Skip to content

Pali (vi) [link]

HT Thích Minh Châu [link]

DN 1. KINH LƯỚI TRỜI

(Brahmajālasutta)
Bản tóm tắt→

1. Câu chuyện về những người du sĩ (Paribbājakakathā)

Tôi đã nghe như vầy: Một thời Thế Tôn đang đi trên con đường cái giữa Rājagaha (Vương Xá) và Nāḷanda cùng với một Tăng chúng tỳ kheo đông đảo, khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ, du sĩ Suppiya cũng đang đi trên con đường cái giữa Rājagaha và Nāḷanda cùng với người đệ tử là thanh niên Brahmadatta. Tại đó, du sĩ Suppiya dùng nhiều phương thức để nói lời chê bai Phật, chê bai Điều dạy (Pháp / Dhamma), chê bai Tăng chúng; trong khi đó, người đệ tử của du sĩ Suppiya là thanh niên Brahmadatta lại dùng nhiều phương thức để nói lời ca ngợi Phật, ca ngợi Điều dạy, ca ngợi Tăng chúng. Như vậy, hai thầy trò có những quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau, cứ đi theo sát phía sau Thế Tôn và Tăng chúng tỳ kheo.

Sau đó, Thế Tôn đi đến khu vườn Ambalaṭṭhikā, vào nghỉ một đêm tại nhà nghỉ của nhà vua cùng với Tăng chúng tỳ kheo. Du sĩ Suppiya cũng đi đến khu vườn Ambalaṭṭhikā, vào nghỉ một đêm tại nhà nghỉ của nhà vua cùng với người đệ tử là thanh niên Brahmadatta. Tại đó, du sĩ Suppiya lại dùng nhiều phương thức để nói lời chê bai Phật, chê bai Điều dạy, chê bai Tăng chúng; còn người đệ tử Brahmadatta lại dùng nhiều phương thức để nói lời ca ngợi Phật, ca ngợi Điều dạy, ca ngợi Tăng chúng. Như vậy, hai thầy trò có những quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau trong lúc lưu trú.

Đến lúc rạng sáng, nhiều tỳ kheo thức dậy, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn và câu chuyện sau đây được khởi lên:

“Thật kỳ diệu, thưa các hiền giả! Thật phi thường, thưa các hiền giả! Thế Tôn, bậc thấy rõ (tuệ tri / pajānāti), bậc thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác đã thấu hiểu rõ ràng sự đa dạng về khuynh hướng của chúng sinh. Vì du sĩ Suppiya này dùng nhiều phương thức chê bai Phật, chê bai Điều dạy, chê bai Tăng chúng; trong khi người đệ tử Brahmadatta lại dùng nhiều phương thức ca ngợi Phật, ca ngợi Điều dạy, ca ngợi Tăng chúng. Hai thầy trò có những quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau, cứ đi theo sát phía sau Thế Tôn và Tăng chúng tỳ kheo.”

Thế Tôn biết được câu chuyện của các tỳ kheo, liền đi đến ngôi nhà tròn, ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các tỳ kheo: “Này các tỳ kheo, các vị đang ngồi tụ họp ở đây bàn luận về chủ đề gì, và câu chuyện gì đang bị bỏ dở?”

Khi được hỏi vậy, các tỳ kheo bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, lúc rạng sáng chúng con thức dậy, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn và câu chuyện này được khởi lên: ‘Thật kỳ diệu… [như trên]… cứ đi theo sát phía sau Thế Tôn và Tăng chúng tỳ kheo’. Bạch Thế Tôn, đây là câu chuyện của chúng con đang bị bỏ dở thì Thế Tôn quang lâm.”

“Này các tỳ kheo, nếu có người khác chê bai Ta, chê bai Điều dạy, hay chê bai Tăng chúng, các vị không nên vì thế mà sinh lòng oán hận, bất mãn hay phật ý. Này các tỳ kheo, nếu có người khác chê bai Ta, chê bai Điều dạy, hay chê bai Tăng chúng, mà các vị lại tức giận hay không vui, thì điều đó sẽ trở thành chướng ngại cho chính các vị. Này các tỳ kheo, nếu có người khác chê bai Ta, chê bai Điều dạy, hay chê bai Tăng chúng, mà các vị lại tức giận hay không vui, thì liệu các vị có thể nhận biết được lời nói của người khác là đúng hay sai không?”

“Dạ không thể, bạch Thế Tôn.”

"Này các tỳ kheo, nếu có người khác chê bai Ta, chê bai Điều dạy, hay chê bai Tăng chúng, các vị cần phải giải thích rõ những điều không đúng sự thật là không đúng sự thật: ‘Điều này là không đúng sự thật, điều này là không chính xác, điều này không có ở nơi chúng tôi, điều này không tồn tại ở nơi chúng tôi’.

Này các tỳ kheo, nếu có người khác ca ngợi Ta, ca ngợi Điều dạy, hay ca ngợi Tăng chúng, các vị không nên vì thế mà sinh lòng vui sướng, hân hoan hay tự mãn trong tâm. Này các tỳ kheo, nếu có người khác ca ngợi Ta, ca ngợi Điều dạy, hay ca ngợi Tăng chúng, mà các vị lại vui sướng, hân hoan, tự mãn, thì điều đó sẽ trở thành chướng ngại cho chính các vị. Này các tỳ kheo, nếu có người khác ca ngợi Ta, ca ngợi Điều dạy, hay ca ngợi Tăng chúng, các vị cần phải xác nhận những điều đúng sự thật là đúng sự thật: ‘Điều này là đúng sự thật, điều này là chính xác, điều này có ở nơi chúng tôi, điều này tồn tại ở nơi chúng tôi’.

1. KINH PHẠM VÕNG

(Brahmajàla Sutta)

Tụng Phẩm I

1. Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Ràjagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ có Suppiya du sĩ ngoại đạo cũng đi trên con đường giữa Ràjagaha và Nalandà cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Suppiya, du sĩ ngoại đạo dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời hoàn toàn tương phản nhau trong khi đi sau lưng đức Phật và chúng Tỷ-kheo.

2. Rồi Thế Tôn đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với chúng Tỷ-kheo. Suppiya, du sĩ ngoại đạo cũng đến nghỉ một đêm tại Ambalatthikà, nhà nghỉ mát của vua, cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Tại đây, du sĩ ngoại đạo Suppiya cũng dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn người đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời tương phản nhau trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.

3. Và khi đêm vừa mới tàn, một số lớn chư Tăng, sau khi thức dậy, đã ngồi họp tại một gian nhà hình tròn và câu chuyện sau đây được bàn đến giữa chư Tăng.

− Này các Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Ðẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu hướng sai khác của chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ ngoại đạo này dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng vô số phương tiện, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.

4. Lúc bấy giờ Thế Tôn được biết câu chuyện đang bàn giữa chư Tăng, liền đến tại gian nhà hình tròn và ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-Kheo :

− Này các Tỷ-kheo, câu chuyện gì được bàn đến trong khi các ngươi ngồi họp tại chỗ này? Vấn đề gì đã được bỏ dở chưa nói xong?

Nghe nói như vậy, các Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

− Bạch Thế Tôn! Tại đây, khi đêm vừa mới tàn, chúng con sau khi dậy, ngồi họp tại nơi gian nhà hình tròn và giữa chúng con, câu chuyện sau đây được bàn đến: “Này các Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Ðẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu hướng sai khác của chúng sanh. Suppiya, kẻ du sĩ ngoại đạo này dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng. Còn đệ tử du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta lại dùng vô số phương tiện, tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò đã nói những lời hoàn toàn tương phản trong khi đi sau lưng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo”. Bạch Thế Tôn, đó là câu chuyện đang bàn đến nửa chừng của chúng con khi Thế Tôn đến!

5. - Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng?

− Bạch Thế Tôn, không thể được!

− Này các Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - “Như thế này, điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi”.

6. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ, vui mừng và thích thú thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: “Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi”.

7. Này các Tỷ-kheo, thật chỉ thuộc các vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai. Này các Tỷ-kheo, thế nào là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai?

2. Giới đức (Sīla)

2.1. Giới đức nhỏ (Cūḷasīla)

Này các tỳ kheo, khi một người thường ca ngợi Người Đến Như Vậy (Như Lai / tathāgata), họ chỉ nói đến những điều nhỏ nhặt, thấp kém, chỉ thuộc về giới đức. Vậy những điều nhỏ nhặt, thấp kém, thuộc về giới đức ấy là gì?

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ việc sát sinh, tránh xa việc sát sinh, bỏ gậy gộc, bỏ vũ khí, có lòng tàm quý, có lòng từ bi, sống thương xót đến lợi ích của mọi sinh vật và loài hữu tình’ — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy .

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ việc lấy của không cho, tránh xa việc lấy của không cho, chỉ nhận những gì được cho, chỉ mong đợi những gì được cho, sống với tâm thanh sạch, không trộm cắp’ — …

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ đời sống không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống tách biệt, tránh xa hành vi giao cấu của người đời’ — …

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ lời nói dối, tránh xa lời nói dối, nói lời chân thật, giữ lời hứa, đáng tin cậy, không lừa gạt thế gian’ — …

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ; nghe điều gì ở đây không đem kể lại ở kia để gây chia rẽ những người này, nghe điều gì ở kia không đem kể lại ở đây để gây chia rẽ những người kia. Ngài là người hàn gắn những kẻ ly gián, khuyến khích những người hòa hợp, yêu thích sự hòa hợp, vui thích sự hòa hợp, hân hoan trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp’ — …

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác; ngài chỉ nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người yêu thích, làm hài lòng nhiều người’ — …

‘Sa-môn Gotama đã từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm; ngài nói đúng lúc, nói sự thật, nói điều có ý nghĩa, nói về Điều dạy, nói về kỷ luật; ngài nói những lời đáng được ghi nhớ, hợp thời, có lý lẽ, có chừng mực, mang lại lợi ích’ — …

‘Sa-môn Gotama tránh xa việc làm tổn hại hạt giống và cây cối’ — Này các tỳ kheo… [giản lược]…

'Sa-môn Gotama chỉ ăn một bữa, không ăn vào ban đêm, tránh xa việc ăn sái giờ…

Tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, các buổi biểu diễn…

Tránh xa việc đeo vòng hoa, dùng hương liệu, thoa phấn, trang điểm và làm đẹp…

Tránh xa việc nằm giường cao và giường lớn…

Tránh xa việc nhận vàng và bạc… Tránh xa việc nhận hạt ngũ cốc sống… Tránh xa việc nhận thịt sống… Tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ… Tránh xa việc nhận nô lệ nam và nữ… Tránh xa việc nhận dê và cừu… Tránh xa việc nhận gà và lợn… Tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái… Tránh xa việc nhận ruộng đất và tài sản…

Tránh xa việc làm người đưa tin hay chạy việc… Tránh xa việc mua và bán… Tránh xa việc gian lận bằng cân, gian lận bằng tiền kim loại, gian lận bằng đấu lường… Tránh xa việc hối lộ, lừa gạt, lừa đảo và các thủ đoạn quanh co… Tránh xa việc cắt xẻo, giết hại, trói buộc, cướp bóc, cướp đoạt và bạo lực’ — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy .

Kết thúc phần Giới đức nhỏ.

(Tiểu Giới)

8. Sa-môn Gotama từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. - Này các Tỷ-kheo, đó là lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama từ bỏ lấy của không cho, tránh xa sự lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh không có trộm cướp. - Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama từ bỏ tà hạnh, tịnh tu phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

9. Sa-môn Gotama từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ này, không đi nói đến chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người nầy; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Sa-môn Gotama sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Này các Tỷ-kheo, Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, Samôn Gotama nói những lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu. Này các Tỷ-kheo, Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói ỷ ngữ, tránh xa lời nói ỷ ngữ, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. - Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

10. Sa-môn Gotama không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ; Sa-môn Gotama dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn phi thời. Sa-môn Gotama từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch. Sa-môn Gotama từ bỏ không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Sa-môn Gotama từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận vàng và bạc. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận các hạt giống. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận thịt sống. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận đàn bà, con gái. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận cừu và dê. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận gia cầm và heo. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai. Sa-môn Gotama từ bỏ không phái người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Sa-môn Gotama từ bỏ không buôn bán. Sa-môn Gotama từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường. Sa-môn Gotama từ bỏ các tà hạnh, như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Sa-môn Gotama từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. - Này các Tỷ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

2.2. Giới đức trung bình (Majjhimasīla)

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi người có lòng tin, họ lại sống làm tổn hại hạt giống và cây cối như là: hạt giống từ rễ, hạt giống từ thân, hạt giống từ đốt, hạt giống từ ngọn, và thứ năm là hạt giống từ chính hạt; Sa-môn Gotama tránh xa việc làm tổn hại hạt giống và cây cối như vậy’ — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy.

