Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 26. KINH THÁNH CẦU

(Pāsarāsisutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika.

2. Vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát đi vào Sāvatthi để khất thực. Khi ấy, nhiều tỳ kheo đi đến chỗ tôn giả Ānanda; sau khi đến, họ nói với tôn giả Ānanda điều này: “Đã lâu rồi, thưa hiền giả Ānanda, chúng tôi không được nghe một cuộc nói chuyện về Chân lý (pháp thoại / dhammī kathā) trực tiếp từ Thế Tôn. Thật tốt đẹp thay, thưa hiền giả Ānanda, nếu chúng tôi được nghe một cuộc nói chuyện về Chân lý trực tiếp từ Thế Tôn.”

“Vậy thì, thưa các hiền giả, hãy đi đến am thất của bà-la-môn Rammaka; rất có thể các vị sẽ được nghe một cuộc nói chuyện về Chân lý trực tiếp từ Thế Tôn.”

“Vâng, thưa hiền giả,” các tỳ kheo ấy vâng đáp tôn giả Ānanda.

3. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthi, ăn xong và trở về từ chuyến khất thực, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Lộc Mẫu Giảng Đường ở Đông Viên để nghỉ ngơi ban ngày.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với tôn giả Ānanda đi đến Lộc Mẫu Giảng Đường ở Đông Viên để nghỉ ngơi ban ngày. Vào buổi chiều, sau khi xuất định, Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Đông Các để tắm gội cơ thể.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn cùng với tôn giả Ānanda đi đến Đông Các để tắm gội cơ thể. Sau khi tắm gội ở Đông Các và bước lên bờ, Ngài đứng đắp một y, để cho cơ thể khô ráo. Khi ấy, tôn giả Ānanda thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, am thất của bà-la-môn Rammaka ở không xa đây. Am thất của bà-la-môn Rammaka thật đáng yêu, bạch Thế Tôn; am thất của bà-la-môn Rammaka thật tĩnh lặng, bạch Thế Tôn. Thật tốt đẹp thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vì lòng thương xót mà đi đến am thất của bà-la-môn Rammaka.” Thế Tôn im lặng nhận lời.

4. Rồi Thế Tôn đi đến am thất của bà-la-môn Rammaka. Lúc bấy giờ, có nhiều tỳ kheo đang ngồi tụ họp tại am thất của bà-la-môn Rammaka để bàn luận về Chân lý (pháp / dhamma). Thế Tôn đứng ngoài cửa chờ cho cuộc bàn luận kết thúc. Khi biết cuộc bàn luận đã kết thúc, Thế Tôn hắng giọng và gõ cửa. Các tỳ kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Thế Tôn bước vào am thất của bà-la-môn Rammaka và ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn hỏi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, các vị đang ngồi tụ họp ở đây để bàn luận về chủ đề gì? Và câu chuyện gì đang bị bỏ dở giữa chừng?”

“Bạch Thế Tôn, cuộc nói chuyện về Chân lý của chúng con đang hướng về chính Thế Tôn thì bị bỏ dở, rồi Thế Tôn quang lâm.”

"Tốt lắm, này các tỳ kheo. Thật là phù hợp cho các vị, những thiện nam tử vì niềm tin mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, khi các vị ngồi tụ họp lại để bàn luận về Chân lý. Này các tỳ kheo, khi các vị tụ họp lại, có hai việc cần làm: hoặc là cuộc nói chuyện về Chân lý, hoặc là giữ im lặng của bậc thánh.

MN 26. KINH THÁNH CẦU

(Ariyapariyesanà Sutta)

Tôi nghe như vầy:

Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát Savatthi để khất thực. Có một số đông Tỷ-kheo đến chỗ Tôn giả Ananda ở, sau khi đến, nói với Tôn giả Ananda:

– Hiền giả, đã lâu chúng tôi chưa được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp. Lành thay, Hiền giả Ananda, nếu chúng tôi được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp!

– Các Tôn giả hãy đến chỗ Bà-la-môn Rammaka ở, và các Tôn giả sẽ được tận mặt nghe Thế Tôn thuyết pháp.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda. Rồi Thế Tôn, khất thực ở Savatthi xong, sau buổi ăn trên con đường đi khất thực trở về, cho gọi Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pubbarama (Ðông viên), ngôi lầu của Migaramatu (Lộc Mẫu Giảng Ðường) để nghỉ trưa.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến vườn Pubbarama, ngôi lầu của Migaramatu để nghỉ trưa. Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, gọi Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pubbakotthaka để rửa tay, rửa chân.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến Pubbakotthaka để rửa tay, rửa chân. Sau khi rửa tay, rửa chân ở Pubbalotthaka xong, Thế Tôn leo đứng trên bờ, đắp một tấm y, phơi tay chân cho khô. Rồi Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, tinh thất của Bà-la-môn Rammaka không xa; bạch Thế Tôn, tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka là khả ái; bạch Thế Tôn, tinh thất của Bà-la-môn Rammaka là khả lạc; bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn vì lòng từ bi đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka!

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo đang hội họp tại tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka để thuyết pháp. Thế Tôn đứng chờ ngoài cửa cho đến khi thuyết pháp xong. Thế Tôn biết cuộc thuyết pháp đã xong, liền đằng hắng và gõ vào thanh cửa. Các Tỷ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bước vào tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka và ngồi lên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo, các Người nay hội họp bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các Người bị gián đoạn?

– Bạch Thế Tôn, câu chuyện giữa chúng con thuộc về Thế Tôn và câu chuyện ấy bị gián đoạn khi Thế Tôn đến.

– Này các Tỷ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỷ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh.

5. Này các tỳ kheo, có hai sự tìm kiếm (tầm cầu / pariyesanā): sự tìm kiếm cao thượng và sự tìm kiếm không cao thượng.

Và này các tỳ kheo, thế nào là sự tìm kiếm không cao thượng? Ở đây, này các tỳ kheo, có người tự mình chịu sự sinh ra (sanh pháp / jātidhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sinh ra; tự mình chịu sự già yếu (lão pháp / jarādhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự già yếu; tự mình chịu sự ốm đau (bệnh pháp / byādhidhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự ốm đau; tự mình chịu sự chết chóc (tử pháp / maraṇadhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự chết chóc; tự mình chịu sự sầu muộn (sầu pháp / sokadhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sầu muộn; tự mình chịu sự vấy bẩn (uế nhiễm pháp / saṅkilesadhammo), lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự vấy bẩn.

6. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự sinh ra? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự sinh ra; tôi tớ nam nữ là chịu sự sinh ra; dê cừu là chịu sự sinh ra; gà lợn là chịu sự sinh ra; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự sinh ra; vàng bạc là chịu sự sinh ra. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự sinh ra (pháp bị sanh/Jātidhammā) này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình (chấp thủ/ upadhayo). Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự sinh ra, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sinh ra.

7. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự già yếu? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự già yếu; tôi tớ nam nữ là chịu sự già yếu; dê cừu là chịu sự già yếu; gà lợn là chịu sự già yếu; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự già yếu; vàng bạc là chịu sự già yếu. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự già yếu này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình. Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự già yếu, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự già yếu.

8. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự ốm đau? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự ốm đau; tôi tớ nam nữ là chịu sự ốm đau; dê cừu là chịu sự ốm đau; gà lợn là chịu sự ốm đau; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự ốm đau. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự ốm đau này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình. Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự ốm đau, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự ốm đau.

9. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự chết chóc? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự chết chóc; tôi tớ nam nữ là chịu sự chết chóc; dê cừu là chịu sự chết chóc; gà lợn là chịu sự chết chóc; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự chết chóc. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự chết chóc này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình. Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự chết chóc, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự chết chóc.

10. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự sầu muộn? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự sầu muộn; tôi tớ nam nữ là chịu sự sầu muộn; dê cừu là chịu sự sầu muộn; gà lợn là chịu sự sầu muộn; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự sầu muộn. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự sầu muộn này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình. Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự sầu muộn, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sầu muộn.

11. Này các tỳ kheo, các vị nói cái gì là chịu sự vấy bẩn? Vợ con, này các tỳ kheo, là chịu sự vấy bẩn; tôi tớ nam nữ là chịu sự vấy bẩn; dê cừu là chịu sự vấy bẩn; gà lợn là chịu sự vấy bẩn; voi bò ngựa ngựa cái là chịu sự vấy bẩn; vàng bạc là chịu sự vấy bẩn. Này các tỳ kheo, những thứ chịu sự vấy bẩn này, người ta lấy chúng làm sự hiện hữu của mình. Người bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm trong đó, tự mình chịu sự vấy bẩn, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự vấy bẩn. Đây, này các tỳ kheo, là sự tìm kiếm không cao thượng.

(Hai loại tầm cầu)

Này các Tỷ-kheo, có hai loại tầm cầu này: Thánh cầu và phi Thánh cầu. Chư Tỷ-kheo, và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh… tự mình bị chết… tự mình bị sầu… tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.

Này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị sanh? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị sanh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sanh; dê và cừu là bị sanh; gà và heo là bị sanh; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị sanh; vàng và bạc là bị sanh. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy bị sanh, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh.

Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị già? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị già; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị già; dê và cừu là bị già; gà và heo là bị già; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị già; vàng và bạc là bị già. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị già, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già.

Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị bệnh? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị bệnh; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bi bệnh; dê và cừu là bị bệnh; gà và heo là bị bệnh; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị bệnh. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị bệnh, và người ấy lại nắm giữ tham đắm, mê say chúng, tự mình bị bệnh lại tìm cầu cái bị bệnh.

Và này các Tỷ-kheo, cái gì các Người nói là bị chết? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bi chết; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị chết; dê và cừu là bị chết; gà và heo là bị chết; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị chết. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị chết, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị chết lại tìm cầu cái bị chết.

Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị sầu? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị sầu; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị sầu; dê và cừu là bị sầu, gà và heo là bị sầu; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị sầu. Này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị sầu, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị sầu lại tìm cầu cái bị sầu.

Và này các Tỷ-kheo, cái gì theo các Người gọi là bị ô nhiễm? Này các Tỷ-kheo, vợ con là bị ô nhiễm; đầy tớ nam, đầy tớ nữ là bị ô nhiễm; dê và cừu la bị ô nhiễm; gà và heo là bị ô nhiễm; voi, bò, ngựa đực, ngựa cái là bị ô nhiễm; vàng và bạc là bị ô nhiễm. Và này các Tỷ-kheo, những chấp thủ ấy là bị ô nhiễm, và người ấy lại nắm giữ, tham đắm, mê say chúng, tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là phi Thánh cầu.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh… cái không bệnh… tự mình bị chết… cái bất tử… tự mình bị sầu… cái không sầu… tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như vậy, gọi là Thánh cầu.

12. Và này các tỳ kheo, thế nào là sự tìm kiếm cao thượng? Ở đây, này các tỳ kheo, có người tự mình chịu sự sinh ra, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sinh ra, liền tìm kiếm cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc (vô thượng an ổn khỏi các ách / anuttaraṁ yogakkhemaṁ), Niết-bàn (nibbāna); tự mình chịu sự già yếu, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự già yếu, liền tìm kiếm cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự ốm đau, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự ốm đau, liền tìm kiếm cái không ốm đau, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự chết chóc, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự chết chóc, liền tìm kiếm cái không chết chóc, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự sầu muộn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sầu muộn, liền tìm kiếm cái không sầu muộn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự vấy bẩn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự vấy bẩn, liền tìm kiếm cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn. Đây, này các tỳ kheo, là sự tìm kiếm cao thượng.

13. Này các tỳ kheo, trước khi giác ngộ, khi Ta còn là Bồ-tát chưa hoàn toàn giác ngộ, tự mình chịu sự sinh ra, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sinh ra; tự mình chịu sự già yếu, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự già yếu; tự mình chịu sự ốm đau, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự ốm đau; tự mình chịu sự chết chóc, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự chết chóc; tự mình chịu sự sầu muộn, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sầu muộn; tự mình chịu sự vấy bẩn, Ta lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự vấy bẩn. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Tại sao Ta tự mình chịu sự sinh ra, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự sinh ra; tự mình chịu sự già yếu, lại đi tìm kiếm […lặp lại…] chịu sự ốm đau […lặp lại…] chịu sự chết chóc […lặp lại…] chịu sự sầu muộn […lặp lại…] tự mình chịu sự vấy bẩn, lại đi tìm kiếm chính những thứ chịu sự vấy bẩn? Hay là Ta, tự mình chịu sự sinh ra, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sinh ra, hãy tìm kiếm cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự già yếu, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự già yếu, hãy tìm kiếm cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự ốm đau, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự ốm đau, hãy tìm kiếm cái không ốm đau, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự chết chóc, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự chết chóc, hãy tìm kiếm cái không chết chóc, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự sầu muộn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sầu muộn, hãy tìm kiếm cái không sầu muộn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự vấy bẩn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự vấy bẩn, hãy tìm kiếm cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn.’

14. Này các tỳ kheo, vào một thời gian sau đó, khi Ta còn trẻ, tóc đen nhánh, tràn đầy tuổi thanh xuân tươi đẹp, trong giai đoạn đầu của cuộc đời, mặc cho cha mẹ không mong muốn, khóc lóc nước mắt đầm đìa, Ta đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình.

15. Sau khi xuất gia như vậy, tìm kiếm những điều thiện (thiện pháp / kusala), tìm kiếm trạng thái bình an tối thượng (vô thượng tịch tịnh / anuttaraṁ santivarapadaṁ), Ta đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: ‘Thưa hiền giả Kālāma, tôi muốn thực hành đời sống thánh thiện (phạm hạnh / brahmacariya) trong Quy luật (pháp / dhamma) và kỷ luật này.’

Được nói vậy, này các tỳ kheo, Āḷāra Kālāma nói với Ta: ‘Tôn giả hãy ở lại; Quy luật này là như vậy, nơi mà một người trí không bao lâu có thể tự mình hiểu toàn bộ (thắng tri / abhiññā), trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikatvā), và an trú trong giáo lý của chính vị thầy mình.’

Này các tỳ kheo, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã học thuộc lòng Quy luật ấy. Này các tỳ kheo, chỉ qua việc mấp máy môi, chỉ qua việc lặp lại lời nói, Ta đã nói được những lời về tri thức và những lời của các bậc trưởng lão, và Ta cùng những người khác đều tuyên bố: ‘Tôi biết, tôi thấy.’

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Āḷāra Kālāma không chỉ tuyên bố Quy luật này bằng niềm tin đơn thuần rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú; chắc chắn Āḷāra Kālāma sống biết và thấy Quy luật này.’

Rồi này các tỳ kheo, Ta đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: ‘Thưa hiền giả Kālāma, theo những cách nào (kittāvatā) mà hiền giả tuyên bố rằng hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này?’ Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, Āḷāra Kālāma tuyên bố về cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana).

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có niềm tin, Ta cũng có niềm tin; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có nỗ lực, Ta cũng có nỗ lực; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có tập trung chú ý (niệm / sati), Ta cũng có tập trung chú ý; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có Định (samādhi), Ta cũng có Định; không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có trí tuệ, Ta cũng có trí tuệ. Hay là Ta hãy nỗ lực để trực tiếp chứng nghiệm Quy luật mà Āḷāra Kālāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú.’ Này các tỳ kheo, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật ấy.

Rồi này các tỳ kheo, Ta đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma: ‘Thưa hiền giả Kālāma, có phải đến mức độ này mà hiền giả tuyên bố rằng hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này?’

