Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

MN 51. KINH KANDARAKA

(Kandarakasutta) Bản tóm tắt→

1. Tôi đã nghe như vầy — một thời Người Đến Như Vậy (Như Lai / bhagavā) đang ở tại Campā, trên bờ hồ sen Gaggarā, cùng với một hội chúng tỳ-kheo đông đảo.

Khi ấy, Pessa con trai người huấn luyện voi và du sĩ Kandaraka đi đến nơi Đức Phật ở; sau khi đến, Pessa con trai người huấn luyện voi đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Còn du sĩ Kandaraka thì chào hỏi Đức Phật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu và lịch sự, vị ấy đứng một bên. Đứng một bên, du sĩ Kandaraka nhìn quanh hội chúng tỳ-kheo đang hoàn toàn im lặng, rồi nói với Đức Phật điều này:

2. “Thật kỳ diệu, thưa tôn giả Gotama! Thật phi thường, thưa tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama đã hướng dẫn hội chúng tỳ-kheo đi đúng đường một cách tuyệt vời. Thưa tôn giả Gotama, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ cũng chỉ hướng dẫn hội chúng tỳ-kheo đi đúng đường đến mức tối đa như thế này — giống như cách tôn giả Gotama hiện nay đang hướng dẫn hội chúng tỳ-kheo đi đúng đường. Thưa tôn giả Gotama, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong tương lai cũng sẽ chỉ hướng dẫn hội chúng tỳ-kheo đi đúng đường đến mức tối đa như thế này — giống như cách tôn giả Gotama hiện nay đang hướng dẫn hội chúng tỳ-kheo đi đúng đường.”

3. "Đúng là như vậy, Kandaraka! Đúng là như vậy, Kandaraka! Này Kandaraka, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong quá khứ cũng chỉ hướng dẫn hội chúng tỳ-kheo đi đúng đường đến mức tối đa như thế này — giống như cách Ta hiện nay đang hướng dẫn hội chúng tỳ-kheo đi đúng đường. Này Kandaraka, những vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong tương lai cũng sẽ chỉ hướng dẫn hội chúng tỳ-kheo đi đúng đường đến mức tối đa như thế này — giống như cách Ta hiện nay đang hướng dẫn hội chúng tỳ-kheo đi đúng đường.

Này Kandaraka, trong hội chúng tỳ-kheo này có những vị tỳ-kheo là bậc A-la-hán, đã hết sạch nguồn ác (lậu tận / khīṇāsavā), đã sống trọn vẹn, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối thượng, đã phá hủy hoàn toàn sợi dây trói buộc của lực tồn tại (hữu kiết sử / bhavasaṁyojanā), tâm được giải thoát nhờ hiểu biết trọn vẹn. Này Kandaraka, trong hội chúng tỳ-kheo này có những vị tỳ-kheo là người đang học (hữu học / sekkhā), có lối sống đạo đức (giới / sīla) kiên định, có cách cư xử kiên định, sáng suốt, có cách cư xử sáng suốt; các vị ấy sống với tâm an trú vững chắc trong bốn nơi thiết lập sự chú tâm (tứ niệm xứ / catūsu satipaṭṭhānesu). Bốn nơi nào?

Ở đây, này Kandaraka, tỳ-kheo sống quan sát thân qua thân của mình (quán thân trên thân / kāye kāyānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), tập trung chú ý (chánh niệm / satimā) [để] loại bỏ lòng tham (tham / abhijjhā) và ưu phiền (ưu / domanassa) ở đời; vị ấy sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình (quán thọ trên thọ / vedanāsu vedanānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, tập trung chú ý [để] loại bỏ lòng tham và ưu phiền ở đời; vị ấy sống quan sát tâm qua tâm của mình (quán tâm trên tâm / citte cittānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, tập trung chú ý [để] loại bỏ lòng tham và ưu phiền ở đời; vị ấy sống quan sát Giáo pháp qua mọi Điều (quán pháp trên pháp / dhammesu dhammānupassī), nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, tập trung chú ý [để] loại bỏ lòng tham và ưu phiền ở đời."

4. Khi được nói như vậy, Pessa con trai người huấn luyện voi thưa với Đức Phật điều này:

"Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật phi thường, bạch Thế Tôn! Bốn nơi thiết lập sự chú tâm này đã được Thế Tôn khéo léo tuyên bố để thanh lọc chúng sinh, vượt qua sầu não và than khóc, chấm dứt đau khổ (khổ / dukkha) và ưu phiền, là phương pháp đúng đắn, trực tiếp chứng nghiệm Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, ngay cả chúng con là những người cư sĩ mặc áo trắng, thỉnh thoảng cũng sống với tâm an trú vững chắc trong bốn nơi thiết lập sự chú tâm này. Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống quan sát thân qua thân của mình, nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, tập trung chú ý [để] loại bỏ lòng tham và ưu phiền ở đời; chúng con sống quan sát cảm giác qua cảm giác của mình, nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, tập trung chú ý [để] loại bỏ lòng tham và ưu phiền ở đời; chúng con sống quan sát tâm qua tâm của mình, nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, tập trung chú ý [để] loại bỏ lòng tham và ưu phiền ở đời; chúng con sống quan sát Giáo pháp qua mọi Điều, nhiệt tâm, nhận biết rõ ràng, tập trung chú ý [để] loại bỏ lòng tham và ưu phiền ở đời.

Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật phi thường, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, trong khi con người là một mớ bòng bong, con người là cặn bã, con người là xảo trá như thế này, Thế Tôn vẫn biết rõ điều gì là có lợi hay có hại cho chúng sinh. Bạch Thế Tôn, con người là một mớ bòng bong che giấu; còn thú vật thì phơi bày thẳng thắn. Bạch Thế Tôn, con có thể điều khiển một con voi đang được huấn luyện. Trong khoảng thời gian nó đi qua đi lại ở Campā, nó sẽ bộc lộ tất cả những sự xảo trá, lừa lọc, quanh co và gian dối của nó. Nhưng bạch Thế Tôn, những người nô lệ, người hầu hay người làm công của chúng con, họ hành động qua thân một đằng, nói qua lời một nẻo và tâm trí họ lại nghĩ một nẻo khác. Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật phi thường, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, trong khi con người là một mớ bòng bong, con người là cặn bã, con người là xảo trá như thế này, Thế Tôn vẫn biết rõ điều gì là có lợi hay có hại cho chúng sinh. Bạch Thế Tôn, con người là một mớ bòng bong che giấu; còn thú vật thì phơi bày thẳng thắn."

MN 51. KINH KANDARAKA

(Kandaraka sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở tại Campa, trên bờ hồ Gaggara cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Rồi Pessa, con trai người huấn luyện voi và Du sĩ Kandaraka đi đến chỗ Thế Tôn ở Pessa, con trai người huấn luyện voi sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Còn du sĩ Kandaraka nói lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, sau khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu rồi đứng một bên. Du sĩ Kandaraka đứng một bên, sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo đang giữ im lặng, thật im lặng, liền bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Chúng Tỷ-kheo này được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn. Tôn giả Gotama, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, không biết quý vị Thế Tôn ấy đã có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỷ-kheo được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn? Tôn giả Gotama, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, không biết quý vị Thế Tôn ấy sẽ có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy sẽ chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỷ-kheo được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn?

– Thật sự là vậy, này Kandaraka! Thật sự là vậy, này Kandaraka! Này Kandaraka, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, những vị Thế Tôn ấy đã có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỷ-kheo được Ta chơn chánh hướng dẫn. Này Kandaraka, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời tương lai, những vị Thế Tôn ấy sẽ có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quý vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỷ-kheo được Ta chơn chánh hướng dẫn.

Này Kandaraka, trong chúng Tỷ-kheo này, có những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí. Này Kandaraka, trong chúng Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là bậc hữu học, giới luật kiên trì, giới hạnh kiên trì, sáng suốt, hạnh nghiệp sáng suốt, sống với tâm khéo an trú Bốn Niệm xứ. Thế nào là bốn? Ở đây này Kandaraka, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời.

Ðược nghe nói vậy, Pessa, con trai người huấn luyện voi bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bốn Niệm xứ này đã được Thế Tôn khéo trình bày, để chúng sanh được thanh tịnh, để sầu bi được vượt qua, để khổ ưu được diệt trừ, để chánh lý được thành đạt, để Niết-bàn được chứng ngộ. Bạch Thế Tôn, chúng con là hàng tại gia, mặc đồ trắng, thỉnh thoảng chúng con sống khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ này. Ở đây, Bạch Thế Tôn, chúng con sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiểu được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người. Bạch Thế Tôn, cởi mở thay như loài thú vật. Bạch Thế Tôn, con có thể nhiếp phục con voi, một cách khiến con voi ấy mỗi khi đi hay đến Campa, liền trình bày mọi sự gian dối, giả dối, xảo trá, xảo quyệt. Nhưng bạch Thế Tôn, những người đầy tớ của chúng con, những người phục dịch, những người làm công, thân hành họ làm một cách, khẩu hành họ làm một cách khác, ý hành họ làm một cách khác nữa. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn biết được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh, trong khi loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bã như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người! Bạch Thế Tôn, cởi mở thay, như loài thú vật!

5. "Đúng là như vậy, Pessa! Đúng là như vậy, Pessa! Này Pessa, con người là một mớ bòng bong che giấu; còn thú vật thì phơi bày thẳng thắn. Này Pessa, có bốn loại người này đang tồn tại và được tìm thấy ở đời. Bốn loại nào? Ở đây, này Pessa, có loại người tự hành hạ mình (tự khổ hạnh / attantapo), theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình; lại có loại người hành hạ người khác (tha khổ hạnh / parantapo), theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác; lại có loại người vừa tự hành hạ mình theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác; lại có loại người không tự hành hạ mình không theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, không hành hạ người khác không theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác. Người không tự hành hạ mình và không hành hạ người khác ấy, ngay trong hiện tại không còn khao khát (vô ái / nicchāto), lắng dịu (tịch diệt / nibbuto), trở nên mát mẻ (thanh lương / sītībhūto), trải nghiệm hạnh phúc (lạc / sukha), sống với tự thân trở nên tối thượng (phạm thể / brahmabhūtena attanā).