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… sống đam mê việc tích trữ đồ dùng, cụ thể là: tích trữ thức ăn, tích trữ đồ uống, tích trữ quần áo, tích trữ xe cộ, tích trữ giường nằm, tích trữ hương liệu, tích trữ vật dụng; Sa-môn Gotama tránh xa việc tích trữ đồ dùng như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… sống đam mê việc xem các buổi biểu diễn, cụ thể là: múa, hát, nhạc, kịch, kể chuyện, gõ nhịp bằng tay, gọi hồn, đánh trống, cảnh đẹp, trò xiếc của người chiên-đà-la, leo sào, nhào lộn, chọi voi, chọi ngựa, chọi trâu, chọi bò, chọi dê, chọi cừu, chọi gà, chọi chim cút, đấu gậy, đấu quyền anh, đấu vật, diễn tập quân sự, duyệt binh, dàn trận, xem quân đội; Sa-môn Gotama tránh xa việc xem các buổi biểu diễn như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… sống đam mê các trò chơi cờ bạc gây lơ đễnh, cụ thể là: cờ tám ô, cờ mười ô, cờ trên không, nhảy lò cò, xếp hình, chơi súc sắc, chơi gậy, nhúng tay vào thuốc nhuộm rồi in lên tường, chơi bi, thổi ống tiêu bằng lá, cày bằng cày đồ chơi, nhào lộn, chong chóng, đo lường bằng lá, xe đồ chơi, cung đồ chơi, đoán chữ, đoán ý nghĩ, bắt chước dị tật; Sa-môn Gotama tránh xa các trò chơi cờ bạc gây lơ đễnh như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… sống đam mê việc sử dụng giường cao và giường lớn, cụ thể là: ghế dài, giường có nệm, thảm lông dài, thảm dệt nhiều màu, thảm trắng, thảm len thêu hoa, thảm bông, thảm len thêu hình thú, thảm len có lông hai mặt, thảm len có lông một mặt, thảm lụa đính ngọc, thảm lụa, thảm dệt bằng lông, thảm trải lưng voi, thảm trải lưng ngựa, thảm trải xe, thảm da linh dương, thảm da nai cao cấp, thảm có mái che, ghế có gối tựa đầu và chân màu đỏ; Sa-môn Gotama tránh xa việc sử dụng giường cao và giường lớn như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… sống đam mê việc trang điểm và làm đẹp, cụ thể là: xoa bóp, đấm bóp, tắm gội, xoa nắn, dùng gương, dùng phấn mắt, đeo vòng hoa, dùng hương liệu, thoa phấn, xoa phấn mặt, bôi kem mặt, đeo vòng tay, buộc tóc, mang gậy, mang ống thuốc, mang gươm, che ô, mang giày thêu, đội khăn xếp, đeo ngọc, cầm quạt đuôi ngựa, mặc áo trắng có tua dài; Sa-môn Gotama tránh xa việc trang điểm và làm đẹp như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… sống đam mê những câu chuyện vô bổ, cụ thể là: chuyện về vua chúa, chuyện về kẻ trộm, chuyện về quan lại, chuyện về quân đội, chuyện về sự sợ hãi, chuyện về chiến tranh, chuyện về thức ăn, chuyện về đồ uống, chuyện về quần áo, chuyện về giường nằm, chuyện về vòng hoa, chuyện về hương liệu, chuyện về họ hàng, chuyện về xe cộ, chuyện về làng mạc, chuyện về thị trấn, chuyện về thành phố, chuyện về quốc gia, chuyện về phụ nữ, chuyện về anh hùng, chuyện về đường phố, chuyện về bến nước, chuyện về người chết, chuyện tạp nham, chuyện về nguồn gốc thế giới, chuyện về nguồn gốc đại dương, chuyện về sự tồn tại và không tồn tại; Sa-môn Gotama tránh xa những câu chuyện vô bổ như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… sống đam mê những cuộc tranh luận gay gắt, cụ thể là: “Ông không hiểu Điều dạy và kỷ luật này, tôi mới hiểu Điều dạy và kỷ luật này. Làm sao ông hiểu được Điều dạy và kỷ luật này? Ông đang thực hành sai, tôi mới thực hành đúng. Lời của tôi có lý, lời của ông vô lý. Điều nên nói trước ông lại nói sau, điều nên nói sau ông lại nói trước. Những gì ông suy nghĩ kỹ đã bị lật ngược. Quan điểm của ông đã bị bác bỏ, ông đã bị đánh bại. Hãy đi tìm cách gỡ rối cho quan điểm của mình, hoặc hãy tự giải thoát nếu ông có thể”; Sa-môn Gotama tránh xa những cuộc tranh luận gay gắt như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… sống đam mê việc làm người đưa tin hay chạy việc, cụ thể là: cho các vị vua, quan lại, quý tộc, bà-la-môn, gia chủ, thanh niên, với yêu cầu “Hãy đi đến đây, hãy đi đến kia, hãy mang cái này đi, hãy mang cái kia về”; Sa-môn Gotama tránh xa việc làm người đưa tin hay chạy việc như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bằng đức tin, họ lại là những kẻ lừa đảo, nịnh hót, bói toán, tống tiền, dùng lợi lộc để kiếm lợi lộc; Sa-môn Gotama tránh xa sự lừa đảo và nịnh hót như vậy’ — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy.

Kết thúc phần Giới đức trung bình.

(Trung Giới)

11. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống làm hại các hạt giống và cây cối. Như các hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ ngành cây sanh, hạt giống từ đất sanh, hạt giống từ chiết cây sanh và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh. Còn Sa-môn Gotama thì không làm hại hột giống hay cây cối nào. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

12. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cất chứa và thọ hưởng các đồ vật. Như cất chứa các món ăn, cất chứa các đồ uống, cất chứa vải, cất chứa xe cộ, cất chứa các đồ nằm, cất chứa các hương liệu, cất chứa các mỹ vị. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không cất chứa các vật trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

13. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống theo các du hí không chân chánh như múa, hát, nhạc, kịch, ngâm vịnh, nhịp tay, tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng thần tiên, mãi võ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, đánh giặc giả, dàn trận, thao dượt, diễn binh. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ các loại du hí không chân chánh như trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

14. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống đánh bài và theo các trò giải trí như cờ tám hình vuông, cờ mười hình vuông, cờ trên không, trò chơi trên đất, chỉ bước vào những ô có quyền bước, trò chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăng, lấy tay làm viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ viết thiếu trên không hay trên lưng, chơi đoán tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ đánh bài và các loại giải trí như trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

15. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế dài, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía, mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm thảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, nệm voi, nệm ngựa, nệm xe, nệm bằng da sơn dương khâu lại với nhau, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không dùng các giường cao và giường lớn như trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

16. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các đồ trang sức và mỹ phẩm. Như thoa dầu, đấm bóp, tắm, đập tay chân cho mềm dẻo, gương, kem đánh mặt, vòng hoa và phấn son, phấn mặt, sáp mặt, vòng tay, tóc giả trên đầu, gậy cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc, phất trần, vải trắng có viền tua dài. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không dùng các loại trang sức và mỹ phẩm như trên. Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

17. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống nói những câu chuyện vô ích, tầm thường như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, các câu chuyện hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Còn Sa-môn Gotama từ bỏ không nói những câu chuyện vô ích, tầm thường kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

18. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống bàn luận tranh chấp, như nói: “Ngươi không biết pháp và luật này, tôi biết pháp và luật này. Sao ngươi có thể biết pháp và luật này? Ngươi đã phạm vào tà kiến, tôi mới thật đúng chánh kiến; lời nói của tôi mới tương ưng, lời nói của ngươi không tương ưng; lời nói của ngươi không tương ưng, những điều đáng nói trước ngươi lại nói sau, những điều đáng nói sau ngươi lại nói trước, chủ kiến của ngươi đã bị bài bác; câu nói của ngươi đã bị thách đấu; ngươi đã bị thuyết bại. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy; nếu có thể được, gắng thoát ra khỏi lối bí”. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những cuộc biện luận tranh chấp đã kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy người phàm phu tán thán Như Lai.

19. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới, như cho các vua, cho các đại thần của vua, cho các vị Sát-đế-lỵ, cho các vị Bà-la-môn, cho các gia chủ, cho các thanh niên và nói rằng: “Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia; mang cái này lại, đem cái này đến chỗ kia”. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không cho đưa các tin tức và tự đứng làm môi giới. Như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

20. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống lừa đảo, nói lời siểm nịnh, gợi ý, dèm pha, lấy lợi cầu lợi. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ không lừa đảo và siểm nịnh như trên. Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

2.3. Giới đức lớn (Mahāsīla)

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn ăn những thức ăn được cúng dường bởi người có lòng tin, họ lại nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: xem tướng tay chân, xem điềm báo, xem sấm sét, giải mộng, xem tướng, xem vết chuột cắn, tế lửa bằng bơ, tế lửa bằng muôi, tế lửa bằng vỏ trấu, tế lửa bằng cám, tế lửa bằng gạo, tế lửa bằng bơ lỏng, tế lửa bằng dầu, tế lửa bằng miệng, tế lửa bằng máu, xem tướng cơ thể, xem phong thủy nhà cửa, xem tướng đất đai, bói toán ở nghĩa địa, trừ tà, bói toán bằng bùa chú, bói rắn, bói độc, bói bò cạp, bói chuột, bói chim, bói quạ, đoán tuổi thọ, làm bùa hộ mệnh chống tên bắn, hiểu tiếng kêu của thú; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy’ — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy .

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: xem tướng ngọc, xem tướng áo, xem tướng gậy, xem tướng vũ khí, xem tướng gươm, xem tướng mũi tên, xem tướng cung, xem tướng binh khí, xem tướng phụ nữ, xem tướng đàn ông, xem tướng bé trai, xem tướng bé gái, xem tướng nô lệ nam, xem tướng nô lệ nữ, xem tướng voi, xem tướng ngựa, xem tướng trâu, xem tướng bò đực, xem tướng bò cái, xem tướng dê, xem tướng cừu, xem tướng gà, xem tướng chim cút, xem tướng kỳ đà, xem tướng khuyên tai, xem tướng rùa, xem tướng nai; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: đoán vua sẽ xuất quân, đoán vua sẽ không xuất quân, đoán vua phe mình sẽ tấn công, đoán vua phe địch sẽ rút lui, đoán vua phe địch sẽ tấn công, đoán vua phe mình sẽ rút lui, đoán vua phe mình sẽ thắng, đoán vua phe địch sẽ thua, đoán vua phe địch sẽ thắng, đoán vua phe mình sẽ thua, đoán người này sẽ thắng, đoán người này sẽ thua; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: đoán nhật thực, đoán nguyệt thực, đoán sao che khuất nhau, đoán mặt trời mặt trăng đi đúng quỹ đạo, đoán mặt trời mặt trăng đi chệch quỹ đạo, đoán các vì sao đi đúng quỹ đạo, đoán các vì sao đi chệch quỹ đạo, đoán sao băng rơi, đoán cháy chân trời, đoán động đất, đoán sấm sét, đoán mặt trời mặt trăng các vì sao mọc lặn mờ tỏ, đoán kết quả của nhật thực, đoán kết quả của nguyệt thực, đoán kết quả của sao che khuất nhau, đoán kết quả của mặt trời mặt trăng đi đúng quỹ đạo, đoán kết quả của mặt trời mặt trăng đi chệch quỹ đạo, đoán kết quả của các vì sao đi đúng quỹ đạo, đoán kết quả của các vì sao đi chệch quỹ đạo, đoán kết quả của sao băng rơi, đoán kết quả của cháy chân trời, đoán kết quả của động đất, đoán kết quả của sấm sét, đoán kết quả của mặt trời mặt trăng các vì sao mọc lặn mờ tỏ; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: đoán mưa thuận, đoán mưa nghịch, đoán được mùa, đoán mất mùa, đoán an ninh, đoán nguy hiểm, đoán bệnh tật, đoán sức khỏe, tính toán bằng ngón tay, tính toán bằng trí nhớ, tính toán bằng con số, làm thơ, tranh luận triết học; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: xem ngày cưới hỏi, xem ngày ly hôn, xem ngày hòa giải, xem ngày chia rẽ, xem ngày thu tiền, xem ngày chi tiền, làm bùa may mắn, làm bùa xui xẻo, làm bùa sẩy thai, làm phép cứng lưỡi, làm phép khóa hàm, làm phép vẫy tay, làm phép ù tai, bói gương, bói thiếu nữ, bói thần linh, thờ mặt trời, thờ Đại Phạm Thiên, gọi lửa từ miệng, gọi nữ thần may mắn; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy’ — …