‘Đến mức độ này, thưa hiền giả, tôi tuyên bố rằng tôi tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này.’

‘Thưa hiền giả, tôi cũng tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này đến mức độ đó.’

‘Thật là một lợi ích cho chúng tôi, thưa hiền giả, thật là một điều may mắn cho chúng tôi, thưa hiền giả, khi chúng tôi được thấy một người bạn đồng tu như tôn giả. Như vậy, Quy luật nào tôi tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố, thì Quy luật đó hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú. Quy luật nào hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú, thì Quy luật đó tôi tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố. Như vậy, Quy luật nào tôi biết, Quy luật đó hiền giả biết; Quy luật nào hiền giả biết, Quy luật đó tôi biết. Như vậy, tôi như thế nào, hiền giả như thế ấy; hiền giả như thế nào, tôi như thế ấy. Bây giờ, thưa hiền giả, hãy đến đây, cả hai chúng ta hãy cùng nhau dẫn dắt hội chúng này.’

Như vậy, này các tỳ kheo, Āḷāra Kālāma, vị thầy của Ta, đã đặt Ta, người học trò của ông, ngang hàng với chính mình, và tôn vinh Ta bằng một sự tôn vinh cao cả.

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Quy luật này không dẫn đến sự chán ghét, không dẫn đến cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā), không dẫn đến bị chặn đứng hoàn toàn (diệt / nirodhāya), không dẫn đến sự bình an, không dẫn đến hiểu toàn bộ, không dẫn đến giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn, mà chỉ dẫn đến việc tái sinh vào cõi Không Có Vật Gì.’ Này các tỳ kheo, không thỏa mãn với Quy luật ấy, Ta đã chán ghét Quy luật ấy và bỏ đi.

(Thánh cầu Giải thoát)

Này các Tỷ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ- tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh… tự mình bị chết… tự mình bị sầu"… tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già… (như trên)… tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già… cái không già… tự mình bị bệnh… cái không bệnh… tự mình bị chết… cái bất tử… tự mình bị sầu… cái không sầu… tự mình bi ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.

Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đến chỗ Alara Kalama ở, khi đến xong liền thưa với Alara Kalama: “Hiền giả Kalama, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này”. Này các Tỷ-kheo, được nghe nói vậy, Alara Kalama nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú). Pháp này là như vậy, khiến kẻ có trí, không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy), tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này các Tỷ-kheo, và không bao lâu Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này các Tỷ-kheo, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng tọa), và Ta tự cho rằng Ta như kẻ khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.

Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Alara Kalama tuyên bố pháp này không phải chỉ vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, Ta mới an trú”. Chắc chắn Alara Kalama biết pháp này, thấy pháp này rồi mới an trú”. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến Ta nói với Alara Kalama: “Hiền giả Kalama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố pháp này?” Này các Tỷ-kheo, được nói vậy, Alara Kalama tuyên bố về Vô sở hữu xứ.

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Alara Kalama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta an trú”.

Rồi này các Tỷ-kheo, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Alara Kalama ở, sau khi đến, Ta nói với Alara Kalama: “Này Hiền giả Kalama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” --“Vâng, Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”. – “Này Hiền giả, tôi cũng tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”. --“Thật lợi ích thay cho chúng tôi, Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi tự tri, tự chứng, tự đạt, và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!”

Như vậy này các Tỷ-kheo, Alara Kalama là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ”. Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.

16. Này các tỳ kheo, tìm kiếm những điều thiện, tìm kiếm trạng thái bình an tối thượng, Ta đi đến chỗ Udaka Rāmaputta; sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta: ‘Thưa hiền giả, tôi muốn thực hành đời sống thánh thiện trong Quy luật và kỷ luật này.’

Được nói vậy, này các tỳ kheo, Udaka Rāmaputta nói với Ta: ‘Tôn giả hãy ở lại; Quy luật này là như vậy, nơi mà một người trí không bao lâu có thể tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm, và an trú trong giáo lý của chính vị thầy mình.’

Này các tỳ kheo, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã học thuộc lòng Quy luật ấy. Này các tỳ kheo, chỉ qua việc mấp máy môi, chỉ qua việc lặp lại lời nói, Ta đã nói được những lời về tri thức và những lời của các bậc trưởng lão, và Ta cùng những người khác đều tuyên bố: ‘Tôi biết, tôi thấy.’

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Rāma không chỉ tuyên bố Quy luật này bằng niềm tin đơn thuần rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú; chắc chắn Rāma sống biết và thấy Quy luật này.’

Rồi này các tỳ kheo, Ta đi đến chỗ Udaka Rāmaputta; sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta: ‘Thưa hiền giả, theo những cách nào mà Rāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này?’

Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, Udaka Rāmaputta tuyên bố về xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana).

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Không phải chỉ Rāma mới có niềm tin, Ta cũng có niềm tin; không phải chỉ Rāma mới có nỗ lực, Ta cũng có nỗ lực; không phải chỉ Rāma mới có tập trung chú ý, Ta cũng có tập trung chú ý; không phải chỉ Rāma mới có Định, Ta cũng có Định; không phải chỉ Rāma mới có trí tuệ, Ta cũng có trí tuệ. Hay là Ta hãy nỗ lực để trực tiếp chứng nghiệm Quy luật mà Rāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú.’ Này các tỳ kheo, không bao lâu, rất nhanh chóng, Ta đã tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật ấy.

Rồi này các tỳ kheo, Ta đi đến chỗ Udaka Rāmaputta; sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta: ‘Thưa hiền giả, có phải đến mức độ này mà Rāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này?’

‘Đến mức độ này, thưa hiền giả, Rāma tuyên bố rằng ông ấy tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này.’

‘Thưa hiền giả, tôi cũng tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú trong Quy luật này đến mức độ đó.’

‘Thật là một lợi ích cho chúng tôi, thưa hiền giả, thật là một điều may mắn cho chúng tôi, thưa hiền giả, khi chúng tôi được thấy một người bạn đồng tu như tôn giả. Như vậy, Quy luật nào Rāma tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố, thì Quy luật đó hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú. Quy luật nào hiền giả tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú, thì Quy luật đó Rāma tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố. Như vậy, Quy luật nào Rāma biết, Quy luật đó hiền giả biết; Quy luật nào hiền giả biết, Quy luật đó Rāma biết. Như vậy, Rāma như thế nào, hiền giả như thế ấy; hiền giả như thế nào, Rāma như thế ấy. Bây giờ, thưa hiền giả, hãy đến đây, hiền giả hãy dẫn dắt hội chúng này.’

Như vậy, này các tỳ kheo, Udaka Rāmaputta, người bạn đồng tu của Ta, đã đặt Ta vào vị trí của một người thầy, và tôn vinh Ta bằng một sự tôn vinh cao cả.

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Quy luật này không dẫn đến sự chán ghét, không dẫn đến cạn hết đắm nhiễm, không dẫn đến bị chặn đứng hoàn toàn, không dẫn đến sự bình an, không dẫn đến hiểu toàn bộ, không dẫn đến giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn, mà chỉ dẫn đến việc tái sinh vào xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”.’ Này các tỳ kheo, không thỏa mãn với Quy luật ấy, Ta đã chán ghét Quy luật ấy và bỏ đi.

17. Này các tỳ kheo, tìm kiếm những điều thiện, tìm kiếm trạng thái bình an tối thượng, Ta đi du hành qua xứ Magadha và cuối cùng đến thị trấn Senānigama ở Uruvelā. Tại đó, Ta thấy một vùng đất đáng yêu, một khu rừng tĩnh lặng, một dòng sông trong trẻo chảy qua với những bến nước đẹp đẽ và dễ chịu, và xung quanh là những ngôi làng có thể đi khất thực.

