Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 31. KINH TIỂU GOSIṄGA

(Cūḷagosiṅgasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy — Một thời, Thế Tôn trú tại Nādika, ở Ngôi nhà Gạch (Giñjakāvasatha).

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila đang trú tại khu rừng sālā Gosiṅga.

3. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi rời khỏi tịnh cư (thiền tịnh / paṭisallānā) đứng dậy, đi đến khu rừng sālā Gosiṅga. Người giữ rừng nhìn thấy Thế Tôn đang đi đến từ đằng xa. Thấy Thế Tôn, người ấy nói: “Này Sa-môn, đừng vào khu rừng này. Ở đây có ba thiện nam tử đang trú, họ là những người đang tập trung vào mục tiêu tâm linh của chính mình. Xin đừng làm phiền sự an ổn của họ.”

4. Tôn giả Anuruddha nghe tiếng người giữ rừng đang nói chuyện với Thế Tôn. Nghe xong, vị ấy bảo người giữ rừng: “Này hiền giả giữ rừng, đừng ngăn cản Thế Tôn. Bậc Đạo Sư, Thế Tôn của chúng ta đã đến.” Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila; sau khi đến, vị ấy nói với Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila: “Hãy tiến lên, thưa các tôn giả! Hãy tiến lên, thưa các tôn giả! Bậc Đạo Sư, Thế Tôn của chúng ta đã đến.”

5. Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila đi ra đón Thế Tôn — một vị đỡ lấy y bát của Thế Tôn, một vị trải chỗ ngồi, một vị chuẩn bị nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ đã được trải sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Các tôn giả ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Khi Tôn giả Anuruddha đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn nói điều này: “Này Anuruddha, các ông có được an lành không, các ông có được khỏe mạnh không, các ông có bị mệt nhọc trong việc đi khất thực không?”

“Bạch Thế Tôn, chúng con an lành; bạch Thế Tôn, chúng con khỏe mạnh; và bạch Thế Tôn, chúng con không bị mệt nhọc trong việc đi khất thực.”

6. “Này Anuruddha, các ông có sống hòa hợp, cùng nhau hoan hỷ, không tranh cãi, hòa quyện như nước với sữa (khīrodakībhūtā), nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm không?”

“Bạch Thế Tôn, quả thật chúng con sống hòa hợp, cùng nhau hoan hỷ, không tranh cãi, hòa quyện như nước với sữa, nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm.”

“Nhưng này Anuruddha, làm thế nào mà các ông sống hòa hợp, cùng nhau hoan hỷ, không tranh cãi, hòa quyện như nước với sữa, nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm?”

MN 31. TIỂU KINH RỪNG SỪNG BÒ

(Cùlagosinga Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Nadika, tại Ginjakavasatha.

Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Nandiya, Tôn giả Kimbila trú tại khu vườn trong rừng Gosinga (rừng Sừng bò) có nhiều cây ta-la.

Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi tham thiền, đứng dậy đi đến khu vườn trong rừng Gosinga có nhiều cây ta-la. Người giữ vườn thấy Thế Tôn từ xa đi đến, liền bạch Thế Tôn:

– Bạch Sa-môn, chớ có vào khu vườn này. Có ba Thiện nam tử đang trú tại đây, rất ái luyến tự ngã. Chớ có phiền nhiễu các vị ấy.

Tôn giả Anuruddha nghe người giữ vườn nói chuyện với Thế Tôn như vậy liền nói với người giữ vườn:

– Này người giữ vườn, chớ có ngăn chận Thế Tôn. Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của chúng tôi đã đến.

Rồi Tôn giả Anuruddha đi đến Tôn giả Nandiya Tôn giả Kimbila và nói:

– Chư Tôn giả hãy đến, chư Tôn giả hãy đến. Thế Tôn, bậc đạo sư của chúng ta đã đến.

Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila ra đón Thế Tôn, một người cầm y bát của Thế Tôn, một người sửa soạn chỗ ngồi, một người đặt sẵn nước rửa chân. Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn, sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân. Rồi các Tôn giả ấy đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi xuống một bên:

– Này các Anuruddha, các Ông có được an lành không? Có được sống yên vui không? Ði khất thực có khỏi mệt nhọc không?