Này Pessa, trong bốn loại người này, loại người nào làm cho tâm ông hài lòng?"

“Bạch Thế Tôn, loại người tự hành hạ mình, theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, loại người này không làm cho tâm con hài lòng. Bạch Thế Tôn, loại người hành hạ người khác, theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác, loại người này cũng không làm cho tâm con hài lòng. Bạch Thế Tôn, loại người vừa tự hành hạ mình theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác, loại người này cũng không làm cho tâm con hài lòng. Nhưng bạch Thế Tôn, loại người không tự hành hạ mình không theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, không hành hạ người khác không theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác, người không tự hành hạ mình và không hành hạ người khác ấy, ngay trong hiện tại không còn khao khát, lắng dịu, trở nên mát mẻ, trải nghiệm hạnh phúc, sống với tự thân trở nên tối thượng — chính loại người này làm cho tâm con hài lòng.”

6. “Nhưng này Pessa, vì sao ba loại người kia không làm cho tâm ông hài lòng?”

“Bạch Thế Tôn, loại người tự hành hạ mình, theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, người ấy thiêu đốt và hành hạ chính bản thân mình vốn mong muốn hạnh phúc và ghét bỏ đau khổ — vì lý do này, loại người ấy không làm cho tâm con hài lòng. Bạch Thế Tôn, loại người hành hạ người khác, theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác, người ấy thiêu đốt và hành hạ người khác vốn mong muốn hạnh phúc và ghét bỏ đau khổ — vì lý do này, loại người ấy không làm cho tâm con hài lòng. Bạch Thế Tôn, loại người vừa tự hành hạ mình theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác, người ấy thiêu đốt và hành hạ cả bản thân mình và người khác vốn mong muốn hạnh phúc và ghét bỏ đau khổ — vì lý do này, loại người ấy không làm cho tâm con hài lòng. Nhưng bạch Thế Tôn, loại người không tự hành hạ mình không theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, không hành hạ người khác không theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác, người không tự hành hạ mình và không hành hạ người khác ấy, ngay trong hiện tại không còn khao khát, lắng dịu, trở nên mát mẻ, trải nghiệm hạnh phúc, sống với tự thân trở nên tối thượng; người ấy không thiêu đốt cũng không hành hạ cả bản thân mình và người khác vốn mong muốn hạnh phúc và ghét bỏ đau khổ — vì lý do này, loại người ấy làm cho tâm con hài lòng. Và bây giờ, bạch Thế Tôn, chúng con xin phép được ra về; chúng con có nhiều việc phải làm, nhiều trách nhiệm phải lo.”

“Này Pessa, hãy làm những gì ông cho là đúng lúc.” Khi ấy, Pessa con trai người huấn luyện voi vui mừng đón nhận và hoan hỷ với lời Đức Phật nói, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Phật, đi nhiễu về phía bên phải rồi rời đi.

7. Ngay sau khi Pessa con trai người huấn luyện voi rời đi không lâu, Đức Phật gọi các tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo, Pessa con trai người huấn luyện voi là người khôn ngoan; này các tỳ-kheo, Pessa con trai người huấn luyện voi là người có trí tuệ lớn. Này các tỳ-kheo, nếu Pessa con trai người huấn luyện voi ngồi lại thêm một lát cho đến khi Ta phân tích chi tiết bốn loại người này, anh ta sẽ nhận được lợi ích lớn lao. Tuy nhiên, này các tỳ-kheo, dù chỉ chừng đó thôi, Pessa con trai người huấn luyện voi cũng đã nhận được lợi ích lớn lao.”

“Bạch Thế Tôn, nay đã đến lúc, bạch Thiện Thệ, nay đã đến lúc để Thế Tôn phân tích chi tiết bốn loại người này. Sau khi nghe từ Thế Tôn, các tỳ-kheo sẽ ghi nhớ.”

“Vậy thì này các tỳ-kheo, hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ cẩn thận, Ta sẽ nói.”

“Vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Phật. Đức Phật nói điều này:

– Thật như vậy, này Pessa! Thật như vậy, này Pessa! Này Pessa, rối ren thay, như loài người! Cởi mở thay, như loài thú vật! Này Pessa, có bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này Pessa, có người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình. Ở đây, này Pessa, có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này Pessa, có người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này Pessa, lại có người vừa không hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Người ấy không hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. Này Pessa, bốn hạng người này, hạng người nào, được tâm Ông thích ý nhất?

