Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 28. KINH DÀI VÍ DỤ DẤU CHÂN VOI

(Mahāhatthipadopamasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), tại rừng Jeta (Kỳ-đà), trong khu vườn của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đó, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) gọi các tỳ kheo: “Này các hiền giả tỳ kheo”.

“Thưa vâng, hiền giả”, các tỳ kheo ấy đáp lời Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta nói như sau:

2. "Này các hiền giả, ví như bất kỳ dấu chân của loài sinh vật nào đi lại trên mặt đất, tất cả đều nằm gọn trong dấu chân voi, và dấu chân voi được xem là lớn nhất trong số đó vì kích thước khổng lồ của nó; cũng vậy, này các hiền giả, bất kỳ những điều thiện (thiện pháp / kusalā dhammā) nào, tất cả đều được thu nhiếp vào trong bốn Thánh đế (ariyasaccesu). Bốn [Thánh đế] nào? Thánh đế về đau khổ (khổ thánh đế / dukkhe ariyasacce), Thánh đế về sự hình thành của đau khổ (khổ tập thánh đế / dukkhasamudaye ariyasacce), Thánh đế về sự chấm dứt đau khổ (khổ diệt thánh đế / dukkhanirodhe ariyasacce), và Thánh đế về con đường đưa đến chấm dứt đau khổ (khổ diệt đạo thánh đế / dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasacce).

3. Và này các hiền giả, thế nào là Thánh đế về đau khổ? Sự Tái sinh (sinh / jāti) là đau khổ, già là đau khổ, chết là đau khổ, sầu, bi, đau khổ, ưu phiền (domanassa), tuyệt vọng là đau khổ, mong muốn mà không đạt được là đau khổ; tóm lại, năm tập hợp bị bám giữ (ngũ thủ uẩn / pañcupādānakkhandhā) là đau khổ. Này các hiền giả, năm tập hợp bị bám giữ là gì? Đó là: bám giữ vào tập vật chất (sắc thủ uẩn / rūpupādānakkhandho), bám giữ vào tập cảm giác (thọ thủ uẩn / vedanupādānakkhandho), bám giữ vào tập nhận thức (tưởng thủ uẩn / saññupādānakkhandho), bám giữ vào tập hoạt động (hành thủ uẩn / saṅkhārupādānakkhandho), bám giữ vào tập ‘cái biết’ (thức thủ uẩn / viññāṇupādānakkhandho).

4. Và này các hiền giả, thế nào là bám giữ vào tập vật chất? Đó là bốn đặc tính lớn (đại / mahābhūtāni) và vật chất (sắc / rūpaṁ) hình thành dựa vào bốn đặc tính lớn đó.

5. Này các hiền giả, thế nào là bốn đặc tính lớn? Đó là tính đất (địa đại / pathavīdhātu), tính nước (thủy đại / āpodhātu), tính lửa (hỏa đại / tejodhātu), và tính gió (phong đại / vāyodhātu).

MN 28. ÐẠI KINH DỤ DẤU CHÂN VOI

(Mahàhatthipadopama Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đây, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Hiền giả Tỷ-kheo!

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:

– Chư Hiền giả, ví như tất cả dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các Thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh đế. Thế nào là trong Bốn Thánh đế? Trong Khổ Thánh đế, trong Khổ tập Thánh đế, trong Khổ diệt Thánh đế, trong Khổ diệt đạo Thánh đế.

Chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, điều gì cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là khổ.

Chư Hiền, thế nào là Năm thủ uẩn? Chính là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.

6. Và này các hiền giả, thế nào là tính đất? Tính đất có thể ở bên trong (nội / ajjhattikā), có thể ở bên ngoài (ngoại / bāhirā). Này các hiền giả, thế nào là tính đất bên trong? Bất cứ cái gì thuộc về bên trong, thuộc về cá nhân, cứng, rắn chắc, và bị bám giữ (chấp thủ / upādinnaṁ), ví dụ như: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng phổi, lá lách, phổi, ruột non, màng ruột, thức ăn chưa tiêu, phân, hoặc bất cứ cái gì khác thuộc về bên trong, thuộc về cá nhân, cứng, rắn chắc và bị bám giữ. Này các hiền giả, đây gọi là tính đất bên trong. Cho dù là tính đất bên trong hay tính đất bên ngoài, nó cũng chỉ đơn thuần là tính đất. Cần phải được nhìn thấy bằng trí tuệ chân chính đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi’. Sau khi thấy điều này bằng trí tuệ chân chính đúng như thật, người ấy chán ngán đối với tính đất, và làm cho tâm phai nhạt đắm nhiễm đối với tính đất.