‘Trong khi một số sa-môn, bà-la-môn… nuôi sống bản thân bằng tà mạng qua các môn tà thuật, cụ thể là: làm lễ cầu an, làm lễ khấn vái, làm phép trừ tà, làm phép cầu tài, làm phép cầu mưa, làm phép cầu tạnh, làm lễ động thổ, làm lễ cất nhà, súc miệng, tắm rửa, cúng tế, cho thuốc mửa, cho thuốc xổ, cho thuốc xổ trên, cho thuốc xổ dưới, cho thuốc xổ đầu, nhỏ dầu vào tai, nhỏ thuốc vào mắt, hít thuốc qua mũi, bôi thuốc mỡ, bôi thuốc làm mát, chữa bệnh bằng kim, chữa bệnh bằng phẫu thuật, chữa bệnh cho trẻ em, kê đơn thuốc rễ cây, kê đơn thuốc thảo mộc; Sa-môn Gotama tránh xa tà mạng qua các môn tà thuật như vậy’ — Này các tỳ kheo, người thường có thể nói như vậy khi ca ngợi Người Đến Như Vậy .

Này các tỳ kheo, đây chỉ là những điều nhỏ nhặt, thấp kém, chỉ thuộc về giới đức, mà người thường có thể nói đến khi ca ngợi Người Đến Như Vậy.

Kết thúc phần Giới đức lớn.

(Ðại Giới)

21. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hột cải v.v… vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế dầu, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu ma quỷ, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bọ cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa những tà hạnh kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

22. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống mình bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tường đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những tà mạng kể trên.

− Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

23. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước: Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lui quân; vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thối; vua ngoại bang sẽ tấn công, vua bản xứ sẽ triệt thối; vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ bại trận; vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên này, sẽ có sự thất bại cho phe bên kia. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những tà mạng kể trên.

− Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

24. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhựt thực, sẽ có tinh thực; mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng chánh đạo, mặt trăng, mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, sẽ có lửa cháy các phương hướng, sẽ có động đất, sẽ có sấm trời, mặt trăng, mặt trời, các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này, nhựt thực sẽ có kết quả như thế này, tinh thực sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, sao băng sẽ có kết quả như thế này, lửa cháy các phương hướng sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ có những kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng, mặt trời, các sao mọc, lặn, mờ, sáng, sẽ có kết quả như thế này. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa, không tự nuôi sống bằng những tà mạng kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

25. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước sẽ có nhiều mưa, sẽ có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ có hiểm họa, sẽ có bịnh, sẽ không có bịnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà hạnh kể trên. Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

26. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng. Như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rể, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến cho người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến cho tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng, thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà mạng kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai. 27. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như dùng các ảo thuật để được yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa, để được che chở khi ở trong nhà đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để tìm đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc qua lỗ mũi, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bịnh đau mắt, làm thầy thuốc mổ xẻ, chữa bịnh cho con nít, cho uống thuốc làm bằng các loại rễ cây, ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà mạng kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

Này các Tỷ-kheo, đấy là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu dùng để tán thán Như Lai.

3. Quan điểm sai (tà kiến / diṭṭhi)

3.1. Người suy đoán về quá khứ (bản tế trạch kiếp / pubbantakappika)

Này các tỳ kheo, có những Điều khác sâu kín, khó thấy, khó hiểu, bình an, cao tột, vượt ngoài tầm lý luận, tinh tế, chỉ những bậc trí mới có thể trải nghiệm, mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp (thắng tri / abhiññā), chứng ngộ và thuyết giảng, và chính những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ là nói một cách đúng đắn. Này các tỳ kheo, những Điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu… mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng đó là gì?

28. Này các Tỷ-kheo, lại có những pháp khác, sâu kín, khó thấu, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị chỉ những người trí mới nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

Này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, không thể nhận hiểu bởi luận lý suông, tế nhị, chỉ những người trí mới có thể nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết, và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến?

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn là những người suy đoán về quá khứ, có những quan điểm sai về quá khứ, họ đưa ra nhiều lập luận khác nhau về quá khứ dựa trên mười tám cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà trở thành những người suy đoán về quá khứ, có những quan điểm sai về quá khứ, đưa ra nhiều lập luận khác nhau về quá khứ dựa trên mười tám cơ sở?

3.1.1. Thuyết vĩnh hằng (thường kiến / sassatavāda)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết vĩnh hằng, họ tuyên bố rằng bản ngã (ngã / attā) và thế giới (thế giới / loka) là vĩnh hằng dựa trên bốn cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng dựa trên bốn cơ sở?

Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực, nhờ tinh tấn, nhờ chuyên tâm, nhờ không phóng dật, nhờ suy nghĩ đúng đắn (chánh tác ý / sammāmanasikāra) mà đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh (…) vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Cụ thể là—nhớ lại một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều trăm đời, nhiều ngàn đời, nhiều trăm ngàn đời: ‘Tại nơi kia, ta đã có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúc (lạc / sukha) và đau khổ (khổ / dukkha) như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở nơi nọ; tại nơi nọ, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, ngoại hình như thế này, thức ăn như thế này, trải nghiệm hạnh phúcđau khổ như thế này, tuổi thọ như thế này; sau khi chết từ đó, ta sinh ra ở đây’. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và chi tiết.

Vị ấy nói thế này: 'Bản ngãthế giới là vĩnh hằng, vô sinh, đứng vững như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi và sinh lại, nhưng vẫn có một cái gì đó tồn tại vĩnh hằng. Vì sao vậy? Vì ta nhờ nỗ lực, nhờ tinh tấn, nhờ chuyên tâm, nhờ không phóng dật, nhờ suy nghĩ đúng đắn mà đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh, ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ… [như trên]… Như vậy, ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và chi tiết.

Nhờ điều này mà ta biết được điều này:

“Rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng, vô sinh, đứng vững như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi và sinh lại, nhưng vẫn có một cái gì đó tồn tại vĩnh hằng”'. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất, dựa vào đó, căn cứ vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng.

Thứ hai, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng? Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực… nhờ suy nghĩ đúng đắn mà đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Cụ thể là—nhớ lại một sự co lại và giãn nở của vũ trụ (hoại kiếp và thành kiếp / saṁvaṭṭavivaṭṭa), hai sự co lại và giãn nở của vũ trụ, ba sự co lại và giãn nở của vũ trụ, bốn sự co lại và giãn nở của vũ trụ, năm sự co lại và giãn nở của vũ trụ, mười sự co lại và giãn nở của vũ trụ: ‘Tại nơi kia, ta đã có tên như thế này… [như trên]… sinh ra ở đây’. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và chi tiết.

Vị ấy nói thế này: ‘Bản ngãthế giới là vĩnh hằng… [như trên]… Nhờ điều này mà ta biết được điều này: “Rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng…”’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ hai, dựa vào đó, căn cứ vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng.

Thứ ba, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng? Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực… nhờ suy nghĩ đúng đắn mà đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ. Cụ thể là—nhớ lại mười sự co lại và giãn nở của vũ trụ, hai mươi sự co lại và giãn nở của vũ trụ, ba mươi sự co lại và giãn nở của vũ trụ, bốn mươi sự co lại và giãn nở của vũ trụ: ‘Tại nơi kia, ta đã có tên như thế này… [như trên]… sinh ra ở đây’. Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng với các đặc điểm và chi tiết.

Vị ấy nói thế này: ‘Bản ngãthế giới là vĩnh hằng… [như trên]… Nhờ điều này mà ta biết được điều này: “Rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng…”’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ ba, dựa vào đó, căn cứ vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng.

Thứ tư, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng? Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn là nhà logic học, nhà suy luận. Vị ấy dựa trên sự suy luận logic, dựa trên sự tìm tòi nghiên cứu, tự mình phát biểu thế này: ‘Bản ngãthế giới là vĩnh hằng, vô sinh, đứng vững như đỉnh núi, kiên cố như trụ đá; còn những chúng sinh kia thì chạy vòng quanh, luân hồi, chết đi và sinh lại, nhưng vẫn có một cái gì đó tồn tại vĩnh hằng’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ tư, dựa vào đó, căn cứ vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng.

Này các tỳ kheo, chính nhờ bốn cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng. Này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào theo thuyết vĩnh hằng, tuyên bố rằng bản ngãthế giới là vĩnh hằng, tất cả họ đều dựa vào bốn cơ sở này, hoặc một trong số đó; không có cơ sở nào khác ngoài những điều này.

Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) điều này: ‘Những lập trường quan điểm sai này, nếu được nắm giữ như vậy, bám víu như vậy, sẽ dẫn đến những cõi đến như vậy, sẽ dẫn đến những kết cục ở đời sau như vậy’. Người Đến Như Vậy thấy rõ điều đó, và còn thấy rõ xa hơn thế nữa; nhưng vị ấy không bám víu vào sự thấy rõ đó, và nhờ không bám víu, vị ấy tự mình trải nghiệm sự tịch diệt. Này các tỳ kheo, sau khi thấy rõ đúng như thật sự hình thành (sinh / samudaya), sự tan biến (diệt / atthaṅgama), vị ngọt, sự nguy hiểm và sự thoát khỏi của các Cảm Giác (thọ / vedanā), Người Đến Như Vậy được giải thoát không bám giữ (vô thủ giải thoát / anupādāvimutto).

Này các tỳ kheo, đây chính là những Điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu, bình an, cao tột, vượt ngoài tầm lý luận, tinh tế, chỉ những bậc trí mới có thể trải nghiệm, mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng, và chính những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ là nói một cách đúng đắn.

(Hết phần tụng thứ nhất).

(62 loại Tà kiến)

29. Này các Tỷ-kheo có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều sở kiến sai khác, với mười tám luận chấp. Và y chỉ theo gì, căn cứ theo gì, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy luận bàn về phía quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng ra nhiều sở kiến sai khác với mười tám luận chấp?

30. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp rằng: “Bản ngã về thế giới là thường còn” với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp?

31. Này các Tỷ-kheo, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định; khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, vô số trăm đời, vô số ngàn đời, vô số trăm ngàn đời, nhớ rằng: Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ, khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi tôi được sanh tại chỗ này”. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời quá khứ, với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói rằng: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, như trụ đá; còn những loại hữu tình kia thời lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú. Tại sao vậy? Vì rằng tôi do nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm… còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú”.

Này các Tỷ-kheo đó là lập trường thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số những vị Sa-môn, Bàla-môn, chủ trương Thường trú luận, và chấp rằng bản ngã và thế giới là thường còn. 32. Trường hợp thứ hai, có những Sa-môn, Bà-la-môn y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp rằng bản ngã và thế giới là thường còn?

Này các Tỷ-kheo, ở đời này có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định, khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một thành kiếp hoại kiếp, hai thành kiếp hoại kiếp, ba thành kiếp hoại kiếp, mười thành kiếp hoại kiếp; nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này… còn những loại hữu tình kia lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú”.

Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường thứ hai, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số những Sa-môn, Bà-la-môn , chủ trương Thường trú luận và chấp rằng, bản ngã và thế giới thường còn.

33. Trường hợp thứ ba, những Sa-môn hay Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và cho rừng bản ngã và thế giới là thường còn?

