7. “Bạch Thế Tôn, ở đây con có suy nghĩ như sau: ‘Thật là một lợi ích cho ta, thật là một may mắn lớn cho ta, khi ta được sống cùng với những người bạn đồng tu (đồng phạm hạnh / sabrahmacārīhi) như thế này.’ Bạch Thế Tôn, đối với các tôn giả này, con luôn duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua thân (từ thân nghiệp / mettaṁ kāyakammaṁ) dù ở trước mặt hay sau lưng; duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua lời nói (từ khẩu nghiệp / mettaṁ vacīkammaṁ) dù ở trước mặt hay sau lưng; duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua ý nghĩ (từ ý nghiệp / mettaṁ manokammaṁ) dù ở trước mặt hay sau lưng. Bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ như sau: ‘Hay là ta hãy gác lại tâm của chính mình, và sống thuận theo tâm của những tôn giả này.’ Bạch Thế Tôn, con đã gác lại tâm của chính mình và sống thuận theo tâm của những tôn giả này. Bạch Thế Tôn, cơ thể chúng con tuy khác biệt, nhưng con nghĩ rằng tâm chỉ là một.”
Tôn giả Nandiya […lặp lại…] Tôn giả Kimila cũng bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con cũng có suy nghĩ như sau: ‘Thật là một lợi ích cho ta, thật là một may mắn lớn cho ta, khi ta được sống cùng với những người bạn đồng tu như thế này.’ Bạch Thế Tôn, đối với các tôn giả này, con luôn duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua thân dù ở trước mặt hay sau lưng, duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua lời nói dù ở trước mặt hay sau lưng, duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua ý nghĩ dù ở trước mặt hay sau lưng. Bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ như sau: ‘Hay là ta hãy gác lại tâm của chính mình, và sống thuận theo tâm của những tôn giả này.’ Bạch Thế Tôn, con đã gác lại tâm của chính mình và sống thuận theo tâm của những tôn giả này. Bạch Thế Tôn, cơ thể chúng con tuy khác biệt, nhưng con nghĩ rằng tâm chỉ là một.” “Bạch Thế Tôn, theo cách như vậy, chúng con sống hòa hợp, cùng nhau hoan hỷ, không tranh cãi, hòa quyện như nước với sữa, nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm.”
8. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, các ông có sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú (không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần/appamattā ātāpino pahitattā) không?”
9. “Bạch Thế Tôn, quả thật chúng con sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú.”
“Nhưng này Anuruddha, làm thế nào mà các ông sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú?”
“Bạch Thế Tôn, ở đây, trong chúng con, ai đi khất thực từ làng về trước, người ấy sẽ trải chỗ ngồi, chuẩn bị nước uống và nước rửa, chuẩn bị thau đựng đồ thừa. Ai đi khất thực từ làng về sau, nếu có thức ăn thừa và nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thì đổ bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc dìm xuống nước nơi không có côn trùng. Người ấy thu dọn chỗ ngồi, cất nước uống và nước rửa, cất thau đựng đồ thừa, và quét dọn nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa, hoặc ghè nước trong nhà vệ sinh trống rỗng, người ấy sẽ mang nước đổ vào. Nếu việc đó quá sức, người ấy dùng dấu tay gọi người thứ hai đến và chúng con dùng tay khiêng nước, nhưng bạch Thế Tôn, chúng con không vì lý do đó mà phá vỡ sự im lặng. Và bạch Thế Tôn, cứ mỗi năm ngày, chúng con lại ngồi suốt đêm để thảo luận về Chân lý (pháp thoại / dhammiyā kathāya). Bạch Thế Tôn, theo cách như vậy, chúng con sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú.”
10. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, khi các ông sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú như vậy, các ông có đạt được trạng thái siêu việt (pháp thượng nhân / uttari manussadhammā), sự hiểu biết bậc thánh (tri kiến thù thắng / alamariyañāṇadassanaviseso), đời sống thoải mái (an trú / phāsuvihāro) nào không?”
“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, chúng con hoàn toàn rời bỏ (ly / vivicca) bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), đạt và an trú Thiền-na (jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), với hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ (do ly dục sinh / vivekajaṁ). Bạch Thế Tôn, đây là trạng thái siêu việt, sự hiểu biết bậc thánh, đời sống thoải mái mà chúng con đạt được khi sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú.”
11-13. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu (chỉ tức / paṭippassaddhiyā) trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”
“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, với sự lắng dịu (diệt / vūpasamā) của chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ / vitakkavicārānaṁ), chúng con đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), với hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định (do định sinh / samādhijaṁ), đạt và an trú Thiền-na thứ hai. Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được.”
14. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”
“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, với sự cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā) đối với hân hoan, chúng con an trú trong Tâm quân bình (xả / upekkhakā), tập trung chú ý (chánh niệm / satā) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajānā), cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể, điều mà các bậc thánh tuyên bố: ‘Người có Tâm quân bình, người chú tâm (chánh niệm / satimā), an trú trong hạnh phúc’, đạt và an trú Thiền-na thứ ba. Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được.”
15. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”
“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, với sự hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúc và hoàn toàn từ bỏ đau khổ (khổ / dukkhassa), cùng với sự tan biến (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) từ trước, chúng con đạt và an trú Thiền-na thứ tư, trạng thái không đau khổ không hạnh phúc, có sự thanh tịnh của Tâm quân bình và tập trung chú ý (xả niệm thanh tịnh / upekkhāsatipārisuddhiṁ). Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được.”
16. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”
“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, vượt qua hoàn toàn nhận thức (tưởng / saññānaṁ) về hình ảnh (sắc / rūpa), với sự tan biến của nhận thức về Xúc qua va chạm vật lý (hữu đối tưởng / paṭighasaññānaṁ), không suy nghĩ (tác ý / amanasikārā) về nhận thức sai biệt, nghĩ rằng ‘Không gian là vô tận’, chúng con đạt và an trú cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatanaṁ). Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được.”
17. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”
“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng ‘Cái Biết là vô tận’, chúng con đạt và an trú cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatanaṁ) […lặp lại…] vượt qua hoàn toàn cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, nghĩ rằng ‘Không có vật gì’, chúng con đạt và an trú cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatanaṁ) […lặp lại…] vượt qua hoàn toàn cõi Không Có Vật Gì, chúng con đạt và an trú xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatanaṁ). Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được.”
18. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”
“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, vượt qua hoàn toàn xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, chúng con đạt và an trú định làm ngưng cảm giác và nhận thức (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodhaṁ), và sau khi thấy rõ (tuệ tri / disvā) bằng trí tuệ, các nguồn ác (lậu hoặc / āsavā) của chúng con bị cạn kiệt (đoạn tận / parikkhīṇā). Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được. Và bạch Thế Tôn, ngoài đời sống thoải mái này, chúng con không thấy có một đời sống thoải mái nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn.”
“Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Ngoài đời sống thoải mái này, không có một đời sống thoải mái nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn.”
19. Rồi Thế Tôn, sau khi dùng giảng về Chân lý để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn khởi và làm cho hoan hỷ Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila, Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.
20. Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila tiễn bước Thế Tôn, sau khi quay trở lại, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila nói với Tôn giả Anuruddha: “Có bao giờ chúng tôi báo cho Tôn giả Anuruddha biết rằng: ‘Chúng tôi đã đạt được những trạng thái và sự chứng đắc này, chứng đắc kia’ đâu, mà Tôn giả Anuruddha lại tuyên bố trước mặt Thế Tôn cho đến tận sự cạn kiệt các nguồn ác?”
“Các tôn giả chưa từng báo cho tôi biết rằng: ‘Chúng tôi đã đạt được những trạng thái và sự chứng đắc này, chứng đắc kia’, nhưng tôi đã biết được tâm của các tôn giả bằng tâm của mình rằng: ‘Các tôn giả này đã đạt được những trạng thái và sự chứng đắc này, chứng đắc kia’. Chư thiên cũng đã báo cho tôi biết điều này: ‘Các tôn giả này đã đạt được những trạng thái và sự chứng đắc này, chứng đắc kia’. Và tôi đã trả lời khi được Thế Tôn hỏi.”
21. Lúc bấy giờ, dạ-xoa Dīgha Parajana đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, dạ-xoa Dīgha Parajana bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, thật là một lợi ích cho dân chúng Vajjī, thật là một may mắn lớn cho dân chúng Vajjī, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú tại đây, cùng với ba thiện nam tử này — Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila.”
Nghe tiếng của dạ-xoa Dīgha Parajana, chư thiên sống trên mặt đất liền truyền rao tiếng gọi: “Thưa các vị, thật là một lợi ích cho dân chúng Vajjī, thật là một may mắn lớn cho dân chúng Vajjī, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú tại đây, cùng với ba thiện nam tử này — Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila.”
Nghe tiếng của chư thiên sống trên mặt đất, chư thiên cõi Tứ Thiên Vương […lặp lại…] chư thiên cõi Đao Lợi […lặp lại…] chư thiên cõi Dạ-ma […lặp lại…] chư thiên cõi Đâu-suất […lặp lại…] chư thiên cõi Hóa Lạc […lặp lại…] chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại […lặp lại…] chư thiên cõi Phạm Thiên liền truyền rao tiếng gọi: “Thưa các vị, thật là một lợi ích cho dân chúng Vajjī, thật là một may mắn lớn cho dân chúng Vajjī, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú tại đây, cùng với ba thiện nam tử này — Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila.”
Như vậy, ngay trong khoảnh khắc ấy, ngay trong giây phút ấy, danh tiếng của các tôn giả này được biết đến cho đến tận cõi Phạm Thiên.
22. "Đúng là như vậy, này Dīgha, đúng là như vậy, này Dīgha. Này Dīgha, nếu gia tộc mà ba thiện nam tử này đã từ bỏ gia đình, sống không nhà để xuất gia, nếu gia tộc ấy nhớ đến ba thiện nam tử này với tâm không nghi ngờ (tịnh tín / pasannacitta), thì điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho gia tộc ấy. Này Dīgha, nếu quyến thuộc […lặp lại…] nếu ngôi làng […lặp lại…] nếu thị trấn […lặp lại…] nếu thành phố […lặp lại…] nếu quốc gia mà ba thiện nam tử này đã từ bỏ gia đình, sống không nhà để xuất gia, nếu quốc gia ấy nhớ đến ba thiện nam tử này với tâm không nghi ngờ, thì điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho quốc gia ấy. Này Dīgha, nếu tất cả Sát-đế-lỵ nhớ đến ba thiện nam tử này với tâm không nghi ngờ, thì điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho tất cả Sát-đế-lỵ. Này Dīgha, nếu tất cả Bà-la-môn […lặp lại…] nếu tất cả Phệ-xá […lặp lại…] nếu tất cả Thủ-đà nhớ đến ba thiện nam tử này với tâm không nghi ngờ, thì điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho tất cả Thủ-đà.
Này Dīgha, nếu toàn bộ thế giới cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người nhớ đến ba thiện nam tử này với tâm không nghi ngờ, thì điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho toàn bộ thế giới cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người.
Này Dīgha, hãy xem, ba thiện nam tử này đang thực hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người."
Thế Tôn đã nói những lời này. Dạ-xoa Dīgha Parajana hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.
Kết thúc Kinh Tiểu Gosiṅga.