7. Này các hiền giả, có một thời điểm mà tính đất bên ngoài nổi loạn [tàn phá]. Vào thời điểm đó, tính đất bên ngoài biến mất. Này các hiền giả, đối với tính đất bên ngoài khổng lồ như vậy, sự không bền vững sẽ hiện rõ, tính chịu sự hao mòn sẽ hiện rõ, tính hoại diệt sẽ hiện rõ, tính biến đổi sẽ hiện rõ. Vậy thì đối với cơ thể tồn tại ngắn ngủi, bị bám giữ bởi sự mong muốn (tham ái / taṇhā) này, làm sao có thể cho rằng ‘tôi’, hay ‘của tôi’, hay ‘tôi là’? Điều đó là không thể.

8. Này các hiền giả, nếu những người khác mắng chửi, nhục mạ, tức giận, và quấy rối vị tỳ kheo ấy, vị ấy biết rõ (tuệ tri / pajānāti) như sau: ‘Cảm giác khó chịu (thọ khổ / dukkhavedanā) sinh ra từ sự tiếp xúc ở tai này đã khởi lên trong tôi. Và nó sinh ra do Phụ thuộc (duyên / paṭicca), không phải không có sự Phụ thuộc. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào Xúc (phassa)’. Vị ấy thấy rằng Xúc là không bền vững, vị ấy thấy cảm giác (thọ / vedanā) là không bền vững, nhận thức (tưởng / saññā) là không bền vững, các hoạt động (hành / saṅkhārā) là không bền vững, ‘cái biết’ (thức / viññāṇa) là không bền vững. Tâm của vị ấy lao vào, trở nên trong sáng, lắng đọng, và quyết tâm bám chặt vào đối tượng chỉ như một đặc tính vật lý thuần túy.

9. Này các hiền giả, nếu những người khác tấn công vị tỳ kheo ấy bằng những điều không mong muốn, không dễ chịu, không vừa ý — bằng những cú đấm, bằng cục đất, bằng gậy gộc, bằng đao kiếm. Vị ấy biết rõ như sau: 'Cơ thể này có bản chất là như vậy, đối với một cơ thể như vậy thì những cú đấm chạm vào, những cục đất chạm vào, những cây gậy chạm vào, những đao kiếm chạm vào. Hơn nữa, Đức Thế Tôn đã dạy trong Kinh Ví Dụ Cái Cưa rằng:

“Này các tỳ kheo, dù cho những kẻ cướp hung ác có dùng cưa hai tay để cưa đứt từng khúc tay chân, nếu ai khởi tâm oán hận, người đó không phải là người thực hành lời dạy của Ta.” Do đó, Nỗ lực Thiện (tinh tấn / vīriya) của ta sẽ được khơi dậy không lùi bước, sự tập trung chú ý (niệm / sati) được thiết lập không quên lãng, cơ thể được lắng dịu không kích động, tâm được tập trung, hợp nhất. Bây giờ, hãy để những cú đấm chạm vào cơ thể này, hãy để cục đất chạm vào, hãy để gậy gộc chạm vào, hãy để đao kiếm chạm vào; lời dạy của chư Phật đang được thực hành.’

