Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 32. KINH DÀI GOSIṄGA

(Mahāgosiṅgasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy—Một thời, Thế Tôn đang lưu trú tại khu rừng sừng bò (Gosiṅga) có nhiều cây sāla, cùng với rất nhiều vị trưởng lão đệ tử nổi tiếng, được nhiều người biết đến—như Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Mahāmoggallāna, Tôn giả Mahākassapa, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Revata, Tôn giả Ānanda, cùng với những vị trưởng lão đệ tử nổi tiếng khác.

2. Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna vào buổi chiều, sau khi xuất định từ nơi tĩnh cư, đã đi đến chỗ Tôn giả Mahākassapa; sau khi đến, liền nói với Tôn giả Mahākassapa điều này: “Này hiền giả Kassapa, chúng ta hãy cùng đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe giảng về Chân lý.”

“Vâng, thưa hiền giả,” Tôn giả Mahākassapa đáp lời Tôn giả Mahāmoggallāna. Sau đó, Tôn giả Mahāmoggallāna, Tôn giả Mahākassapa và Tôn giả Anuruddha cùng đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe giảng về Chân lý.

3. Tôn giả Ānanda nhìn thấy Tôn giả Mahāmoggallāna, Tôn giả Mahākassapa và Tôn giả Anuruddha đang đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe giảng về Chân lý. Thấy vậy, vị ấy liền đi đến chỗ Tôn giả Revata; sau khi đến, liền nói với Tôn giả Revata điều này: “Này hiền giả Revata, những bậc chân nhân kia đang đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe giảng về Chân lý. Này hiền giả Revata, chúng ta hãy cùng đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe giảng về Chân lý.” “Vâng, thưa hiền giả,” Tôn giả Revata đáp lời Tôn giả Ānanda. Sau đó, Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda cùng đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe giảng về Chân lý.

4. Tôn giả Sāriputta nhìn thấy Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda đang đi tới từ đằng xa. Thấy vậy, vị ấy liền nói với Tôn giả Ānanda điều này: “Hãy đến đây, Tôn giả Ānanda. Chào mừng Tôn giả Ānanda, người thị giả của Thế Tôn, người luôn ở gần Thế Tôn. Này hiền giả Ānanda, khu rừng sāla Gosiṅga này thật đáng yêu, đêm trăng sáng tỏ, cây sāla nở hoa rực rỡ khắp nơi, những hương thơm dường như thuộc về cõi trời đang lan tỏa; này hiền giả Ānanda, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?”

“Ở đây, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ kheo là người học rộng, nhớ những gì đã học, tích lũy những gì đã học. Những Điều (pháp / dhammā) tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; giải thích một đời sống thánh thiện (phạm hạnh / brahmacariya) hoàn toàn viên mãn và trong sạch, những Điều như vậy vị ấy đã nghe nhiều, ghi nhớ, lặp lại bằng lời, suy ngẫm bằng tâm, và thấu hiểu rõ ràng bằng quan điểm đúng đắn. Vị ấy giảng dạy Điều ấy cho bốn hội chúng với những câu chữ tròn trịa, mạch lạc, nhằm nhổ bật gốc rễ của những chảy ngầm (tùy miên / anusaya). Này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.”

MN 32. ÐẠI KINH RỪNG SỪNG BÒ

(Mahàgosinga Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại khu vườn trong rừng Gosinga có nhiều cây ta-la cùng với một số đông Thượng Tọa đệ tử nổi tiếng như Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) Tôn giả Maha Moggallana (Ðại Mục-kiền-liên), Tôn giả Maha Kassapa (Ðại Ca-diếp), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Tôn giả Ananda (A-nan) cùng với một số Thượng Tọa đệ tử nổi tiếng khác.