Này các Tỷ-kheo, ở đời này có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười thành kiếp hoại kiếp, hai mươi thành kiếp hoại kiếp, ba mươi thành kiếp hoại kiếp, bốn mươi thành kiếp hoại kiếp, năm mươi thành kiếp hoại kiếp; nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy, chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Từ chỗ ấy, chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đã sống với tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ kia chết đi, tôi được sanh tại chỗ này”. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, như trụ đá; còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy, chúng vẫn thường trú. Tại sao vậy? Vì rằng tôi nhờ nhiệt tâm… nên tâm nhập định như vậy. Khi tâm nhập định như vậy, tôi nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười thành kiếp, hoại kiếp… bốn mươi thành kiếp hoại kiếp”. Nhớ rằng: “Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi sống với tên như thế này… tôi được sanh tại chỗ này”. Như vậy người ấy nhớ nhiều đời quá khứ với những với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, trụ đá… còn những loại hữu tình kia thì lưu chuyển, luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú”.

Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường thứ ba, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới thường còn.

34. Trường hợp thứ tư, những Sa-môn, Bà-la-môn y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Thường trú luận, và chấp bản ngã và thế giới thường còn?

Này các Tỷ-kheo, ở đời có Sa-môn hay Bà-la-môn, là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ của suy luận, và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị này tuyên bố như thế này: “Bản ngã và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, như trụ đá, còn những loại hữu tình kia thời lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường còn”.

Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường thứ tư, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn.

35. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn, với bốn luận chấp. Nếu có những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương Thường trú luận, chấp rằng: “Bản ngã và thế giới là thường còn”, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

36. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai biết như vậy, Ngài lại biết hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm chứng được tịch tịnh. Ngài như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

37. Những chấp pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy, Như Lai đã thắng tri, giác ngộ và tuyên thuyết; và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.1.2. Thuyết một phần vĩnh hằng (Ekaccasassatavāda)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết một phần vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng, họ tuyên bố rằng bản ngãthế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng dựa trên bốn cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu, căn cứ vào đâu mà tuyên bố rằng bản ngãthế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng dựa trên bốn cơ sở?

Này các tỳ kheo, có một thời điểm nào đó, sau một khoảng thời gian rất dài, thế giới này co lại. Khi thế giới đang co lại, phần lớn chúng sinh sinh về cõi Quang Âm thiên. Tại đó, họ được tạo ra từ tâm, nuôi dưỡng bằng hân hoan (hỷ / pīti), tự phát sáng, bay lượn trong không gian, sống trong sự rực rỡ, và họ tồn tại ở đó trong một thời gian rất dài.

Này các tỳ kheo, có một thời điểm nào đó, sau một khoảng thời gian rất dài, thế giới này giãn nở ra. Khi thế giới đang giãn nở, một cung điện Phạm thiên trống rỗng xuất hiện. Khi ấy, có một chúng sinh do hết tuổi thọ hoặc hết phước báu, chết từ cõi Quang Âm thiên và sinh vào cung điện Phạm thiên trống rỗng đó. Tại đó, vị ấy được tạo ra từ tâm, nuôi dưỡng bằng hân hoan, tự phát sáng, bay lượn trong không gian, sống trong sự rực rỡ, và tồn tại ở đó trong một thời gian rất dài.

Vì sống một mình ở đó quá lâu, vị ấy sinh ra sự buồn chán và khao khát: ‘Ôi, ước gì có những chúng sinh khác cũng đến trạng thái này’. Sau đó, có những chúng sinh khác do hết tuổi thọ hoặc hết phước báu, chết từ cõi Quang Âm thiên và sinh vào cung điện Phạm thiên, trở thành bạn đồng hành của chúng sinh ấy. Tại đó, họ cũng được tạo ra từ tâm, nuôi dưỡng bằng hân hoan, tự phát sáng, bay lượn trong không gian, sống trong sự rực rỡ, và tồn tại ở đó trong một thời gian rất dài.

Này các tỳ kheo, tại đó, chúng sinh sinh ra đầu tiên có suy nghĩ thế này: ‘Ta là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, Đấng Chiến Thắng, Đấng Không Bị Đánh Bại, Đấng Toàn Tri, Đấng Tối Cao, Đấng Chúa Tể, Đấng Sáng Tạo, Đấng Hóa Sinh, Đấng Tối Thượng, Đấng Sắp Đặt, Đấng Tự Tại, là Cha của những chúng sinh đã sinh và sẽ sinh. Những chúng sinh này do chính ta tạo ra. Vì sao vậy? Vì trước đây ta đã có ý nghĩ: “Ôi, ước gì có những chúng sinh khác cũng đến trạng thái này”. Đó là ý nguyện của ta, và những chúng sinh này đã đến trạng thái này’.

Còn những chúng sinh sinh ra sau, họ cũng có suy nghĩ thế này: ‘Vị này là Phạm thiên, Đại Phạm thiên… là Cha của những chúng sinh đã sinh và sẽ sinh. Chúng ta do chính vị Phạm thiên này tạo ra. Vì sao vậy? Vì chúng ta thấy vị này sinh ra ở đây trước, còn chúng ta thì sinh ra sau’.

Này các tỳ kheo, tại đó, chúng sinh sinh ra đầu tiên có tuổi thọ dài hơn, ngoại hình đẹp hơn và có quyền lực lớn hơn. Còn những chúng sinh sinh ra sau có tuổi thọ ngắn hơn, ngoại hình kém hơn và quyền lực nhỏ hơn.

Này các tỳ kheo, có trường hợp một chúng sinh chết từ cõi đó và đến trạng thái này (cõi người). Khi đến trạng thái này, người ấy từ bỏ gia đình, xuất gia sống không nhà. Sau khi xuất gia, nhờ nỗ lực… nhờ suy nghĩ đúng đắn mà đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh, người ấy nhớ lại đời sống quá khứ đó, nhưng không nhớ xa hơn được nữa.

Người ấy nói thế này: ‘Vị Phạm thiên, Đại Phạm thiên… Đấng Sáng Tạo… là Cha của những chúng sinh đã sinh và sẽ sinh, vị Phạm thiên đã tạo ra chúng ta đó, ngài là thường hằng, kiên cố, vĩnh hằng, không chịu quy luật biến đổi, ngài sẽ tồn tại vĩnh viễn như vậy. Còn chúng ta, những người được vị Phạm thiên đó tạo ra, chúng ta là vô thường, không kiên cố, tuổi thọ ngắn ngủi, phải chịu quy luật chết đi, nên đã đến trạng thái này’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất, dựa vào đó, căn cứ vào đó mà một số sa-môn, bà-la-môn tuyên bố rằng bản ngãthế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng.

Thứ hai, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… tuyên bố rằng bản ngãthế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng? Này các tỳ kheo, có những chư thiên tên là ‘Bị hoại vì vui đùa’ (khiḍḍāpadosikā). Họ dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và khoái lạc. Vì dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và khoái lạc, sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sati) của họ bị lãng quên. Do mất sự Tự Quan Sát, những chư thiên ấy chết từ cõi đó.

Này các tỳ kheo, có trường hợp một chúng sinh chết từ cõi đó và đến trạng thái này. Khi đến trạng thái này, người ấy xuất gia… nhờ nỗ lực… đạt đến định tâm, nhớ lại đời sống quá khứ đó, nhưng không nhớ xa hơn được nữa.

Người ấy nói thế này: ‘Những vị chư thiên không thuộc loại “Bị hoại vì vui đùa”, họ không dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa, cười cợt và khoái lạc. Vì vậy, sự Tự Quan Sát của họ không bị lãng quên. Do không mất sự Tự Quan Sát, những chư thiên ấy không chết từ cõi đó; họ là thường hằng, kiên cố, vĩnh hằng, không chịu quy luật biến đổi, sẽ tồn tại vĩnh viễn như vậy. Còn chúng ta, những người thuộc loại “Bị hoại vì vui đùa”, chúng ta đã dành quá nhiều thời gian đắm chìm trong sự vui đùa… Do mất sự Tự Quan Sát, chúng ta đã chết từ cõi đó, là vô thường, không kiên cố, tuổi thọ ngắn ngủi, phải chịu quy luật chết đi, nên đã đến trạng thái này’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ hai…

Thứ ba, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… tuyên bố rằng bản ngãthế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng? Này các tỳ kheo, có những chư thiên tên là ‘Bị hoại vì ý phẫn nộ’ (manopadosikā). Họ dành quá nhiều thời gian nhìn chằm chằm vào nhau với ác ý. Vì nhìn nhau với ác ý quá lâu, tâm lý (tâm / citta) của họ trở nên thù ghét lẫn nhau. Do tâm thù ghét lẫn nhau, cơ thể họ mệt mỏi, tâm lý họ mệt mỏi. Những chư thiên ấy chết từ cõi đó.

Này các tỳ kheo, có trường hợp một chúng sinh chết từ cõi đó và đến trạng thái này. Khi đến trạng thái này, người ấy xuất gia… nhờ nỗ lực… đạt đến định tâm, nhớ lại đời sống quá khứ đó, nhưng không nhớ xa hơn được nữa.

Người ấy nói thế này: ‘Những vị chư thiên không thuộc loại “Bị hoại vì ý phẫn nộ”, họ không dành quá nhiều thời gian nhìn chằm chằm vào nhau với ác ý… tâm lý họ không thù ghét lẫn nhau… cơ thể và tâm lý không mệt mỏi. Những chư thiên ấy không chết từ cõi đó, họ là thường hằng, kiên cố, vĩnh hằng… Còn chúng ta, những người thuộc loại “Bị hoại vì ý phẫn nộ”… do tâm thù ghét lẫn nhau, cơ thể và tâm lý mệt mỏi, chúng ta đã chết từ cõi đó, là vô thường… nên đã đến trạng thái này’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ ba…

Thứ tư, những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… tuyên bố rằng bản ngãthế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng? Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn là nhà logic học, nhà suy luận. Vị ấy dựa trên sự suy luận logic, dựa trên sự tìm tòi nghiên cứu, tự mình phát biểu thế này: ‘Cái được gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi, cơ thể này, bản ngã này là vô thường, không kiên cố, không vĩnh hằng, chịu quy luật biến đổi. Nhưng cái được gọi là tâm lý hay ý, hay Phân Biệt (thức / viññāṇa) này, bản ngã này là thường hằng, kiên cố, vĩnh hằng, không chịu quy luật biến đổi, sẽ tồn tại vĩnh viễn như vậy’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ tư…

Này các tỳ kheo, chính nhờ bốn cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng bản ngãthế giới một phần là vĩnh hằng, một phần không vĩnh hằng. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào bốn cơ sở này, hoặc một trong số đó; không có cơ sở nào khác.

Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy thấy rõ điều này: ‘Những lập trường quan điểm sai này… sẽ dẫn đến những kết cục ở đời sau như vậy’. Người Đến Như Vậy thấy rõ điều đó… và nhờ không bám víu, vị ấy tự mình trải nghiệm sự tịch diệt. Sau khi thấy rõ đúng như thật sự hình thành, sự tan biến, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các Cảm Giác, Người Đến Như Vậy được giải thoát không bám giữ.

Này các tỳ kheo, đây chính là những Điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu… mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng…

Tụng Phẩm II

1. Này các Tỷ-kheo, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác, với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác, với bốn luận chấp?

2. Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đấy, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài.

3. Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra, nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung trống rỗng ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài.

4. Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu một mình như vậy, khởi ý chán nản, không hoan hỷ và có kỳ vọng: “Mong sao có các loài hữu tình khác, cũng đến tại chỗ này!” Lúc bấy giờ, các loài hữu tình khác, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung để làm bạn với vị hữu tình kia. Những loại hữu tình ở đấy cũng do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy, trong một thời gian khá dài.

5. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vị hữu tình đầu tiên sanh qua nghĩ rằng: “Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta sanh ra. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này - Chính do sở nguyện của ta mà những loài hữu tình ấy đến tại chỗ này”. Các loài hữu tình đến sau cũng nghĩ như thế này: “Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì sao vậy? Vì ta đã thấy vị này sanh trước ở đây rồi. Còn chúng ta thì sanh sau”

6. Này các Tỷ-kheo, vị hữu tình sanh ra đầu tiên ấy sống được lâu hơn, sắc tướng tốt đẹp hơn và được nhiều uy quyền hơn. Còn các loài hữu tình sanh sau thì sống ngắn hơn, sắc tướng ít tốt đẹp hơn và được ít quyền hơn. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình ấy, sau khi từ bỏ thân kia lại thác sanh đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ tới đời sống quá khứ ấy, chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Vị kia là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mị định mạng, đấng Tự Tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh đến tại chỗ này. Chúng ta là vô thường, không kiên cố, yểu thọ và chịu sự biến dịch”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

7. Trường hợp thứ hai, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác?

Này các Tỷ-kheo, có những hạng chư Thiên gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi dục lạc). Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, các chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân thể chúng.

8. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia khi thác sanh từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy, chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy.

9. Vị ấy nói rằng: “Những chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, chúng sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc, nên không bị thất niệm. Nhờ không thất niệm, nên những chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của chúng, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta đã bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì chúng ta sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, chúng ta từ bỏ thân thể này, sống vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

10. Trường hợp thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác?

Này các Tỷ-kheo, có những hạng chư Thiên gọi là Manopadosikà (bị nhiễm hoặc bởi tâm trí). Chúng sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của chúng oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí oán ghét lẫn nhau, nên thân chúng mệt mỏi, tâm chúng mệt mỏi. Các hạng chư Thiên ấy thác sanh từ bỏ thân thể này của chúng.

11. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xảy ra. Một trong các vị hữu tình kia, khi thác sanh từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy, nhưng không nhớ xa hơn đời sống ấy.

12. Vị ấy nói rằng: “Những vị chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, chúng sống lâu ngày không nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày không nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của chúng không oán ghét nhau. Vì tâm trí chúng không oán ghét nhau, nên thân chúng không mệt mỏi, tâm chúng không mệt mỏi. Những hàng chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của chúng, sống thường hằng kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi”. Còn chúng ta bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, nên tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau, nên thân mệt mỏi và tâm mệt mỏi. Chúng ta thác sanh, từ bỏ thân này, sống vô thường không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ ba, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

13. Trường hợp thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn, hay Bà-la-môn là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện bác của suy luận và sự tùy thuộc theo thẩm sát, vị này tuyên bố như thế này: “Cái gọi là mắt, là tai, là mũi, là lưỡi, là thân, cái bản ngã ấy vô thường, không kiên cố, không thường trú, bị chuyển biến. Cái gọi là tâm, là ý, là thức, cái bản ngã ấy là thường còn, bất biến, thường trú, không bị chuyển biến, thường hằng như vậy mãi mãi”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ tư, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

14. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

15. Này các Tỷ-kheo, Như Lai biết rằng: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến. 16. Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là Hữu biên Vô biên với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp?

3.1.3. Thuyết hữu hạn và vô hạn (Antānantavāda)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết hữu hạn và vô hạn, họ tuyên bố rằng thế giới là hữu hạn hoặc vô hạn dựa trên bốn cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… tuyên bố rằng thế giới là hữu hạn hoặc vô hạn dựa trên bốn cơ sở?

Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực… đạt đến một trạng thái định tâm; khi tâm đã định tĩnh, vị ấy an trú với Nhận Thức (tưởng / saññā) rằng thế giới là hữu hạn.

Vị ấy nói thế này: ‘Thế giới này là hữu hạn, có giới hạn bao quanh. Vì sao vậy? Vì ta nhờ nỗ lực… đạt đến định tâm, an trú với Nhận Thức rằng thế giới là hữu hạn. Nhờ điều này mà ta biết được điều này: “Rằng thế giới này là hữu hạn, có giới hạn bao quanh”’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất…

Thứ hai… Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực… đạt đến định tâm; khi tâm đã định tĩnh, vị ấy an trú với Nhận Thức rằng thế giới là vô hạn.

Vị ấy nói thế này: ‘Thế giới này là vô hạn, không có giới hạn. Những sa-môn, bà-la-môn nào nói rằng: “Thế giới này là hữu hạn, có giới hạn bao quanh”, lời của họ là sai. Thế giới này là vô hạn, không có giới hạn. Vì sao vậy? Vì ta nhờ nỗ lực… đạt đến định tâm, an trú với Nhận Thức rằng thế giới là vô hạn. Nhờ điều này mà ta biết được điều này: “Rằng thế giới này là vô hạn, không có giới hạn”’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ hai…

Thứ ba… Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn nhờ nỗ lực… đạt đến định tâm; khi tâm đã định tĩnh, vị ấy an trú với Nhận Thức rằng thế giới là hữu hạn theo chiều trên dưới, nhưng vô hạn theo chiều ngang.

Vị ấy nói thế này: ‘Thế giới này vừa hữu hạn vừa vô hạn. Những sa-môn, bà-la-môn nào nói rằng thế giới hữu hạn, lời của họ là sai. Những ai nói rằng thế giới vô hạn, lời của họ cũng sai. Thế giới này vừa hữu hạn vừa vô hạn. Vì sao vậy? Vì ta nhờ nỗ lực… đạt đến định tâm, an trú với Nhận Thức rằng thế giới là hữu hạn theo chiều trên dưới, vô hạn theo chiều ngang. Nhờ điều này mà ta biết được điều này: “Rằng thế giới này vừa hữu hạn vừa vô hạn”’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ ba…

Thứ tư… Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn là nhà logic học, nhà suy luận. Vị ấy dựa trên sự suy luận logic… tự mình phát biểu thế này: ‘Thế giới này không phải hữu hạn, cũng không phải vô hạn. Những ai nói hữu hạn là sai. Những ai nói vô hạn là sai. Những ai nói vừa hữu hạn vừa vô hạn cũng sai. Thế giới này không phải hữu hạn, cũng không phải vô hạn’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ tư…

Này các tỳ kheo, chính nhờ bốn cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng thế giới là hữu hạn hoặc vô hạn… Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào bốn cơ sở này…

Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy thấy rõ điều này… Người Đến Như Vậy được giải thoát không bám giữ.

Này các tỳ kheo, đây chính là những Điều sâu kín… mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng…

17. Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là hữu biên. Vị ấy nói rằng: “Thế giới này là hữu biên, có một đường vòng chung quanh. Vì sao vậy? Vì tôi, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi sống với tư tưởng thế giới là hữu biên. Do đó tôi biết rằng thế giới này là hữu biên, có một đường vòng chung quanh”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên và vô biên.

18. Trường hợp thứ hai, có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên và vô biên?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là vô biên. Vị ấy nói: “Thế giới này là vô biên, không có giới hạn”. Những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là hữu biên, có một đường vòng xung quanh”, những vị ấy nói không đúng sự thật. Thế giới này là vô biên, không có giới hạn. Tại sao vậy? Vì tôi nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi sống với tư tưởng thế giới là vô biên. Do đó tôi biết: “Thế giới này là vô biên, không có giới hạn”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên.

19. Trường hợp thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là hữu biên về phía trên, phía dưới và thế giới là Vô biên về phía bề ngang. Vị ấy nói: “Thế giới này là hữu biên và vô biên”. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là hữu biên, có một đường vòng xung quanh, thì những vị ấy nói không đúng sự thật”. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là vô biên không có giới hạn thì những vị ấy nói không đúng sự thật. Thế giới này vừa là hữu biên, vừa là vô biên. Tại sao vậy? Vì rằng, tôi nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi sống ở trong đời với tư tưởng, thế giới là hữu biên về phía trên, phía dưới, và thế giới là vô biên về phía bề ngang. Do vậy tôi biết: “Thế giới này vừa là hữu biên vừa là vô biên”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ ba, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên.

20. Trường hợp thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện bác của suy luận và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị này tuyên bố như sau: “Thế giới này không phải là hữu biên, cũng không phải là vô biên. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là hữu biên có giới hạn xung quanh”, những vị ấy nói không đúng sự thật. Lại những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này là vô biên không có giới hạn” những vị ấy cũng nói không đúng sự thật. Lại những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Thế giới này vừa là hữu biên vừa là vô biên”, những vị ấy cũng nói không đúng sự thật. Thế giới này cũng không phải là hữu biên, cũng không phải là vô biên.

21. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương Hữu biên Vô biên luận với bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

22. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.1.4. Thuyết ngụy biện trườn uốn (Amarāvikkhepavāda)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết ngụy biện trườn uốn (như con lươn), khi bị hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, họ dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn dựa trên bốn cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… mà dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn dựa trên bốn cơ sở?

Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn không thấy rõ đúng như thật ‘đây là điều thiện’ (pháp thiện / kusala), không thấy rõ đúng như thật ‘đây là điều không thiện’ (pháp bất thiện / akusala). Vị ấy có suy nghĩ thế này: ‘Ta không thấy rõ đúng như thật “đây là điều thiện”, không thấy rõ đúng như thật “đây là điều không thiện”. Nếu ta không thấy rõ… mà ta lại xác nhận “đây là điều thiện” hoặc “đây là điều không thiện”, thì điều đó của ta sẽ là lời nói dối. Lời nói dối đó sẽ là sự bực dọc cho ta. Sự bực dọc đó sẽ là chướng ngại cho ta’. Vì vậy, do sợ nói dối, do ghê tởm việc nói dối, vị ấy không xác nhận đây là điều thiện, cũng không xác nhận đây là điều không thiện, khi bị hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn: ‘Tôi không nghĩ như vậy; tôi cũng không nghĩ là như thế kia; tôi cũng không nghĩ là khác đi; tôi không nói là không phải; tôi cũng không nói là không không phải’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất…

Thứ hai… Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn không thấy rõ đúng như thật ‘đây là điều thiện’, không thấy rõ đúng như thật ‘đây là điều không thiện’. Vị ấy có suy nghĩ thế này: ‘Ta không thấy rõ… Nếu ta không thấy rõ… mà ta lại xác nhận “đây là điều thiện” hoặc “đây là điều không thiện”, thì ở đó ta có thể sinh ra mong muốn, hoặc đắm nhiễm, hoặc sân hận, hoặc ác ý. Nơi nào ta có mong muốn, đắm nhiễm, sân hận hay ác ý, điều đó sẽ trở thành sự bám giữ (chấp thủ / upādāna) của ta. Sự bám giữ đó sẽ là sự bực dọc cho ta. Sự bực dọc đó sẽ là chướng ngại cho ta’. Vì vậy, do sợ sự bám giữ, do ghê tởm sự bám giữ, vị ấy không xác nhận đây là điều thiện, cũng không xác nhận đây là điều không thiện, khi bị hỏi… vị ấy dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn: ‘Tôi không nghĩ như vậy… tôi cũng không nói là không không phải’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ hai…

Thứ ba… Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn không thấy rõ đúng như thật ‘đây là điều thiện’, không thấy rõ đúng như thật ‘đây là điều không thiện’. Vị ấy có suy nghĩ thế này: ‘Ta không thấy rõ… Nếu ta không thấy rõ… mà ta lại xác nhận… thì có những sa-môn, bà-la-môn là những bậc trí, tinh tế, thiện xảo trong việc tranh luận, sắc bén như người bắn đứt sợi tóc, họ dường như đang đi khắp nơi để phá vỡ các quan điểm sai bằng trí tuệ của mình, họ có thể chất vấn ta, dồn ép ta, vặn hỏi ta. Những người chất vấn ta, dồn ép ta, vặn hỏi ta đó, ta sẽ không thể đối đáp lại họ. Việc không thể đối đáp lại họ sẽ là sự bực dọc cho ta. Sự bực dọc đó sẽ là chướng ngại cho ta’. Vì vậy, do sợ bị chất vấn, do ghê tởm việc bị chất vấn, vị ấy không xác nhận đây là điều thiện, cũng không xác nhận đây là điều không thiện, khi bị hỏi… vị ấy dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn: ‘Tôi không nghĩ như vậy… tôi cũng không nói là không không phải’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ ba…

Thứ tư… Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn là người đần độn, cực kỳ ngu muội. Do đần độn, cực kỳ ngu muội, khi bị hỏi về vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn: ‘Nếu bạn hỏi tôi “Có thế giới khác không?”, nếu tôi nghĩ là có, tôi sẽ trả lời bạn là “Có thế giới khác”. Nhưng tôi không nghĩ như vậy, tôi cũng không nghĩ là như thế kia, tôi cũng không nghĩ là khác đi, tôi không nói là không phải, tôi cũng không nói là không không phải’. 'Không có thế giới khác… v.v… 'Vừa có vừa không có thế giới khác… v.v… 'Không phải có cũng không phải không có thế giới khác… v.v… 'Có chúng sinh hóa sinh… v.v… 'Không có chúng sinh hóa sinh… v.v… 'Vừa có vừa không có chúng sinh hóa sinh… v.v… 'Không phải có cũng không phải không có chúng sinh hóa sinh… v.v… 'Có quả báo của những hành động thiện và ác… v.v… 'Không có quả báo của những hành động thiện và ác… v.v… 'Vừa có vừa không có quả báo… v.v… 'Không phải có cũng không phải không có quả báo… v.v… 'Người Đến Như Vậy tồn tại sau khi chết… v.v… 'Người Đến Như Vậy không tồn tại sau khi chết… v.v… 'Người Đến Như Vậy vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết… v.v… ‘Nếu bạn hỏi tôi “Người Đến Như Vậy không phải tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết phải không?”, nếu tôi nghĩ là như vậy, tôi sẽ trả lời bạn là như vậy. Nhưng tôi không nghĩ như vậy, tôi cũng không nghĩ là như thế kia, tôi cũng không nghĩ là khác đi, tôi không nói là không phải, tôi cũng không nói là không không phải’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ tư…

Này các tỳ kheo, chính nhờ bốn cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy dùng lời lẽ lảng tránh, ngụy biện trườn uốn… Bất kỳ ai làm như vậy đều dựa vào bốn cơ sở này… v.v… chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.

23. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Và những Samôn, Bà-la-môn ấy, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp?

24. Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn không như thật biết “Ðây là thiện” không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện” và nếu tôi trả lời: “Ðây là thiện” hoặc tôi trả lời: “Ðây là bất thiện”, thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi . Nếu dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi, như vậy tôi có thể bị sai lầm. Nếu tôi sai lầm thì tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn sẽ thành một chướng ngại cho tôi Như vậy, vì sợ sai lầm, vì chán ghét sai lầm, nên vị ấy không trả lời: “Ðây là thiện”, cũng không trả lời: “Ðây là bất thiện”. Khi hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.

25. Trường hợp thứ hai, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn, không như thật biết “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện”. Vì tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Và nếu tôi trả lời: “Ðây là thiện” hoặc tôi trả lời: “Ðây là bất thiện”, thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi. Nếu dục, tham, sân hoặc hận khởi lên nơi tôi, như vậy tôi có thể chấp thủ. Nếu tôi chấp thủ, thì tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn, thời thành một chướng ngại cho tôi

Như vậy, vì sợ chấp thủ, vì chán ghét chấp thủ, nên vị ấy không trả lời: “Ðây là thiện”, cũng không trả lời: “Ðây là bất thiện”. Khi bị hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế”. Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.

26. Trường hợp thứ ba, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn không như thật biết “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện”. Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: “Ðây là thiện”, không như thật biết: “Ðây là bất thiện”. Vì tôi không như thật biết “Ðây là thiện”, không như thật biết “Ðây là bất thiện” và nếu tôi trả lời: “Ðây là thiện” hoặc trả lời: “Ðây là bất thiện”, có những Sa-môn, Bà-la-môn, bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc, những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của chúng, chúng có thể đọ tài, chất vấn và cật nạn tôi. Nếu chúng đọ tài, chất vấn, cật nạn tôi, tôi có thể không giải đáp được cho chúng. Nếu tôi không giải đáp được cho chúng, thì tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn thời thành một chướng ngại cho tôi - Như vậy, vì sợ bị thử thách, vì chán ghét thử thách, nên vị ấy không trả lời: “Ðây là thiện”, cũng không trả lời. “Ðây là bất thiện”. Khi bị hỏi đến vấn đề này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế”. - Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ ba, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, chủ trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.

27. Trường hợp thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn đần độn ngu si. Vị này, vì đần độn ngu si, khi bị hỏi vấn đề nay hay vấn đề khác, liền dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Anh hỏi tôi có một thế giới khác hay không?” Nếu tôi nghĩ “Có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: “Không có một thế giới khác phải không?” Nếu tôi nghĩ: “Không có một thế giới khác”, tôi có thể trả lời với anh: “Không có một thế giới khác”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi “Không có một thế giới khác phải không?” (… như trên… ) “Cũng có và cũng không có một thế giới khác?” “Cũng không có và cũng không không có một thế giới khác?”, “Có loại hữu tình hóa sanh?”, “Không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng có và cũng không có loại hữu tình hóa sanh?” “Cũng không có và cũng không không có loại hữu tình hóa sanh?”, “Có kết quả dị thục của các nghiệp thiện và ác?”, “Không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng có và cũng không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Cũng không có và cũng không không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?”, “Như Lai có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai có và không có tồn tại sau khi chết?”, “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết?”. Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ : “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Tôi có thể trả lời : “Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết”. Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ tư, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.

28. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác, dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Nếu có những Samôn hay Bà-la-môn nào chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn, chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

29. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này : “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa. Và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.1.5. Thuyết phát sinh ngẫu nhiên (Adhiccasamuppannavāda)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết phát sinh ngẫu nhiên, họ tuyên bố rằng bản ngãthế giới phát sinh ngẫu nhiên dựa trên hai cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… tuyên bố rằng bản ngãthế giới phát sinh ngẫu nhiên dựa trên hai cơ sở?

Này các tỳ kheo, có những chư thiên tên là ‘Không có Nhận Thức’ (vô tưởng / asaññasattā). Khi một Nhận Thức phát sinh, những chư thiên ấy chết từ cõi đó. Này các tỳ kheo, có trường hợp một chúng sinh chết từ cõi đó và đến trạng thái này. Khi đến trạng thái này, người ấy xuất gia… nhờ nỗ lực… đạt đến định tâm, nhớ lại sự phát sinh của Nhận Thức đó, nhưng không nhớ xa hơn được nữa. Người ấy nói thế này: ‘Bản ngãthế giới phát sinh ngẫu nhiên. Vì sao vậy? Vì trước đây ta không tồn tại, nay từ chỗ không tồn tại, ta đã chuyển hóa thành một thực thể tồn tại’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ nhất…

Thứ hai… Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn là nhà logic học, nhà suy luận. Vị ấy dựa trên sự suy luận logic… tự mình phát biểu thế này: ‘Bản ngãthế giới phát sinh ngẫu nhiên’. Này các tỳ kheo, đây là cơ sở thứ hai…

Này các tỳ kheo, chính nhờ hai cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng bản ngãthế giới phát sinh ngẫu nhiên… Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào hai cơ sở này… v.v… chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.

30. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh?

31. Này các Tỷ-kheo, có những chư Thiên gọi là Vô tưởng hữu tình. Khi một tưởng niệm khởi lên, thời chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên của mình. Này các Tỷ-kheo, sự tình này xẩy ra. Một trong loài hữu tình ấy, khi thác sanh từ bỏ thân chư Thiên ấy của mình, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Vị ấy nhớ đến khi tưởng niệm phát sanh, chớ không nhớ xa hơn nữa. Vị ấy nói : “Bản ngã và thế giới do vô nhân sanh. Tại sao vậy? Vì rằng tôi trước kia không có, nay tôi có. Từ nơi trạng thái không có, tôi trở thành loài hữu tình”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ nhất, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh.

32. Trường hợp thứ hai, những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh?

Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn là nhà biện luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện bác của suy luận và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị ấy tuyên bố : “Bản ngã và thế giới vô nhân sanh”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh.

33. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh, chúng sẽ chấp cả hai luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

34. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này : “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

Này các tỳ kheo, chính nhờ mười tám cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn là những người suy đoán về quá khứ, có những quan điểm sai về quá khứ, đưa ra nhiều lập luận khác nhau về quá khứ. Bất kỳ ai làm như vậy đều dựa vào mười tám cơ sở này, hoặc một trong số đó; không có cơ sở nào khác.

Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy thấy rõ điều này: ‘Những lập trường quan điểm sai này… sẽ dẫn đến những kết cục ở đời sau như vậy’. Người Đến Như Vậy thấy rõ điều đó… và nhờ không bám víu, vị ấy tự mình trải nghiệm sự tịch diệt. Sau khi thấy rõ đúng như thật sự hình thành, sự tan biến, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các Cảm Giác, Người Đến Như Vậy được giải thoát không bám giữ.

Này các tỳ kheo, đây chính là những Điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu… mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng…

(Hết phần tụng thứ hai).

35. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp trên. Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn hoặc Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác, chúng sẽ chấp cả mười tám luận chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

36. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này : “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa. Và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.2. Người suy đoán về tương lai (hậu tế trạch kiếp / aparantakappika)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn là những người suy đoán về tương lai, có những quan điểm sai về tương lai, họ đưa ra nhiều lập luận khác nhau về tương lai dựa trên bốn mươi bốn cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… đưa ra nhiều lập luận khác nhau về tương lai dựa trên bốn mươi bốn cơ sở?

3.2.1. Thuyết có Nhận Thức sau khi chết (Saññīvāda)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết có Nhận Thức sau khi chết, họ tuyên bố rằng bản ngã vẫn có Nhận Thức sau khi chết dựa trên mười sáu cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… tuyên bố rằng bản ngã vẫn có Nhận Thức sau khi chết dựa trên mười sáu cơ sở?

Họ tuyên bố rằng: ‘Bản ngãVật chất (sắc / rūpa), khỏe mạnh sau khi chết, có Nhận Thức’.

Họ tuyên bố rằng: ‘Bản ngã không có Vật chất, khỏe mạnh sau khi chết, có Nhận Thức’.

'Bản ngã vừa có Vật chất vừa không có Vật chất… v.v…

'Bản ngã không phải có Vật chất cũng không phải không có Vật chất

'Bản ngã là hữu hạn…

'Bản ngã là vô hạn…

'Bản ngã vừa hữu hạn vừa vô hạn…

'Bản ngã không phải hữu hạn cũng không phải vô hạn…

'Bản ngãNhận Thức đồng nhất…

'Bản ngãNhận Thức đa dạng…

'Bản ngãNhận Thức hạn hẹp…

'Bản ngãNhận Thức vô lượng…

'Bản ngã hoàn toàn hạnh phúc

'Bản ngã hoàn toàn đau khổ

'Bản ngã vừa hạnh phúc vừa đau khổ

Họ tuyên bố rằng: ‘Bản ngã không đau khổ không hạnh phúc, khỏe mạnh sau khi chết, có Nhận Thức’.

Này các tỳ kheo, chính nhờ mười sáu cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng bản ngã vẫn có Nhận Thức sau khi chết. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào mười sáu cơ sở này… v.v… chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.

37. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Và những vị Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai đề xướng nhiều ý kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp?

38. Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hữu tưởng sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, với mười sáu luận chấp?

Những vị này chủ trương : “Bản ngã có sắc, không có bệnh, sau khi chết có tưởng”. Chúng chủ trương : “Bản ngã có sắc và cũng không có sắc …”, “Bản ngã cũng không có sắc và cũng không không có sắc …”, “Bản ngã là hữu biên…”, “Bản ngã là vô biên …”, “Bản ngã là hữu biên và vô biên”, “Bản ngã cũng không hữu biên và cũng không vô biên …”, “Bản ngã là nhất tưởng …”, “Bản ngã là dị tưởng …”. “Bản ngã là thiểu tưởng …”, “Bản ngã là vô lượng tưởng …”, “Bản ngã là thuần lạc …”, “Bản ngã là thuần khổ …”, “Bản ngã là khổ lạc”. Chúng chủ trương : “Bản ngã là không khổ không lạc, không có bệnh, sau khi chết có tưởng”.

3.2.2. Thuyết không có Nhận Thức sau khi chết (Asaññīvāda)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết không có Nhận Thức sau khi chết, họ tuyên bố rằng bản ngã không có Nhận Thức sau khi chết dựa trên tám cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… tuyên bố rằng bản ngã không có Nhận Thức sau khi chết dựa trên tám cơ sở?

Họ tuyên bố rằng: ‘Bản ngãVật chất, khỏe mạnh sau khi chết, không có Nhận Thức’.

Họ tuyên bố rằng: ‘Bản ngã không có Vật chất, khỏe mạnh sau khi chết, không có Nhận Thức’.

'Bản ngã vừa có Vật chất vừa không có Vật chất… v.v…

'Bản ngã không phải có Vật chất cũng không phải không có Vật chất

'Bản ngã là hữu hạn…

'Bản ngã là vô hạn…

'Bản ngã vừa hữu hạn vừa vô hạn…

Họ tuyên bố rằng: ‘Bản ngã không phải hữu hạn cũng không phải vô hạn, khỏe mạnh sau khi chết, không có Nhận Thức’.