10. Này các hiền giả, nếu vị tỳ kheo ấy khi liên tục nhớ đến Phật, nhớ đến Pháp, nhớ đến Tăng như vậy, mà Tâm quân bình dựa trên điều thiện (xả câu hữu thiện / upekkhā kusalanissitā) không được thiết lập. Vị ấy cảm thấy kinh hãi, sinh lòng cảnh tỉnh: ‘Thật thiệt thòi cho ta, ta chẳng được lợi ích gì; thật tồi tệ cho ta, ta chẳng đạt được điều tốt đẹp, khi ta liên tục nhớ đến Phật, nhớ đến Pháp, nhớ đến Tăng như vậy mà Tâm quân bình dựa trên điều thiện không được thiết lập.’ Này các hiền giả, ví như cô con dâu nhìn thấy cha chồng liền cảm thấy kinh hãi, sinh lòng cảnh tỉnh; cũng vậy, này các hiền giả, nếu vị tỳ kheo ấy liên tục nhớ đến Phật, Pháp, Tăng mà Tâm quân bình dựa trên điều thiện không được thiết lập, vị ấy sinh lòng cảnh tỉnh: ‘Thật thiệt thòi cho ta… Tâm quân bình dựa trên điều thiện không được thiết lập.’ Này các hiền giả, nếu vị tỳ kheo ấy liên tục nhớ đến Phật, nhớ đến Pháp, nhớ đến Tăng, và Tâm quân bình dựa trên điều thiện được thiết lập, vị ấy cảm thấy hài lòng. Này các hiền giả, đến mức độ này, vị tỳ kheo đã làm được rất nhiều.

(Ðịa giới)

Chư Hiền, thế nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.

Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, trong thời ấy ngoại địa giới bị biến mất. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại địa giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.

Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: “Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc”. Vị ấy thấy xúc là vô thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô thường, thấy hành là vô thường, thấy thức là vô thường. Tâm của vị này hoan hỷ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng.

Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỷ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: "Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm. Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: “Chư Tỷ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy”. Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không dải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm thân này, mặc cho gậy xúc chạm thân này, mặc cho gươm xúc chạm thân này, lời dạy chư Phật cần phải được thực hành.

Chư Hiền, Tỷ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: “Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú”. Chư Hiền, ví như một người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh. Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỷ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: “Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú”. Chư Hiền, nếu Tỷ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú, thì Tỷ-kheo ấy được hoan hỷ. Chư Hiền, đến mức độ này, Tỷ-kheo đã làm thật nhiều.

11. Này các hiền giả, thế nào là tính nước? Tính nước có thể ở bên trong, có thể ở bên ngoài. Thế nào là tính nước bên trong? Bất cứ cái gì thuộc về bên trong, thuộc về cá nhân, lỏng, có dạng lỏng, và bị bám giữ, ví dụ như: mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ nước, nước bọt, nước mũi, nước khớp xương, nước tiểu, hoặc bất cứ cái gì khác thuộc về bên trong, thuộc về cá nhân, lỏng, có dạng lỏng và bị bám giữ — đây gọi là tính nước bên trong. Cho dù là tính nước bên trong hay tính nước bên ngoài, nó cũng chỉ đơn thuần là tính nước. Cần phải được nhìn thấy bằng trí tuệ chân chính đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Sau khi thấy điều này bằng trí tuệ chân chính đúng như thật, người ấy chán ngán đối với tính nước, và làm cho tâm phai nhạt đắm nhiễm đối với tính nước.

12. Này các hiền giả, có một thời điểm mà tính nước bên ngoài nổi loạn. Nó cuốn trôi làng mạc, cuốn trôi thị trấn, cuốn trôi thành phố, cuốn trôi quốc gia, cuốn trôi cả một vùng lãnh thổ. Có thời điểm mà nước trong đại dương rút xuống hàng trăm do tuần, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm, sáu trăm, bảy trăm do tuần. Có thời điểm nước trong đại dương chỉ còn sâu bằng bảy cây thốt nốt, sáu, năm, bốn, ba, hai, hoặc một cây thốt nốt. Có thời điểm nước trong đại dương chỉ còn sâu bằng bảy người, sáu, năm, bốn, ba, hai, hoặc bằng một người. Có thời điểm nước trong đại dương chỉ còn sâu nửa người, ngang hông, ngang đầu gối, ngang mắt cá chân. Có thời điểm nước trong đại dương không đủ làm ướt một đốt ngón tay. Này các hiền giả, đối với tính nước bên ngoài khổng lồ như vậy, sự không bền vững sẽ hiện rõ, tính chịu sự hao mòn sẽ hiện rõ, tính hoại diệt sẽ hiện rõ, tính biến đổi sẽ hiện rõ. Vậy thì đối với cơ thể tồn tại ngắn ngủi, bị bám giữ bởi sự mong muốn này, làm sao có thể cho rằng ‘tôi’, hay ‘của tôi’, hay ‘tôi là’? Điều đó là không thể […lặp lại…] Này các hiền giả, nếu vị tỳ kheo ấy liên tục nhớ đến Phật, nhớ đến Pháp, nhớ đến Tăng như vậy, và Tâm quân bình dựa trên điều thiện được thiết lập. Vị ấy cảm thấy hài lòng. Này các hiền giả, đến mức độ này, vị tỳ kheo đã làm được rất nhiều.

