ kheo khác đi đến vườn Rājaka. Các tỳ kheo ni thấy Tôn giả Nan-đa-ka từ xa đi tới liền dọn chỗ ngồi và đặt nước rửa chân. Tôn giả Nan-đa-ka ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và rửa chân. Các tỳ kheo ni đảnh lễ ngài rồi ngồi sang một bên. Khi họ đã ngồi yên, Tôn giả Nan-đa-ka nói với các tỳ kheo ni:

5. “Này các sư tỷ, bài pháp này sẽ theo hình thức hỏi đáp. Khi hiểu, các sư tỷ nên nói: ‘Chúng tôi hiểu’; khi không hiểu, nên nói: ‘Chúng tôi không hiểu’; khi nghi ngờ hay phân vân, các sư tỷ nên hỏi tôi: ‘Việc này là thế nào, bạch Tôn giả? Nghĩa là gì?’”

“Bạch Tôn giả, chúng tôi hài lòng và hoan hỷ khi được Tôn giả Nan-đa-ka mời chúng tôi tham gia theo cách này.”

6. “Này các sư tỷ, các sư tỷ nghĩ sao? Mắt là thường còn hay vô thường (impermanent - không tồn tại mãi mãi, luôn thay đổi)?” - “Là vô thường, bạch Tôn giả.” - “Cái gì vô thường thì là khổ (suffering - sự đau khổ, bất toại nguyện, không hoàn hảo vốn có trong mọi sự tồn tại) hay vui?” - “Là khổ, bạch Tôn giả.” - “Cái gì vô thường, khổ, và phải chịu biến đổi thì có đáng để xem là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi (self - cái tôi, bản ngã thường hằng, độc lập)’ không?” - “Không, bạch Tôn giả.”

“Này các sư tỷ, các sư tỷ nghĩ sao? Tai… mũi… lưỡi… thân… ý là thường còn hay vô thường?” - “Là vô thường, bạch Tôn giả.” - “Cái gì vô thường thì là khổ hay vui?” - “Là khổ, bạch Tôn giả.” - “Cái gì vô thường, khổ, [272] và phải chịu biến đổi thì có đáng để xem là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” - “Không, bạch Tôn giả. Tại sao vậy? Bởi vì, bạch Tôn giả, chúng tôi đã thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính (proper wisdom - sự hiểu biết đúng đắn, thấy rõ bản chất sự vật) rằng: ‘Sáu nội xứ (six internal bases - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) này là vô thường.’”[^1319]

“Lành thay, lành thay, các sư tỷ! Vị Thánh đệ tử (noble disciple - người đã đạt được một trong các tầng Thánh quả) nào thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính thì cũng như vậy.”

7. “Này các sư tỷ, các sư tỷ nghĩ sao? Sắc… thanh… hương… vị… xúc… pháp là thường còn hay vô thường?” - “Là vô thường, bạch Tôn giả.” - “Cái gì vô thường thì là khổ hay vui?” - “Là khổ, bạch Tôn giả.” - “Cái gì vô thường, khổ, và phải chịu biến đổi thì có đáng để xem là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” - “Không, bạch Tôn giả. Tại sao vậy? Bởi vì, bạch Tôn giả, chúng tôi đã thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính rằng: ‘Sáu ngoại xứ (six external bases - sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) này là vô thường.’”

“Lành thay, lành thay, các sư tỷ! Vị Thánh đệ tử nào thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính thì cũng như vậy.”

8. “Này các sư tỷ, các sư tỷ nghĩ sao? Nhãn thức… [273]… nhĩ thức… tỷ thức… thiệt thức… thân thức… ý thức là thường còn hay vô thường?” - “Là vô thường, bạch Tôn giả.” - “Cái gì vô thường thì là khổ hay vui?” - “Là khổ, bạch Tôn giả.” - “Cái gì vô thường, khổ, và phải chịu biến đổi thì có đáng để xem là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?” - “Không, bạch Tôn giả. Tại sao vậy? Bởi vì, bạch Tôn giả, chúng tôi đã thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính rằng: ‘Sáu loại thức (six classes of consciousness - nhận thức qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) này là vô thường.’”

“Lành thay, lành thay, các sư tỷ! Vị Thánh đệ tử nào thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính thì cũng như vậy.”

9. “Này các sư tỷ, giả sử có một ngọn đèn dầu đang cháy: dầu của nó vô thường và chịu biến đổi, tim đèn (bấc) của nó vô thường và chịu biến đổi, ngọn lửa của nó vô thường và chịu biến đổi, và ánh sáng của nó vô thường và chịu biến đổi. Vậy có ai nói đúng không nếu người đó nói rằng: ‘Khi ngọn đèn dầu này đang cháy, dầu, tim đèn và ngọn lửa của nó là vô thường và chịu biến đổi, nhưng ánh sáng của nó thì thường còn, vĩnh cửu, bất biến, không chịu biến đổi’?”

“Không, bạch Tôn giả. Tại sao vậy? Bởi vì, bạch Tôn giả, khi ngọn đèn dầu đó đang cháy, dầu, tim đèn và ngọn lửa của nó là vô thường và chịu biến đổi, nên ánh sáng của nó cũng phải vô thường và chịu biến đổi.”

