26. “Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để đạt được tâm được giải thoát không dễ chịu không khó chịu?”
“Này hiền giả, có bốn Điều kiện hỗ trợ để đạt được tâm được giải thoát không dễ chịu không khó chịu. Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo với sự từ bỏ hạnh phúc và sự từ bỏ đau khổ, cùng với sự biến mất (diệt / atthaṅgamā) của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền (ưu / domanassa) từ trước, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu, có sự thanh tịnh của Tâm quân bình (xả / upekkhā) và tập trung chú ý (niệm / sati). Này hiền giả, đây là bốn Điều kiện hỗ trợ để đạt được tâm được giải thoát không dễ chịu không khó chịu.”
27. “Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để đạt được giải thoát qua tâm không tướng (vô tướng tâm giải thoát/ animittā cetovimutti)?” [‘tướng’: không riêng ‘hình dáng’ của mắt, tướng là các đối tượng của 5 giác quan]
“Này hiền giả, có hai Điều kiện hỗ trợ để đạt được giải thoát qua tâm không tướng—không suy nghĩ, chú ý (tác ý / manasikāro) đến tướng (tướng / nimitta) và suy nghĩ đến tính không tướng (vô tướng giới/animittā dhātu). Này hiền giả, đây là hai Điều kiện hỗ trợ để đạt được giải thoát qua tâm không tướng.”
“Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để duy trì giải thoát qua tâm không tướng?”
28. “Này hiền giả, có ba Điều kiện hỗ trợ để duy trì giải thoát qua tâm không tướng—không suy nghĩ, chú ý đến tướng, suy nghĩ, chú ý đến tính không tướng và ý định từ trước. Này hiền giả, đây là ba Điều kiện hỗ trợ để duy trì giải thoát qua tâm không tướng.”
29. “Này hiền giả, có bao nhiêu Điều kiện hỗ trợ để xuất ra khỏi giải thoát qua tâm không tướng?”
“Này hiền giả, có hai Điều kiện hỗ trợ để xuất ra khỏi giải thoát qua tâm không tướng—suy nghĩ đến tướng, và không suy nghĩ đến tính không tướng. Này hiền giả, đây là hai Điều kiện hỗ trợ để xuất ra khỏi giải thoát qua tâm không tướng.”
“Này hiền giả, giả thoát qua tâm vô lượng (vô lượng tâm giải thoát/ appamāṇā cetovimutti), giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì (vô sở hữu tâm giải thoát / ākiñcaññā cetovimutti), giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng (không tâm giải thoát/ suññatā cetovimutti), và giải thoát qua tâm không tướng ((vô tướng tâm giải thoát/ animittā cetovimutti)—những điều này khác nghĩa và khác cách diễn đạt hay chúng có cùng nghĩa và khác về cách diễn đạt?”
30. "Này hiền giả, giả thoát qua tâm vô lượng, giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì, giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng, và giải thoát qua tâm không tướng—này hiền giả, có một cách giải thích mà theo đó những điều này có khác nghĩa và khác cách diễn đạt; và này hiền giả, có một cách giải thích mà theo đó những điều có cùng nghĩa, khác về cách diễn đạt.
31. Này hiền giả, cách giải thích nào mà những điều này khác nghĩa và khác cách diễn đạt?
Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo an trú, lan tỏa một phương với tâm đi cùng Tâm yêu thương (từ / mettā), cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, hướng lên, hướng xuống, bề ngang, khắp mọi nơi, vì tất cả như vì chính mình, vị ấy an trú, lan tỏa toàn bộ thế giới với tâm đi cùng Tâm yêu thương, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Với tâm đi cùng Tâm thông cảm (bi / karuṇā) […lặp lại…] với tâm đi cùng Tâm cùng vui (hỷ / muditā) […lặp lại…] vị ấy an trú, lan tỏa một phương với tâm đi cùng Tâm quân bình, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Cứ như thế, hướng lên, hướng xuống, bề ngang, khắp mọi nơi, vì tất cả như vì chính mình, vị ấy an trú, lan tỏa toàn bộ thế giới với tâm đi cùng Tâm quân bình, rộng lớn, vĩ đại, không giới hạn, không hận thù, không ác ý. Này hiền giả, đây được gọi là giả thoát qua tâm vô lượng.
