Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 27. KINH NGẮN VÍ DỤ DẤU CHÂN VOI

(Cūḷahatthipadopamasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy—một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại rừng Jeta, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika.

2. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Jāṇussoṇi đang rời khỏi Sāvatthi vào giữa ban ngày trên một cỗ xe ngựa toàn màu trắng. Bà-la-môn Jāṇussoṇi nhìn thấy du sĩ Pilotika đang đi đến từ đằng xa. Thấy du sĩ Pilotika, ông liền nói: “Này, Tôn giả Vacchāyana từ đâu đến vào giữa ban ngày thế này?”

“Thưa ngài, tôi vừa từ chỗ sa-môn Gotama đến đây.”

“Tôn giả Vacchāyana nghĩ gì về sự nhạy bén của trí tuệ của sa-môn Gotama? Ngài ấy có phải là một bậc trí giả không?”

“Thưa ngài, tôi là ai, tôi là cái gì mà có thể biết được sự nhạy bén của trí tuệ của sa-môn Gotama? Chắc hẳn chỉ có người ngang tầm với ngài ấy mới có thể biết được sự nhạy bén của trí tuệ của sa-môn Gotama.”

“Tôn giả Vacchāyana quả thực đang ca ngợi sa-môn Gotama bằng những lời ca ngợi cao tột.”

“Thưa ngài, tôi là ai, tôi là cái gì mà dám ca ngợi sa-môn Gotama? Tôn giả Gotama đã được ca ngợi bởi những bậc đáng ca ngợi, ngài là bậc tối thắng giữa chư thiên và loài người.”

“Nhưng Tôn giả Vacchāyana thấy được lợi ích gì mà lại có niềm tin tuyệt đối vào sa-môn Gotama như vậy?”

MN 27. TIỂU KINH DỤ DẤU CHÂN VOI

(Cùlahatthipadopama Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ Bà-la-môn Janussoni, với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành Savatthi. Bà-la-môn Janussoni thấy Du sĩ Pilotika từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika:

– Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu về sớm như vậy?

– Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama đến đây.

– Tôn giả Vacchayana nghĩ thế nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem Sa- môn Gotama là bậc có trí không?

– Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Sa-môn Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt.

– Tôn giả Vacchayana thật sự tán thán Sa-môn Gotama với lời tán thán tối thượng.

– Này Tôn giả, tôi là ai mà có thể tán thán Sa-môn Gotama, bậc tối thượng được tán thán trong các bậc được tán thán, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.

– Nhưng Tôn giả Vacchayana thấy được lý do gì ở Sa-môn Gotama mà Tôn giả có lòng tin tưởng như vậy?

3. "Thưa ngài, ví như một người thợ săn voi lành nghề đi vào rừng voi. Người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang. Người ấy đi đến kết luận: ‘Quả thật đây là một con voi đực lớn’.

Cũng vậy, thưa ngài, khi tôi nhìn thấy ở sa-môn Gotama bốn dấu chân, tôi liền đi đến kết luận: Thế Tôn là ‘Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn (Chánh Đẳng Giác / sammāsambuddho), Giáo pháp (Pháp / dhammo) được Thế Tôn khéo giảng dạy (thiện thuyết / svākkhāto), tăng chúng đệ tử khéo thực hành (thực hành tốt đẹp / suppaṭipanno)’.

4. Bốn dấu chân nào? Ở đây, thưa ngài, tôi thấy một số học giả Sát-đế-lỵ sắc bén, quen thuộc với các cuộc tranh luận, giống như những nhà tranh luận sắc bén, họ đi khắp nơi dùng sự hiểu biết (trí tuệ / paññā) của mình để bẻ gãy các quan điểm khác. Họ nghe tin: ‘Sa-môn Gotama sắp đến ngôi làng hay thị trấn kia’. Họ liền chuẩn bị câu hỏi: ‘Chúng ta sẽ đến gặp sa-môn Gotama và hỏi câu hỏi này. Nếu được hỏi thế này, ông ấy sẽ trả lời thế này, và chúng ta sẽ bác bỏ lập luận của ông ấy như thế này. Nếu được hỏi thế này, ông ấy sẽ trả lời thế kia, và chúng ta cũng sẽ bác bỏ lập luận của ông ấy như thế kia’.