– Bạch Thế Tôn, hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, hạng người này tâm con không thích ý. Bạch Thế Tôn, hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này tâm con không thích ý. Bạch Thế Tôn, hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này tâm con không thích ý. Bạch Thế Tôn, hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người không tự hành khổ mình không hành khổ người, ngay trong hiện tại không có tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể, hạng người này, tâm con thích ý.

– Này Pessa, vì sao Ông không thích ý ba hạng người này?

– Bạch Thế Tôn, hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, hạng người này hành khổ mình, hành hạ mình, trong khi tự ao ước lạc, nhàm chán khổ; do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Bạch Thế Tôn, hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này, hành khổ người khác, hành hạ người khác, trong khi người khác ao ước lạc, nhàm chán khổ; do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Bạch Thế Tôn, hạng người vừa hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này hành khổ, hành hạ mình và người khác, trong khi mình và người khác ao ước lạc, nhàm chán khổ; do vậy, tâm con không thích ý hạng người này. Nhưng bạch Thế Tôn, người vừa không hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người này không hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể; do vậy, tâm con thích ý hạng người này. Và này, bạch Thế Tôn, chúng con phải đi, chúng con có nhiều công vụ, có nhiều công việc phải làm.

– Này Pessa, Ông hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.

Rồi Pessa, con trai người huấn luyện voi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Rồi Thế Tôn, sau khi Pessa, con trai người huấn luyện voi ra đi không được bao lâu, liền nói với các Tỷ- kheo:

– Này các Tỷ-kheo, Pessa, con trai người huấn luyện voi là bậc có trí; Pessa, con trai người huấn luyện voi là người có đại trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, nếu Pessa, con trai người huấn luyện voi ngồi thêm một chút nữa, cho đến khi Ta phân tích rộng rãi hơn bốn hạng người này, thời anh ta sẽ thâu đạt được nhiều lợi ích. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, Pessa, con trai người huấn luyện voi như vậy cũng đã thâu đạt được nhiều lợi ích.

– Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời. Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời để Thế Tôn phân tích rộng rãi hơn bốn hạng người này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

– Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo léo tác ý, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

8. "Này các tỳ-kheo, thế nào là loại người tự hành hạ mình, theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình? Ở đây, này các tỳ-kheo, có người sống trần truồng, sống buông thả, liếm tay cho sạch thức ăn, không nhận thức ăn khi được gọi ‘hãy đến, thưa ngài’, không nhận thức ăn khi được gọi ‘hãy đứng lại, thưa ngài’; không nhận thức ăn mang đến, không nhận thức ăn làm riêng cho mình, không nhận lời mời thọ thực; người ấy không nhận thức ăn từ miệng nồi, không nhận thức ăn từ miệng chảo, không nhận thức ăn qua ngưỡng cửa, không nhận thức ăn qua cây gậy, không nhận thức ăn qua cối giã gạo, không nhận thức ăn từ hai người đang ăn, không nhận thức ăn từ phụ nữ có thai, không nhận thức ăn từ phụ nữ đang cho con bú, không nhận thức ăn từ phụ nữ đang ở cùng đàn ông, không nhận thức ăn từ nơi phân phát thức ăn, không nhận thức ăn ở nơi có chó đứng chờ, không nhận thức ăn ở nơi ruồi nhặng bu quanh; không uống rượu, không uống rượu lên men, không uống nước gạo. Người ấy nhận thức ăn từ một nhà hoặc nhận một miếng, nhận thức ăn từ hai nhà hoặc nhận hai miếng […lặp lại…] nhận thức ăn từ bảy nhà hoặc nhận bảy miếng; sống bằng một bát nhỏ, sống bằng hai bát nhỏ […lặp lại…] sống bằng bảy bát nhỏ; một ngày ăn một lần, hai ngày ăn một lần […lặp lại…] bảy ngày ăn một lần — cứ như vậy, người ấy theo đuổi sự thực hành ăn uống theo chu kỳ lên đến nửa tháng một lần.

Người ấy ăn rau cỏ, ăn lúa tắc, ăn lúa hoang, ăn vụn da, ăn rêu, ăn cám, ăn váng bọt gạo, ăn bã vừng, ăn cỏ, ăn phân bò; sống bằng rễ cây và trái cây trong rừng, ăn những trái cây tự rụng.

Người ấy mặc áo bằng gai, mặc áo bằng vải gai pha, mặc áo bằng vải liệm người chết, mặc áo bằng giẻ rách nhặt từ đống rác, mặc áo bằng vỏ cây, mặc áo bằng da linh dương, mặc áo bằng da linh dương còn nguyên móng, mặc áo bằng cỏ kusa, mặc áo bằng dải vỏ cây, mặc áo bằng mảnh gỗ, mặc áo bằng tóc người, mặc áo bằng lông đuôi ngựa, mặc áo bằng lông cú; người ấy nhổ tóc và râu, theo đuổi sự thực hành nhổ tóc và râu; người ấy luôn đứng từ chối chỗ ngồi, người ấy ngồi xổm theo đuổi sự nỗ lực ngồi xổm, người ấy nằm trên giường gai nằm ngủ trên giường gai; người ấy theo đuổi sự thực hành xuống nước ba lần mỗi ngày kể cả buổi tối — cứ như vậy, người ấy theo đuổi sự thực hành thiêu đốt và hành hạ thân thể bằng nhiều cách khác nhau. Này các tỳ-kheo, đây được gọi là loại người tự hành hạ mình, theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình.