Rồi Tôn giả Maha Moggallana vào buổi chiều, sau khi tham thiền đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Maha Kassapa ở, sau khi đến bèn nói với Tôn giả Maha Kassapa:

– Hiền giả Kassapa, chúng ta hãy đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Maha Kassapa vâng đáp Tôn giả Maha Moggallana. Rồi Tôn giả Maha Moggallana, Tôn giả Maha Kassapa và Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp. Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Maha Moggallana, Tôn giả Maha Kassapa và Tôn giả Anuruddha đi đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp, sau khi thấy vậy liền đi đến chỗ Tôn giả Revata và nói với Tôn giả Revata:

– Này Hiền giả Revata, các bậc Thượng nhân như vậy đã đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp. Này Hiền giả Revata, chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Revata vâng đáp Tôn giả Ananda. Rồi Tôn giả Revata và Tôn giả Ananda đi đến chỗ Tôn giả Sariputta để nghe pháp. Tôn giả Sariputta thấy Tôn giả Revata, Tôn giả Ananda từ xa đi đến, sau khi thấy bèn nói với Tôn giả Ananda:

– Tôn giả Ananda hãy đến đây, thiện lai, Tôn giả Ananda, vị thị giả Thế Tôn, vị hầu cận Thế Tôn. Này Hiền giả Ananda, khả ái thay khu rừng Gosinga! Ðêm rằm sáng trăng, cây Ta la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Ananda, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?

– Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

5. Khi được nói như vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Revata điều này: “Này hiền giả Revata, Tôn giả Ānanda đã trả lời theo khả năng của mình. Bây giờ, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Revata: ‘Này hiền giả Revata, khu rừng sāla Gosiṅga này thật đáng yêu, đêm trăng sáng tỏ, cây sāla nở hoa rực rỡ khắp nơi, những hương thơm dường như thuộc về cõi trời đang lan tỏa; này hiền giả Revata, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’”

“Ở đây, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ kheo là người ưa thích sự tĩnh cư, vui thú trong sự tĩnh cư, nỗ lực làm tâm tĩnh lặng bên trong, không bỏ bê Thiền-na (thiền / jhāno), được trang bị sự quan sát sâu sắc (quán / vipassanā), thường lui tới những không gian tĩnh lặng. Này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.”

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với Tôn giả Revata:

– Này Hiền giả Revata, Tôn giả Ananda đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata: Này Hiền giả Revata, khả ái thay ngôi rừng Gosinga… (như trên)… Này Hiền giả Revata, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?

– Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch.

Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

6. Khi được nói như vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha điều này: “Này hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo khả năng của mình. Bây giờ, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Anuruddha: ‘Này hiền giả Anuruddha, khu rừng sāla Gosiṅga này thật đáng yêu, đêm trăng sáng tỏ, cây sāla nở hoa rực rỡ khắp nơi, những hương thơm dường như thuộc về cõi trời đang lan tỏa; này hiền giả Anuruddha, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’”

“Ở đây, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ kheo với mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh, vượt xa tầm nhìn của con người, có thể quan sát một ngàn thế giới. Này hiền giả Sāriputta, giống như một người có thị lực tốt đứng trên tầng cao nhất của một tòa lâu đài tuyệt đẹp có thể quan sát một ngàn vành bánh xe; cũng vậy, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ kheo với mắt thần thanh tịnh, vượt xa tầm nhìn của con người, có thể quan sát một ngàn thế giới. Này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.”

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với Tôn giả Anuruddha:

– Này Hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Anuruddha: Này Hiền giả Anuruddha, khả ái thay ngôi rừng Gosinga… (như trên)… Này Hiền giả Anuruddha, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?

– Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

7. Khi được nói như vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākassapa điều này: “Này hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo khả năng của mình. Bây giờ, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Mahākassapa: ‘Này hiền giả Kassapa, khu rừng sāla Gosiṅga này thật đáng yêu, đêm trăng sáng tỏ, cây sāla nở hoa rực rỡ khắp nơi, những hương thơm dường như thuộc về cõi trời đang lan tỏa; này hiền giả Kassapa, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’”