– Bạch Thế Tôn, chúng con được an lành; bạch Thế Tôn, chúng con sống yên vui; bạch Thế Tôn, chúng con đi khất thực khỏi có mệt nhọc.

– Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?

– Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.

– Này các Anuruddha, như thế nào các Ông sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm?

7. “Bạch Thế Tôn, ở đây con có suy nghĩ như sau: ‘Thật là một lợi ích cho ta, thật là một may mắn lớn cho ta, khi ta được sống cùng với những người bạn đồng tu (đồng phạm hạnh / sabrahmacārīhi) như thế này.’ Bạch Thế Tôn, đối với các tôn giả này, con luôn duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua thân (từ thân nghiệp / mettaṁ kāyakammaṁ) dù ở trước mặt hay sau lưng; duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua lời nói (từ khẩu nghiệp / mettaṁ vacīkammaṁ) dù ở trước mặt hay sau lưng; duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua ý nghĩ (từ ý nghiệp / mettaṁ manokammaṁ) dù ở trước mặt hay sau lưng. Bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ như sau: ‘Hay là ta hãy gác lại tâm của chính mình, và sống thuận theo tâm của những tôn giả này.’ Bạch Thế Tôn, con đã gác lại tâm của chính mình và sống thuận theo tâm của những tôn giả này. Bạch Thế Tôn, cơ thể chúng con tuy khác biệt, nhưng con nghĩ rằng tâm chỉ là một.”

Tôn giả Nandiya […lặp lại…] Tôn giả Kimila cũng bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con cũng có suy nghĩ như sau: ‘Thật là một lợi ích cho ta, thật là một may mắn lớn cho ta, khi ta được sống cùng với những người bạn đồng tu như thế này.’ Bạch Thế Tôn, đối với các tôn giả này, con luôn duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua thân dù ở trước mặt hay sau lưng, duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua lời nói dù ở trước mặt hay sau lưng, duy trì hành động bằng Tâm yêu thương qua ý nghĩ dù ở trước mặt hay sau lưng. Bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ như sau: ‘Hay là ta hãy gác lại tâm của chính mình, và sống thuận theo tâm của những tôn giả này.’ Bạch Thế Tôn, con đã gác lại tâm của chính mình và sống thuận theo tâm của những tôn giả này. Bạch Thế Tôn, cơ thể chúng con tuy khác biệt, nhưng con nghĩ rằng tâm chỉ là một.” “Bạch Thế Tôn, theo cách như vậy, chúng con sống hòa hợp, cùng nhau hoan hỷ, không tranh cãi, hòa quyện như nước với sữa, nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm.”

8. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, các ông có sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú (không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần/appamattā ātāpino pahitattā) không?”

9. “Bạch Thế Tôn, quả thật chúng con sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú.”

“Nhưng này Anuruddha, làm thế nào mà các ông sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú?”

“Bạch Thế Tôn, ở đây, trong chúng con, ai đi khất thực từ làng về trước, người ấy sẽ trải chỗ ngồi, chuẩn bị nước uống và nước rửa, chuẩn bị thau đựng đồ thừa. Ai đi khất thực từ làng về sau, nếu có thức ăn thừa và nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thì đổ bỏ ở nơi không có cỏ xanh hoặc dìm xuống nước nơi không có côn trùng. Người ấy thu dọn chỗ ngồi, cất nước uống và nước rửa, cất thau đựng đồ thừa, và quét dọn nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa, hoặc ghè nước trong nhà vệ sinh trống rỗng, người ấy sẽ mang nước đổ vào. Nếu việc đó quá sức, người ấy dùng dấu tay gọi người thứ hai đến và chúng con dùng tay khiêng nước, nhưng bạch Thế Tôn, chúng con không vì lý do đó mà phá vỡ sự im lặng. Và bạch Thế Tôn, cứ mỗi năm ngày, chúng con lại ngồi suốt đêm để thảo luận về Chân lý (pháp thoại / dhammiyā kathāya). Bạch Thế Tôn, theo cách như vậy, chúng con sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú.”

10. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, khi các ông sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú như vậy, các ông có đạt được trạng thái siêu việt (pháp thượng nhân / uttari manussadhammā), sự hiểu biết bậc thánh (tri kiến thù thắng / alamariyañāṇadassanaviseso), đời sống thoải mái (an trú / phāsuvihāro) nào không?”

“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, chúng con hoàn toàn rời bỏ (ly / vivicca) bản năng (dục / kāmehi), rời bỏ những điều không thiện (bất thiện pháp / akusalehi dhammehi), đạt và an trú Thiền-na (jhāna) thứ nhất, một trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), với hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc (lạc / sukha) sinh ra từ sự rời bỏ (do ly dục sinh / vivekajaṁ). Bạch Thế Tôn, đây là trạng thái siêu việt, sự hiểu biết bậc thánh, đời sống thoải mái mà chúng con đạt được khi sống không sao nhãng, nhiệt tâm, chuyên chú.”

11-13. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu (chỉ tức / paṭippassaddhiyā) trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”

“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, với sự lắng dịu (diệt / vūpasamā) của chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ / vitakkavicārānaṁ), chúng con đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), với hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định (do định sinh / samādhijaṁ), đạt và an trú Thiền-na thứ hai. Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được.”

14. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”

“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, với sự cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā) đối với hân hoan, chúng con an trú trong Tâm quân bình (xả / upekkhakā), tập trung chú ý (chánh niệm / satā) và nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajānā), cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể, điều mà các bậc thánh tuyên bố: ‘Người có Tâm quân bình, người chú tâm (chánh niệm / satimā), an trú trong hạnh phúc’, đạt và an trú Thiền-na thứ ba. Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được.”

15. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”

“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, với sự hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúc và hoàn toàn từ bỏ đau khổ (khổ / dukkhassa), cùng với sự tan biến (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) từ trước, chúng con đạt và an trú Thiền-na thứ tư, trạng thái không đau khổ không hạnh phúc, có sự thanh tịnh của Tâm quân bình và tập trung chú ý (xả niệm thanh tịnh / upekkhāsatipārisuddhiṁ). Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được.”

16. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”

“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, vượt qua hoàn toàn nhận thức (tưởng / saññānaṁ) về hình ảnh (sắc / rūpa), với sự tan biến của nhận thức về Xúc qua va chạm vật lý (hữu đối tưởng / paṭighasaññānaṁ), không suy nghĩ (tác ý / amanasikārā) về nhận thức sai biệt, nghĩ rằng ‘Không gian là vô tận’, chúng con đạt và an trú cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatanaṁ). Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được.”

17. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”

“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, vượt qua hoàn toàn cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng ‘Cái Biết là vô tận’, chúng con đạt và an trú cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatanaṁ) […lặp lại…] vượt qua hoàn toàn cõi ‘Cái Biết’ là Vô Tận, nghĩ rằng ‘Không có vật gì’, chúng con đạt và an trú cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatanaṁ) […lặp lại…] vượt qua hoàn toàn cõi Không Có Vật Gì, chúng con đạt và an trú xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatanaṁ). Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được.”

18. “Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Nhưng này Anuruddha, để vượt qua trạng thái này, để làm lắng dịu trạng thái này, các ông có đạt được một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác không?”

“Bạch Thế Tôn, làm sao lại không! Ở đây bạch Thế Tôn, bất cứ khi nào chúng con muốn, vượt qua hoàn toàn xứ Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức”, chúng con đạt và an trú định làm ngưng cảm giác và nhận thức (diệt thọ tưởng định / saññāvedayitanirodhaṁ), và sau khi thấy rõ (tuệ tri / disvā) bằng trí tuệ, các nguồn ác (lậu hoặc / āsavā) của chúng con bị cạn kiệt (đoạn tận / parikkhīṇā). Bạch Thế Tôn, để vượt qua trạng thái trước, để làm lắng dịu trạng thái trước, đây là một trạng thái siêu việt khác, một sự hiểu biết bậc thánh khác, một đời sống thoải mái khác mà chúng con đạt được. Và bạch Thế Tôn, ngoài đời sống thoải mái này, chúng con không thấy có một đời sống thoải mái nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn.”

