10. "Này Bà-la-môn, ví như một người thợ săn voi đi vào rừng voi. Người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang. Nếu là một người thợ săn voi lành nghề, người ấy chưa vội đi đến kết luận: ‘Quả thật đây là một con voi đực lớn’. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái lùn nhưng có bàn chân lớn, có thể đây là dấu chân của chúng.
Người ấy đi theo dấu vết đó. Khi đi theo, người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang, và có vết cọ xát ở trên cao. Nếu là một người thợ săn voi lành nghề, người ấy vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Quả thật đây là một con voi đực lớn’. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái cao lớn với răng nhô ra, có thể đây là dấu chân của chúng.
Người ấy đi theo dấu vết đó. Khi đi theo, người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang, có vết cọ xát ở trên cao, và có vết ngà cào xước ở trên cao. Nếu là một người thợ săn voi lành nghề, người ấy vẫn chưa vội đi đến kết luận: ‘Quả thật đây là một con voi đực lớn’. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, vì trong rừng voi có những con voi cái cao lớn có ngà, có thể đây là dấu chân của chúng.
Người ấy đi theo dấu vết đó. Khi đi theo, người ấy nhìn thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài theo chiều dọc và rộng theo chiều ngang, có vết cọ xát ở trên cao, có vết ngà cào xước ở trên cao, và có những cành cây bị bẻ gãy ở trên cao. Và người ấy nhìn thấy chính con voi đực đó đang đi, đang đứng, đang ngồi, hoặc đang nằm dưới gốc cây hay ngoài trời. Lúc đó người ấy mới đi đến kết luận: ‘Đây chính là con voi đực lớn đó’.
11. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgato) xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Bậc Giác Ngộ Hoàn Toàn, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện Thệ, người hiểu biết thế gian, người huấn luyện vô thượng cho những ai cần được huấn luyện, bậc đạo sư của chư thiên và loài người, bậc Giác Ngộ, Thế Tôn. Ngài tự mình trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố cho thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cho quần chúng gồm sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Ngài giảng dạy Giáo pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; ngài hiển lộ đời sống thánh thiện hoàn toàn trọn vẹn và trong sạch.
12. Một gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe được Giáo pháp ấy. Sau khi nghe Giáo pháp ấy, người đó phát sinh niềm tin vào Người Đến Như Vậy. Có được niềm tin đó, người ấy suy xét: ‘Đời sống gia đình thật chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở như bầu trời. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể thực hành đời sống thánh thiện hoàn toàn trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch, sáng bóng như vỏ ốc. Hay là ta hãy cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không nhà’. Vào một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hoặc từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ vòng quyến thuộc nhỏ hoặc từ bỏ vòng quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, từ bỏ gia đình, sống không nhà.
13. Sau khi xuất gia như vậy, sống trong sự rèn luyện và học tập theo các điều học của các tỳ kheo, người ấy từ bỏ việc sát sinh, tránh xa việc sát sinh, bỏ gậy gộc, bỏ vũ khí, có lòng tàm quý, có lòng từ bi, sống thương xót đến lợi ích của mọi sinh vật và loài hữu tình.
Người ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, chỉ mong đợi những gì được cho. Người ấy sống với bản thân thanh sạch, không trộm cắp.
Người ấy từ bỏ đời sống không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống tách biệt, tránh xa việc giao cấu là thói tục của dân làng.
Người ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, gắn bó với sự thật, vững chắc, đáng tin, không lừa dối đời.
Người ấy từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ, nghe ở đây không đem kể lại ở kia để gây chia rẽ những người này, hoặc nghe ở kia không đem kể lại ở đây để gây chia rẽ những người kia. Như vậy, người ấy hàn gắn những người bị chia rẽ hoặc khuyến khích những người đang hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp.
Người ấy từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác. Người ấy nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người yêu thích, làm hài lòng nhiều người.
Người ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói về Giáo pháp, nói về luật, nói những lời đáng được ghi nhớ, hợp thời, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích.
Người ấy tránh xa việc làm tổn hại các loại hạt giống và cây cỏ, ăn một bữa, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn sái giờ, tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các buổi trình diễn, tránh xa việc mang vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, trang sức và làm đẹp, tránh xa việc sử dụng giường cao và giường lớn, tránh xa việc nhận vàng và bạc, tránh xa việc nhận hạt ngũ cốc sống, tránh xa việc nhận thịt sống, tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ, tránh xa việc nhận nô tỳ và nô bộc, tránh xa việc nhận dê và cừu, tránh xa việc nhận gà và lợn, tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, tránh xa việc nhận ruộng đất, tránh xa việc làm người đưa tin hay đi chạy việc, tránh xa việc mua bán, tránh xa việc gian lận bằng cân, gian lận bằng tiền kim loại, gian lận bằng đấu đo, tránh xa việc hối lộ, lừa đảo, lừa gạt, quanh co, tránh xa việc cắt xẻo, giết hại, trói buộc, đánh cướp, cướp bóc và dùng bạo lực.
14. Người ấy bằng lòng với y áo để bảo vệ cơ thể, bằng lòng với thức ăn khất thực để bảo vệ bụng. Đi đến bất cứ nơi đâu, người ấy cũng mang theo [những thứ ấy] mà đi. Giống như một con chim có cánh, bay đến bất cứ nơi đâu cũng bay với gánh nặng là đôi cánh của mình; cũng vậy, tỳ kheo bằng lòng với y áo để bảo vệ cơ thể, bằng lòng với thức ăn khất thực để bảo vệ bụng. Đi đến bất cứ nơi đâu, người ấy cũng mang theo [những thứ ấy] mà đi. Được trang bị nền tảng Giới (giới uẩn / sīlakkhandhena) của bậc thánh này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không tì vết ở bên trong.
15. Khi nhìn thấy hình ảnh bằng mắt, người ấy không nắm giữ hình dáng chung, không nắm giữ các chi tiết. Vì nếu để giác quan mắt không được bảo vệ, thì lòng tham (tham / abhijjhā) và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ chảy vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan mắt, đạt được sự bảo vệ các giác quan (hộ trì các căn / saṁvara) đối với mắt. Khi nghe âm thanh bằng tai […lặp lại…] ngửi mùi bằng mũi… nếm vị bằng lưỡi… chạm xúc giác bằng thân… nhận biết Điều bằng trí não, người ấy không nắm giữ hình dáng chung, không nắm giữ các chi tiết. Vì nếu để giác quan trí não không được bảo vệ, thì lòng tham và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ chảy vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan trí não, đạt được sự bảo vệ các giác quan đối với trí não. Được trang bị sự bảo vệ các giác quan của bậc thánh này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không bị vấy bẩn ở bên trong.
16. Người ấy nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajānakārī) khi đi tới đi lui, nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh, nhận biết rõ ràng khi co tay duỗi tay, nhận biết rõ ràng khi mang y tăng-già-lê, bình bát và y áo, nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm, nhận biết rõ ràng khi đại tiện tiểu tiện, nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, và im lặng.