Họ nghe tin: ‘Sa-môn Gotama đã đến ngôi làng hay thị trấn kia’. Họ liền đi đến chỗ sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama dùng những bài giảng về Chân lý để chỉ rõ, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỉ. Sau khi được sa-môn Gotama dùng những bài giảng về Chân lý chỉ rõ, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỉ, họ không hề hỏi sa-môn Gotama câu hỏi nào cả, thì làm sao có thể bác bỏ lập luận của ngài? Trái lại, họ trở thành đệ tử của chính sa-môn Gotama. Thưa ngài, khi tôi nhìn thấy dấu vết thứ nhất này ở sa-môn Gotama, tôi liền đi đến kết luận: Thế Tôn là ‘Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành’.

5-6. Lại nữa, thưa ngài, tôi thấy ở đây một số học giả Bà-la-môn […lặp lại…] một số học giả gia chủ […lặp lại…]

7. một số học giả sa-môn sắc bén, quen thuộc với các cuộc tranh luận, giống như những nhà tranh luận sắc bén, họ đi khắp nơi như thể đang dùng sự hiểu biết của mình để bẻ gãy các quan điểm. Họ nghe tin: ‘Sa-môn Gotama sắp đến ngôi làng hay thị trấn kia’. Họ liền chuẩn bị câu hỏi: ‘Chúng ta sẽ đến gặp sa-môn Gotama và hỏi câu hỏi này. Nếu được hỏi thế này, ông ấy sẽ trả lời thế này, và chúng ta sẽ bác bỏ lập luận của ông ấy như thế này. Nếu được hỏi thế này, ông ấy sẽ trả lời thế kia, và chúng ta cũng sẽ bác bỏ lập luận của ông ấy như thế kia’. Họ nghe tin: ‘Sa-môn Gotama đã đến ngôi làng hay thị trấn kia’. Họ liền đi đến chỗ sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama dùng những bài giảng về Chân lý để chỉ rõ, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỉ. Sau khi được sa-môn Gotama dùng những bài giảng về Chân lý chỉ rõ, khích lệ, làm cho phấn chấn và làm cho hoan hỉ, họ không hề hỏi sa-môn Gotama câu hỏi nào cả, thì làm sao có thể bác bỏ lập luận của ngài? Trái lại, họ xin sa-môn Gotama cho phép từ bỏ gia đình, sống không nhà. Sa-môn Gotama cho họ xuất gia. Sau khi xuất gia ở đó, họ sống tách biệt, không sao nhãng, nhiệt tâm, quyết tâm, và chẳng bao lâu sau—mục đích vô thượng mà các thiện nam tử chân chính từ bỏ gia đình sống không nhà hướng tới—họ đã tự mình trực tiếp chứng nghiệm (chứng ngộ / sacchikatvā) ngay trong hiện tại, đạt đến và an trú trong sự hoàn mãn của đời sống thánh thiện.

Họ nói như sau: ‘Thưa các ngài, chúng ta suýt nữa thì tiêu vong, thưa các ngài, chúng ta suýt nữa thì hoại diệt; vì trước đây dù không phải là sa-môn, chúng ta lại tự nhận là sa-môn, dù không phải là Bà-la-môn, chúng ta lại tự nhận là Bà-la-môn, dù không phải là bậc A-la-hán, chúng ta lại tự nhận là bậc A-la-hán. Bây giờ chúng ta mới thực sự là sa-môn, bây giờ chúng ta mới thực sự là Bà-la-môn, bây giờ chúng ta mới thực sự là bậc A-la-hán’. Thưa ngài, khi tôi nhìn thấy dấu vết thứ tư này ở sa-môn Gotama, tôi liền đi đến kết luận: Thế Tôn là ‘Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành’.