“Lành thay, lành thay, này Anuruddha. Ngoài đời sống thoải mái này, không có một đời sống thoải mái nào khác cao thượng hơn hay vi diệu hơn.”

19. Rồi Thế Tôn, sau khi dùng giảng về Chân lý để chỉ dẫn, khích lệ, làm cho phấn khởi và làm cho hoan hỷ Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila, Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.

20. Rồi Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila tiễn bước Thế Tôn, sau khi quay trở lại, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila nói với Tôn giả Anuruddha: “Có bao giờ chúng tôi báo cho Tôn giả Anuruddha biết rằng: ‘Chúng tôi đã đạt được những trạng thái và sự chứng đắc này, chứng đắc kia’ đâu, mà Tôn giả Anuruddha lại tuyên bố trước mặt Thế Tôn cho đến tận sự cạn kiệt các nguồn ác?”

“Các tôn giả chưa từng báo cho tôi biết rằng: ‘Chúng tôi đã đạt được những trạng thái và sự chứng đắc này, chứng đắc kia’, nhưng tôi đã biết được tâm của các tôn giả bằng tâm của mình rằng: ‘Các tôn giả này đã đạt được những trạng thái và sự chứng đắc này, chứng đắc kia’. Chư thiên cũng đã báo cho tôi biết điều này: ‘Các tôn giả này đã đạt được những trạng thái và sự chứng đắc này, chứng đắc kia’. Và tôi đã trả lời khi được Thế Tôn hỏi.”

21. Lúc bấy giờ, dạ-xoa Dīgha Parajana đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, dạ-xoa Dīgha Parajana bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, thật là một lợi ích cho dân chúng Vajjī, thật là một may mắn lớn cho dân chúng Vajjī, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú tại đây, cùng với ba thiện nam tử này — Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila.”

Nghe tiếng của dạ-xoa Dīgha Parajana, chư thiên sống trên mặt đất liền truyền rao tiếng gọi: “Thưa các vị, thật là một lợi ích cho dân chúng Vajjī, thật là một may mắn lớn cho dân chúng Vajjī, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú tại đây, cùng với ba thiện nam tử này — Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila.”

Nghe tiếng của chư thiên sống trên mặt đất, chư thiên cõi Tứ Thiên Vương […lặp lại…] chư thiên cõi Đao Lợi […lặp lại…] chư thiên cõi Dạ-ma […lặp lại…] chư thiên cõi Đâu-suất […lặp lại…] chư thiên cõi Hóa Lạc […lặp lại…] chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại […lặp lại…] chư thiên cõi Phạm Thiên liền truyền rao tiếng gọi: “Thưa các vị, thật là một lợi ích cho dân chúng Vajjī, thật là một may mắn lớn cho dân chúng Vajjī, khi Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đang trú tại đây, cùng với ba thiện nam tử này — Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimila.”

Như vậy, ngay trong khoảnh khắc ấy, ngay trong giây phút ấy, danh tiếng của các tôn giả này được biết đến cho đến tận cõi Phạm Thiên.

22. "Đúng là như vậy, này Dīgha, đúng là như vậy, này Dīgha. Này Dīgha, nếu gia tộc mà ba thiện nam tử này đã từ bỏ gia đình, sống không nhà để xuất gia, nếu gia tộc ấy nhớ đến ba thiện nam tử này với tâm không nghi ngờ (tịnh tín / pasannacitta), thì điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho gia tộc ấy. Này Dīgha, nếu quyến thuộc […lặp lại…] nếu ngôi làng […lặp lại…] nếu thị trấn […lặp lại…] nếu thành phố […lặp lại…] nếu quốc gia mà ba thiện nam tử này đã từ bỏ gia đình, sống không nhà để xuất gia, nếu quốc gia ấy nhớ đến ba thiện nam tử này với tâm không nghi ngờ, thì điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho quốc gia ấy. Này Dīgha, nếu tất cả Sát-đế-lỵ nhớ đến ba thiện nam tử này với tâm không nghi ngờ, thì điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho tất cả Sát-đế-lỵ. Này Dīgha, nếu tất cả Bà-la-môn […lặp lại…] nếu tất cả Phệ-xá […lặp lại…] nếu tất cả Thủ-đà nhớ đến ba thiện nam tử này với tâm không nghi ngờ, thì điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho tất cả Thủ-đà.