Này các tỳ kheo, chính nhờ tám cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng bản ngã không có Nhận Thức sau khi chết. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào tám cơ sở này… v.v… chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.

39. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương hữu tưởng sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn này chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chúng sẽ chấp cả mười sáu luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

40. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này : “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sơ tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.2.3. Thuyết không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức sau khi chết (Nevasaññīnāsaññīvāda)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức sau khi chết, họ tuyên bố rằng bản ngã không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức sau khi chết dựa trên tám cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… tuyên bố như vậy dựa trên tám cơ sở?

Họ tuyên bố rằng: ‘Bản ngãVật chất, khỏe mạnh sau khi chết, không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức’.

'Bản ngã không có Vật chất… v.v…

'Bản ngã vừa có Vật chất vừa không có Vật chất

'Bản ngã không phải có Vật chất cũng không phải không có Vật chất

'Bản ngã là hữu hạn…

'Bản ngã là vô hạn…

'Bản ngã vừa hữu hạn vừa vô hạn…

Họ tuyên bố rằng: ‘Bản ngã không phải hữu hạn cũng không phải vô hạn, khỏe mạnh sau khi chết, không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức’.

Này các tỳ kheo, chính nhờ tám cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy tuyên bố rằng bản ngã không phải có Nhận Thức cũng không phải không có Nhận Thức sau khi chết. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào tám cơ sở này… v.v… chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.

Tụng Phẩm III

1. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp?

2. Những vị này chủ trương : “Bản ngã có sắc, không có bệnh, sau khi chết không có tưởng”, “Bản ngã không có sắc …”, “Bản ngã có sắc và cũng không có sắc …”, “Bản ngã không có sắc và cũng không không có sắc …”, “Là hữu biên …”, “Là vô biên …”, “Là hữu biên và vô biên …”. Các vị này chấp bản ngã là phi hữu biên và phi vô biên, không có bệnh, sau khi chết không có tưởng.

3. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. - Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn hay Bàla-môn nào chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết, chúng sẽ chấp cả tám luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

4. Này các Tỷ-kheo. Như Lai tuệ tri như thế này : “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.2.4. Thuyết hủy diệt hoàn toàn (đoạn kiến / ucchedavāda)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết hủy diệt hoàn toàn, họ tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất hoàn toàn của một chúng sinh đang tồn tại dựa trên bảy cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất hoàn toàn của một chúng sinh đang tồn tại dựa trên bảy cơ sở?

Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn có lập luận thế này, có quan điểm sai thế này: ‘Thưa ngài, vì bản ngã này có Vật chất, được cấu tạo từ bốn nguyên tố lớn, sinh ra từ cha mẹ, nên sau khi cơ thể tan rã, nó bị cắt đứt, bị phá hủy, không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt’. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất hoàn toàn của một chúng sinh đang tồn tại.

Một người khác nói với người ấy thế này: ‘Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, bản ngã này không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác thuộc cõi trời, có Vật chất, thuộc cõi sự dễ chịu giác quan (dục / kāma), tiêu thụ thức ăn vật lý. Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã, nó bị cắt đứt, bị phá hủy, không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt’. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt… của một chúng sinh đang tồn tại.

Một người khác nói với người ấy thế này: ‘Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật… nhưng không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác thuộc cõi trời, có Vật chất, do tâm tạo ra, có đầy đủ các bộ phận cơ thể, các giác quan không bị khiếm khuyết. Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã… không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt’. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt…

Một người khác nói với người ấy thế này: ‘Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật… nhưng không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác, do hoàn toàn vượt qua các Nhận Thức về Vật chất, do sự tan biến của các Nhận Thức về sự va chạm, do không chú ý đến các Nhận Thức đa dạng, nghĩ rằng “Không gian là vô tận”, nên đi vào cõi Không Gian là Vô Tận (không vô biên xứ / ākāsānañcāyatana). Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã… không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt’. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt…

Một người khác nói với người ấy thế này: ‘Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật… nhưng không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác, do hoàn toàn vượt qua cõi Không Gian là Vô Tận, nghĩ rằng “Phân Biệt là vô tận”, nên đi vào cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận (thức vô biên xứ / viññāṇañcāyatana). Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã… không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt’. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt…

Một người khác nói với người ấy thế này: ‘Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật… nhưng không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác, do hoàn toàn vượt qua cõi Sự Phân Biệt là Vô Tận, nghĩ rằng “Không có vật gì cả”, nên đi vào cõi Không Có Vật Gì (vô sở hữu xứ / ākiñcaññāyatana). Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã… không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt’. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt…

Một người khác nói với người ấy thế này: ‘Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật… nhưng không hoàn toàn bị hủy diệt ở mức độ đó. Thưa ngài, có một bản ngã khác, do hoàn toàn vượt qua cõi Không Có Vật Gì, nghĩ rằng “Đây là bình an, đây là cao tột”, nên đi vào cõi Không Phải “Có Nhận Thức”; Cũng Không Phải “Mất Nhận Thức” (phi tưởng phi phi tưởng xứ / nevasaññānāsaññāyatana). Ngài không biết, không thấy nó. Còn tôi biết, tôi thấy nó. Thưa ngài, chính bản ngã đó sau khi cơ thể tan rã, nó bị cắt đứt, bị phá hủy, không còn tồn tại sau khi chết. Thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này hoàn toàn bị hủy diệt’. Như vậy, một số người tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất hoàn toàn của một chúng sinh đang tồn tại.

Này các tỳ kheo, chính nhờ bảy cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy theo thuyết hủy diệt hoàn toàn, tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất hoàn toàn của một chúng sinh đang tồn tại. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào bảy cơ sở này… v.v… chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.

5. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng với tám luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng với tám luận chấp?

6. Những vị này chấp: “Bản ngã có sắc, không có bệnh, sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng… “, “Bản ngã là vô sắc… “, “Bản ngã có sắc và cũng không có sắc… “, “Bản ngã là phi hữu sắc và cũng phi vô sắc… “, “Bản ngã là hữu biên… “, “Bản ngã là vô biên… “, “Bản ngã là hữu biên và vô biên… “.

7. Những vị này chấp rằng. Bản ngã là phi hữu biên và cũng phi vô biên, không có bệnh, sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng, với tám luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào, chủ trương phi hữu tưởng phi vô tưởng, chúng sẽ chấp cả tám luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

8. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

9. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, sự tiêu thất, sự hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chấp trước sự đoạn diệt, sự tiêu thất, sự hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp?

10. Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hoặc Bà-la-môn chủ trương lý thuyết và ý kiến: “Vì bản ngã này có sắc, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh ra, khi thân hoại bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã này như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy một số người chủ trương sự đoạn diệt, sự tiêu thất và sự hủy hoại của loài hữu tình.

11. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có, nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác có thiên tánh, có sắc, thuộc dục giới, ăn các đồ ăn đoàn thực. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

12. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác có thiên tánh, có sắc, do ý tạo thành, mọi chi tiết tay chân lớn nhỏ đều đầy đủ, không khuyết một căn nào. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại bị hủy nát, tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

13. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả sắc tưởng, diệt trừ các tưởng chống đối, không ức niệm các dị tưởng, nhận hiểu hư không là vô biên. Ðạt đến không vô biên xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

14. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả không vô biên xứ, nhận hiểu: Thức là vô biên. Ðạt đến Thức vô biên xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát, tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

15. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả Thức vô biên xứ, nhận hiểu: không có sở hữu. Ðạt đến Vô sở hữu xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại bị hủy nát, tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

16. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại còn một bản ngã khác vượt ngoài tất cả Vô sở hữu xứ, nhận hiểu: Ðây là tịch tịnh, đây là mỹ diệu. Ðạt đến Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Bản ngã ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngã ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngã ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt”. Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu tình.

17. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu thất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu thất, hủy hoại của loài hữu tình, chúng chấp cả bảy luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

18. Này các Tỷ-kheo. Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri. Như vậy, Ngài tuệ ti hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết: và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

3.2.5. Thuyết Niết-bàn ngay trong hiện tại (hiện tại Niết-bàn luận / diṭṭhadhammanibbānavāda)

Này các tỳ kheo, có một số sa-môn, bà-la-môn theo thuyết Niết-bàn ngay trong hiện tại, họ tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại dựa trên năm cơ sở. Những tôn giả sa-môn, bà-la-môn ấy dựa vào đâu… tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại dựa trên năm cơ sở?

Ở đây, này các tỳ kheo, có một sa-môn hay bà-la-môn có lập luận thế này, có quan điểm sai thế này: ‘Thưa ngài, khi nào bản ngã này được cung cấp đầy đủ, được trang bị trọn vẹn và tận hưởng năm sợi dây trói buộc của bản năng (ngũ dục / kāmaguṇa), thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này đã đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại’. Như vậy, một số người tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại.

Một người khác nói với người ấy thế này: ‘Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, bản ngã này không đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại ở mức độ đó. Vì sao vậy? Thưa ngài, vì các sự dễ chịu giác quan là vô thường, đau khổ, chịu quy luật biến đổi; do sự biến đổi và trở nên khác đi của chúng mà sầu, bi, đau khổ, ưu phiền (ưu / domanassa) và tuyệt vọng phát sinh. Thưa ngài, khi nào bản ngã này hoàn toàn rời bỏ khỏi (ly / vivicca) các sự dễ chịu giác quan, hoàn toàn rời bỏ khỏi các điều không thiện, chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (có tầm có tứ / savitakka savicāra), trải nghiệm hân hoan (hỷ / pīti) và hạnh phúc sinh ra từ sự rời bỏ (viễn ly / viveka), đạt đến và an trú trong Thiền-na (Thiền / jhāna) thứ nhất, thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này đã đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại’. Như vậy, một số người tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại…

Một người khác nói với người ấy thế này: ‘Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật… nhưng không đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại ở mức độ đó. Vì sao vậy? Vì ở đó vẫn còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, điều này được xem là có tính máy móc (thô / oḷārika). Thưa ngài, khi nào bản ngã này làm lắng dịu việc chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý, đạt được sự lắng trong nội tại (nội tĩnh / ajjhattaṁ sampasādanaṁ), tâm hợp thành một (nhất tâm / cetaso ekodibhāvaṁ), Không còn chủ động hướng sự chú ý và nỗ lực duy trì sự chú ý (không tầm không tứ / avitakka avicāra), trải nghiệm hân hoanhạnh phúc sinh ra từ định, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ hai, thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này đã đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại’. Như vậy, một số người tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại…

Một người khác nói với người ấy thế này: ‘Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật… nhưng không đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại ở mức độ đó. Vì sao vậy? Vì ở đó vẫn còn sự phấn khích của tâm lý do hân hoan, điều này được xem là có tính máy móc. Thưa ngài, khi nào bản ngã này phai nhạt hân hoan, an trú với Tâm bình thản (xả / upekkhā), có sự Tự Quan Sát (chánh niệm / sato) và sự nhận biết rõ ràng (tỉnh giác / sampajāno), cảm nhận hạnh phúc bằng cơ thể, trạng thái mà các bậc thánh gọi là “Người có Tâm bình thản, có sự Tự Quan Sát, sống hạnh phúc”, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ ba, thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này đã đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại’. Như vậy, một số người tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại…

Một người khác nói với người ấy thế này: ‘Thưa ngài, bản ngã mà ngài nói đến là có thật, tôi không nói là nó không có; nhưng thưa ngài, bản ngã này không đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại ở mức độ đó. Vì sao vậy? Vì ở đó vẫn còn sự hướng tâm đến ý nghĩ “đây là hạnh phúc”, điều này được xem là có tính máy móc. Thưa ngài, khi nào bản ngã này hoàn toàn từ bỏ (xả / pahānā) hạnh phúchoàn toàn từ bỏ đau khổ, cùng với sự tan biến từ trước của thanh thản (hỷ / somanassa) và ưu phiền, đạt đến trạng thái không đau khổ không hạnh phúc, sự Tự Quan Sát hoàn toàn thanh tịnh nhờ Tâm bình thản, đạt đến và an trú trong Thiền-na thứ tư, thưa ngài, đến mức độ này, bản ngã này đã đạt được Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại’. Như vậy, một số người tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại.