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Vùng đất này thật đáng yêu, khu rừng thật tĩnh lặng, dòng sông trong trẻo chảy qua với những bến nước đẹp đẽ và dễ chịu, và xung quanh là những ngôi làng có thể đi khất thực. Nơi này thật thích hợp cho một thiện nam tử đang mong muốn nỗ lực tu tập.’ Này các tỳ kheo, Ta đã ngồi xuống ngay tại đó, nghĩ rằng: ‘Nơi này thật thích hợp để nỗ lực tu tập.’

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ. Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta, khi đến xong Ta nói với Uddaka Ramaputta: "Hiền giả, tôi muốn sống phạm hạnh trong pháp luật này. Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, Uddaka Ramaputta nói với Ta: “Này Tôn giả, hãy sống (và an trú), pháp này là như vậy, khiến người có trí không bao lâu như vị Bổn sư của mình (chỉ dạy) tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú”. Này các Tỷ-kheo, Ta đã thông suốt pháp ấy một cách mau chóng. Và này các Tỷ-kheo, cho đến vấn đề khua môi và vấn đề phát ngôn mà nói, thời Ta nói giáo lý của kẻ trí, và giáo lý của bậc Trưởng lão (Thượng Tọa), và Ta tự cho rằng Ta như người khác cũng vậy, Ta biết và Ta thấy.

Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Rama tuyên bố pháp này không phải vì lòng tin: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, ta mới an trú”. Chắc chắn Rama thấy pháp này, biết pháp này, rồi mới an trú”. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Hiền giả Rama, cho đến mức độ nào, Ngài tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?” Này các Tỷ-kheo được nghe nói vậy, Uddaka Ramaputta tuyên bố về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ có Rama mới có lòng tin. Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ có Rama mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ có Rama mới có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ có Rama mới có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ có Rama mới có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Rama tuyên bố: “Sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, tự an trú”.

Rồi này các Tỷ-kheo, không bao lâu sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta đi đến chỗ Uddaka Ramaputta ở, sau khi đến, Ta nói với Uddaka Ramaputta: “Này Hiền giả Rama, có phải Hiền giả đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy?” --“Vâng Hiền giả, tôi đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy”. --“Này Hiền giả, tôi cũng đã tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này đến mức độ như vậy.” Thật lợi ích thay cho chúng tôi! Thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một đồng phạm hạnh như Tôn giả! Pháp mà tôi, tự tri tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú; pháp mà Hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố; pháp mà tôi biết, chính pháp ấy Hiền giả biết; pháp mà Hiền giả biết, chính pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, Tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!"

Như vậy, này các Tỷ-kheo, Uddaka Ramaputta-là Ðạo Sư của Ta, lại đặt Ta, đệ tử của vị ấy ngang hàng với mình, và tôn sùng Ta với sự tôn sùng tối thượng. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: “Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp ấy và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.

Này các Tỷ-kheo, Ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ, tuần tự du hành tại nước Magadha (Ma kiệt đà) và đến tại tụ lạc Uruvela (Ưu lâu tần loa). Tại đây, Ta thấy một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: “Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và xung quanh có làng mạc bao bọc dễ dàng đi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tấn”. Và này các Tỷ-kheo, Ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: “Thật là vừa đủ để tinh tấn”.

18. Này các tỳ kheo, tự mình chịu sự sinh ra, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sinh ra, tìm kiếm cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự già yếu, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự già yếu, tìm kiếm cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự ốm đau, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự ốm đau, tìm kiếm cái không ốm đau, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không ốm đau, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự chết chóc, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự chết chóc, tìm kiếm cái không chết chóc, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không chết chóc, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự sầu muộn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sầu muộn, tìm kiếm cái không sầu muộn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không sầu muộn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự vấy bẩn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự vấy bẩn, tìm kiếm cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn.

Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là không thể lay chuyển, đây là lần sinh ra cuối cùng, nay không còn sự tái sinh nào nữa.’

19. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Chân lý (pháp) mà Ta đã đạt được này thật sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, bình an, vi diệu, vượt ngoài phạm vi của lý luận, tinh tế, chỉ những người trí mới có thể trải nghiệm. Nhưng nhân loại này lại thích thú trong sự bám víu, vui vẻ trong sự bám víu, hân hoan trong sự bám víu. Đối với một nhân loại thích thú trong sự bám víu, vui vẻ trong sự bám víu, hân hoan trong sự bám víu, thì điều này thật khó thấy, đó là: tính Phụ thuộc cùng sinh này (y tánh duyên khởi / idappaccayatā) và sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc (duyên khởi / paṭiccasamuppādo). Điều này cũng thật khó thấy, đó là: sự lắng dịu (tịch chỉ / samatho) của mọi hoạt động (hành / saṅkhāra), sự buông bỏ (từ bỏ / paṭinissaggo) mọi nền tảng bám víu, sự cạn kiệt mong muốn (ái tận / taṇhākkhayo), cạn hết đắm nhiễm, bị chặn đứng hoàn toàn, Niết-bàn. Nếu Ta giảng dạy Chân lý này, và những người khác không hiểu Ta, thì đó sẽ là sự mệt mỏi cho Ta, đó sẽ là sự phiền toái cho Ta.’

Và này các tỳ kheo, những vần kệ kỳ diệu này, trước đây chưa từng được nghe, đã hiện lên trong Ta:

Khó khăn Ta đạt được,
Có cần nên nói ra;
Kẻ tham sân chi phối,
Pháp khó để nhận ra.

Ngược dòng và mong manh,
Sâu thẩm và tinh tê;
Đắm nhiễm không thể thấy,
Che khuất bởi vô minh.

Này các tỳ kheo, khi Ta suy xét như vậy, tâm Ta hướng về sự tĩnh lặng, không hướng về việc giảng dạy Chân lý.

20. Khi ấy, này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati, sau khi biết được suy nghĩ trong tâm Ta bằng tâm của mình, đã nghĩ như sau: ‘Thế giới này sẽ tiêu vong, thế giới này sẽ bị hủy diệt, vì tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đang hướng về sự tĩnh lặng, không hướng về việc giảng dạy Chân lý.’

Rồi này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati—nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập lại, hay gập lại cánh tay đang duỗi ra—đã biến mất khỏi cõi Phạm thiên và xuất hiện trước mặt Ta. Khi ấy, này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati đắp y vắt qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Ta và nói điều này: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy giảng dạy Chân lý, xin Thiện Thệ hãy giảng dạy Chân lý. Có những chúng sinh sinh ra với ít bụi trong mắt, họ đang suy tàn vì không được nghe Chân lý. Sẽ có những người hiểu được Chân lý.’

Phạm thiên Sahampati đã nói điều này, này các tỳ kheo. Sau khi nói điều này, vị ấy lại nói thêm:

Xưa kia tại Ma-kiệt,
Pháp bất tịnh khởi lên;
Do kẻ mang cấu uế,
Suy nghĩ và tạo ra.

Hãy mở cửa Bất tử,
Lắng nghe Pháp thanh tịnh;
Bậc Vô cấu ngộ ra.

Như đứng trên đỉnh núi,
Nhìn quần chúng xung quanh;
Bậc Vô ưu sáng suốt,
Lên lầu gác Chánh pháp.

Nhìn chúng sinh sầu muộn,
Bị sinh già áp bức;
Đứng lên bậc Anh hùng,
Bậc Chiến thắng vinh quang.

Bậc Trưởng toán lữ hành,
Bậc Không mang nợ nần;
Hãy đi khắp thế gian,
Xin Thế Tôn thuyết Pháp;
Sẽ có người hiểu ra.