“Ở đây, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ kheo tự mình sống ở rừng và ca ngợi việc sống ở rừng, tự mình đi khất thực và ca ngợi việc đi khất thực, tự mình mặc áo nhặt từ đống rác và ca ngợi việc mặc áo nhặt từ đống rác, tự mình mặc ba y và ca ngợi việc mặc ba y, tự mình ít mong muốn và ca ngợi sự ít mong muốn, tự mình hài lòng và ca ngợi sự hài lòng, tự mình sống tách biệt và ca ngợi sự tách biệt, tự mình không tụ tập và ca ngợi việc không tụ tập, tự mình nỗ lực mạnh mẽ và ca ngợi sự nỗ lực mạnh mẽ, tự mình có lối sống đạo đức (giới đức / sīlasampanno) và ca ngợi lối sống đạo đức, tự mình thành tựu Định và ca ngợi sự thành tựu Định, tự mình thành tựu Tuệ và ca ngợi sự thành tựu Tuệ, tự mình thành tựu Giải thoát và ca ngợi sự thành tựu Giải thoát, tự mình thành tựu sự thấy rõ bản chất của Giải thoát và ca ngợi sự thành tựu sự thấy rõ bản chất của Giải thoát. Này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.”

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với Tôn giả Maha Kassapa:

– Này Hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Kassapa: Này Hiền giả Kassapa, khả ái thay ngôi rừng Gosinga… (như trên)… Này Hiền giả Kassapa, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?

– Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạn ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

8. Khi được nói như vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahāmoggallāna điều này: “Này hiền giả Moggallāna, Tôn giả Mahākassapa đã trả lời theo khả năng của mình. Bây giờ, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Mahāmoggallāna: ‘Này hiền giả Moggallāna, khu rừng sāla Gosiṅga này thật đáng yêu, đêm trăng sáng tỏ, cây sāla nở hoa rực rỡ khắp nơi, những hương thơm dường như thuộc về cõi trời đang lan tỏa; này hiền giả Moggallāna, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’”

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Sariputta nói Tôn giả Maha Moggallana:

– Hiền giả Moggallana, Tôn giả Maha Kassapa đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahamoggallana: Này Hiền giả Moggallana, khả ái thay khu rừng Gosinga!.. Này Hiền giả Moggallana, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?

“Ở đây, này hiền giả Sāriputta, có hai vị tỳ kheo thảo luận chuyên sâu về các Điều (a-tỳ-đàm / abhidhammakathaṁ). Họ hỏi nhau những câu hỏi, khi được hỏi họ trả lời cho nhau mà không bị bế tắc, và cuộc đàm luận về các Điều của họ cứ thế tiếp diễn. Này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.”

– Ở đây, này Hiền giả Sariputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại (không trả lời được), và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

9. Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna nói với Tôn giả Sāriputta điều này: “Này hiền giả Sāriputta, tất cả chúng tôi đều đã trả lời theo khả năng của mình. Bây giờ, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Sāriputta: ‘Này hiền giả Sāriputta, khu rừng sāla Gosiṅga này thật đáng yêu, đêm trăng sáng tỏ, cây sāla nở hoa rực rỡ khắp nơi, những hương thơm dường như thuộc về cõi trời đang lan tỏa; này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’”

"Ở đây, này hiền giả Moggallāna, vị tỳ kheo kiểm soát được tâm (tâm tự tại / cittaṁ vasaṁ vatteti), chứ không phải vị tỳ kheo bị tâm kiểm soát. Vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định (thiền chứng / vihārasamāpattiyā) nào vào buổi sáng, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi sáng; vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi trưa, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi trưa; vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi chiều, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi chiều. Này hiền giả Moggallāna, giống như một vị vua hay đại thần của vua có một rương đựng đầy những bộ y phục với nhiều màu sắc khác nhau. Vị ấy muốn mặc bộ y phục nào vào buổi sáng, vị ấy liền mặc bộ y phục đó vào buổi sáng; vị ấy muốn mặc bộ y phục nào vào buổi trưa, vị ấy liền mặc bộ y phục đó vào buổi trưa; vị ấy muốn mặc bộ y phục nào vào buổi chiều, vị ấy liền mặc bộ y phục đó vào buổi chiều.

Cũng vậy, này hiền giả Moggallāna, vị tỳ kheo kiểm soát được tâm, chứ không phải vị tỳ kheo bị tâm kiểm soát. Vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi sáng, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi sáng; vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi trưa, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi trưa; vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi chiều, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi chiều. Này hiền giả Moggallāna, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này."