9. Này các tỳ-kheo, thế nào là loại người hành hạ người khác, theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác? Ở đây, này các tỳ-kheo, có người làm nghề giết cừu, giết lợn, bắt chim, bẫy thú, thợ săn, giết cá, ăn trộm, đao phủ, giết bò, cai ngục, hoặc bất kỳ ai làm những nghề nghiệp tàn ác khác. Này các tỳ-kheo, đây được gọi là loại người hành hạ người khác, theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác.

10. Này các tỳ-kheo, thế nào là loại người vừa tự hành hạ mình theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác? Ở đây, này các tỳ-kheo, có người là một vị vua chúa đã được làm lễ quán đảnh hoặc một vị Bà-la-môn giàu có. Người ấy cho xây một phòng tế lễ mới ở phía đông thành phố, cạo bỏ tóc và râu, mặc áo da linh dương thô ráp, thoa bơ và dầu lên thân, dùng sừng nai để gãi lưng, rồi đi vào phòng tế lễ mới cùng với hoàng hậu và vị Bà-la-môn tư tế. Tại đó, người ấy nằm ngủ trên nền đất trống chỉ rải cỏ tươi. Người ấy sống bằng sữa vắt từ vú thứ nhất của một con bò cái có con bê cùng màu, hoàng hậu sống bằng sữa vắt từ vú thứ hai, vị Bà-la-môn tư tế sống bằng sữa vắt từ vú thứ ba, người ấy dùng sữa vắt từ vú thứ tư để cúng dường vào lửa, và con bê sống bằng phần còn lại. Người ấy ra lệnh như sau: ‘Hãy giết chừng này bò đực để tế lễ, hãy giết chừng này bò tơ để tế lễ, hãy giết chừng này bò cái tơ để tế lễ, hãy giết chừng này dê để tế lễ, hãy giết chừng này cừu để tế lễ, hãy giết chừng này ngựa để tế lễ, hãy chặt chừng này cây để làm cột tế lễ, hãy cắt chừng này cỏ dabba để rải quanh đàn tế’. Những người nô lệ, người hầu hay người làm công của người ấy, bị đe dọa bởi hình phạt, bị đe dọa bởi sợ hãi, với khuôn mặt đẫm nước mắt và khóc lóc, họ phải thực hiện các công việc chuẩn bị. Này các tỳ-kheo, đây được gọi là loại người vừa tự hành hạ mình theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác.

11. Này các tỳ-kheo, thế nào là loại người không tự hành hạ mình không theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, không hành hạ người khác không theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác, người không tự hành hạ mình và không hành hạ người khác ấy, ngay trong hiện tại không còn khao khát, lắng dịu, trở nên mát mẻ, trải nghiệm hạnh phúc, sống với tự thân trở nên tối thượng?

– Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sống lõa thể sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng một chỗ, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn dành riêng, không nhận mời đi ăn, không nhận từ nơi miệng nồi, không nhận từ nơi miệng chảo, không nhận tại ngưỡng cửa, không nhận giữa những cây gậy, không nhận giữa những cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang giao cấu người đàn ông, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận tại chỗ có chó đứng, không nhận tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, hay chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, hay chỉ nhận ăn hai miếng… hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy nhà, hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát,… nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa,… bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ hoang, ăn lúa tắc, ăn lúa hoang, ăn da vụn, ăn rong nước, ăn bột tấm, ăn váng gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ hay ăn phân bò. Vị ấy ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vỏ cây tirita làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện bằng từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cừu. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người chuyên sống theo hạnh nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, từ bỏ chỗ ngồi, là người ngồi chõ hỏ, chuyên sống theo hạnh ngồi chõ hỏ, một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy dưới nhiều hình thức, vị ấy sống tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, các Tỷ-kheo, có người giết trâu bò, là người giết heo, là người giết vịt, săn thú, là thợ săn, thợ đánh cá, ăn trộm, người xử tử các người ăn trộm, cai ngục và những người làm các nghề độc ác khác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người vừa hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm vua, thuộc giai cấp Sát- đế-lị, đã làm lễ quán đảnh, hay một Bà-la-môn triệu phú. Vị này cho xây dựng một giảng đường mới về phía Ðông thành phố, cạo bỏ râu tóc, đắp áo da thô, toàn thân bôi thục tô và dầu, gãi lưng với một sừng nai, đi vào giảng đường với người vợ chính và một Bà-la-môn tế tự. Rồi vị ấy nằm xuống dưới đất trống trơn chỉ có lát cỏ. Vị vua sống với sữa từ vú một con bò cái, có con bò con cùng một mầu sắc; bà vợ