Thưa ngài, vì tôi nhìn thấy bốn dấu chân này ở sa-môn Gotama, nên tôi đã đi đến kết luận: Thế Tôn là ‘Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành’."

– Này Tôn giả, như một người săn voi thiện xảo vào một khu rừng có voi ở, và thấy một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang. Người đó đi đến kết luận: “Con voi này là con voi lớn”. Cũng vậy, này Tôn giả, tôi đã thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama và đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”. Thế nào là bốn?

Tôi thấy ở đây có một số Sát-đế-lị bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đã phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Họ sắp đặt câu hỏi: “'Chúng ta, sau khi đến, sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia. Khi chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này”.

Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama đã đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Ðược Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ nhất này của Sa-môn Gotama, Tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.

Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số Bà-la-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đã phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe… (như trên)… trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ hai này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.

Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số gia chủ bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đã phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe… (như trên)… trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ ba này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.

Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số Sa-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này”. Họ sắp đặt câu hỏi: “Chúng ta sau khi đến sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa- môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này”. Những vị này nghe: “Sa-môn Gotama đã đến ngôi làng này hay thị trấn này”. Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Ðược Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định sẵn), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ xin phép Sa-môn Gotama được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sa-môn Gotama cho họ được xuất gia. Ðược xuất gia như vậy, một số các vị ấy sống một mình, không phóng dật, nỗ lực, tinh cần, và không bao lâu tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, ngay trong hiện tại, mục đích tối thượng của phạm hạnh mà những Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Họ nói như sau: “Thật sự chúng ta gần hoại vong. Thật sự chúng ta gần hoại diệt. Xưa kia chúng ta không phải là Sa-môn lại tự xem là Sa-môn, không phải là Bà- la-môn lại tự xem là Bà-la-môn, không phải là bậc A-la-hán, lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán”. Khi tôi thấy dấu chân thứ tư của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.

8. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Jāṇussoṇi bước xuống khỏi cỗ xe ngựa toàn màu trắng, đắp áo choàng hở một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn và thốt lên lời cảm hứng ba lần:

"Kính lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn;

Kính lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn;

Kính lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn.

Mong sao có một lúc nào đó chúng tôi được gặp Tôn giả Gotama, mong sao có một cuộc trò chuyện nào đó diễn ra."

9. Sau đó, Bà-la-môn Jāṇussoṇi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông chào hỏi Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và lịch sự, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Jāṇussoṇi kể lại toàn bộ cuộc trò chuyện giữa ông và du sĩ Pilotika cho Thế Tôn nghe.

Khi được nói như vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Jāṇussoṇi: “Này Bà-la-môn, ví dụ về dấu chân voi như vậy chưa được hoàn thiện một cách chi tiết. Nhưng này Bà-la-môn, hãy nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ nói về cách ví dụ dấu chân voi được hoàn thiện một cách chi tiết.”

“Vâng, thưa ngài,” Bà-la-môn Jāṇussoṇi đáp lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Janussoni, từ cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, bước xuống, đắp thượng y lên một bên vai, chấp tay hướng về Thế Tôn vái lạy, và thốt ra ba lần cảm hứng ngữ sau đây: “Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Rất có thể, chúng ta sẽ gặp Tôn giả Gotama tại một lúc nào, một chỗ nào đó. Rất có thể, sẽ có một cuộc đàm luận”. Rồi Bà-la-môn Janussoni đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Janussoni đem tất cả câu chuyện của Du Sĩ Pilotika, thuật lại với Thế Tôn. Sau khi nghe vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Janussoni:

– Này Bà-la-môn, ví dụ dấu chân voi như vậy chưa được đầy đủ một cách rộng rãi. Này Bà-la-môn, với tầm mức như thế nào ví dụ dấu chân voi được đầy đủ một cách rộng rãi, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói:

– Thưa vâng, Tôn giả.