Rồi Tôn giả Mahamoggallana nói với Tôn giả Sariputta:

– Hiền giả Sariputta, chúng tôi đã trả lời theo sự giải thích của chúng tôi. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Sariputta: Này Hiền giả Sariputta, khả ái thay, khu rừng Gosinga! Ðêm rằm sáng trăng, cây Ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?

– Ở đây, này Hiền giả Moggallana, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallana, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallana, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallana, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

10. Khi ấy, Tôn giả Sāriputta nói với các Tôn giả điều này: “Này các hiền giả, tất cả chúng ta đều đã trả lời theo khả năng của mình. Này các hiền giả, chúng ta hãy cùng đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta sẽ trình bày vấn đề này với Thế Tôn. Thế Tôn giải thích cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy.”

“Vâng, thưa hiền giả,” các Tôn giả đáp lời Tôn giả Sāriputta. Sau đó, các Tôn giả cùng đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta thưa với Thế Tôn điều này:

Rồi Tôn giả Sariputta nói với các Tôn giả ấy:

– Này chư Hiền, chúng ta đã trả lời theo sự giải thích của chúng ta. Chư Hiền, chúng ta hãy đi đến chỗ Thế Tôn ở và thuật lại vấn đề này cho Thế Tôn rõ. Thế Tôn trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.

– Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tôn giả ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Rồi những Tôn giả ấy đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, ở đây, Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda đã đi đến chỗ con để nghe giảng về Chân lý. Bạch Thế Tôn, con nhìn thấy Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda đang đi tới từ đằng xa. Thấy vậy, con liền nói với Tôn giả Ānanda điều này: ‘Hãy đến đây, Tôn giả Ānanda. Chào mừng Tôn giả Ānanda, người thị giả của Thế Tôn, người luôn ở gần Thế Tôn. Này hiền giả Ānanda, khu rừng sāla Gosiṅga này thật đáng yêu, đêm trăng sáng tỏ, cây sāla nở hoa rực rỡ khắp nơi, những hương thơm dường như thuộc về cõi trời đang lan tỏa; này hiền giả Ānanda, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Tôn giả Ānanda đã nói với con điều này: ‘Ở đây, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ kheo là người học rộng, nhớ những gì đã học […lặp lại…] nhằm nhổ bật gốc rễ của những chảy ngầm. Này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.’”

– Ở đây, bạch Thế Tôn, Tôn giả Revata và Tôn giả Ananda đến tại chỗ con ở để nghe pháp. Bạch Thế Tôn, con thấy Tôn giả Revata và Tôn giả Ananda từ xa đi đến; thấy vậy, con nói với Tôn giả Ananda:

"-- Tôn giả Ananda, hãy đến đây, thiện lai Tôn giả Ananda, vị thị giả Thế Tôn, vị hầu cận Thế Tôn. Này Hiền giả Ananda, khả ái thay khu rừng Gosinga! Ðếm rằm sáng trăng, cây ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như được tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Ananda, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? ’’

Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, Tôn giả Ananda trả lời với con như sau:

“-- Ở đây, Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và giữ gìn kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát. Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

11. “Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta. Ānanda đã trả lời một cách đúng đắn như vị ấy nên trả lời. Này Sāriputta, Ānanda thực sự là người học rộng, nhớ những gì đã học, tích lũy những gì đã học. Những Điều tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự; giải thích một đời sống thánh thiện hoàn toàn viên mãn và trong sạch, những Điều như vậy vị ấy đã nghe nhiều, ghi nhớ, lặp lại bằng lời, suy ngẫm bằng tâm, và thấu hiểu rõ ràng bằng quan điểm đúng đắn. Vị ấy giảng dạy Điều ấy cho bốn hội chúng với những câu chữ tròn trịa, mạch lạc, nhằm nhổ bật gốc rễ của những chảy ngầm.”

– Lành thay, lành thay, Sariputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Ananda phải trả lời như vậy. Này Sariputta, Ananda là bậc đa văn, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát. Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng, với văn cú viên dung lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên.