(Thủy giới)

Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới. Cần phải như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi như thật quán sát thủy giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với thủy giới, tâm từ bỏ thủy giới.

Chư Hiền, một thời xảy ra khi ngoại thủy giới dao động, nước cuốn trôi làng, cuốn trôi thị trấn, cuốn trôi thành phố, cuốn trôi xứ, cuốn trôi quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương hạ thấp một trăm do-tuần, hạ thấp hai trăm do-tuần, hạ thấp ba trăm do-tuần, hạ thấp bốn trăm do-tuần, hạ thấp năm trăm do-tuần, hạ thấp sáu trăm do-tuần, hạ thấp bảy trăm do-tuần. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến bảy cây ta-la, dâng cao đến sáu cây ta-la, dâng cao đến năm cây ta-la, dâng cao đến bốn cây ta-la, dâng cao đến ba cây ta-la, dâng cao đến hai cây ta-la, dâng cao chỉ đến một cây ta-la. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương cao đến bảy đầu người, dâng cao đến sáu đầu người, dâng cao đến năm đầu người, dâng cao đến bốn đầu người, dâng cao đến ba đầu người, dâng cao đến hai đầu người, dâng cao chỉ đến một đầu người. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương dâng cao đến nửa thân người, dâng cao chỉ đến hông, dâng cao chỉ đến đầu gối, dâng cao chỉ đến gót chân. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi nước biển đại dương không có để thấm ướt đốt ngón chân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại thủy giới xưa ấy có thể nêu rõ, tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.

Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: …(như trên)… và xả tương ứng với thiện được an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỷ- kheo đã làm thật nhiều.

16. Này các hiền giả, thế nào là tính lửa? Tính lửa có thể ở bên trong, có thể ở bên ngoài. Thế nào là tính lửa bên trong? Bất cứ cái gì thuộc về bên trong, thuộc về cá nhân, nhiệt, có dạng nhiệt, và bị bám giữ, ví dụ như: cái làm cho cơ thể ấm lên, cái làm cho cơ thể già yếu đi, cái làm cho cơ thể sốt, cái giúp tiêu hóa thức ăn, đồ uống, đồ nhai, đồ nếm, hoặc bất cứ cái gì khác thuộc về bên trong, thuộc về cá nhân, nhiệt, có dạng nhiệt và bị bám giữ — đây gọi là tính lửa bên trong. Cho dù là tính lửa bên trong hay tính lửa bên ngoài, nó cũng chỉ đơn thuần là tính lửa. Cần phải được nhìn thấy bằng trí tuệ chân chính đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Sau khi thấy điều này bằng trí tuệ chân chính đúng như thật, người ấy chán ngán đối với tính lửa, và làm cho tâm phai nhạt đắm nhiễm đối với tính lửa.

17. Này các hiền giả, có một thời điểm mà tính lửa bên ngoài nổi loạn. Nó thiêu rụi làng mạc, thị trấn, thành phố, quốc gia, vùng lãnh thổ. Nó lan đến thảm cỏ xanh, đến mép đường, đến vách đá, đến bờ nước, hoặc một vùng đất tươi đẹp rồi tự tắt vì hết chất liệu đốt. Này các hiền giả, có thời điểm người ta phải đi tìm mồi lửa bằng một chiếc lông gà hay một mẩu gân khô. Này các hiền giả, đối với tính lửa bên ngoài khổng lồ như vậy, sự không bền vững sẽ hiện rõ, tính chịu sự hao mòn sẽ hiện rõ, tính hoại diệt sẽ hiện rõ, tính biến đổi sẽ hiện rõ. Vậy thì đối với cơ thể tồn tại ngắn ngủi, bị bám giữ bởi sự mong muốn này, làm sao có thể cho rằng ‘tôi’, hay ‘của tôi’, hay ‘tôi là’?