32. Này hiền giả, thế nào là giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì? Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo vượt qua hoàn toàn xứ Nhận biết là Vô Tận (thức vô biên xứ), đạt đến và an trú trong xứ Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ) với suy nghĩ ‘không có vật gì’. Này hiền giả, đây được gọi là giải thoát qua tâm nhập vào trạng thái không có vật gì.
33. Này hiền giả, thế nào là giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng? Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, vị ấy suy xét như sau: ‘Trống rỗng là cái này, không có tự ngã hay những gì thuộc về tự ngã’. Này hiền giả, đây được gọi là giải thoát qua tâm nhận thức về sự trống rỗng.
34. Này hiền giả, thế nào là giải thoát qua tâm không tướng? Ở đây, này hiền giả, tỳ kheo do không suy nghĩ đến mọi tướng, đạt đến và an trú trong định của tâm không tướng. Này hiền giả, đây được gọi là giải thoát qua tâm không tướng.
Này hiền giả, đây là cách giải thích nào mà những điều này khác nghĩa và khác cách diễn đạt.
35. Này hiền giả, cách giải thích mà theo đó những điều có cùng nghĩa, khác về cách diễn đạt
Này hiền giả, đắm nhiễm (tham / rāgo) là thứ tạo ra giới hạn (tác lượng / pamāṇakaraṇo), ám ảnh khó chịu (sân / doso) là thứ tạo ra giới hạn, sự u mê (si / moho) là thứ tạo ra giới hạn. Đối với tỳ kheo người đã sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsava), những thứ này đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cưa cụt, làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại (vô sanh / anuppādadhammā) trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các giả thoát qua tâm vô lượng, tâm giải thoát bất động được xem là tối thượng. Và giải thoát qua tâm bất động (akuppā cetovimutti) đó trống rỗng đắm nhiễm, trống rỗng ám ảnh khó chịu, trống rỗng sự u mê.
36. Này hiền giả, đắm nhiễm là thứ tạo ra sự vướng bận (tác vô sở hữu / kiñcano), ám ảnh khó chịu là thứ tạo ra sự vướng bận, sự u mê là thứ tạo ra sự vướng bận. Đối với tỳ kheo người đã sạch nguồn ác, những thứ này đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cưa cụt, làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các tâm được giải thoát không có vật gì, giải thoát qua tâm bất động được xem là tối thượng. Và giải thoát qua tâm bất động đó trống rỗng đắm nhiễm, trống rỗng ám ảnh khó chịu, trống rỗng sự u mê.
37. Này hiền giả, đắm nhiễm là thứ tạo ra tướng (tác tướng / nimittakaraṇo), ám ảnh khó chịu là thứ tạo ra tướng, sự u mê là thứ tạo ra tướng. Đối với tỳ kheo người đã sạch nguồn ác, những thứ này đã được từ bỏ, bị cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây cưa cụt, làm cho không thể tồn tại, có bản chất không sinh khởi trở lại trong tương lai. Này hiền giả, trong tất cả các giải thoát qua tâm không tướng, giải thoát qua tâm bất động được xem là tối thượng. Và giải thoát qua tâm bất động đó trống rỗng đắm nhiễm, trống rỗng ám ảnh khó chịu, trống rỗng sự u mê.
Này hiền giả, đây là cách giải thích mà theo đó những điều này có cùng một nghĩa, chỉ khác nhau về cách diễn đạt."
Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy. Tôn giả Mahākoṭṭhika hài lòng, vui mừng đón nhận lời nói của Tôn giả Sāriputta.
Kinh Đại Phương Quảng thứ ba kết thúc.