Bà-la-môn Janussoni vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

10. "Này Bà-la-môn, ví như một người thợ săn voi đi vào rừng voi. Người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang. Nếu là một người thợ săn voi lành nghề, người ấy chưa vội đi đến kết luận: ‘Quả thật đây là một con voi đực lớn’. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái lùn nhưng có bàn chân lớn, có thể đây là dấu chân của chúng.

Người ấy đi theo dấu vết đó. Khi đi theo, người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang, và có vết cọ xát ở trên cao. Nếu là một người thợ săn voi lành nghề, người ấy vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Quả thật đây là một con voi đực lớn’. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái cao lớn với răng nhô ra, có thể đây là dấu chân của chúng.

Người ấy đi theo dấu vết đó. Khi đi theo, người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang, có vết cọ xát ở trên cao, và có vết ngà cào xước ở trên cao. Nếu là một người thợ săn voi lành nghề, người ấy vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Quả thật đây là một con voi đực lớn’. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái cao lớn có ngà, có thể đây là dấu chân của chúng.

Người ấy đi theo dấu vết đó. Khi đi theo, người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang, có vết cọ xát ở trên cao, có vết ngà cào xước ở trên cao, và có những cành cây bị bẻ gãy ở trên cao. Và người ấy nhìn thấy chính con voi đực đó đang đi, đang đứng, đang ngồi, hoặc đang nằm dưới gốc cây hay ngoài trời. Lúc đó người ấy mới đi đến kết luận: ‘Đây chính là con voi đực lớn đó’.

11. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgato) xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người hiểu biết thế gian, người huấn luyện vô thượng cho những ai cần được huấn luyện, bậc đạo sư của chư thiên và loài người, bậc Giác Ngộ, Thế Tôn. Ngài tự mình trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố cho thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cho quần chúng gồm sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Ngài giảng dạy Giáo pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; ngài hiển lộ đời sống thánh thiện hoàn toàn trọn vẹn và trong sạch.

12. Một gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe được Giáo pháp ấy. Sau khi nghe Giáo pháp ấy, người đó phát sinh niềm tin vào Người Đến Như Vậy. Có được niềm tin đó, người ấy suy xét: ‘Đời sống gia đình thật chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở như bầu trời. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể thực hành đời sống thánh thiện hoàn toàn trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch, sáng bóng như vỏ ốc. Hay là ta hãy cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không nhà’. Vào một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hoặc từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ vòng quyến thuộc nhỏ hoặc từ bỏ vòng quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không nhà.

13. Sau khi xuất gia như vậy, sống trong sự rèn luyện và học tập theo các điều học của các tỳ kheo, người ấy từ bỏ việc sát sinh, tránh xa việc sát sinh, bỏ gậy gộc, bỏ vũ khí, có lòng tàm quý, có lòng từ bi, sống thương xót đến lợi ích của mọi sinh vật và loài hữu tình.

Người ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, chỉ mong đợi những gì được cho. Người ấy sống với bản thân thanh sạch, không trộm cắp.

Người ấy từ bỏ đời sống không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống tách biệt, tránh xa việc giao cấu là thói tục của dân làng.

Người ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, vững chắc, đáng tin, không lừa dối đời.

Người ấy từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ, nghe ở đây không đem kể lại ở kia để gây chia rẽ những người này, hoặc nghe ở kia không đem kể lại ở đây để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy hàn gắn những người bị chia rẽ hoặc khuyến khích những người đang hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.

Người ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác. Người ấy nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người yêu thích, làm hài lòng nhiều người.

Người ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói về Giáo pháp, nói về luật, nói những lời đáng được ghi nhớ, hợp thời, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích.