21. Khi ấy, này các tỳ kheo, sau khi hiểu được lời thỉnh cầu của Phạm thiên và vì lòng thương xót đối với chúng sinh, Ta đã quan sát thế giới bằng Phật nhãn. Này các tỳ kheo, khi quan sát thế giới bằng Phật nhãn, Ta thấy những có chúng sinh ít bụi trong mắt, có chúng sinh nhiều bụi trong mắt, có năng lực tinh thần (căn / indriya) nhạy bén, có năng lực tinh thần yếu kém, có tư chất tốt, có tư chất kém, dễ dạy, khó dạy, và một số sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia, một số không sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia. Giống như trong một hồ hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng, một số hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng chìm dưới nước; một số hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên ngang bằng mặt nước; một số hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên cao khỏi mặt nước và không bị nước làm ướt; cũng vậy, này các tỳ kheo, khi quan sát thế giới bằng Phật nhãn, Ta thấy những chúng sinh có ít bụi trong mắt, có nhiều bụi trong mắt, có năng lực tinh thần nhạy bén, có năng lực tinh thần yếu kém, có tư chất tốt, có tư chất kém, dễ dạy, khó dạy, và một số sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia, một số không sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia.

Rồi này các tỳ kheo, Ta đã đáp lại Phạm thiên Sahampati bằng vần kệ:

Cửa Bất tử đã mở,
Ai có tai hãy nghe;
Hãy giải phóng niềm tin, Theo những điều sai lạc note Nghĩ rằng đầy phiền toái,
Không muốn giản là ta;
Pháp thù thắng tinh tế,
Giữa nhân gian, Phạm thiên.

Khi ấy, này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati nghĩ rằng: ‘Thế Tôn đã cho phép ta thỉnh cầu việc giảng dạy Chân lý,’ vị ấy đảnh lễ Ta, đi nhiễu quanh Ta về phía bên phải, rồi biến mất ngay tại đó.

22. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Ta nên giảng dạy Chân lý cho ai đầu tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này?’

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Āḷāra Kālāma là người thông thái, sáng suốt, có trí tuệ, từ lâu đã có ít bụi trong mắt. Hay là Ta hãy giảng dạy Chân lý cho Āḷāra Kālāma đầu tiên. Ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này.’

Khi ấy, này các tỳ kheo, một vị chư thiên đến gần Ta và nói: ‘Bạch Thế Tôn, Āḷāra Kālāma đã qua đời cách đây bảy ngày.’

Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong Ta: ‘Āḷāra Kālāma đã qua đời cách đây bảy ngày.’

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Āḷāra Kālāma đã chịu một mất mát lớn. Nếu ông ấy được nghe Chân lý này, ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được.’

23. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Ta nên giảng dạy Chân lý cho ai đầu tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này?’

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Udaka Rāmaputta là người thông thái, sáng suốt, có trí tuệ, từ lâu đã có ít bụi trong mắt. Hay là Ta hãy giảng dạy Chân lý cho Udaka Rāmaputta đầu tiên. Ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này.’

Khi ấy, này các tỳ kheo, một vị chư thiên đến gần Ta và nói: ‘Bạch Thế Tôn, Udaka Rāmaputta đã qua đời vào tối hôm qua.’

Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong Ta: ‘Udaka Rāmaputta đã qua đời vào tối hôm qua.’

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Udaka Rāmaputta đã chịu một mất mát lớn. Nếu ông ấy được nghe Chân lý này, ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được.’

24. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Ta nên giảng dạy Chân lý cho ai đầu tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này?’

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Nhóm năm tỳ kheo đã mang lại nhiều lợi ích (đa hữu ích / bahukārā) cho Ta, họ đã phục vụ Ta khi Ta đang nỗ lực tu tập. Hay là Ta hãy giảng dạy Chân lý cho nhóm năm tỳ kheo đầu tiên.’

Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Hiện nay nhóm năm tỳ kheo đang sống ở đâu?’ Bằng mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt quá khả năng của con người, Ta thấy nhóm năm tỳ kheo đang sống ở Vārāṇasī, tại Vườn Nai ở Isipatana. Rồi này các tỳ kheo, sau khi ở lại Uruvelā bao lâu tùy thích, Ta bắt đầu chuyến du hành hướng về Vārāṇasī.

(Giác Ngộ)

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa.

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!” Này các Tỷ-kheo, rồi những kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta:

Sao Ta nói Chánh pháp,
Ðược chứng ngộ khó khăn?
Những ai còn tham sân,
Khó chứng ngộ pháp này.

Ði ngược dòng, thâm diệu,
Khó thấy, thật tế nhị,
Kẻ ái nhiễm vô minh,
Không thấy được pháp này.

Rồi này các Tỷ-kheo, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.

Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: “Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-la- hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp”. Rồi này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này các Tỷ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bi nguy hại nếu không được nghe

Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp". Này các Tỷ-kheo, Phạm thiện Sahampati nói như vậy. Sau khi nói vậy, lại nói thêm như sau:

Xưa tại Magadha,
Hiện ra pháp bất tịnh,
Pháp do tâm cấu uế,
Do suy tư tác thành.
Hãy mỡ tung mở rộng,
Cánh cửa bất tử này.
Hãy để họ nghe Pháp,
Bậc Thanh tịnh Chứng Ngộ.

Như đứng trên tảng đá,
Trên đỉnh núi (tột cao)
Có người đứng nhìn xuống,
Ðám chúng sanh quây quần.
Cũng vậy, ôi Thiện Tuệ,
Bậc Biến Nhãn cùng khắp,
Leo lên ngôi lâu đài,
Xây dựng bằng Chánh pháp
Bậc Thoát Ly sầu muộn,
Nhìn xuống đám quần sanh,
Bị sầu khổ áp bức,
Bị sanh già chi phối,

Ðứng lên vị Anh Hùng,
Bậc Chiến Thắng chiến trường.
Vị trưởng đoàn lữ khách,
Bậc Thoát Ly nợ nần.
Hãy đi khắp thế giới,
Bậc Thế Tôn Chánh Giác!
Hãy thuyết vi diệu pháp,
Người nghe sẽ thâm hiểu!

Này các Tỷ-kheo, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sahampati:

Cửa bất tử rộng mở,
Cho những ai chịu nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của mình.

Tự nghĩ đến phiền toái,
Ta đã không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp,
Giữa chúng sanh loài Người.
(Ôi Phạm thiên)

Này các Tỷ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati tự nghĩ: “Ta đã tạo cơ hội cho Thế Tôn thuyết pháp”, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng (về Ta) rồi biến mất tại chỗ.

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên, ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự nghĩ: “Nay có Alara Kalama là bậc trí thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Alara Kalama, vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này”. Này các Tỷ-kheo, rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Bạch Thế Tôn, Alara Kalama đã mệnh chung bảy ngày rồi”. Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: “Alara Kalama đã mệnh chung bảy ngày rồi”. Này các Tỷ-kheo, Ta nghĩ: “Thật là một thiệt hại lớn cho Alara Kalama: Nếu nghe pháp này, Alara Kalama sẽ mau thâm hiểu”.

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: “Nay có Uddaka Ramaputta-là bậc tri thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi đời. Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Uddaka Ramaputta. Vị này sẽ mau hiểu Chánh pháp này.” Rồi chư Thiên đến Ta và nói như sau: “Bạch Thế Tôn Uddaka Ramaputta đã mệnh chung ngày hôm qua”. Rồi tri kiến khởi lên nơi Ta: “Uddaka Ramaputta đã mệnh chung hôm qua”. Này các Tỷ-kheo, Ta nghĩ: “Thật là một thiệt hại lớn cho Uddaka Ramaputta. Nếu nghe pháp này, Uddaka Ramaputta sẽ mau thâm hiểu”.

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chánh pháp này?” Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại nghĩ: “Nhóm năm Tỷ-kheo này đã hầu hạ Ta khi Ta còn nỗ lực tinh cần, nhóm ấy thật giúp ích nhiều. Vậy ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho nhóm năm Tỷ-kheo!” Rồi này các Tỷ- kheo, Ta lại nghĩ: “Nay nhóm năm Tỷ-kheo ở tại đâu?” Này các Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ta thấy nhóm năm Tỷ-kheo hiện ở Baranasi (Ba la nại), tại Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi ở tại Uruvela lâu cho đến khi mãn ý, Ta lên đường đi đến Baranasi.