“Cũng vậy, này các sư tỷ, có ai nói đúng không nếu người đó nói rằng: ‘Sáu nội xứ này là vô thường và chịu biến đổi, nhưng cảm thọ (feeling - cảm giác dễ chịu, khó chịu, hay trung tính) vui, khổ, hay không khổ không vui mà người ta trải nghiệm tùy thuộc vào sáu nội xứ ấy lại là thường còn, vĩnh cửu, bất biến, không chịu biến đổi’?”

“Không, bạch Tôn giả. Tại sao vậy? Bởi vì mỗi cảm thọ sinh khởi tùy thuộc vào điều kiện tương ứng của nó, [^1320] [274] và khi điều kiện tương ứng đó chấm dứt, cảm thọ cũng chấm dứt.”

“Lành thay, lành thay, các sư tỷ! Vị Thánh đệ tử nào thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính thì cũng như vậy.”

10. “Này các sư tỷ, giả sử có một cây lớn có lõi cây chắc đang đứng đó: rễ của nó vô thường và chịu biến đổi, thân của nó vô thường và chịu biến đổi, cành lá của nó vô thường và chịu biến đổi, và bóng của nó vô thường và chịu biến đổi. Vậy có ai nói đúng không nếu người đó nói rằng: ‘Rễ, thân, cành lá của cây lớn có lõi cây chắc này là vô thường và chịu biến đổi, nhưng bóng của nó thì thường còn, vĩnh cửu, bất biến, không chịu biến đổi’?”

“Không, bạch Tôn giả. Tại sao vậy? Bởi vì, bạch Tôn giả, rễ, thân, cành lá của cây lớn có lõi cây chắc này là vô thường và chịu biến đổi, nên bóng của nó cũng phải vô thường và chịu biến đổi.”

“Cũng vậy, này các sư tỷ, có ai nói đúng không nếu người đó nói rằng: ‘Sáu ngoại xứ này là vô thường và chịu biến đổi, nhưng cảm thọ vui, khổ, hay không khổ không vui mà người ta trải nghiệm tùy thuộc vào sáu ngoại xứ ấy lại là thường còn, vĩnh cửu, bất biến, không chịu biến đổi’?”

“Không, bạch Tôn giả. Tại sao vậy? Bởi vì mỗi cảm thọ sinh khởi tùy thuộc vào điều kiện tương ứng của nó, và khi điều kiện tương ứng đó chấm dứt, cảm thọ cũng chấm dứt.”

“Lành thay, lành thay, các sư tỷ! Vị Thánh đệ tử nào thấy rõ điều này đúng như thật bằng trí tuệ chân chính thì cũng như vậy.”

11. “Này các sư tỷ, giả sử một người đồ tể lành nghề hoặc đệ tử của ông ta giết một con bò và dùng dao mổ sắc bén để xẻ thịt nó. Không làm hư hại khối thịt bên trong và không làm hư hại lớp da bên ngoài, ông ta sẽ cắt, chặt, và lóc bỏ các gân, dây chằng và dây nối bên trong bằng con dao mổ sắc bén đó. [275] Sau khi đã cắt, chặt, và lóc bỏ tất cả những thứ đó, ông ta lột lớp da bên ngoài ra và lấy chính lớp da đó phủ lại con bò. Liệu ông ta có nói đúng không nếu nói rằng: ‘Con bò này dính liền với lớp da này y như trước’?”

“Không, bạch Tôn giả. Tại sao vậy? Bởi vì nếu người đồ tể lành nghề đó hoặc đệ tử của ông ta giết một con bò… và cắt, chặt, lóc bỏ tất cả những thứ đó, thì dù ông ta có phủ lại con bò bằng chính lớp da đó và nói: ‘Con bò này dính liền với lớp da này y như trước,’ con bò đó vẫn đã bị tách rời khỏi lớp da đó.”

12. “Này các sư tỷ, Ta đã đưa ra ví dụ này để truyền đạt một ý nghĩa. Ý nghĩa là như vầy: ‘Khối thịt bên trong’ là chỉ cho sáu nội xứ. ‘Lớp da bên ngoài’ là chỉ cho sáu ngoại xứ. ‘Gân, dây chằng và dây nối bên trong’ là chỉ cho hỷ lạc và tham ái (delight and lust - sự thích thú và ham muốn). ‘Con dao mổ sắc bén’ là chỉ cho trí tuệ bậc Thánh (noble wisdom - trí tuệ siêu việt giúp đoạn trừ phiền não) – trí tuệ bậc Thánh cắt, chặt, và lóc bỏ những phiền não (defilements - những tâm bất thiện làm ô nhiễm tâm), trói buộc (fetters - những thứ ràng buộc chúng sinh vào vòng luân hồi), và ràng buộc (bonds - tương tự fetters) bên trong.”