Người ấy tránh xa việc làm tổn hại các loại hạt giống và cây cỏ, ăn một bữa, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn sái giờ, tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các buổi trình diễn, tránh xa việc mang vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, trang sức và làm đẹp, tránh xa việc sử dụng giường cao và giường lớn, tránh xa việc nhận vàng và bạc, tránh xa việc nhận hạt ngũ cốc sống, tránh xa việc nhận thịt sống, tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ, tránh xa việc nhận nô tỳ và nô bộc, tránh xa việc nhận dê và cừu, tránh xa việc nhận gà và lợn, tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, tránh xa việc nhận ruộng đất, tránh xa việc làm người đưa tin hay đi chạy việc, tránh xa việc mua bán, tránh xa việc gian lận bằng cân, gian lận bằng tiền kim loại, gian lận bằng đấu đo, tránh xa việc hối lộ, lừa đảo, lừa gạt, quanh co, tránh xa việc cắt xẻo, giết hại, trói buộc, đánh cướp, cướp bóc và dùng bạo lực.

14. Người ấy bằng lòng với y áo để bảo vệ cơ thể, bằng lòng với thức ăn khất thực để bảo vệ bụng. Đi đến bất cứ nơi đâu, người ấy cũng mang theo [những thứ ấy] mà đi. Giống như một con chim có cánh, bay đến bất cứ nơi đâu cũng bay với gánh nặng là đôi cánh của mình; cũng vậy, tỳ kheo bằng lòng với y áo để bảo vệ cơ thể, bằng lòng với thức ăn khất thực để bảo vệ bụng. Đi đến bất cứ nơi đâu, người ấy cũng mang theo [những thứ ấy] mà đi. Được trang bị nền tảng Giới (giới uẩn / sīlakkhandhena) của bậc thánh này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không tì vết ở bên trong.

15. Khi nhìn thấy hình ảnh bằng mắt, người ấy không nắm giữ hình dáng chung, không nắm giữ các chi tiết. Vì nếu để giác quan mắt không được bảo vệ, thì lòng tham (tham / abhijjhā) và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ chảy vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan mắt, đạt được sự bảo vệ các giác quan (hộ trì các căn / saṁvara) đối với mắt. Khi nghe âm thanh bằng tai […lặp lại…] ngửi mùi bằng mũi… nếm vị bằng lưỡi… chạm xúc giác bằng thân… nhận biết Điều bằng trí não, người ấy không nắm giữ hình dáng chung, không nắm giữ các chi tiết. Vì nếu để giác quan trí não không được bảo vệ, thì lòng tham và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ chảy vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan trí não, đạt được sự bảo vệ các giác quan đối với trí não. Được trang bị sự bảo vệ các giác quan của bậc thánh này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không bị vấy bẩn ở bên trong.

16. Người ấy nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajānakārī) khi đi tới đi lui, nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh, nhận biết rõ ràng khi co tay duỗi tay, nhận biết rõ ràng khi mang y tăng-già-lê, bình bát và y áo, nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm, nhận biết rõ ràng khi đại tiện tiểu tiện, nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và im lặng.

– Này Bà-la-môn, ví như một người săn voi vào một khu rừng có voi ở. Người đó thấy một dấu chân voi lớn trong rừng voi, dài bề dài và rộng bề ngang. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó

không đi đến kết luận: “Con voi này chắc chắn to lớn”. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái lùn thấp, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, và những vật cao đều bị cọ xát. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: "Con voi này chắc chắn to lớn vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi, một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, và những vật cao bị ngà voi cắt chém. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: “Con voi này chắc chắn to lớn”. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà lớn, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy. Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, những vật cao bị ngà voi cắt chém, và những vật cao bị gãy các cành. Và người đó thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ở ngoài trời, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, người đó đi đến kết luận: “Con voi này thật là con voi đực lớn”.

Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này, cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ. Ngài giảng dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.

Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp ấy, sau khi nghe Pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng, vị này suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy thành tựu học giới và nếp sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loài hữu tình, từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp, từ bỏ không phạm hạnh, sống theo phạm hạnh, sống tránh xa (không phạm hạnh), từ bỏ dâm dục tục pháp.

Từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, vị ấy nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng, thuận tại, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi.

Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ ăn phi thời; từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ trang sức bằng vòng hoa hương liệu, dầu thoa, các thời trang, các thời sức; từ bỏ dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ nhận các hạt

sống; từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái; từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ nhận cừu và dê; từ bỏ nhận gia cầm và heo; từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai; từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.

Vị ấy bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không vẩn đục.

Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác, khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác, khi mang y kép, y bát đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác, khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác, khi đi, đứng, ngồi nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.

17. Được trang bị nền tảng Giới của bậc thánh này, được trang bị sự bằng lòng của bậc thánh này, được trang bị sự bảo vệ các giác quan của bậc thánh này, và được trang bị sự tập trung chú ý (chánh niệm / sati) và nhận biết rõ ràng của bậc thánh này, người ấy tìm đến một chỗ ở vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang đá, bãi tha ma, rừng sâu, ngoài trời, hay đống rơm.

18. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, người ấy ngồi vắt chéo chân, giữ lưng thẳng, thiết lập sự tập trung chú ý ở phía trước. Người ấy từ bỏ lòng tham ở đời, sống với tâm thoát khỏi lòng tham, gột rửa tâm khỏi lòng tham. Từ bỏ ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda), người ấy sống với tâm không có ác ý, thương xót đến lợi ích của mọi sinh vật và loài hữu tình, gột rửa tâm khỏi ác ý hãm hại. Từ bỏ sự uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha), người ấy sống thoát khỏi sự uể oải, buồn ngủ, nhận thức ánh sáng, tập trung chú ýnhận biết rõ ràng, gột rửa tâm khỏi sự uể oải, buồn ngủ. Từ bỏ sự bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca), người ấy sống không bồn chồn, với tâm tĩnh lặng ở bên trong, gột rửa tâm khỏi sự bồn chồn, hối hận. Từ bỏ sự nghi ngờ (nghi / vicikicchā), người ấy sống vượt qua sự nghi ngờ, không còn phân vân về những điều thiện, gột rửa tâm khỏi sự nghi ngờ.

Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, và thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái, từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận, từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá, từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

19. Sau khi từ bỏ năm điều làm mờ yếu (triền cái / nīvaraṇe) này, những thứ làm ô nhiễm tâm và làm yếu ớt sự hiểu biết, người ấy rời bỏ khỏi các bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ khỏi những điều không thiện, đạt được và an trú trong Thiền-na (Thiền / jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý (tầm / vitakka) và nỗ lực duy trì sự chú ý (tứ / vicāra), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Nhưng vị đệ tử bậc thánh vẫn chưa vội đi đến kết luận: Thế Tôn là ‘Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành’.

20. Lại nữa, này Bà-la-môn, với sự lắng dịu của việc chủ động hướng sự chú ýnỗ lực duy trì sự chú ý, tỳ kheo đạt được sự lắng trong nội tại, tâm hợp thành một, không còn chủ động hướng sự chú ýnỗ lực duy trì sự chú ý, có hân hoanhạnh phúc sinh ra từ Định, đạt được và an trú trong Thiền-na thứ hai. Điều này cũng được gọi là, này Bà-la-môn […lặp lại…] thực hành tốt đẹp’.

21. Lại nữa, này Bà-la-môn, với sự cạn hết đắm nhiễm đối với hân hoan, tỳ kheo an trú trong Tâm quân bình (xả / upekkhā), tập trung chú ýnhận biết rõ ràng, trải nghiệm hạnh phúc qua cơ thể, trạng thái mà các bậc thánh gọi là ‘người có Tâm quân bình, tập trung chú ý, sống hạnh phúc’, vị ấy đạt được và an trú trong Thiền-na thứ ba. Điều này cũng được gọi là, này Bà-la-môn […lặp lại…] thực hành tốt đẹp’.

22. Lại nữa, này Bà-la-môn, với sự hoàn toàn từ bỏ hạnh phúc và hoàn toàn từ bỏ đau khổ, cùng với sự tan biến của thanh thản và ưu phiền từ trước, tỳ kheo đạt được và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu, có sự thanh tịnh của tập trung chú ý nhờ Tâm quân bình. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Nhưng vị đệ tử bậc thánh vẫn chưa vội đi đến kết luận: Thế Tôn là ‘Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành’.