25. Này các tỳ kheo, du sĩ Upaka thấy Ta đang đi trên đường cái giữa Gayā và cội Bồ-đề. Thấy Ta, ông ấy nói điều này: ‘Thưa hiền giả, các giác quan của ngài thật trong sáng, màu da của ngài thật thanh tịnh và rạng rỡ. Thưa hiền giả, ngài đã xuất gia nhân danh ai, ai là thầy của ngài, hoặc ngài thích Chân lý của ai?’

Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, Ta đã đáp lại du sĩ Upaka bằng những vần kệ:

Ta vượt qua tất cả,
Ta hiểu biết tất cả;
Không dính mắc pháp nào,
Từ bỏ mọi tất cả.

Ái diệt được giải thoát,
Tự mình chứng ngộ lấy;
Còn gọi ai đạo sư?

Ta không có đạo sư,
Người như Ta không có;
Giữa thế giới chư thiên,
Không ai sánh bằng Ta.

Ta A-la-hán đời,
Đạo sư bậc Vô thượng;
Chánh Đẳng Giác một mình,
Tịch tịnh và mát mẻ.

Chuyển bánh xe Chánh pháp,
Ta đi đến Kasi;
Giữa thế giới mù lòa,
Gióng lên trống Bất tử.

‘Theo như ngài tự nhận, thưa hiền giả, ngài xứng đáng là bậc chiến thắng vô tận.’

Những ai diệt lậu hoặc,
Là Chiến thắng như Ta;
Ta thắng mọi ác pháp,
Nên Upaka, Ta thắng.

Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, du sĩ Upaka nói: ‘Có thể là như vậy, thưa hiền giả,’ rồi lắc đầu, rẽ sang một con đường khác và bỏ đi.

26. Rồi này các tỳ kheo, du hành dần dần, Ta đi đến Vārāṇasī, tại Vườn Nai ở Isipatana, nơi nhóm năm tỳ kheo đang ở. Này các tỳ kheo, nhóm năm tỳ kheo thấy Ta đang đi đến từ đằng xa. Thấy vậy, họ thỏa thuận với nhau: ‘Thưa các hiền giả, sa-môn Gotama này đang đi đến, ông ta sống sung túc, đã từ bỏ sự nỗ lực, và quay trở lại đời sống sung túc. Chúng ta không nên chào hỏi ông ta, không nên đứng dậy đón tiếp, không nên nhận bát và y của ông ta. Nhưng chúng ta có thể dọn sẵn một chỗ ngồi, nếu ông ta muốn, ông ta sẽ ngồi.’ Nhưng này các tỳ kheo, khi Ta càng đến gần, nhóm năm tỳ kheo càng không thể giữ được thỏa thuận của họ. Một số người tiến ra đón Ta và nhận bát y, một số dọn chỗ ngồi, một số chuẩn bị nước rửa chân. Tuy nhiên, họ vẫn gọi Ta bằng tên và bằng từ ‘hiền giả’ (āvuso).

27. Khi được gọi như vậy, này các tỳ kheo, Ta nói với nhóm năm tỳ kheo: ‘Này các tỳ kheo, đừng gọi Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgata) bằng tên và bằng từ “hiền giả”. Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng tai nghe, này các tỳ kheo, sự bất tử đã đạt được, Ta sẽ chỉ dạy, Ta sẽ giảng dạy Chân lý. Nếu các vị thực hành đúng như những gì được chỉ dạy, không bao lâu nữa—mục đích mà vì đó các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là sự hoàn thiện vô thượng của đời sống thánh thiện—các vị sẽ tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú ngay trong hiện tại.’

Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, nhóm năm tỳ kheo nói với Ta: ‘Thưa hiền giả Gotama, với tư thế đó, với lối sống đó, với sự thực hành khổ hạnh đó, ngài đã không đạt được bất kỳ trạng thái siêu nhân nào, không đạt được tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh, thì làm sao bây giờ, khi sống sung túc, từ bỏ sự nỗ lực, quay trở lại đời sống sung túc, ngài lại có thể đạt được trạng thái siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh?’

Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, Ta nói với nhóm năm tỳ kheo: ‘Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy không sống sung túc, không từ bỏ sự nỗ lực, không quay trở lại đời sống sung túc. Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng tai nghe, này các tỳ kheo, sự bất tử đã đạt được, Ta sẽ chỉ dạy, Ta sẽ giảng dạy Chân lý. Nếu các vị thực hành đúng như những gì được chỉ dạy, không bao lâu nữa—mục đích mà vì đó các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là sự hoàn thiện vô thượng của đời sống thánh thiện—các vị sẽ tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú ngay trong hiện tại.’

Lần thứ hai, này các tỳ kheo, nhóm năm tỳ kheo nói với Ta: ‘Thưa hiền giả Gotama, với tư thế đó, với lối sống đó, với sự thực hành khổ hạnh đó, ngài đã không đạt được bất kỳ trạng thái siêu nhân nào, không đạt được tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh, thì làm sao bây giờ, khi sống sung túc, từ bỏ sự nỗ lực, quay trở lại đời sống sung túc, ngài lại có thể đạt được trạng thái siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh?’

Lần thứ hai, này các tỳ kheo, Ta nói với nhóm năm tỳ kheo: ‘Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy không sống sung túc […lặp lại…] và an trú ngay trong hiện tại.’

Lần thứ ba, này các tỳ kheo, nhóm năm tỳ kheo nói với Ta: ‘Thưa hiền giả Gotama, với tư thế đó, với lối sống đó, với sự thực hành khổ hạnh đó, ngài đã không đạt được bất kỳ trạng thái siêu nhân nào, không đạt được tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh, thì làm sao bây giờ, khi sống sung túc, từ bỏ sự nỗ lực, quay trở lại đời sống sung túc, ngài lại có thể đạt được trạng thái siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng với bậc thánh?’

28. Khi được nói vậy, này các tỳ kheo, Ta nói với nhóm năm tỳ kheo: ‘Này các tỳ kheo, các vị có nhớ trước đây Ta đã từng nói những lời như thế này chưa?’

‘Bạch Thế Tôn, chưa từng.’

‘Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Hãy lắng tai nghe, này các tỳ kheo, sự bất tử đã đạt được, Ta sẽ chỉ dạy, Ta sẽ giảng dạy Chân lý. Nếu các vị thực hành đúng như những gì được chỉ dạy, không bao lâu nữa—mục đích mà vì đó các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, đó là sự hoàn thiện vô thượng của đời sống thánh thiện—các vị sẽ tự mình hiểu toàn bộ, trực tiếp chứng nghiệm và an trú ngay trong hiện tại.’

29. Này các tỳ kheo, Ta đã có thể thuyết phục được nhóm năm tỳ kheo. Này các tỳ kheo, Ta chỉ dạy cho hai tỳ kheo, trong khi ba tỳ kheo đi khất thực. Những gì ba tỳ kheo mang về sau khi đi khất thực, cả sáu chúng ta cùng ăn để duy trì mạng sống. Này các tỳ kheo, Ta chỉ dạy cho ba tỳ kheo, trong khi hai tỳ kheo đi khất thực. Những gì hai tỳ kheo mang về sau khi đi khất thực, cả sáu chúng ta cùng ăn để duy trì mạng sống.

30. Rồi này các tỳ kheo, nhóm năm tỳ kheo, được Ta khuyên bảo như vậy, được Ta chỉ dạy như vậy, tự mình chịu sự sinh ra, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sinh ra, tìm kiếm cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, họ đã đạt được cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự già yếu, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự già yếu, tìm kiếm cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, họ đã đạt được cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự ốm đau […lặp lại…] tự mình chịu sự chết chóc […lặp lại…] tự mình chịu sự sầu muộn […lặp lại…] tự mình chịu sự vấy bẩn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự vấy bẩn, tìm kiếm cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, họ đã đạt được cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn. Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong họ: ‘Sự giải thoát của chúng tôi là không thể lay chuyển, đây là lần sinh ra cuối cùng, nay không còn sự tái sinh nào nữa.’