18-20. Điều đó là không thể […lặp lại…] Này các hiền giả, nếu vị tỳ kheo ấy liên tục nhớ đến Phật, nhớ đến Pháp, nhớ đến Tăng như vậy, và Tâm quân bình dựa trên điều thiện được thiết lập, vị ấy cảm thấy hài lòng. Này các hiền giả, đến mức độ này, vị tỳ kheo đã làm được rất nhiều.

(Hỏa giới)

Chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Chư Hiền, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới và những gì thuộc ngoại hỏa giới, đều thuộc về hỏa giới. Cần phải như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi như thật quán sát hỏa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với hỏa giới, tâm từ bỏ hỏa giới.

Chư Hiền, một thời xẩy ra khi hỏa giới dao động. Lửa thiêu cháy làng, thiêu cháy thị trấn, thiêu cháy thành phố, thiêu cháy xứ, thiêu cháy quốc độ. Lửa cháy cho đến cuối hàng cây cối, cho đến cuối hàng đường lớn, cho đến cuối hàng chân núi, cho đến cuối hàng thủy biên, hay cho đến cuối hàng khu đất khả ái, rồi lửa bị tắt vì không nhiên liệu. Chư Hiền, một thời xảy ra khi loài người đi kiếm lửa phải dùng lông gà và dây gân. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại hỏa giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ, tánh đoạn diệt có thể nêu rõ, tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.

Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: …(như trên)… và xả tương ứng với thiện được an trú. Chư Hiền, cho đến mức độ này, vị Tỷ- kheo đã làm thật nhiều.

21. Này các hiền giả, thế nào là tính gió? tính gió có thể ở bên trong, có thể ở bên ngoài. Thế nào là tính gió bên trong? Bất cứ cái gì thuộc về bên trong, thuộc về cá nhân, gió, có dạng gió, và bị bám giữ, ví dụ như: gió đi lên, gió đi xuống, gió trong thành bụng, gió trong ruột, gió chạy khắp các chi tiết cơ thể, hơi thở vào hơi thở ra, hoặc bất cứ cái gì khác thuộc về bên trong, thuộc về cá nhân, gió, có dạng gió và bị bám giữ — đây gọi là tính gió bên trong. Cho dù là tính gió bên trong hay tính gió bên ngoài, nó cũng chỉ đơn thuần là tính gió. Cần phải được nhìn thấy bằng trí tuệ chân chính đúng như thật rằng: ‘Cái này không phải của tôi, tôi không phải là cái này, cái này không phải là tự ngã của tôi.’ Sau khi thấy điều này bằng trí tuệ chân chính đúng như thật, người ấy chán ngán đối với tính gió, làm cho tâm phai nhạt đắm nhiễm đối với tính gió.

22. Này các hiền giả, có một thời điểm mà tính gió bên ngoài nổi loạn. Nó cuốn bay làng mạc, thị trấn, thành phố, quốc gia, vùng lãnh thổ. Này các hiền giả, có thời điểm vào tháng cuối của mùa hè, người ta phải tìm kiếm gió bằng quạt lá cọ hay quạt thổi, cỏ trên mái hiên cũng không buồn lay động. Này các hiền giả, đối với tính gió bên ngoài khổng lồ như vậy, sự không bền vững sẽ hiện rõ, tính chịu sự hao mòn sẽ hiện rõ, tính hoại diệt sẽ hiện rõ, tính biến đổi sẽ hiện rõ. Vậy thì đối với cơ thể tồn tại ngắn ngủi, bị bám giữ bởi sự mong muốn này, làm sao có thể cho rằng ‘tôi’, hay ‘của tôi’, hay ‘tôi là’? Điều đó là không thể.

(Phong giới)

Chư Hiền, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Chư Hiền, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết (tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới. Cần phải như thật quán sát phong giới với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Sau khi thấy như thật phong giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với phong giới, tâm từ bỏ phong giới.

Chư Hiền, một thời xẩy ra khi ngoại phong giới dao động, gió thổi bay làng, thổi bay thị trấn, thổi bay thành phố, thổi bay xứ, thổi bay quốc độ. Chư Hiền, một thời xẩy ra khi trong tháng cuối mùa hạ, loài người tìm cầu gió nhờ lá cây ta-la, nhờ cây quạt, và người ta không mong tìm được cỏ tại chỗ có rạch nước chảy. Chư Hiền, tánh vô thường của ngoại phong giới xưa ấy có thể nêu rõ; tánh hủy hoại có thể nêu rõ; tánh đoạn diệt có thể nêu rõ; tánh biến dịch có thể nêu rõ. Như vậy còn nói gì đến thân thể yểu thọ do khát ái chấp thủ này? Ở đây không có gì để có thể nói là tôi, là của tôi, hay tôi là.

