18. Này các tỳ kheo, tự mình chịu sự sinh ra, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sinh ra, tìm kiếm cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không sinh ra, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự già yếu, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự già yếu, tìm kiếm cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không già yếu, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự ốm đau, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự ốm đau, tìm kiếm cái không ốm đau, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không ốm đau, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự chết chóc, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự chết chóc, tìm kiếm cái không chết chóc, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không chết chóc, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự sầu muộn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự sầu muộn, tìm kiếm cái không sầu muộn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không sầu muộn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn; tự mình chịu sự vấy bẩn, sau khi thấy rõ sự nguy hiểm trong những thứ chịu sự vấy bẩn, tìm kiếm cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn, Ta đã đạt được cái không vấy bẩn, sự an toàn tuyệt đối khỏi ách trói buộc, Niết-bàn.
Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong Ta: ‘Sự giải thoát của Ta là không thể lay chuyển, đây là lần sinh ra cuối cùng, nay không còn sự tái sinh nào nữa.’
19. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Chân lý (pháp) mà Ta đã đạt được này thật sâu sắc, khó thấy, khó hiểu, bình an, vi diệu, vượt ngoài phạm vi của lý luận, tinh tế, chỉ những người trí mới có thể trải nghiệm. Nhưng nhân loại này lại thích thú trong sự bám víu, vui vẻ trong sự bám víu, hân hoan trong sự bám víu. Đối với một nhân loại thích thú trong sự bám víu, vui vẻ trong sự bám víu, hân hoan trong sự bám víu, thì điều này thật khó thấy, đó là: tính Phụ thuộc cùng sinh này (y tánh duyên khởi / idappaccayatā) và sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc (duyên khởi / paṭiccasamuppādo). Điều này cũng thật khó thấy, đó là: sự lắng dịu (tịch chỉ / samatho) của mọi hoạt động (hành / saṅkhāra), sự buông bỏ (từ bỏ / paṭinissaggo) mọi nền tảng bám víu, sự cạn kiệt mong muốn (ái tận / taṇhākkhayo), cạn hết đắm nhiễm, bị chặn đứng hoàn toàn, Niết-bàn. Nếu Ta giảng dạy Chân lý này, và những người khác không hiểu Ta, thì đó sẽ là sự mệt mỏi cho Ta, đó sẽ là sự phiền toái cho Ta.’
Và này các tỳ kheo, những vần kệ kỳ diệu này, trước đây chưa từng được nghe, đã hiện lên trong Ta:
Khó khăn Ta đạt được,
Có cần nên nói ra;
Kẻ tham sân chi phối,
Pháp khó để nhận ra.
Ngược dòng và mong manh,
Sâu thẩm và tinh tê;
Đắm nhiễm không thể thấy,
Che khuất bởi vô minh.
Này các tỳ kheo, khi Ta suy xét như vậy, tâm Ta hướng về sự tĩnh lặng, không hướng về việc giảng dạy Chân lý.
20. Khi ấy, này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati, sau khi biết được suy nghĩ trong tâm Ta bằng tâm của mình, đã nghĩ như sau: ‘Thế giới này sẽ tiêu vong, thế giới này sẽ bị hủy diệt, vì tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đang hướng về sự tĩnh lặng, không hướng về việc giảng dạy Chân lý.’
Rồi này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati—nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang gập lại, hay gập lại cánh tay đang duỗi ra—đã biến mất khỏi cõi Phạm thiên và xuất hiện trước mặt Ta. Khi ấy, này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati đắp y vắt qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Ta và nói điều này: ‘Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy giảng dạy Chân lý, xin Thiện Thệ hãy giảng dạy Chân lý. Có những chúng sinh sinh ra với ít bụi trong mắt, họ đang suy tàn vì không được nghe Chân lý. Sẽ có những người hiểu được Chân lý.’
Phạm thiên Sahampati đã nói điều này, này các tỳ kheo. Sau khi nói điều này, vị ấy lại nói thêm:
Xưa kia tại Ma-kiệt,
Pháp bất tịnh khởi lên;
Do kẻ mang cấu uế,
Suy nghĩ và tạo ra.
Hãy mở cửa Bất tử,
Lắng nghe Pháp thanh tịnh;
Bậc Vô cấu ngộ ra.
Như đứng trên đỉnh núi,
Nhìn quần chúng xung quanh;
Bậc Vô ưu sáng suốt,
Lên lầu gác Chánh pháp.
Nhìn chúng sinh sầu muộn,
Bị sinh già áp bức;
Đứng lên bậc Anh hùng,
Bậc Chiến thắng vinh quang.
Bậc Trưởng toán lữ hành,
Bậc Không mang nợ nần;
Hãy đi khắp thế gian,
Xin Thế Tôn thuyết Pháp;
Sẽ có người hiểu ra.