12. “Khi được nói như vậy, bạch Thế Tôn, con đã nói với Tôn giả Revata điều này: ‘Này hiền giả Revata, Tôn giả Ānanda đã trả lời theo khả năng của mình. Bây giờ, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Revata—Này hiền giả Revata, khu rừng sāla Gosiṅga này thật đáng yêu, đêm trăng sáng tỏ, cây sāla nở hoa rực rỡ khắp nơi, những hương thơm dường như thuộc về cõi trời đang lan tỏa. Này hiền giả Revata, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Tôn giả Revata đã nói với con điều này: ‘Ở đây, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ kheo là người ưa thích sự tĩnh cư, vui thú trong sự tĩnh cư, nỗ lực làm tâm tĩnh lặng bên trong, không bỏ bê Thiền-na, được trang bị sự quan sát sâu sắc, thường lui tới những không gian tĩnh lặng. Này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.’”

“Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta. Revata đã trả lời một cách đúng đắn như vị ấy nên trả lời. Này Sāriputta, Revata thực sự là người ưa thích sự tĩnh cư, vui thú trong sự tĩnh cư, nỗ lực làm tâm tĩnh lặng bên trong, không bỏ bê Thiền-na, được trang bị sự quan sát sâu sắc, thường lui tới những không gian tĩnh lặng.”

– Bạch Thế Tôn khi nghe nói vậy, con nói với Tôn giả Revata:

"-- Này Hiền giả Revata, Tôn giả Ananda, đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata:

“-- Này Hiền giả Revata, khả ái thay ngôi rừng Gosinga… (như trên)… Này Hiền giả Revata, hạng Tỷ- kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.

“-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu tập tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.

– Lành thay, lành thay, Sariputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Revata phải trả lời như vậy. Này Sariputta, Revata ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu tập tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch.

13. “Khi được nói như vậy, bạch Thế Tôn, con đã nói với Tôn giả Anuruddha điều này: ‘Này hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời […lặp lại…] này hiền giả Anuruddha, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Tôn giả Anuruddha đã nói với con điều này: ‘Ở đây, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ kheo với mắt thần thanh tịnh, vượt xa tầm nhìn của con người, có thể quan sát một ngàn thế giới. Này hiền giả Sāriputta, giống như một người có thị lực tốt […lặp lại…] này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.’”

“Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta. Anuruddha đã trả lời một cách đúng đắn như vị ấy nên trả lời. Này Sāriputta, Anuruddha thực sự là người với mắt thần thanh tịnh, vượt xa tầm nhìn của con người, có thể quan sát một ngàn thế giới.”

– Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con nói với Tôn giả Anuruddha như sau:

"-- Này Hiền giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Anuruddha:

“-- Này Hiền giả Anuruddha, khả ái thay ngôi rừng Gosinga… (như trên)… Này Hiền giả Anuruddha, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Anuruddha nói với con:

“-- Này Hiền giả Sariputta, ở đây, Tỷ-kheo với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, ví như một người có mắt, lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp rồi quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-Kheo với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga”.

– Lành thay, lành thay, Sariputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Anuruddha phải trả lời như vậy. Này Sariputta, chính Anuruddha với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhiên quán sát ngàn thế giới.

14. “Khi được nói như vậy, bạch Thế Tôn, con đã nói với Tôn giả Mahākassapa điều này: ‘Này hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo khả năng của mình. Bây giờ, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Mahākassapa […lặp lại…] này hiền giả Kassapa, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Tôn giả Mahākassapa đã nói với con điều này: ‘Ở đây, này hiền giả Sāriputta, vị tỳ kheo tự mình sống ở rừng và ca ngợi việc sống ở rừng, tự mình đi khất thực […lặp lại…] tự mình mặc áo nhặt từ đống rác […lặp lại…] tự mình mặc ba y […lặp lại…] tự mình ít mong muốn […lặp lại…] tự mình hài lòng […lặp lại…] tự mình sống tách biệt […lặp lại…] tự mình không tụ tập […lặp lại…] tự mình nỗ lực mạnh mẽ […lặp lại…] tự mình có lối sống đạo đức […lặp lại…] tự mình thành tựu Định […lặp lại…] tự mình thành tựu Tuệ […lặp lại…] tự mình thành tựu Giải thoát […lặp lại…] tự mình thành tựu sự thấy rõ bản chất của Giải thoát và ca ngợi sự thành tựu sự thấy rõ bản chất của Giải thoát. Này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.’”

“Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta. Kassapa đã trả lời một cách đúng đắn như vị ấy nên trả lời. Này Sāriputta, Kassapa thực sự tự mình sống ở rừng và ca ngợi việc sống ở rừng, tự mình đi khất thực và ca ngợi việc đi khất thực, tự mình mặc áo nhặt từ đống rác và ca ngợi việc mặc áo nhặt từ đống rác, tự mình mặc ba y và ca ngợi việc mặc ba y, tự mình ít mong muốn và ca ngợi sự ít mong muốn, tự mình hài lòng và ca ngợi sự hài lòng, tự mình sống tách biệt và ca ngợi sự tách biệt, tự mình không tụ tập và ca ngợi việc không tụ tập, tự mình nỗ lực mạnh mẽ và ca ngợi sự nỗ lực mạnh mẽ, tự mình có lối sống đạo đức và ca ngợi lối sống đạo đức, tự mình thành tựu Định và ca ngợi sự thành tựu Định, tự mình thành tựu Tuệ và ca ngợi sự thành tựu Tuệ, tự mình thành tựu Giải thoát và ca ngợi sự thành tựu Giải thoát, tự mình thành tựu sự thấy rõ bản chất của Giải thoát và ca ngợi sự thành tựu sự thấy rõ bản chất của Giải thoát.”

– Bạch Thế Tôn, được nói vậy, con nói với Tôn giả Maha Kassapa:

"-- Này Hiền giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Kassapa:

“-- Khả ái thay ngôi rừng Gosinga!.. (như trên)… Này Hiền giả Kassapa, hạng Tỷ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Mahakassapa nói với con:

“-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỷ-kheo tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạnh tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo ấy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”

– Lành thay Sariputta! Nếu trả lời cho được chân chánh, Kassapa phải trả lời như vậy. Này Sariputta, Kassapa tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi… tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến.

15. “Khi được nói như vậy, bạch Thế Tôn, con đã nói với Tôn giả Mahāmoggallāna điều này: ‘Này hiền giả Moggallāna, Tôn giả Mahākassapa đã trả lời theo khả năng của mình. Bây giờ, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Mahāmoggallāna […lặp lại…] này hiền giả Moggallāna, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Tôn giả Mahāmoggallāna đã nói với con điều này: ‘Ở đây, này hiền giả Sāriputta, có hai vị tỳ kheo thảo luận chuyên sâu về các Điều. Họ hỏi nhau những câu hỏi, khi được hỏi họ trả lời cho nhau mà không bị bế tắc, và cuộc đàm luận về các Chân lý của họ cứ thế tiếp diễn. Này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.’”

“Tốt lắm, tốt lắm, Sāriputta. Moggallāna đã trả lời một cách đúng đắn như vị ấy nên trả lời. Này Sāriputta, Moggallāna thực sự là người giỏi đàm luận về các Chân lý.”

– Bạch Thế Tôn, được nói vậy, con nói với Tôn giả Maha Moggallana:

"-- Hiền giả Moggallana, Tôn giả Maha Kassapa đã trả lời theo sự giải thích của mình. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Maha Moggallana:

“-- Này Hiền giả Moggallana, khả ái thay khu rưng Gosinga!.. Này Hiền giả Moggallana, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Maha Moggallana nói với con:

"-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma, (A-tỳ-đàm). Họ hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, họ trả lời được với nhau, chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp của họ được tiếp tục. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga. "

– Lành thay Sariputta! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Moggallana phải trả lời như vậy. Này Sariputta, Moggallana là bậc thuyết về Chánh pháp.