Này Dīgha, nếu toàn bộ thế giới cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người nhớ đến ba thiện nam tử này với tâm không nghi ngờ, thì điều đó sẽ đem lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho toàn bộ thế giới cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người.

Này Dīgha, hãy xem, ba thiện nam tử này đang thực hành vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì mục đích, lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người."

Thế Tôn đã nói những lời này. Dạ-xoa Dīgha Parajana hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kết thúc Kinh Tiểu Gosiṅga.

– Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con nghe như sau: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh như vậy”. Bạch Thế Tôn, do vậy, đối với các vị đồng phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy, chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm.

Rồi Tôn giả Nandiya… (như trên)… rồi Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con nghĩ như sau: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh như vậy”. Bạch Thế Tôn, do vậy, đối với các vị đồng phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy, chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm. Bạch Thế Tôn, như vậy chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.

– Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần không?

– Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

– Này các Anuruddha, như thế nào, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần?

– Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con, ai đi làng khất thực về trước, thì người ấy sắp đặt các chỗ ngồi, soạn sẵn nước uống, nước rửa chân, soạn sẵn một bát để bỏ đồ dư. Ai đi làng khất thực về sau, thì người ấy, còn đồ ăn thừa nếu muốn thì ăn, nếu không muốn thì bỏ vào chỗ không có cỏ xanh hay đổ vào nước không có loài côn trùng và người ấy xếp dọn lại các chỗ ngồi, cất đi nước uống, nước rửa chân, cất đi cái bát để bỏ đồ dư và quét sạch nhà ăn. Ai thấy ghè nước uống, ghè nước rửa chân, hay ghè nước trong nhà cầu hết nước, trống không thì người ấy sẽ lo liệu (nước). Nếu ai làm không nổi với sức bàn tay của mình, thì người ấy dùng tay ra hiệu gọi người thứ hai: “Chúng ta hãy lo liệu (nước)”. Dầu vậy, bạch Thế Tôn, chúng con không vì vây mà gây ra tiếng động. Và đến ngày thứ năm, bạch Thế Tôn, suốt cả đêm, chúng con ngồi đàm luận về đạo pháp. Như vây, bạch Thế Tôn chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

– Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, các Ông có chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, sống thoải mái, an lạc không?

– Bạch Thế Tôn, sao có thể không được. Ở đây, bạch Thế Tôn, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Như vậy, bạch Thế Tôn, đối với chúng con, là pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; chúng con chứng được và sống thoải mái, an lạc, nhờ chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

– Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia, có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc không?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được. Ở đây, bạch Thế Tôn, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con diệt tầm diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc.

– Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia, có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc không?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được. Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba, Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, và sống thoải mái, an lạc.

– Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia, có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc không?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được. Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái an lạc.

– Lành thay, lành thay, này các Anuruddha! Này các Anuruddha, các Ông có vượt qua sự an trú kia, có làm cho khinh an sự an trú kia, và chứng được một pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc không?

– Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được. Ở đây lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng; chúng con nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc… (như trên)… Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ… (như trên)… Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ… (như trên)… Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn; chúng con vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Sau khi đã thấy nhờ trí tuệ, các lậu hoặc của chúng con được đoạn trừ. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân này, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc. Bạch Thế Tôn, chúng con không thấy một lạc trú nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự lạc trú này.

– Lành thay, lành thay, các Anuruddha! Này các Anuruddha, ngoài lạc trú này, không có một lạc trú nào khác cao thượng hơn, thù thắng hơn.