23. Này các hiền giả, nếu những người khác mắng chửi, nhục mạ, tức giận, và quấy rối vị tỳ kheo ấy. Vị ấy biết rõ như sau: ‘Cảm giác khó chịu sinh ra từ sự tiếp xúc ở tai này đã khởi lên trong tôi. Và nó sinh ra do Phụ thuộc, không phải không có sự Phụ thuộc. Phụ thuộc vào cái gì? Phụ thuộc vào Xúc’. Vị ấy thấy rằng Xúc là không bền vững, cảm giác là không bền vững, nhận thức là không bền vững, các hoạt động là không bền vững, ‘cái biết’ là không bền vững. Tâm của vị ấy lao vào, trở nên trong sáng, lắng đọng, và quyết tâm bám chặt vào đối tượng chỉ như một đặc tính vật lý.

24. Này các hiền giả, nếu những người khác tấn công vị tỳ kheo ấy bằng những điều không mong muốn, không dễ chịu, không vừa ý — bằng những cú đấm, bằng cục đất, bằng gậy gộc, bằng đao kiếm. Vị ấy biết rõ như sau: ‘Cơ thể này có bản chất là như vậy, đối với một cơ thể như vậy thì những cú đấm chạm vào, những cục đất chạm vào, những cây gậy chạm vào, những đao kiếm chạm vào. Hơn nữa, Đức Thế Tôn đã dạy trong Kinh Ví Dụ Cái Cưa rằng: “Này các tỳ kheo, dù cho những kẻ cướp hung ác có dùng cưa hai tay để cưa đứt từng khúc tay chân, nếu ai khởi tâm oán hận, người đó không phải là người thực hành lời dạy của Ta.” Do đó, Nỗ lực Thiện của ta sẽ được khơi dậy không lùi bước, sự tập trung chú ý được thiết lập không quên lãng, cơ thể được lắng dịu không kích động, tâm được tập trung, hợp nhất. Bây giờ, hãy để những cú đấm chạm vào cơ thể này, hãy để cục đất chạm vào, hãy để gậy gộc chạm vào, hãy để đao kiếm chạm vào; lời dạy của chư Phật đang được thực hành.’

25. Này các hiền giả, nếu vị tỳ kheo ấy khi liên tục nhớ đến Phật, nhớ đến Pháp, nhớ đến Tăng như vậy, mà Tâm quân bình dựa trên điều thiện không được thiết lập. Vị ấy cảm thấy kinh hãi, sinh lòng cảnh tỉnh: ‘Thật thiệt thòi cho ta… Tâm quân bình dựa trên điều thiện không được thiết lập.’ Này các hiền giả, ví như cô con dâu nhìn thấy cha chồng liền cảm thấy kinh hãi, sinh lòng cảnh tỉnh; cũng vậy, này các hiền giả, nếu vị tỳ kheo ấy liên tục nhớ đến Phật, Pháp, Tăng mà Tâm quân bình dựa trên điều thiện không được thiết lập. Vị ấy sinh lòng cảnh tỉnh: ‘Thật thiệt thòi cho ta… Tâm quân bình dựa trên điều thiện không được thiết lập.’ Này các hiền giả, nếu vị tỳ kheo ấy liên tục nhớ đến Phật, nhớ đến Pháp, nhớ đến Tăng, và Tâm quân bình dựa trên điều thiện được thiết lập, vị ấy cảm thấy hài lòng. Này các hiền giả, đến mức độ này, vị tỳ kheo đã làm được rất nhiều.

Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: “Khổ thọ khởi lên nơi tôi này thuộc tai xúc chạm; thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên. Do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc vậy”. Vị ấy thấy xúc là vô thường; vị ấy thấy thọ là vô thường; vị ấy thấy tưởng là vô thường; vị ấy thấy hành là vô thường; vị ấy thấy thức là vô thường; tâm của vị này hoan hỷ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng.

Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỷ-kheo, không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy biết như sau: “Sự thể của thân này là như vậy nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm”. Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: “Chư Tỷ- kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân, nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ thì người ấy không làm đúng lời ta dạy”. Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không dải đãi, niệm được an trú, không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm, mặc cho gậy xúc chạm, mặc cho gươm xúc chạm thân này. Lời dạy chư Phật cần phải được thực hành".

Chư Hiền, Tỷ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: “Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú”. Chư Hiền, ví như một người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh. Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỷ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: “Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú”. Chư Hiền, nếu Tỷ- Kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú. Do vậy, Tỷ-kheo ấy được hoan hỷ. Chư Hiền, cho đến mức độ này, Tỷ-kheo đã làm thật nhiều.

26. Này các hiền giả, ví như khoảng không gian bị bao quanh dựa vào gỗ, dựa vào dây leo, dựa vào cỏ, dựa vào đất sét, liền được gọi bằng cái tên là ‘ngôi nhà’; cũng vậy, này các hiền giả, khoảng không gian bị bao quanh dựa vào xương, dựa vào gân, dựa vào thịt, dựa vào da, liền được gọi bằng cái tên là vật chất (sắc / rūpa).

27. Này các hiền giả, nếu con mắt bên trong còn nguyên vẹn, nhưng các hình ảnh (sắc / rūpā) bên ngoài không đi vào phạm vi [nhận thức], và không có sự hướng sự chú ý (tác ý / samannāhāro) tương ứng, thì phần ‘cái biết’ (thức phần / viññāṇabhāgassa) tương ứng chưa xuất hiện. Này các hiền giả, nếu con mắt bên trong còn nguyên vẹn, các hình ảnh bên ngoài đi vào phạm vi [nhận thức], nhưng không có sự hướng sự chú ý tương ứng, thì phần ‘cái biết’ tương ứng chưa xuất hiện. Nhưng này các hiền giả, khi con mắt bên trong còn nguyên vẹn, các hình ảnh bên ngoài đi vào phạm vi [nhận thức], và có sự hướng sự chú ý tương ứng; theo cách này, phần ‘cái biết’ tương ứng xuất hiện.

28. Bất cứ vật chất nào hiện diện trong trạng thái như vậy, nó được gom vào trong bám giữ vào tập vật chất. Bất cứ cảm giác nào hiện diện trong trạng thái như vậy, nó được gom vào trong bám giữ vào tập cảm giác. Bất cứ nhận thức nào hiện diện trong trạng thái như vậy, nó được gom vào trong bám giữ vào tập nhận thức. Bất cứ các hoạt động nào hiện diện trong trạng thái như vậy, chúng được gom vào trong bám giữ vào tập hoạt động. Bất cứ ‘cái biết’ nào hiện diện trong trạng thái như vậy, nó được gom vào trong bám giữ vào tập ‘cái biết’.

Vị ấy biết rõ như sau: ‘Như vậy, đây chính là sự thu nhiếp, sự tụ hội, sự kết hợp của năm tập hợp bị bám giữ này. Hơn nữa, Đức Thế Tôn đã dạy rằng: “Ai thấy sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc (duyên khởi / paṭiccasamuppāda), người ấy thấy Quy luật (pháp / dhamma); ai thấy Quy luật, người ấy thấy sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc.” Và những năm tập hợp bị bám giữ này chính là những thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc (duyên sinh / paṭiccasamuppannā). Bất cứ mong muốn (dục / chando), sự nương tựa, sự quyến luyến, sự vướng mắc nào vào năm tập hợp bị bám giữ này, đó là sự hình thành (tập khởi / samudayo) của đau khổ. Bất cứ sự nhổ bật sự tham đắm (dục tham / chandarāga), sự hoàn toàn từ bỏ (đoạn trừ / pahānaṁ) sự tham đắm nào đối với năm tập hợp bị bám giữ này, đó là sự chấm dứt của đau khổ.’ Này các hiền giả, đến mức độ này, vị tỳ kheo đã làm được rất nhiều.