13. “Này các sư tỷ, có bảy yếu tố giác ngộ (seven enlightenment factors - bảy pháp hỗ trợ đắc đạo quả) này,[^1321] mà nhờ tu tập và phát triển chúng, một vị tỳ kheo, bằng cách tự mình chứng ngộ bằng thắng trí (direct knowledge - sự hiểu biết trực tiếp, không qua trung gian), ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát (deliverance of mind - sự giải thoát khỏi tham ái) và tuệ giải thoát (deliverance by wisdom - sự giải thoát nhờ trí tuệ đoạn trừ vô minh) vốn là vô lậu (taintless - không còn các lậu hoặc, tức phiền não sâu kín) cùng với sự đoạn tận các lậu hoặc (destruction of the taints - sự chấm dứt hoàn toàn các phiền não sâu kín). Bảy yếu tố đó là gì? Ở đây, này các sư tỷ, một vị tỳ kheo phát triển niệm giác chi (mindfulness enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là sự chú tâm, tỉnh giác), dựa trên sự viễn ly (seclusion - sự xa lánh các dục vọng và bất thiện pháp), ly tham (dispassion - sự không còn tham ái), đoạn diệt (cessation - sự chấm dứt khổ đau), hướng đến sự từ bỏ (relinquishment - sự buông bỏ mọi chấp thủ). Vị ấy phát triển trạch pháp giác chi (investigation-of-states enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là sự phân tích, điều tra các pháp)… tinh tấn giác chi (energy enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là sự nỗ lực, siêng năng)… hỷ giác chi (rapture enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là niềm vui phát sinh từ thiền định)… khinh an giác chi (tranquillity enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là sự nhẹ nhàng, an tĩnh của thân và tâm)… định giác chi (concentration enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là sự tập trung tâm ý)… xả giác chi (equanimity enlightenment factor - yếu tố giác ngộ là sự bình tâm, không dao động), dựa trên sự viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến sự từ bỏ. Đó là bảy yếu tố giác ngộ mà nhờ tu tập và phát triển chúng, một vị tỳ kheo, bằng cách tự mình chứng ngộ bằng thắng trí, ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát và tuệ giải thoát vốn là vô lậu cùng với sự đoạn tận các lậu hoặc.” [276]

14. Khi Tôn giả Nan-đa-ka đã khuyên dạy các tỳ kheo ni như vậy, ngài cho họ lui về, nói rằng: “Đi đi, các sư tỷ, đã đến giờ.” Bấy giờ, các tỳ kheo ni, sau khi hoan hỷ và vui mừng với lời dạy của Tôn giả Nan-đa-ka, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nan-đa-ka rồi ra về, giữ ngài ở bên phải mình (đi nhiễu quanh theo chiều kim đồng hồ để tỏ lòng kính trọng). Họ đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ ngài rồi đứng sang một bên. Đức Thế Tôn bảo họ: “Đi đi, các sư tỷ, đã đến giờ.” Rồi các tỳ kheo ni đảnh lễ Đức Thế Tôn và ra về, giữ ngài ở bên phải mình.

15. Ngay sau khi họ rời đi, Đức Thế Tôn nói với các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, cũng như vào ngày Bố-tát (Uposatha day - ngày sám hối và tụng giới của Tăng đoàn) thứ mười bốn, người ta không nghi ngờ hay phân vân mặt trăng tròn hay khuyết, vì lúc đó mặt trăng rõ ràng là còn khuyết, cũng vậy, các tỳ kheo ni này hài lòng với bài Pháp của Nan-đa-ka, nhưng ý nguyện của họ chưa được viên mãn.”

16-26. Rồi Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Nan-đa-ka: “Vậy thì, Nan-đa-ka, ngày mai nữa ông hãy khuyên dạy các tỳ kheo ni đó đúng theo cách tương tự.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Nan-đa-ka đáp lời. Rồi, sáng hôm sau, Tôn giả Nan-đa-ka đắp y… (lặp lại nguyên văn từ §4 đến §14 ở trên, cho đến…) [277]… Rồi các tỳ kheo ni đảnh lễ Đức Thế Tôn và ra về, giữ ngài ở bên phải mình.

27. Ngay sau khi họ rời đi, Đức Thế Tôn nói với các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, cũng như vào ngày Bố-tát thứ mười lăm, người ta không nghi ngờ hay phân vân mặt trăng tròn hay khuyết, vì lúc đó mặt trăng rõ ràng là đã tròn, cũng vậy, các tỳ kheo ni này hài lòng với bài Pháp của Nan-đa-ka và ý nguyện của họ đã được viên mãn. Này các tỳ kheo, trong số năm trăm vị tỳ kheo ni đó, vị tiến bộ ít nhất cũng là bậc Nhập lưu (stream-enterer - người đã bước vào dòng Thánh, tầng Thánh đầu tiên), không còn bị đọa vào cảnh khổ (perdition - các cõi thấp như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh), chắc chắn [đạt giải thoát], hướng đến giác ngộ (enlightenment - sự tỉnh thức hoàn toàn, Niết-bàn).” [^1322]

Đó là những gì Đức Thế Tôn đã nói. Các tỳ kheo hài lòng và hoan hỷ với lời dạy của Đức Thế Tôn.

146. KINH GIÁO GIỚI NANDAKA

146. KINH GIÁO GIỚI NANDAKA (Nandakovàda Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà-lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Rồi Mahapajapati Gotami cùng với khoảng năm trăm Tỷ-kheo-ni đi đến bên Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Mahapajapati Gotami bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giáo giới cho Tỷ-kheo-ni! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giảng dạy cho Tỷ- kheo-ni! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho Tỷ-kheo-ni!