16. Khi được nói như vậy, Tôn giả Mahāmoggallāna thưa với Thế Tôn điều này: “Sau đó, bạch Thế Tôn, con đã nói với Tôn giả Sāriputta điều này: ‘Này hiền giả Sāriputta, tất cả chúng tôi đều đã trả lời theo khả năng của mình. Bây giờ, chúng tôi xin hỏi Tôn giả Sāriputta—Này hiền giả Sāriputta, khu rừng sāla Gosiṅga này thật đáng yêu, đêm trăng sáng tỏ, cây sāla nở hoa rực rỡ khắp nơi, những hương thơm dường như thuộc về cõi trời đang lan tỏa. Này hiền giả Sāriputta, một vị tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này?’ Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta đã nói với con điều này: ‘Ở đây, này hiền giả Moggallāna, vị tỳ kheo kiểm soát được tâm, chứ không phải vị tỳ kheo bị tâm kiểm soát. Vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi sáng, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi sáng; vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi trưa, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi trưa; vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi chiều, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi chiều. Này hiền giả Moggallāna, giống như một vị vua hay đại thần của vua có một rương đựng đầy những bộ y phục với nhiều màu sắc khác nhau. Vị ấy muốn mặc bộ y phục nào vào buổi sáng, vị ấy liền mặc bộ y phục đó vào buổi sáng; vị ấy muốn mặc bộ y phục nào vào buổi trưa, vị ấy liền mặc bộ y phục đó vào buổi trưa; vị ấy muốn mặc bộ y phục nào vào buổi chiều, vị ấy liền mặc bộ y phục đó vào buổi chiều. Cũng vậy, này hiền giả Moggallāna, vị tỳ kheo kiểm soát được tâm, chứ không phải vị tỳ kheo bị tâm kiểm soát. Vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi sáng, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi sáng; vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi trưa, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi trưa; vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi chiều, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi chiều. Này hiền giả Moggallāna, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.’”

“Tốt lắm, tốt lắm, Moggallāna. Sāriputta đã trả lời một cách đúng đắn như vị ấy nên trả lời. Này Moggallāna, Sāriputta thực sự kiểm soát được tâm, chứ không phải Sāriputta bị tâm kiểm soát. Vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi sáng, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi sáng; vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi trưa, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi trưa; vị ấy muốn an trú trong trạng thái an trú thiền định nào vào buổi chiều, vị ấy liền an trú trong trạng thái an trú thiền định đó vào buổi chiều.”

Ðược nói vậy, Tôn giả Maha Moggallana bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, con nói với Tôn giả Sariputta, như sau:

"-- Hiền giả Sariputta, chúng tôi đã trả lời theo sự giải thích của chúng tôi. Ở đây, nay chúng tôi hỏi Tôn giả Sariputta:

“-- Này Hiền giả Sariputta, khả ái thay khu rừng Gosinga! Ðêm rằm sáng trăng, cây ta-la trổ hoa cùng khắp, hương trời như tỏa rộng khắp nơi. Này Hiền giả Sariputta, hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?”

– Bạch Thế Tôn, được nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với con:

“-- Ở đây, này Hiền giả Moggallana, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallana, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallana, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, Tỷ-kheo ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallana, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?.”

– Lành thay, lành thay, Moggallana! Nếu trả lời cho được chơn chánh, Sariputta phải trả lời như vậy. Này Moggallana, Sariputta điều phục được tâm, không phải Sariputta không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều.

17. Khi được nói như vậy, Tôn giả Sāriputta thưa với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, lời của ai là khéo nói nhất?”

“Này Sāriputta, lời của tất cả các ông đều khéo nói theo từng phương diện. Nhưng hãy nghe Ta nói về mẫu tỳ kheo như thế nào sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga. Ở đây, này Sāriputta, vị tỳ kheo sau bữa ăn, khi đi khất thực trở về, ngồi xuống vắt chéo chân, giữ lưng thẳng, thiết lập sự tập trung chú ý (chánh niệm / sati) ở phía trước, với quyết tâm: ‘Ta sẽ không phá bỏ tư thế ngồi này cho đến khi tâm Ta được giải thoát khỏi các nguồn ác (lậu hoặc / āsavehi) mà không còn sự bám giữ (chấp thủ / upādāna).’ Này Sāriputta, một vị tỳ kheo như vậy sẽ làm chói sáng khu rừng sāla Gosiṅga này.”

Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các Tôn giả ấy hoan hỷ, vui mừng đón nhận lời Thế Tôn dạy.

Kinh Đại Gosiṅga thứ hai kết thúc.

Khi được nói vậy, Tôn giả Sariputta bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, vị nào đã khéo trả lời (câu hỏi được đặt ra)?

– Này Sariputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sariputta, Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”. Này Sariputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tôn giả ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-