Thế Tôn thuyết pháp cho Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila, khai thị, khích lệ làm cho hoan hỷ, làm cho phấn khởi, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về. Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila, sau khi tiễn đưa Thế Tôn và đi trở về. Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila nói với Tôn giả Anuruddha:

– Chúng tôi không bao giờ nói với Tôn giả Anuruddha như sau: “Chúng tôi là người đã chứng và an trú quả này, an trú quả này”, và nhờ vậy, Tôn giả Anuruddha, trước mặt Thế Tôn, đã nêu rõ (các quả chứng) cho đến sự đoạn trừ các lậu hoặc.

– Chư Tôn giả không nói với tôi như sau: “Chúng tôi là người đã chứng và an trú quả này, an trú quả này”, nhưng với tâm của tôi, tôi biết được tâm của các Tôn giả: “Chư Tôn giả này là Người đã chứng và an trú quả này, an trú quả này”. Và chư Thiên có nói với tôi về vấn đề này: “Chư Tôn giả này là Người đã chứng và an trú quả này, an trú quả này”. Chính nhờ phương tiện này, các câu mà Thế Tôn hỏi đã được trả lời.

Rồi Digha Parajana, một Yakkha (Trường quỷ Dạ-xoa) đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Digha Parajana bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, thật lợi ích thay cho dân chúng Vajji (Bạt kỳ)! Thật khéo lợi ích thay cho dân chúng Vajji! Vì Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở đây, và cả ba Thiện nam tử, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila cũng vậy.

Sau khi nghe tiếng của Yakkha Digha Parajana, các địa thần làm cho tiếng này được nghe: “Chư Hiền giả, thật lợi ích thay cho dân chúng Vajji! thật khéo lợi ích cho dân chúng Vajji! Vì Thế Tôn, bậc A-la- hán, Chánh Ðẳng Giác ở đây và cả ba Thiện nam tử này, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila cũng vậy”. Sau khi nghe tiếng của các Ðịa thần, bốn Thiên vương… (như trên)… cõi trời Ba mươi ba… Dạ-ma thiên… Ðâu-suất-đà thiên… Hóa lạc thiên… Tha hóa tự tại thiên… Phạm chúng thiên làm cho tiếng này được nghe: “Chư Hiền giả, thật lợi ích thay có dân chúng Vajji! Thật khéo lợi ích thay cho dân chúng Vajji! Vì Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở đây, và cả ba Thiện nam tử này, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya, và Tôn giả Kimbila”. Như vậy, trong giờ phút này, trong sát-na này, các Tôn giả ấy được biết cho đến Phạm thiên.

– Sự việc là như vậy, này Digha, sự việc là như vậy, này Digha, này Digha, nếu gia đình nào, ba Thiện nam tử này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ đến ba Thiện nam tử này với tâm niệm hoan hỷ, thì gia đình ấy sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài. Này Digha, nếu bà con quyến thuộc của gia đình mà ba Thiện nam tử này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ đến ba Thiện nam tử này với tâm niệm hoan hỷ, thì bà con quyến thuộc của gia đình mà ba Thiện nam tử này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ đến ba thiện nam tử này với tâm niệm hoan hỷ, thì bà con quyến thuộc của gia đình ấy sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài. Này Digha, nếu làng nào… nếu xã ấp nào… nếu thành phố nào… nếu quốc độ nào… nếu tất cả Sát đế lị… nếu tất cả Bà-la-môn… nếu tất cả Phệ xá (Vessa)… nếu tất cả Thủ đà (Sudda)… Này Digha, nếu thế giới với chư Thiên, với Ác ma, với Phạm thiên, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người nhớ đến ba Tôn giả này với tâm niệm hoan hỷ, thì thế giới ấy với chư Thiên, với Ác ma, với Phạm thiên, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người sẽ được an lạc, hạnh phúc lâu dài. Này Digha, hãy xem ba Thiện nam tử này sống như thế nào? --Vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Dạ xoa Digha Parajana hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-