Lúc bấy giờ, các Thượng tọa (Trưởng lão) Tỷ-kheo thay phiên giáo giới Tỷ-kheo-ni. Nhưng Tôn giả Nandaka không muốn thay phiên giáo giới Tỷ-kheo-ni. Rồi Thế Tôn cho gọi Tôn giả Ananda và nói:

– Này Ananda, hôm nay đến phiên ai giáo giới Tỷ-kheo-ni?

– Bạch Thế Tôn, chính là phiên của Nandaka thay phiên giáo giới Tỷ-kheo-ni. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nandaka không muốn thay phiên giáo giới Tỷ-kheo-ni.

Rồi Thế Tôn cho gọi Tôn giả Nandaka:

– Này Nandaka, hãy giáo giới Tỷ-kheo-ni! Này Nandaka, hãy giảng dạy Tỷ-kheo-ni! Này Bà-la-môn, hãy thuyết pháp cho Tỷ-kheo-ni!

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Nandaka ấy vâng đáp Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để khất thực. Sau khi khất thực ở Savatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, không có người thứ hai cùng đi, đi đến Rajakarama (Vương Tự). Các Tỷ-kheo-ni ấy thấy Tôn giả Nandaka từ xa đi đến, sau khi thấy liền sửa soạn chỗ ngồi và sắp đặt nước rửa chân. Tôn giả Nandaka ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn; sau khi ngồi, liền rửa chân. Các Tỷ-kheo-ni ấy sau khi đảnh lễ Tôn giả Nandaka, liền ngồi xuống một bên. Tôn giả Nandaka nói với các Tỷ-kheo-ni đang ngồi một bên:

– Các Hiền tỷ, sẽ có cuộc luận thuyết bằng cách đặt câu hỏi. Ở đây, những ai biết, hãy trả lời: “Tôi biết”. Những ai không biết, hãy trả lời: “Tôi không biết”. Nếu có ai nghi ngờ hay nghi hoặc, ở đây, ta cần được hỏi như sau: “Thưa Tôn giả, sự việc này là thế nào? Ý nghĩa việc này là gì?”

– Thưa Tôn giả, cho đến đây, chúng con rất hoan hỷ và thỏa mãn với Tôn giả Nandaka, vì rằng Tôn giả đã mời chúng con (hỏi).

– Các Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi xem cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.?

– Thưa không vậy, Tôn giả.

– Các Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tai là thường hay vô thường?.. Mũi là thường hay vô thường?.. Lưỡi là thường hay vô thường?.. Thân là thường hay vô thường?.. Ý là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường

– Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.?

– Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu nội xứ này là vô thường”.

– Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.?

– Thưa không vậy, Tôn giả.

– Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tiếng là thường hay vô thường?.. Hương là thường hay vô thường?.. Vị là thường hay vô thường?.. Xúc là thường hay vô thường?.. Pháp là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”

– Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu ngoại xứ này là vô thường”.

– Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Nhãn thức là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.?

– Thưa không vậy, Tôn giả.

– Này các Hiền tỷ, nhĩ thức là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Tỷ thức là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Thân thức là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Ý thức là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”

– Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu thức thân này là vô thường”.

– Lành thay, lành thay, chư Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, chư Hiền tỷ, một ngọn đèn dầu được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa là vô thường, chịu sự biến hoại; ánh sáng là vô thường, chịu sự biến hoại. Chư Hiền tỷ, nếu có ai nói rằng: “Ngọn đèn dầu này được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa là vô thường, chịu sự biến hoại; nhưng ánh sáng ấy là thường còn, thường trú, thường hằng không chịu sự biến hoại”,; chư Hiền tỷ, nói như vậy là có nói chân chánh không?

– Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, ngọn đèn dầu này được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc cũng là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa cũng là vô thường, chịu sự

biến hoại. Còn nói gì đến ánh sáng, cũng là vô thường, chịu sự biến hoại!

– Như vậy là phải, này các Hiền tỷ! Nếu có ai nói như sau: “Sáu ngoại xứ này là vô thường, và do duyên sáu ngoại xứ này, tôi có cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói một cách chân chánh không?

– Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, do duyên cái này, cái này cảm thọ như thế này, như thế này khởi lên. Do diệt các duyên như thế này, như thế này, các cảm thọ như thế này, như thể này cũng biến diệt.

– Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, này các Hiền tỷ, có cây to lớn đứng thẳng, có lõi cây, với rễ vô thường, chịu sự biến hoại, với thân cây vô thường, chịu sự biến hoại, với cành lá vô thường, chịu sự biến hoại, với bóng cây vô thường, chịu sự biến hoại. Nếu có người nói như sau: “Có cây lớn đứng thẳng có lõi cây này, với rễ vô thường, chịu sự biến hoại, với thân cây vô thường, chịu sự biến hoại, với cành lá vô thường, chịu sự biến hoại, nhưng bóng mát của cây ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói một cách chân chánh không?

– Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, cây to lớn đứng thẳng có lõi cây này, có rễ vô thường, chịu sự biến hoại, có thân cây vô thường; chịu sự biến hoại, có cành lá vô thường, chịu sự biến hoại. Còn nói gì đến bóng mát, cũng là vô thường, chịu sự biến hoại!