chính sống với sữa từ vú thứ hai; và vị Bà-la-môn tế tự sống với sữa từ vú thứ ba. Sữa từ vú thứ tư dùng để tế lửa. Còn con nghé con thì sống với đồ còn lại. Vị vua nói như sau: "Hãy giết một số bò đực để tế lễ, hãy giết một số nghé đực để tế lễ, hãy giết một số nghé cái để tế lễ, hãy giết một số dê để tế lễ, hãy giết một số cừu để tế lễ, hãy chặt một số cây để làm cột tế lễ, hãy thâu lượm một số cỏ dabbha để làm chỗ tế lễ. Và những người nô tỳ, những người phục vụ, những người làm công, những người này vì sợ đòn gậy, vì sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy nước mắt, khóc lóc làm các công việc. Như vậy, này các Tỷ- kheo, được gọi là hạng người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, hạng người này không tự hành khổ mình, không hành khổ người, hiện tại sống không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể?

12. Ở đây, này các tỳ-kheo, Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgato) xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ hiểu biết và hạnh kiểm, Đấng Thiện Thệ, Người Hiểu Biết Thế Gian, Bậc Vô Thượng, Người Điều Phục những người cần được điều phục, Bậc Thầy của chư thiên và loài người, Phật, Thế Tôn. Ngài tự mình vượt lên sự hiểu, trực tiếp chứng nghiệm và tuyên bố cho thế giới này cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cho thế hệ này cùng với các sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người. Ngài giảng dạy Giáo pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, tốt đẹp ở phần cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn tự, Ngài làm sáng tỏ đời sống thánh thiện hoàn toàn trọn vẹn và trong sạch.

13. Một người gia chủ, hoặc con trai người gia chủ, hoặc một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe được Giáo pháp ấy. Sau khi nghe Giáo pháp ấy, người ấy có niềm tin vào Người Đến Như Vậy. Được trang bị với niềm tin ấy, người ấy suy nghĩ: ‘Đời sống gia đình thật chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thật thênh thang. Thật không dễ dàng cho một người sống ở nhà có thể thực hành đời sống thánh thiện hoàn toàn trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch, sáng bóng như vỏ ốc. Hay là ta cạo bỏ tóc và râu, mặc áo cà-sa, rời bỏ gia đình sống không nhà.’ Vào một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hoặc từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ vòng thân thuộc nhỏ hoặc từ bỏ vòng thân thuộc lớn, cạo bỏ tóc và râu, mặc áo cà-sa, rời bỏ gia đình sống không nhà.

14. Sau khi xuất gia như vậy, được trang bị với các điều học và lối sống của các tỳ-kheo, người ấy từ bỏ việc giết hại sinh mệnh, tránh xa việc giết hại sinh mệnh, bỏ gậy gộc, bỏ vũ khí, có lòng hổ thẹn, có lòng thương xót, sống với lòng từ bi vì lợi ích của mọi sinh vật và loài vật. Người ấy từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, mong đợi những gì được cho, sống với tự thân trong sạch không trộm cắp. Người ấy từ bỏ đời sống không thánh thiện, sống đời sống thánh thiện, sống xa lánh, tránh xa việc giao cấu là pháp của người làng. Người ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói sự thật, gắn bó với sự thật, vững chắc, đáng tin, không lừa dối đời. Người ấy từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ, nghe ở đây không kể lại ở kia để chia rẽ những người này, hoặc nghe ở kia không kể lại ở đây để chia rẽ những người kia — như vậy người ấy là người hàn gắn những kẻ chia rẽ hoặc khuyến khích những người đang hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, yêu mến sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp. Người ấy từ bỏ lời nói thô lỗ, tránh xa lời nói thô lỗ, người ấy nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người yêu thích, được nhiều người mến mộ. Người ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có lợi ích, nói về Giáo pháp, nói về Luật, nói những lời đáng được ghi nhớ, đúng thời điểm, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích. Người ấy tránh xa việc làm tổn hại hạt giống và cây cỏ, ăn một bữa, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn sai giờ; tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các buổi biểu diễn; tránh xa việc đeo vòng hoa, dùng hương liệu, bôi mỹ phẩm, trang điểm và làm đẹp; tránh xa giường cao và giường lớn; tránh xa việc nhận vàng và bạc; tránh xa việc nhận hạt ngũ cốc sống; tránh xa việc nhận thịt sống; tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ; tránh xa việc nhận nô lệ nam và nữ; tránh xa việc nhận dê và cừu; tránh xa việc nhận gà và lợn; tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; tránh xa việc nhận ruộng đất và tài sản; tránh xa việc làm người đưa tin hay đi sai vặt; tránh xa việc mua và bán; tránh xa việc gian lận bằng cân, gian lận bằng tiền kim loại, gian lận bằng đồ đong đo; tránh xa việc hối lộ, lừa đảo, lừa gạt và các thủ đoạn quanh co; tránh xa việc cắt xẻo, giết hại, trói buộc, cướp bóc, cướp đoạt và bạo lực.