(Khai giảng Chánh Pháp)

Này các Tỷ-kheo, một tà mạng ngoại đạo tên là Upaka, đã thấy Ta khi Ta còn đi trên con đường giữa Gaya và cây Bồ-đề. Sau khi thấy, vị ấy nói với Ta:

“-- Các căn của Hiền giả thật sáng suốt. Da sắc của Hiền giả thật thanh tịnh, thật thanh khiết. Này Hiền giả, vì mục đích gì, Hiền giả xuất gia? Ai là bậc Ðạo Sư của Hiền giả? Hiền giả hoan hỷ thọ trì pháp của ai?”

Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với tà mạng đạo Upaka bài kệ như sau:

"-- Ta, bậc Thắng tất cả,
Ta, bậc Nhất thiết Trí.
Hết thảy pháp, không nhiễm,
Hết thảy pháp, xả ly.
Ta sống chân giải thoát,
Ðoạn tận mọi khát ái.
Như vậy Ta tự giác,

Còn phải y chỉ ai?

Ta không có Ðạo Sư,
Bậc như Ta không có.
Giữa thế giới Nhơn, Thiên,
Không có ai bằng Ta.
Bậc Ứng Cúng trên đời,
Bậc Ðạo Sư vô thượng.
Tự mình Chánh Ðẳng Giác,
Ta an tịnh, thanh thoát.

Ðể chuyển bánh xe Pháp.
Ta đến thành Kàsi.
Gióng lên trống bất tử,
Trong thế giới mù lòa."

"-- Như Hiền giả đã tự xưng, Hiền giả xứng đáng là bậc Chiến thắng Vô tận. "

"-- Như Ta, bậc Thắng giả,
Những ai chứng lậu tận,
Ác pháp, Ta nhiếp phục,
Do vậy, Ta vô địch".
(Này Upaka)

Này các Tỷ-kheo, sau khi được nói vậy, tà mạng ngoại đạo Upaka nói với Ta:

“-- Này Hiền giả, mong rằng sự việc là vậy”.

Nói xong, Upaka lắc đầu rồi đi theo một ngã khác.

Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tuần tự đi đến Baranasi, Isipatana, vườn Lộc Uyển, đi đến chỗ nhóm năm Tỷ- kheo ở. Này các Tỷ-kheo, nhóm năm Tỷ-kheo khi thấy Ta từ xa đi đến, đã cùng nhau thỏa thuận như sau: “Này các Hiền giả, nay Sa-môn Gotama đang đi đến; vị này sống trong sự sung túc, đã từ bỏ tinh cần, đã trở lui đời sống đầy đủ vật chất. Chúng ta chớ có đảnh lễ, chớ có đứng dậy, chớ có lấy y bát. Hãy đặt một chỗ ngồi, và nếu vị ấy muốn, vị ấy sẽ ngồi”. Này các Tỷ-kheo, nhưng khi Ta đi đến gần, năm Tỷ-kheo ấy không thể giữ đúng điều đã thỏa thuận với nhau. Có người đến đón Ta và cầm lấy y bát, có người sắp đặt chỗ ngồi, có người đem nước rửa chân đến. Nhưng các vị ấy gọi Ta bằng tên với danh từ Hiền giả (Avuso).

Này các Tỷ-kheo khi ta nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

"-- Này các Tỷ-kheo, chớ có gọi Ta bằng tên và dùng danh từ Hiền giả. Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú. "

Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, nhóm năm Tỷ-kheo nói Ta:

"-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này, với đạo tu này, với khổ hạnh này, Hiền giả đã không chứng

được Pháp siêu nhân, tri kiến, thù thắng xứng đáng bậc Thánh, thì này làm sao Hiền giả, với nếp sống sung túc, với sự từ bỏ tinh cần, với sự trở lui đời sống vật chất đầy đủ, lại có thể chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?"

Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

“-- Này các Tỷ-kheo, Như Lai không sống sung túc, không từ bỏ tinh cần, không trở lui đời sống vật chất đầy đủ. Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỷ-kheo, hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của Phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú.”

Này các Tỷ-kheo, lại lần thứ hai, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:

“-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này… (như trên)… tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”

Này các Tỷ-kheo, lại lần thứ hai Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

“-- Này các Tỷ-kheo, Như Lai không sống sung túc… (như trên)… các Ông sẽ an trú.”

Này các Tỷ-kheo, lại lần thứ ba, nhóm năm Tỷ-kheo nói với Ta:

“-- Hiền giả Gotama, với nếp sống này… (như trên)… tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh?”

Này các Tỷ-kheo, khi nghe nói vậy, Ta nói với nhóm năm Tỷ-kheo:

“-- Này các Tỷ-kheo, từ trước đến nay, các Ông có chấp nhận là Ta chưa bao giờ nói như vậy chăng?”

"-- Bạch Thế Tôn chưa bao giờ như vậy. "

“-- Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Hãy lóng tai, Pháp bất tử đã chứng được, Ta giảng dạy, Ta thuyết pháp. Sống đúng theo lời khuyến giáo, các Ông không bao lâu, sau khi tự tri, tư chứng, tự đạt được ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Ông sẽ an trú”.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã làm cho nhóm năm Tỷ-kheo chấp nhận. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết giảng cho hai Tỷ-kheo. Ba Tỷ-kheo kia đi khất thực. Ðồ ăn mà ba Tỷ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết giảng cho ba Tỷ-kheo. Hai Tỷ-kheo kia đi khất thực… Ðồ ăn mà hai Tỷ-kheo này khất thực mang về, đủ nuôi sống cho nhóm sáu người. Này các Tỷ-kheo, chúng năm Tỷ-kheo, sau khi được Ta thuyết giảng, sau khi được Ta khuyến giáo, tự mình bị sanh, sau khi biết được sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát khỏi các (khổ) ách, chứng Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn, thoát khỏi các (khổ) ách, chứng Niết-bàn, tự mình bị già… cái không già… tự mình bị bệnh… cái không bệnh… tự mình bị chết… cái không chết… tự mình bi sầu… cái không sầu… tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết được sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, thoát khỏi các (khổ) ách, chứng Niết-bàn, và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, thoát khỏi các (khổ) ách, chứng Niết-bàn. Tri và kiến khởi lên nơi họ: “Sự giải thoát của chúng ta không bị dao động, đây thức gì được hiện khởi như vậy đều quy là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa”.

31. Này các tỳ kheo, có năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇā). Năm sợi dây đó là gì? Những hình ảnh (sắc / rūpā) được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mắt (nhãn thức / cakkhuviññeyyā), đáng ao ước, hấp dẫn, dễ chịu, đáng yêu, kích thích bản năng (dục / kāma), đầy cám dỗ; những âm thanh được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở tai […lặp lại…] những mùi hương được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở mũi […lặp lại…] những vị được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở lưỡi […lặp lại…] những xúc chạm được nhận biết bởi ‘cái biết’ ở thân, đáng ao ước, hấp dẫn, dễ chịu, đáng yêu, kích thích bản năng, đầy cám dỗ. Này các tỳ kheo, đây là năm sợi dây trói buộc của bản năng.

32. Này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm vào năm sợi dây trói buộc của bản năng này, không thấy rõ sự nguy hiểm, không có trí tuệ để thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) mà vẫn thọ dụng chúng, thì họ phải được hiểu như sau: ‘Họ đã gặp tai họa, đã gặp sự hủy diệt, và Kẻ Ác (Ma vương) có thể làm gì họ tùy ý.’

Này các tỳ kheo, giống như một con nai rừng bị mắc vào bẫy. Con nai ấy phải được hiểu như sau: ‘Nó đã gặp tai họa, đã gặp sự hủy diệt, và người thợ săn có thể làm gì nó tùy ý. Khi người thợ săn đến, nó không thể chạy trốn theo ý muốn.’