23. Khi tâm đã định tĩnh, trong sạch, thuần khiết, không cấu uế, thoát khỏi ô nhiễm, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, người ấy hướng tâm đến sự hiểu biết về việc nhớ lại các đời sống quá khứ. Người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là—một đời, hai đời […lặp lại…] như vậy người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các chi tiết và bối cảnh. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Nhưng vị đệ tử bậc thánh vẫn chưa vội đi đến kết luận: Thế Tôn là ‘Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành’.

24. Khi tâm đã định tĩnh, trong sạch, thuần khiết, không cấu uế, thoát khỏi ô nhiễm, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, người ấy hướng tâm đến sự hiểu biết về sự chết và tái sinh của chúng sinh. Với mắt thần thanh tịnh vượt quá khả năng của con người […lặp lại…] người ấy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) chúng sinh tái sinh tùy theo hành động của họ. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Nhưng vị đệ tử bậc thánh vẫn chưa vội đi đến kết luận: Thế Tôn là ‘Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành’.

25. Khi tâm đã định tĩnh, trong sạch, thuần khiết, không cấu uế, thoát khỏi ô nhiễm, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và đạt đến trạng thái bất động như vậy, người ấy hướng tâm đến sự hiểu biết về sự cạn kiệt các nguồn ác (lậu hoặc / āsava). Người ấy thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là đau khổ’, thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành của đau khổ’, thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt đau khổ’, thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ’. Người ấy thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là các nguồn ác’, thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành của các nguồn ác’, thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt các nguồn ác’, thấy rõ đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt các nguồn ác’. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Vị đệ tử bậc thánh chưa đi đến kết luận cuối cùng, nhưng đang đi đến kết luận: Thế Tôn là ‘Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành’.

26. Khi người ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của bản năng (dục lậu / kāmāsavā), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsavā), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsavā). Khi đã được giải thoát, có sự hiểu biết rằng ‘đã được giải thoát’.

Người ấy thấy rõ: ‘Sự Tái sinh (sinh / jāti) đã cạn kiệt, đời sống thánh thiện đã hoàn tất, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa’. Này Bà-la-môn, điều này cũng được gọi là dấu chân của Người Đến Như Vậy, là vết cọ xát của Người Đến Như Vậy, là vết ngà của Người Đến Như Vậy. Này Bà-la-môn, đến mức độ này, vị đệ tử bậc thánh mới đi đến kết luận: Thế Tôn là ‘Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, Giáo pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, tăng chúng đệ tử khéo thực hành’. Này Bà-la-môn, đến mức độ này, ví dụ về dấu chân voi mới được hoàn thiện một cách chi tiết."

27. Khi được nói như vậy, Bà-la-môn Jāṇussoṇi nói với Thế Tôn: “Tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, giống như người dựng đứng lại những gì bị lật úp, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc lối, hay cầm ngọn đèn sáng mang vào bóng tối để những ai có mắt có thể nhìn thấy các hình ảnh; cũng vậy, Giáo pháp đã được Tôn giả Gotama làm sáng tỏ qua nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Giáo pháp, và quy y Tăng chúng. Xin Tôn giả Gotama nhận con làm nam cư sĩ, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.”

Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi Ngắn thứ bảy đã kết thúc.

Vị ấy từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược ly dục, ly pháp ác bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc, do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai, nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ ràng, chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là Khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là sự Khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.

Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.

Vị ấy nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không có trở lui đời sống này nữa”.

Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Này Bà-la-môn, tới mức độ này, vị Thánh đệ tử đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”. Này Bà-la-môn, tới mức độ này, ví

dụ dấu chân con voi thật sự được đầy đủ một cách rộng rãi.

Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mệnh chung, con trọn đời quy ngưỡng!

-ooOoo-