29-30. Này các hiền giả, nếu tai bên trong còn nguyên vẹn […lặp lại…] mũi còn nguyên vẹn […lặp lại…] lưỡi còn nguyên vẹn […lặp lại…] cơ thể còn nguyên vẹn […lặp lại…] giác quan trí não (ý căn / mano) còn nguyên vẹn, nhưng các Điều (pháp / dhammā) bên ngoài không đi vào phạm vi [nhận thức], và không có sự hướng sự chú ý tương ứng, thì phần ‘cái biết’ tương ứng chưa xuất hiện.

38. Này các hiền giả, nếu giác quan trí não bên trong còn nguyên vẹn, các Điều bên ngoài đi vào phạm vi [nhận thức], nhưng không có sự hướng sự chú ý tương ứng, thì phần ‘cái biết’ tương ứng chưa xuất hiện. Nhưng này các hiền giả, khi giác quan trí não bên trong còn nguyên vẹn, các Điều bên ngoài đi vào phạm vi [nhận thức], và có sự hướng sự chú ý tương ứng; theo cách này, phần ‘cái biết’ tương ứng xuất hiện.

Bất cứ vật chất nào hiện diện trong trạng thái như vậy, nó được gom vào trong bám giữ vào tập vật chất. Bất cứ cảm giác nào hiện diện trong trạng thái như vậy, nó được gom vào trong bám giữ vào tập cảm giác. Bất cứ nhận thức nào hiện diện trong trạng thái như vậy, nó được gom vào trong bám giữ vào tập nhận thức. Bất cứ các hoạt động nào hiện diện trong trạng thái như vậy, chúng được gom vào trong bám giữ vào tập hoạt động. Bất cứ ‘cái biết’ nào hiện diện trong trạng thái như vậy, nó được gom vào trong bám giữ vào tập ‘cái biết’. Vị ấy biết rõ như sau: 'Như vậy, đây chính là sự thu nhiếp, sự tụ hội, sự kết hợp của năm tập hợp bị bám giữ này.

Hơn nữa, Đức Thế Tôn đã dạy rằng: “Ai thấy sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc, người ấy thấy Quy luật; ai thấy Quy luật, người ấy thấy sự sinh ra qua quan hệ Phụ thuộc.” Và những năm tập hợp bị bám giữ này chính là những thứ sinh qua quan hệ Phụ thuộc. Bất cứ mong muốn, sự nương tựa, sự quyến luyến, sự vướng mắc nào vào năm tập hợp bị bám giữ này, đó là sự hình thành của đau khổ. Bất cứ sự nhổ bật sự tham đắm, sự hoàn toàn từ bỏ sự tham đắm nào đối với năm tập hợp bị bám giữ này, đó là sự chấm dứt của đau khổ.’ Này các hiền giả, đến mức độ này, vị tỳ kheo đã làm được rất nhiều."

Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Các tỳ kheo ấy cảm thấy hài lòng, vui mừng đón nhận lời dạy của Tôn giả Sāriputta.

Kết thúc Kinh Đại Dấu Chân Voi, bài kinh thứ tám.

Chư Hiền, như một khoảng trống được bao vây bởi cây gậy, bởi dây leo, bởi cỏ, bởi bùn, được biết là một nhà ở. Cũng vậy, Chư Hiền, một khoảng trống được bao vây bởi xương, bởi dây gân, bởi thịt, bởi da, được biết là một sắc pháp.

Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, nhưng ngoại sắc không vào trong tầm mắt, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, chỉ khi nào nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, có sự quy tục xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp có hiện khởi.

Bất cứ sắc pháp gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng gì được hiện khởi như vậy đều được quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: “Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập hợp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi”. Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt”. Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội tai không bị hư hại, nhưng ngoại thanh không vào trong tầm tai, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. … Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ- kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội lỗ mũi không bị hư hại, nhưng ngoại hương không vào trong tầm mũi, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. … Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội lưỡi không bị hư hại, nhưng ngoại vị không vào trong tầm lưỡi, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. … Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ- kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội thân không bị hư hại, nhưng ngoại xúc không vào trong tầm của thân, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. … Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội ý căn không bị hư hại, ngoại pháp vào trong tầm của ý căn, nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, chỉ khi nào nội ý căn không bị hư hại, ngoại pháp vào trong tầm của ý căn, có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp có hiện khởi.

Bất cứ sắc gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: “Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập họp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi”. Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt”. Cho đến mức độ này, chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều.

Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta dạy.

-ooOoo-