– Như vậy là phải, này chư Hiền tỷ! Nếu có ai nói như sau: “Sáu nội xứ này là vô thường, và do duyên sáu ngoại xứ này tôi cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói chân chánh không?

– Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, do duyên cái này, cái này, cảm thọ như thế này, như thế này khởi lên. Do diệt các duyên như thế này, như thế này, các cảm thọ như thế này, như thế này cũng biến diệt.

– Lành thay, lành thay, chư Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, này các Hiền tỷ, một người đồ tể giết bò thiện xảo hay người đệ tử; sau khi giết con bò, cắt con bò với con dao sắc bén của người đồ tể giết bò, mà không hư hại phần thịt ở trong, không hư hại phần da ngoài, rồi với con dao sắc bén của người đồ tể giết bò, cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt mọi dây thịt phía trong; dây gân phía trong, dây khớp xương phía trong; sau khi cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt và sau khi lột da ngoài, lại bao trùm con bò ấy với chính da bò ấy rồi nói: “Con bò này đã được dính liền với da này như trước”; này các Hiền tỷ, nói như vậy có nói một cách chơn chánh không? "

– Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Dầu cho, thưa Tôn giả, người đồ tể giết bò thiện xảo ấy hay người đệ tử sau khi giết con bò… lại bao trùm con bò ấy với chính da bò ấy lại có thể nói như sau: “Con bò này đã được dính liền với da này như trước”, con bò này đã bị lột ra khỏi da ấy.

– Ta làm ví dụ này, này các Hiền tỷ, là để nêu rõ ý nghĩa. Ở đây, ý nghĩa này như sau: Chư Hiền tỷ, thịt ở trong là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Chư Hiền tỷ, da ở ngoài là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ, Chư Hiền tỷ, dây thịt phía trong, dây gân phía trong, dây khớp xương phía trong là đồng nghĩa với dục hỷ và tham. Chư Hiền tỷ, con dao đồ tể giết bò sắc bén là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Với Thánh trí tuệ này cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt nội phiền não, nội kiết sử, nội triền phược.

Chư Hiền tỷ, có bảy giác chi, do tu tập, làm cho sung mãn bảy giác chi này, vị Tỷ-kheo với sự đoạn tận

các lậu hoặc, tự mình chứng tri ngay trong hiện tại với thượng trí; chứng đạt và an trú, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Thế nào là bảy? Ở đây, chư Hiền tỷ, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập hỷ giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Chư Hiền tỷ, bảy giác chi này, do tu tập, làm cho sung mãn, Tỷ-kheo với sự đoạn tận các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri ngay trong hiện tại, với thượng trí chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi giáo giới các Tỷ-kheo ni ấy với lời giáo giới, liền cho giải tán: – Chư Hiền tỷ, hãy đi về, giờ đã đến rồi.

Rồi các Tỷ-kheo ni ấy, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Nandaka dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nandaka, thân phía hữu hướng về Tôn giả, rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo-ni ấy đang đứng một bên: – Này các Tỷ-kheo-ni, hãy đi. Giờ đã đến rồi.

Rồi các Tỷ-kheo-ni ấy, sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Rồi Thế Tôn, sau khi các Tỷ-kheo-ni ấy ra đi không bao lâu, gọi các vị Tỷ-kheo và nói:

– Này các Tỷ-kheo, ví như vào ngày Bố-tát, ngày mười bốn, quần chúng không có nghi ngờ hay nghi hoặc rằng mặt trăng là không tròn hay mặt trăng là tròn vì khi ấy mặt trăng chưa tròn; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, dầu cho các Tỷ-kheo-ni ấy hoan hỷ với bài thuyết pháp của Nandaka, nhưng tâm trí của họ chưa được thỏa mãn.

Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Nandaka:

– Vậy này Nandaka, ngày mai, Ông sẽ giáo giới cho các Tỷ-kheo-ni ấy với bài giáo giới.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Nandaka vâng đáp Thế Tôn.

Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi (Xá-vệ) để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Savatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, tự thân một mình đi đến Rajarama. Các vị Tỷ-kheo-ni ấy thấy Tôn giả Nandaka từ xa đi lại; sau khi thấy, liền sửa soạn chỗ ngồi và sắp đặt nước rửa chân. Tôn giả Nandaka ngồi trên chỗ đã soạn sẵn; sau khi ngồi, liền rửa chân. Các vị Tỷ-kheo-ni ấy đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Nandaka nói với các Tỷ-kheo-ni ấy đang ngồi một bên:

– Các Hiền tỷ, sẽ có cuộc luận thuyết bằng cách đặt câu hỏi. Ở đây, những ai biết hãy trả lời: “Tôi biết”. Những ai không biết, hãy trả lời “Tôi không biết”. Nếu ai có nghi ngờ hay do dự, ở đây, ta cần được hỏi như sau: “Thưa Tôn giả, sự việc này là thế nào? " Ý nghĩa việc này là gì?”

– Thưa Tôn giả, cho đến đây, chúng con rất hoan hỷ và thỏa mãn với Tôn giả Nandaka, vì rằng Tôn giả đã mời chúng con (hỏi)!

– Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi xem cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.?

– Thưa không vậy, Tôn giả.