15. Người ấy hài lòng với y phục để bảo vệ thân và thức ăn khất thực để bảo vệ bụng. Bất cứ nơi nào người ấy đi, người ấy mang theo tất cả những thứ ấy mà đi. Giống như một con chim có cánh, bất cứ nơi nào nó bay, nó bay mang theo gánh nặng là đôi cánh của nó; cũng vậy, tỳ-kheo hài lòng với y phục để bảo vệ thân và thức ăn khất thực để bảo vệ bụng. Bất cứ nơi nào người ấy đi, người ấy mang theo tất cả những thứ ấy mà đi. Được trang bị với nhóm lối sống đạo đức cao quý này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không lỗi lầm ở bên trong.

16. Khi mắt thấy hình ảnh (sắc / rūpa), người ấy không nắm giữ tướng (nimitta), không nắm giữ chi tiết. Vì nếu sống không bảo vệ (thu thúc / asaṁvutaṁ) giác quan mắt (nhãn căn / cakkhundriyaṁ), lòng tham và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ chảy vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan mắt, đạt được sự bảo vệ giác quan mắt. Với tai nghe âm thanh […lặp lại…] với mũi ngửi mùi […lặp lại…] với lưỡi nếm vị […lặp lại…] với thân chạm vào vật […lặp lại…] với trí não (ý / manasā) nhận biết mọi Điều, người ấy không nắm giữ tướng, không nắm giữ chi tiết. Vì nếu sống không bảo vệ giác quan trí não (ý căn / manindriyaṁ), lòng tham và ưu phiền, những điều ác, những điều không thiện sẽ chảy vào, nên người ấy thực hành để bảo vệ nó, canh giữ giác quan trí não, đạt được sự bảo vệ giác quan trí não. Được trang bị với sự bảo vệ các giác quan cao quý này, người ấy trải nghiệm hạnh phúc không bị vấy bẩn ở bên trong.

17. Người ấy nhận biết rõ ràng khi đi tới đi lui, nhận biết rõ ràng khi nhìn thẳng nhìn quanh, nhận biết rõ ràng khi co duỗi tay chân, nhận biết rõ ràng khi mang y tăng-già-lê, bình bát và y phục, nhận biết rõ ràng khi ăn, uống, nhai, nếm, nhận biết rõ ràng khi đại tiện tiểu tiện, nhận biết rõ ràng khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng.

18. Được trang bị với lối sống đạo đức cao quý này, được trang bị với sự hài lòng cao quý này, được trang bị với sự bảo vệ các giác quan cao quý này, được trang bị với sự chú tâm và nhận biết rõ ràng cao quý này, người ấy tìm đến một chỗ ở xa vắng (viễn ly / vivittaṁ): khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang động, nghĩa địa, rừng sâu, bãi đất trống, đống rơm.

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.

Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.

Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.

Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ

không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.

Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ- kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.

Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.

Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.

Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.

19. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, người ấy ngồi vắt chéo chân, giữ thân thẳng và thiết lập sự chú tâm ở phía trước [mặt]. Người ấy từ bỏ lòng tham ở đời, sống với tâm không còn lòng tham, làm sạch tâm khỏi lòng tham; từ bỏ ác ý hãm hại (sân hận / byāpāda), sống với tâm không có ác ý, có lòng thương xót vì lợi ích của mọi sinh vật và loài vật, làm sạch tâm khỏi ác ý hãm hại; từ bỏ uể oải, buồn ngủ (hôn trầm thụy miên / thinamiddha), sống không còn uể oải buồn ngủ, nhận thức ánh sáng, tập trung chú ý, nhận biết rõ ràng, làm sạch tâm khỏi uể oải buồn ngủ; từ bỏ bồn chồn, hối hận (trạo cử hối quá / uddhaccakukkucca), sống không bồn chồn, tâm lắng đọng ở bên trong, làm sạch tâm khỏi bồn chồn hối hận; từ bỏ nghi ngờ (nghi / vicikicchā), sống vượt qua nghi ngờ, không còn phân vân về những điều thiện, làm sạch tâm khỏi nghi ngờ.

20. Sau khi từ bỏ Năm điều làm mờ yếu (năm triền cái / pañca nīvaraṇe) này, những thứ làm ô nhiễm tâm và làm suy yếu trí tuệ, rời bỏ khỏi (ly / vivicceva) bản năng, rời bỏ khỏi những điều không thiện, người ấy đạt được và an trú trong Thiền-na thứ nhất, trạng thái có chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (tầm tứ / savitakkaṁ savicāraṁ), có hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ;

21. Với sự lắng dịu (diệt / vūpasamā) của chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, người ấy đạt được và an trú trong Thiền-na thứ hai, trạng thái có sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (vô tầm vô tứ / avitakkaṁ avicāraṁ), có hân hoan và hạnh phúc sinh ra từ Định;

22. Với sự cạn hết đắm nhiễm (ly tham / virāgā) đối với hân hoan, người ấy sống bình thản (xả / upekkhako), tập trung chú ý và nhận biết rõ ràng, trải nghiệm hạnh phúc qua thân, đạt được và an trú trong Thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố: ‘Người bình thản, tập trung chú ý, sống hạnh phúc’;

23. Với sự từ bỏ hạnh phúc và từ bỏ đau khổ, cùng với sự tan biến (diệt / atthaṅgamā) của thư thái (hỷ / somanassa) và ưu phiền từ trước, người ấy đạt được và an trú trong Thiền-na thứ tư, trạng thái không dễ chịu không khó chịu (bất khổ bất lạc / adukkhamasukhaṁ), có sự thanh tịnh của bình thản và chú tâm.

24. Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, không còn ô nhiễm, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, người ấy hướng tâm đến trí nhớ về các đời sống quá khứ. Người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, cụ thể là — một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều chu kỳ thế giới co lại, nhiều chu kỳ thế giới giãn ra, nhiều chu kỳ thế giới co lại và giãn ra: ‘Tại nơi kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta tái sinh ở nơi nọ; tại nơi nọ, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúc và đau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta tái sinh ở đây.’ Như vậy, người ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau cùng với các đặc điểm và chi tiết.

25. Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, không còn ô nhiễm, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, người ấy hướng tâm đến trí về sự chết và tái sinh của chúng sinh. Với mắt thần (thiên nhãn / dibbena cakkhunā) thanh tịnh vượt quá khả năng của con người, người ấy nhìn thấy chúng sinh đang chết và đang tái sinh, thấp kém và cao trọng, xinh đẹp và xấu xí, có hoàn cảnh tốt và hoàn cảnh xấu, người ấy biết rõ chúng sinh đi theo hành động của họ: ‘Thật vậy, những chúng sinh này có hành động xấu qua thân, hành động xấu qua lời nói, hành động xấu qua ý nghĩ, phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm sai lầm, thực hiện hành động dựa trên quan điểm sai lầm; sau khi thân hoại mạng chung, họ tái sinh vào cõi dữ, cõi xấu, cõi đọa đày, địa ngục. Nhưng những chúng sinh này có hành động tốt qua thân, hành động tốt qua lời nói, hành động tốt qua ý nghĩ, không phỉ báng các bậc thánh, có quan điểm đúng đắn, thực hiện hành động dựa trên quan điểm đúng đắn; sau khi thân hoại mạng chung, họ tái sinh vào cõi lành, cõi trời.’ Như vậy, với mắt thần thanh tịnh vượt quá khả năng của con người, người ấy nhìn thấy chúng sinh đang chết và đang tái sinh, thấp kém và cao trọng, xinh đẹp và xấu xí, có hoàn cảnh tốt và hoàn cảnh xấu, người ấy biết rõ chúng sinh đi theo hành động của họ.

26. Khi tâm đã được định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không tì vết, không còn ô nhiễm, trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến trạng thái bất động như vậy, người ấy hướng tâm đến trí về sự cạn kiệt các nguồn ác. Người ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là đau khổ’. Người ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành của đau khổ’. Người ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt đau khổ’. Người ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến chấm dứt đau khổ’.

27. Người ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là các nguồn ác’. Người ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự hình thành của các nguồn ác’. Người ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là sự chấm dứt các nguồn ác’. Người ấy biết rõ đúng như thật: ‘Đây là con đường đưa đến chấm dứt các nguồn ác’. Khi người ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của bản năng (dục lậu / kāmāsavā), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của mong muốn hiện hữu (hữu lậu / bhavāsavā), tâm được giải thoát khỏi nguồn ác của Không Hiểu Biết (vô minh lậu / avijjāsavā). Khi đã được giải thoát, có sự nhận biết rằng ‘đã được giải thoát’.

Người ấy biết rõ: ‘Sự tái sinh đã bị chặn, đời sống thánh thiện đã được sống trọn vẹn, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa’.

28. Này các tỳ-kheo, đây được gọi là loại người không tự hành hạ mình không theo đuổi sự thực hành tự hành hạ mình, không hành hạ người khác không theo đuổi sự thực hành hành hạ người khác. Người không tự hành hạ mình và không hành hạ người khác ấy, ngay trong hiện tại không còn khao khát, lắng dịu, trở nên mát mẻ, trải nghiệm hạnh phúc, sống với tự thân trở nên tối thượng."

Đức Phật đã nói những điều này. Các tỳ-kheo ấy hài lòng và vui mừng đón nhận lời Đức Phật nói.

Kinh Kandaraka kết thúc, bài thứ nhất.

Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Vị ấy sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với tứ.

Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.

Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm

đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy vị ấy nhớ đến những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy nghĩ rằng: “Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này”. Như vậy, vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.

Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ tập”, tuệ tri như thật: “Ðây là Khổ diệt”, tuệ tri như thật: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt” tuệ tri như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là nguyên nhân của các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”, tuệ tri như thật: “Ðây là con Ðường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”.

Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”.

Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Vị ấy không tự hành khổ mình, không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

-ooOoo-