Cũng vậy, này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào bị trói buộc, mê mẩn, hoàn toàn đắm chìm vào năm sợi dây trói buộc của bản năng này, không thấy rõ sự nguy hiểm, không có trí tuệ để thoát khỏi mà vẫn thọ dụng chúng, thì họ phải được hiểu như sau: ‘Họ đã gặp tai họa, đã gặp sự hủy diệt, và Kẻ Ác có thể làm gì họ tùy ý.’

33. Nhưng này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào không bị trói buộc, không mê mẩn, không đắm chìm vào năm sợi dây trói buộc của bản năng này, thấy rõ sự nguy hiểm, có trí tuệ để thoát khỏi và thọ dụng chúng, thì họ phải được hiểu như sau: ‘Họ không gặp tai họa, không gặp sự hủy diệt, và Kẻ Ác không thể làm gì họ tùy ý.’

Này các tỳ kheo, giống như một con nai rừng nằm nghỉ trên một cái bẫy nhưng không bị mắc bẫy. Con nai ấy phải được hiểu như sau: ‘Nó không gặp tai họa, không gặp sự hủy diệt, và người thợ săn không thể làm gì nó tùy ý. Khi người thợ săn đến, nó có thể chạy trốn theo ý muốn.’

Cũng vậy, này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào không bị trói buộc, không mê mẩn, không đắm chìm vào năm sợi dây trói buộc của bản năng này, thấy rõ sự nguy hiểm, có trí tuệ để thoát khỏi và thọ dụng chúng, thì họ phải được hiểu như sau: ‘Họ không gặp tai họa, không gặp sự hủy diệt, và Kẻ Ác không thể làm gì họ tùy ý.’

34. Này các tỳ kheo, giống như một con nai rừng đi lang thang trong rừng sâu, nó đi lại tự tin, đứng tự tin, ngồi tự tin, nằm nghỉ tự tin. Vì sao vậy? Vì nó nằm ngoài tầm nhìn của người thợ săn, này các tỳ kheo.

Cũng vậy, này các tỳ kheo, tỳ kheo rời bỏ khỏi (ly / vivicca) các bản năng, rời bỏ khỏi những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), đạt đến và an trú trong Thiền-na (thiền / jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / viveka). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là người đã làm mù mắt Ác ma, đã tiêu diệt tầm nhìn của Ác ma khiến Ác ma không thể nhìn thấy dấu vết, và đã vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

35. Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự lắng dịu (diệt / vūpasamā) của chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, tỳ kheo đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai, có hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định. Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là […lặp lại…] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

36. Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự cạn hết đắm nhiễm đối với hân hoan, tỳ kheo an trú trong Tâm quân bình (xả / upekkhā), tập trung chú ý (chánh niệm / sato) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), trải nghiệm hạnh phúc qua cơ thể, điều mà các bậc thánh gọi là ‘người có Tâm quân bình, tập trung chú ý, sống hạnh phúc’, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba. Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là […lặp lại…] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

37. Lại nữa, này các tỳ kheo, với sự hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúcđau khổ (khổ / dukkha), cùng với sự tan biến (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) từ trước, tỳ kheo đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, một trạng thái cảm giác không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukhaṁ), nơi tập trung chú ý được thanh lọc hoàn toàn bởi Tâm quân bình. Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là […lặp lại…] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

38. Lại nữa, này các tỳ kheo, vượt qua hoàn toàn các nhận thức (tưởng / saññā) về vật chất (sắc / rūpa), với sự tan biến của các nhận thức về va chạm, không suy nghĩ (tác ý / amanasikārā) đến các nhận thức về sự đa dạng, tỳ kheo nghĩ rằng ‘Không gian là vô tận’, đạt đến và an trú trong cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là […lặp lại…] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

39. Lại nữa, này các tỳ kheo, vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, tỳ kheo nghĩ rằng ‘‘Cái Biết’ là vô tận’, đạt đến và an trú trong cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là […lặp lại…] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

40. Lại nữa, này các tỳ kheo, vượt qua hoàn toàn cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, tỳ kheo nghĩ rằng ‘Không có vật gì cả’, đạt đến và an trú trong cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là […lặp lại…] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

41. Lại nữa, này các tỳ kheo, vượt qua hoàn toàn cõi Không Có Vật Gì, tỳ kheo đạt đến và an trú trong xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là […lặp lại…] vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác.

42. Lại nữa, này các tỳ kheo, vượt qua hoàn toàn xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, tỳ kheo đạt đến và an trú trong trạng thái làm ngưng cảm giác và nhận thức (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodha), và sau khi thấy rõ bằng trí tuệ, các nguồn ác (lậu hoặc / āsavā) của vị ấy bị cạn kiệt (đoạn tận / parikkhīṇā). Này các tỳ kheo, vị tỳ kheo này được gọi là người đã làm mù mắt Ác ma, đã tiêu diệt tầm nhìn của Ác ma khiến Ác ma không thể nhìn thấy dấu vết, và đã vượt ra khỏi tầm nhìn của Kẻ Ác. Vị ấy đã vượt qua sự bám víu ở đời, đi lại tự tin, đứng tự tin, ngồi tự tin, nằm nghỉ tự tin. Vì sao vậy? Vì vị ấy nằm ngoài tầm nhìn của Kẻ Ác, này các tỳ kheo."

Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các tỳ kheo ấy hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời dạy của Thế Tôn.

Kết thúc Kinh Thánh Cầu, bài kinh thứ sáu.

(Năm dục)

Này các Tỷ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… (như trên)… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân cảm xúc là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, như vậy, là năm dục trưởng dưỡng.

Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc, bị tham đắm, bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, không thấy sự nguy hại của chúng, không biết rõ sự xuất ly khỏi chúng, mà thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là: “Các Người đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn”. Này các Tỷ-kheo, như một con nai sống trong rừng bị sập bẫy nằm xuống, con nai ấy cần phải được hiểu là: "Nó đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị thợ săn sử dụng như ý muốn. Khi người thợ săn đến, con nai không thể bỏ đi như ý muốn. Này các Tỷ-kheo, cũng vậy, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị trói buộc… (như trên)… đã bị Ác ma sử dụng như ý muốn.

Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không bị trói buộc, không bị tham đắm, không bị mê say bởi năm dục trưởng dưỡng này, thấy sự nguy hại của chúng, biết rõ sự xuất ly khỏi chúng, và thọ dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là: “Các Người không rơi vào bất hạnh, không rơi vào tai họa, không bi Ác ma sử dụng như ý muốn”. Này các Tỷ-kheo, như một con nai sống trong rừng, không bị sập bẫy phải nằm xuống, con nai ấy cần phải được hiểu là: “Nó không rơi vào bất hạnh, nó không rơi vào tai họa, nó không bị người thợ săn sử dụng như ý muốn”. Khi người thợ săn đến, con nai có thể bỏ đi như ý muốn. Này các Tỷ-kheo, cũng vậy, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không bị trói buộc… không bị Ác ma sử dụng như ý muốn.

Chư Tỷ-kheo, ví như con nai sống trong rừng, đi qua đi lại trong rừng, an tâm nó đi, an tâm nó đứng, an tâm nó ngồi, an tâm nó nằm. Tại sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nó vượt khỏi tầm tay của người thợ săn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là: một vị đã làm Ác Ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là… đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các vị Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là… đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là… vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tướng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là… đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức Vô biên xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là… đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là… đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ- kheo ấy được gọi là…đã vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định). Sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã làm Ác ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma. Vị ấy đã vượt khỏi mọi triền phược ở đời. An tâm vị ấy đi, an tâm vị ấy đứng, an tâm vị ấy ngồi, an tâm vị ấy nằm. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì vị ấy vượt khỏi tầm tay của Ác ma.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-