– Các Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tai là thường hay vô thường?.. Mũi là thường hay vô thường?.. Lưỡi là thường hay vô thường?.. Thân là thường hay vô thường?.. Ý là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường

– Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.?

– Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu nội xứ này là vô thường”.

– Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.?

– Thưa không vậy, Tôn giả.

– Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Tiếng là thường hay vô thường?.. Hương là thường hay vô thường?.. Vị là thường hay vô thường?.. Xúc là thường hay vô thường?.. Pháp là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: "Cái này là của tôi, cái

này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?"

– Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây, thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu ngoại xứ này là vô thường”.

– Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Chư Hiền tỷ, các Hiền tỷ nghĩ thế nào? Nhãn thức là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả, là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.?

– Thưa không vậy, Tôn giả.

– Này các Hiền tỷ, nhĩ thức là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Tỷ thức là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Thân thức là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Ý thức là thường hay vô thường?

– Thưa Tôn giả, vô thường.

– Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

– Thưa Tôn giả là khổ.

– Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”

– Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Trước đây thưa Tôn giả, chúng con đã khéo thấy như chơn, với chánh trí tuệ rằng: “Sáu thức thân này là vô thường”.

– Lành thay, lành thay, chư Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn, với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, chư Hiền tỷ, một ngọn đèn dầu được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa là vô thường, chịu sự biến hoại; ánh sáng là vô thường, chịu sự biến hoại. Chư Hiền tỷ, nếu có ai nói rằng: "Ngọn đèn dầu này được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa là vô thường, chịu sự biến hoại;

nhưng ánh sáng ấy là thường còn, thường trú, thường hằng không chịu sự biến hoại",; chư Hiền tỷ, nói như vậy là có nói chân chánh không?

– Thưa không vậy, Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, ngọn đèn dầu này được đốt cháy; dầu là vô thường, chịu sự biến hoại; bấc cũng là vô thường, chịu sự biến hoại; ngọn lửa cũng là vô thường, chịu sự biến hoại. Còn nói gì đến ánh sáng, cũng là vô thường, chịu sự biến hoại!

– Như vậy là phải, này các Hiền tỷ! Nếu có ai nói như sau: “Sáu ngoại xứ này là vô thường, và do duyên sáu ngoại xứ này, tôi có cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói một cách chân chánh không?

– Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, do duyên cái này, cái này cảm thọ như thế này, như thế này khởi lên. Do diệt các duyên như thế này, như thế này, các cảm thọ như thế này, như thể này cũng biến diệt.

– Lành thay, lành thay, các Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, này các Hiền tỷ, có cây to lớn đứng thẳng, có lõi cây, với rễ vô thường, chịu sự biến hoại, với thân cây vô thường, chịu sự biến hoại, với cành lá vô thường, chịu sự biến hoại, với bóng cây vô thường, chịu sự biến hoại. Nếu có người nói như sau: “Có cây lớn đứng thẳng có lõi cây này, với rễ vô thường, chịu sự biến hoại, với thân cây vô thường, chịu sự biến hoại, với cành lá vô thường, chịu sự biến hoại, nhưng bóng mát của cây ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói một cách chân chánh không?

– Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, cây to lớn đứng thẳng có lõi cây này, có rễ vô thường, chịu sự biến hoại, có thân cây vô thường; chịu sự biến hoại, có cành lá vô thường, chịu sự biến hoại. Còn nói gì đến bóng mát, cũng là vô thường, chịu sự biến hoại!

– Như vậy là phải, này chư Hiền tỷ! Nếu có ai nói như sau: “Sáu ngoại xứ này là vô thường, và do duyên sáu ngoại xứ này tôi cảm thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là thường còn, thường trú, thường hằng, không chịu sự biến hoại”; này các Hiền tỷ, người ấy có nói chân chánh không?

– Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Thưa Tôn giả, do duyên cái này, cái này, cảm thọ như thế này, như thế này khởi lên. Do diệt các duyên như thế này, như thế này, các cảm thọ như thế này, như thế này cũng biến diệt.

– Lành thay, lành thay, chư Hiền tỷ! Chính phải là như vậy, là cái nhìn như chơn với chánh trí tuệ của vị Thánh đệ tử. Ví như, này các Hiền tỷ, một người đồ tể giết bò thiện xảo hay người đệ tử; sau khi giết con bò, cắt con bò với con dao sắc bén của người đồ tể giết bò, mà không hư hại phần thịt ở trong, không hư hại phần da ngoài, rồi với con dao sắc bén của người đồ tể giết bò, cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt mọi dây thịt phía trong; dây gân phía trong, dây khớp xương phía trong; sau khi cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt và sau khi lột da ngoài, lại bao trùm con bò ấy với chính da bò ấy rồi nói: “Con bò này đã được dính liền với da này như trước”; này các Hiền tỷ, nói như vậy có nói một cách chơn chánh không? "

– Thưa không, thưa Tôn giả. Vì sao vậy? Dầu cho, thưa Tôn giả, người đồ tể giết bò thiện xảo ấy hay người đệ tử sau khi giết con bò… lại bao trùm con bò ấy với chính da bò ấy lại có thể nói như sau: “Con bò này đã được dính liền với da này như trước”, con bò này đã bị lột ra khỏi da ấy.