21. Khi ấy, này các tỳ kheo, sau khi hiểu được lời thỉnh cầu của Phạm thiên và vì lòng thương xót đối với chúng sinh, Ta đã quan sát thế giới bằng Phật nhãn. Này các tỳ kheo, khi quan sát thế giới bằng Phật nhãn, Ta thấy những có chúng sinh ít bụi trong mắt, có chúng sinh nhiều bụi trong mắt, có năng lực tinh thần (căn / indriya) nhạy bén, có năng lực tinh thần yếu kém, có tư chất tốt, có tư chất kém, dễ dạy, khó dạy, và một số sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia, một số không sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia. Giống như trong một hồ hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng, một số hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng chìm dưới nước; một số hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên ngang bằng mặt nước; một số hoa sen xanh, hoa sen đỏ, hay hoa sen trắng sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên cao khỏi mặt nước và không bị nước làm ướt; cũng vậy, này các tỳ kheo, khi quan sát thế giới bằng Phật nhãn, Ta thấy những chúng sinh có ít bụi trong mắt, có nhiều bụi trong mắt, có năng lực tinh thần nhạy bén, có năng lực tinh thần yếu kém, có tư chất tốt, có tư chất kém, dễ dạy, khó dạy, và một số sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia, một số không sống thấy rõ sự nguy hiểm và lỗi lầm ở thế giới bên kia.
Rồi này các tỳ kheo, Ta đã đáp lại Phạm thiên Sahampati bằng vần kệ:
Cửa Bất tử đã mở,
Ai có tai hãy nghe;
Hãy giải phóng niềm tin,
Theo những điều sai lạc
note
Nghĩ rằng đầy phiền toái,
Không muốn giản là ta;
Pháp thù thắng tinh tế,
Giữa nhân gian, Phạm thiên.
Khi ấy, này các tỳ kheo, Phạm thiên Sahampati nghĩ rằng: ‘Thế Tôn đã cho phép ta thỉnh cầu việc giảng dạy Chân lý,’ vị ấy đảnh lễ Ta, đi nhiễu quanh Ta về phía bên phải, rồi biến mất ngay tại đó.
22. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Ta nên giảng dạy Chân lý cho ai đầu tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này?’
Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Āḷāra Kālāma là người thông thái, sáng suốt, có trí tuệ, từ lâu đã có ít bụi trong mắt. Hay là Ta hãy giảng dạy Chân lý cho Āḷāra Kālāma đầu tiên. Ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này.’
Khi ấy, này các tỳ kheo, một vị chư thiên đến gần Ta và nói: ‘Bạch Thế Tôn, Āḷāra Kālāma đã qua đời cách đây bảy ngày.’
Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong Ta: ‘Āḷāra Kālāma đã qua đời cách đây bảy ngày.’
Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Āḷāra Kālāma đã chịu một mất mát lớn. Nếu ông ấy được nghe Chân lý này, ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được.’
23. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Ta nên giảng dạy Chân lý cho ai đầu tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này?’
Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Udaka Rāmaputta là người thông thái, sáng suốt, có trí tuệ, từ lâu đã có ít bụi trong mắt. Hay là Ta hãy giảng dạy Chân lý cho Udaka Rāmaputta đầu tiên. Ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này.’
Khi ấy, này các tỳ kheo, một vị chư thiên đến gần Ta và nói: ‘Bạch Thế Tôn, Udaka Rāmaputta đã qua đời vào tối hôm qua.’
Và tri thức cùng tầm nhìn đã sinh khởi trong Ta: ‘Udaka Rāmaputta đã qua đời vào tối hôm qua.’
Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Udaka Rāmaputta đã chịu một mất mát lớn. Nếu ông ấy được nghe Chân lý này, ông ấy sẽ nhanh chóng hiểu được.’
24. Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Ta nên giảng dạy Chân lý cho ai đầu tiên? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Chân lý này?’
Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Nhóm năm tỳ kheo đã mang lại nhiều lợi ích (đa hữu ích / bahukārā) cho Ta, họ đã phục vụ Ta khi Ta đang nỗ lực tu tập. Hay là Ta hãy giảng dạy Chân lý cho nhóm năm tỳ kheo đầu tiên.’
Này các tỳ kheo, Ta đã suy nghĩ như sau: ‘Hiện nay nhóm năm tỳ kheo đang sống ở đâu?’ Bằng mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt quá khả năng của con người, Ta thấy nhóm năm tỳ kheo đang sống ở Vārāṇasī, tại Vườn Nai ở Isipatana. Rồi này các tỳ kheo, sau khi ở lại Uruvelā bao lâu tùy thích, Ta bắt đầu chuyến du hành hướng về Vārāṇasī.