– Ta làm ví dụ này, này các Hiền tỷ, là để nêu rõ ý nghĩa. Ở đây, ý nghĩa này như sau: Chư Hiền tỷ, thịt ở trong là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Chư Hiền tỷ, da ở ngoài là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ, Chư Hiền

tỷ, dây thịt phía trong, dây gân phía trong, dây khớp xương phía trong là đồng nghĩa với dục hỷ và tham. Chư Hiền tỷ, con dao đồ tể giết bò sắc bén là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Với Thánh trí tuệ này cắt đứt, cắt đoạn, cắt tiệt nội phiền não, nội kiết sử, nội triền phược.

Chư Hiền tỷ, có bảy giác chi, do tu tập, làm cho sung mãn bảy giác chi này, vị Tỷ-kheo với sự đoạn tận các lậu hoặc, tự mình chứng tri ngay trong hiện tại với thượng trí; chứng đạt và an trú, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Thế nào là bảy? Ở đây, chư Hiền tỷ, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập hỷ giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Chư Hiền tỷ, bảy giác chi này, do tu tập, làm cho sung mãn, Tỷ-kheo với sự đoạn tận các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri ngay trong hiện tại, với thượng trí chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi giáo giới các Tỷ-kheo ni ấy với lời giáo giới, liền cho giải tán: – Chư Hiền tỷ, hãy đi về, giờ đã đến rồi.

Rồi các Tỷ-kheo ni ấy, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Nandaka dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nandaka, thân phía hữu hướng về Tôn giả, rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo-ni ấy đang đứng một bên: – Này các Tỷ-kheo-ni, hãy đi. Giờ đã đến rồi.

Thế Tôn, sau khi các Tỷ-kheo-ni ấy ra đi không bao lâu, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và nói:

– Này các Tỷ-kheo, ví như vào ngày Bố-tát, ngày rằm, quần chúng không có nghi ngờ hay phân vân rằng mặt trăng là không tròn hay mặt trăng là tròn, vì khi ấy mặt trăng đã tròn; cũng vậy, này các Tỷ- kheo, các Tỷ-kheo-ni ấy hoan hỷ với bài thuyết pháp của Tôn giả Anandaka, và tâm tư của họ được thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, trong năm trăm Tỷ-kheo-ni ấy, Tỷ-kheo-ni cuối cùng chứng dược Dự lưu, không còn bị đọa lạc, và chắc chắn đạt đến chánh giác.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-

Từ ngữ:

  • tỳ kheo ni / bhikkhunī / female monk: Nữ tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc.
  • Pháp / Dhamma / Dhamma: Giáo pháp của Đức Phật, sự thật, quy luật tự nhiên.
  • tỳ kheo / bhikkhu / male monk: Nam tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc.
  • vô thường / anicca / impermanent: Tính chất không bền vững, luôn thay đổi của mọi sự vật, hiện tượng.
  • khổ / dukkha / suffering: Sự đau khổ, bất toại nguyện, không hoàn hảo vốn có trong mọi sự tồn tại trong vòng luân hồi, một trong Ba Đặc Tính (Tam Tướng).
  • tự ngã / attā / self: Cái tôi, bản ngã được cho là thường hằng, độc lập, cốt lõi của một cá nhân – điều mà Phật giáo phủ nhận (vô ngã - anattā).
  • trí tuệ chân chính / sammā paññā / proper wisdom: Sự hiểu biết đúng đắn, thấy rõ bản chất vô thường, khổ, vô ngã của các pháp (sự vật, hiện tượng).
  • sáu nội xứ / cha ajjhattikāni āyatanāni / six internal bases: Sáu cơ quan cảm giác bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý (tâm).
  • Thánh đệ tử / ariya sāvaka / noble disciple: Người đã chứng đắc một trong bốn Thánh đạo, Thánh quả (Nhập lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán).
  • sáu ngoại xứ / cha bāhirāni āyatanāni / six external bases: Sáu đối tượng của các giác quan: sắc (hình ảnh), thanh (âm thanh), hương (mùi), vị (vị nếm), xúc (vật chạm), pháp (đối tượng của ý).
  • sáu loại thức / cha viññāṇakāyā / six classes of consciousness: Sáu loại nhận thức sinh khởi khi sáu nội xứ tiếp xúc với sáu ngoại xứ: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.
  • cảm thọ / vedanā / feeling: Cảm giác dễ chịu (lạc thọ), khó chịu (khổ thọ), hay trung tính (xả thọ) sinh khởi khi có sự tiếp xúc giữa căn, trần và thức.
  • hỷ lạc và tham ái / nandīrāga / delight and lust: Sự thích thú, say mê và lòng ham muốn, dính mắc vào các đối tượng giác quan hoặc các trạng thái tồn tại.
  • trí tuệ bậc Thánh / ariya paññā / noble wisdom: Trí tuệ siêu việt, thấy rõ Tứ Thánh Đế, giúp đoạn trừ phiền não và giải thoát khỏi luân hồi.
  • phiền não / kilesa / defilements: Những trạng thái tâm tiêu cực, bất thiện làm ô nhiễm tâm trí như tham, sân, si.
  • trói buộc / saṃyojana / fetters: Mười yếu tố tâm lý trói buộc chúng sinh vào vòng luân hồi (ví dụ: thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham dục, sân hận…).
  • ràng buộc / bandhana / bonds: Tương tự như ‘trói buộc’, những thứ cột chặt chúng sinh vào khổ đau và tái sinh.
  • bảy yếu tố giác ngộ / satta bojjhaṅgā / seven enlightenment factors: Bảy phẩm chất tâm cần được tu tập để đạt đến giác ngộ: Niệm, Trạch pháp, Tinh tấn, Hỷ, Khinh an, Định, Xả.
  • thắng trí / abhiññā / direct knowledge: Sự hiểu biết trực tiếp, siêu việt, không qua suy luận hay trung gian, thường bao gồm các loại thần thông và trí tuệ thấy rõ bản chất các pháp.
  • tâm giải thoát / cetovimutti / deliverance of mind: Sự giải thoát tâm khỏi tham ái và các phiền não liên quan đến tham ái, thường đạt được qua tu tập thiền định (samatha).
  • tuệ giải thoát / paññāvimutti / deliverance by wisdom: Sự giải thoát nhờ trí tuệ thấy rõ bản chất vô ngã và duyên khởi, đoạn trừ vô minh, thường đạt được qua tu tập thiền quán (vipassanā).
  • vô lậu / anāsava / taintless: Trạng thái không còn các lậu hoặc (āsava) – những phiền não sâu kín, tiềm ẩn (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu).
  • sự đoạn tận các lậu hoặc / āsavakkhaya / destruction of the taints: Sự chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc, đồng nghĩa với việc đạt được quả vị A-la-hán, giải thoát hoàn toàn.
  • niệm giác chi / sati-sambojjhaṅga / mindfulness enlightenment factor: Yếu tố giác ngộ là sự chú tâm, tỉnh giác, ghi nhận đối tượng một cách rõ ràng, không phán xét.
  • viễn ly / viveka / seclusion: Sự xa lánh, tách rời khỏi các dục vọng (thân viễn ly), các bất thiện pháp (tâm viễn ly), và các pháp hữu vi (Niết-bàn là sự viễn ly cuối cùng).
  • ly tham / virāga / dispassion: Sự không còn tham ái, dính mắc; trạng thái tâm thanh tịnh, không bị dục vọng chi phối.
  • đoạn diệt / nirodha / cessation: Sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau và nguyên nhân của khổ đau, tức là Niết-bàn.
  • từ bỏ / vossagga / relinquishment: Sự buông bỏ, từ bỏ mọi chấp thủ, bao gồm cả chấp thủ vào cái tôi và các pháp.
  • trạch pháp giác chi / dhammavicaya-sambojjhaṅga / investigation-of-states enlightenment factor: Yếu tố giác ngộ là sự phân tích, điều tra, quán chiếu bản chất của các pháp (hiện tượng tâm-vật lý) để thấy rõ vô thường, khổ, vô ngã.
  • tinh tấn giác chi / viriya-sambojjhaṅga / energy enlightenment factor: Yếu tố giác ngộ là sự nỗ lực, siêng năng, kiên trì trong việc tu tập thiện pháp và từ bỏ bất thiện pháp.
  • hỷ giác chi / pīti-sambojjhaṅga / rapture enlightenment factor: Yếu tố giác ngộ là niềm vui, sự phấn khởi, hứng thú phát sinh trong quá trình tu tập thiền định.
  • khinh an giác chi / passaddhi-sambojjhaṅga / tranquillity enlightenment factor: Yếu tố giác ngộ là sự nhẹ nhàng, an tĩnh, thư thái của cả thân và tâm.
  • định giác chi / samādhi-sambojjhaṅga / concentration enlightenment factor: Yếu tố giác ngộ là sự tập trung tâm ý vào một đối tượng duy nhất, trạng thái tâm vững vàng, không tán loạn.
  • xả giác chi / upekkhā-sambojjhaṅga / equanimity enlightenment factor: Yếu tố giác ngộ là sự bình tâm, quân bình, không dao động trước các hoàn cảnh thuận nghịch, không thiên vị hay thành kiến.
  • Bố-tát / Uposatha / Uposatha day: Ngày trai giới định kỳ (thường là ngày rằm và 30 hoặc 29 âm lịch) dành cho Tăng đoàn tụng giới và Phật tử tại gia thọ trì Bát quan trai giới.
  • Nhập lưu / Sotāpanna / Stream-enterer: Bậc Thánh đầu tiên, người đã “bước vào dòng” giải thoát, đoạn trừ ba kiết sử đầu tiên (thân kiến, nghi, giới cấm thủ), chắc chắn đạt Niết-bàn trong tối đa bảy kiếp nữa và không còn tái sinh vào các cõi khổ.
  • cảnh khổ / apāya / perdition: Các cõi tái sinh đau khổ, bất hạnh trong luân hồi, bao gồm địa ngục, ngạ quỷ (quỷ đói), súc sinh, và đôi khi cả A-tu-la.
  • giác ngộ / bodhi / enlightenment: Sự tỉnh thức hoàn toàn, sự hiểu biết trọn vẹn về bản chất của thực tại, dẫn đến giải thoát khỏi khổ đau và vòng luân hồi (Niết-bàn).