Này các tỳ kheo, chính nhờ năm cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn ấy theo thuyết Niết-bàn ngay trong hiện tại, tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại. Bất kỳ ai tuyên bố như vậy đều dựa vào năm cơ sở này… v.v… chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.

Này các tỳ kheo, chính nhờ bốn mươi bốn cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn là những người suy đoán về tương lai, có những quan điểm sai về tương lai, đưa ra nhiều lập luận khác nhau về tương lai. Bất kỳ ai làm như vậy đều dựa vào bốn mươi bốn cơ sở này… v.v… chính nhờ những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ nói một cách đúng đắn.

Này các tỳ kheo, chính nhờ sáu mươi hai cơ sở này mà những sa-môn, bà-la-môn là những người suy đoán về quá khứ, người suy đoán về tương lai, hoặc suy đoán về cả quá khứ lẫn tương lai, có những quan điểm sai về quá khứ và tương lai, đưa ra nhiều lập luận khác nhau về quá khứ và tương lai.

19. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ gì, căn cứ gì, chủ trương Hiện tại Niết bàn luận, chấp sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp?

20. Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hay Bà-la-môn chủ trương và quan niệm: “Khi nào bản ngã này tận hưởng, sung mãn năm món dục lạc, như thế bản ngã ấy đạt đến tối thượng Niết Bàn của loài hữu tình”.

21. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì rằng tính của dục lạc và vô thường, khổ, biến dịch. Vì tánh của chúng là biến dịch, chuyển hóa, nên ưu, bi, khổ, muộn, não phát sanh. Khi nào bản ngã ấy ly các dục lạc, ly các ác pháp, đạt đến và an trú vào đệ nhất thiền; thiền định này có tầm, có tứ, có hỷ và có lạc, do ly dục sanh. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình.

22. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây thiền định ấy có tầm, có tứ nên gọi là thô tháo. Khi nào bản ngã ấy có tầm và tứ, đạt đến và an trú đệ nhị thiền. Thiền định này nội tâm yên tỉnh, trí chuyên nhất cảnh, không tầm, không tứ, hỷ lạc do định sanh. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình. 23. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây tâm trí có hỷ và bị kích động nên gọi là thô tháo. Khi nào bản ngã ấy không tham hỷ, trú xã, chánh niệm, chánh trí, thân hưởng lạc mà các bậc thánh gọi là Hỷ niệm lạc trú - đạt đến và an trú đệ tam thiền. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy, có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình.

24. Một vị khác lại nói: “Này ông, thật có bản ngã ấy như ông nói. Tôi không nói bản ngã ấy không có. Nhưng bản ngã ấy như thế, không phải hoàn toàn đạt đến tối thượng hiện tại Niết bàn. Vì cớ sao? Vì ở đây tâm thọ lạc nên gọi là thô tháo. Khi nào bản ngã ấy xả lạc và xả khổ, diệt trừ hỷ và ưu về trước, đạt đến và an trú vào đệ tứ thiền. Thiền này không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như thế, bản ngã ấy đạt đến tối thượng hiện tại Niết Bàn”. Như vậy có người chủ trương tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình.

25. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy chủ trương Hiện tại Niết-bàn luận, chấp trước sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương Hiện tại Niết-bàn luận, chấp sự tối thượng hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình, những vị này sẽ chấp cả năm luận chấp trên, hay một trong năm luận chấp trên, ngoài ra không còn một luận chấp nào khác nữa.

26. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

27. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, sẽ đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác. Chúng sẽ chấp bốn mươi bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.

28. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sư tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Này các tỳ kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ, người suy đoán về tương lai, hoặc suy đoán về cả quá khứ lẫn tương lai… đưa ra nhiều lập luận khác nhau, tất cả họ đều dựa vào sáu mươi hai cơ sở này, hoặc một trong số đó; không có cơ sở nào khác ngoài những điều này.

Này các tỳ kheo, Người Đến Như Vậy thấy rõ điều này: ‘Những lập trường quan điểm sai này, nếu được nắm giữ như vậy, bám víu như vậy, sẽ dẫn đến những cõi đến như vậy, sẽ dẫn đến những kết cục ở đời sau như vậy’. Người Đến Như Vậy thấy rõ điều đó, và còn thấy rõ xa hơn thế nữa; nhưng vị ấy không bám víu vào sự thấy rõ đó, và nhờ không bám víu, vị ấy tự mình trải nghiệm sự tịch diệt. Này các tỳ kheo, sau khi thấy rõ đúng như thật sự hình thành, sự tan biến, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các Cảm Giác, Người Đến Như Vậy được giải thoát không bám giữ.

Này các tỳ kheo, đây chính là những Điều sâu kín, khó thấy, khó hiểu, bình an, cao tột, vượt ngoài tầm lý luận, tinh tế, chỉ những bậc trí mới có thể trải nghiệm, mà Người Đến Như Vậy đã tự mình hiểu biết trực tiếp, chứng ngộ và thuyết giảng, và chính những Điều này mà những ai nói lời ca ngợi chân thực về Người Đến Như Vậy sẽ là nói một cách đúng đắn.

29. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy luận bàn về quá khứ tối sơ và luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Này các Tỷ-kheo, những Samôn hay Bà-la-môn nào, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác. Những vị ấy sẽ chấp sáu mươi hai luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa. 30. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: “Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mệnh như vậy”. Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

31. Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết, và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.

4. Nền tảng của các tuyên bố về Bản ngã và Thế giới (Attālokapaññattivatthu)

4.1. Phần về Sự lo âu và dao động (Paritassitavipphanditavāra)

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương vĩnh cửu (thường kiến / sassatavādā), tuyên bố bản ngã và thế giới là vĩnh cửu dựa trên bốn cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác (thọ / vedayita) của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao (tham ái / taṇhā), nó chỉ là sự lo âu và dao động (khát ái dao động / paritassitavipphandita).

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương một phần vĩnh cửu (một phần thường kiến / ekaccasassatikā), tuyên bố bản ngã và thế giới một phần là vĩnh cửu, một phần không vĩnh cửu dựa trên bốn cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương thế giới có giới hạn hay không giới hạn (hữu biên vô biên kiến / antānantikā), tuyên bố về thế giới dựa trên bốn cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người ngụy biện trốn tránh (ngụy biện như con lươn / amarāvikkhepikā), khi được hỏi các câu hỏi khác nhau đã rơi vào sự ngụy biện trốn tránh dựa trên bốn cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương sinh ra ngẫu nhiên (vô nhân sinh / adhiccasamuppannikā), tuyên bố bản ngã và thế giới sinh ra ngẫu nhiên dựa trên hai cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ (bản tế trạch / pubbantakappikā), có quan điểm về quá khứ, dựa vào quá khứ để tuyên bố nhiều lập luận khác nhau dựa trên mười tám cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương có nhận thức sau khi chết (hữu tưởng luận / uddhamāghātanikā saññīvādā), tuyên bố bản ngã có nhận thức sau khi chết dựa trên mười sáu cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không có nhận thức sau khi chết (vô tưởng luận / uddhamāghātanikā asaññīvādā), tuyên bố bản ngã không có nhận thức sau khi chết dựa trên tám cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết (phi tưởng phi phi tưởng luận / uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā), tuyên bố bản ngã không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết dựa trên tám cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương hủy diệt (đoạn kiến / ucchedavādā), tuyên bố sự cắt đứt, sự phá hủy, sự biến mất của một chúng sinh đang tồn tại dựa trên bảy cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương Niết-bàn ngay trong hiện tại (hiện tại niết bàn luận / diṭṭhadhammanibbānavādā), tuyên bố Niết-bàn tối thượng ngay trong hiện tại cho một chúng sinh đang tồn tại dựa trên năm cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về tương lai (hậu tế trạch / aparantakappikā), có quan điểm về tương lai, dựa vào tương lai để tuyên bố nhiều lập luận khác nhau dựa trên bốn mươi bốn cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứngười suy đoán về tương lai, có quan điểm về cả quá khứ và tương lai, dựa vào cả quá khứ và tương lai để tuyên bố nhiều lập luận khác nhau dựa trên sáu mươi hai cơ sở; điều đó chỉ là Cảm Giác của những sa-môn, bà-la-môn không biết, không thấy, bị chi phối bởi sự khát khao, nó chỉ là sự lo âu và dao động.

Kết luận

32. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường trú với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

33. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

34. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

35. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

36. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

37. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

38. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

39. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

40. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

41. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

42. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước sự hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

43. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

44. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Chủ trương ấy là kinh nghiệm cá nhân, là sự không biết, không thấy, sự cảm thọ của những Sa-môn, Bà-la-môn, là sự kích thích, dao động, xuyên tạc của những vị bị tham ái chi phối.

4.2. Phần về phát sinh từ Xúc mà có (Phassapaccayāvāra)

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương vĩnh cửu, tuyên bố bản ngã và thế giới là vĩnh cửu dựa trên bốn cơ sở; điều đó đều phát sinh từ Xúc mà có (phassapaccayā - sự tiếp xúc giữa căn, trần và thức mà có).

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương một phần vĩnh cửu… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương thế giới có giới hạn hay không giới hạn… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người ngụy biện trốn tránh… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương sinh ra ngẫu nhiên… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương có nhận thức sau khi chết… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không có nhận thức sau khi chết… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương hủy diệt… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương Niết-bàn ngay trong hiện tại… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về tương lai… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứngười suy đoán về tương lai… điều đó cũng phát sinh từ Xúc mà có.

45. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường trú với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

46. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

47. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

48. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi là do sự xúc chạm (của các căn).

49. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

50. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y chỉ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

51. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

52. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

53. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

54. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

55. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết bàn luận, chấp trước sự hiện tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

56. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

57. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Chủ trương ấy phát khởi do sự xúc chạm (của các căn).

4.3. Phần về Không có trường hợp đó (Netaṁṭhānaṁvijjativāra)

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương vĩnh cửu, tuyên bố bản ngã và thế giới là vĩnh cửu dựa trên bốn cơ sở; rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương một phần vĩnh cửu… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương thế giới có giới hạn hay không giới hạn… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người ngụy biện trốn tránh… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương sinh ra ngẫu nhiên… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương có nhận thức sau khi chết… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không có nhận thức sau khi chết… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương hủy diệt… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương Niết-bàn ngay trong hiện tại… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về tương lai… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứngười suy đoán về tương lai… rằng họ có thể trải nghiệm [những cảm giác ấy] mà không có Xúc, điều đó là không thể xảy ra.

58. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

59. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới, là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

60. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

61. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với bốn luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

62. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

63. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối sơ, y chỉ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ý kiến sai khác với mười tám luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

64. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã có tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

65. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngã không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

66. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng sau khi chết, chấp bản ngã phi hữu tưởng phi vô tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

67. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài hữu tình với bảy luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương, trên, nếu không có cảm xúc.

68. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Hiện tại Niết Bàn luận, chấp trước hiên tại Niết Bàn của loài hữu tình với năm luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

69. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Các vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

70. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, luận bàn về tương lai, luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Những vị này không có thể cảm thọ những chủ trương trên, nếu không có cảm xúc.

4.4. Lời giảng về Vòng luân hồi của các tà kiến (Diṭṭhigatikādhiṭṭhānavaṭṭakathā)

Này các Tỳ-kheo, trong đó, những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương vĩnh cửu… những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương một phần vĩnh cửu… những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương thế giới có giới hạn hay không giới hạn… những sa-môn, bà-la-môn nào là người ngụy biện trốn tránh… những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương sinh ra ngẫu nhiên… những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ… những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương có nhận thức sau khi chết… những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không có nhận thức sau khi chết… những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương không phải có nhận thức cũng không phải không có nhận thức sau khi chết… những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương hủy diệt… những sa-môn, bà-la-môn nào là người chủ trương Niết-bàn ngay trong hiện tại… những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về tương lai… những sa-môn, bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứngười suy đoán về tương lai, có quan điểm về cả quá khứ và tương lai, dựa vào cả quá khứ và tương lai để tuyên bố nhiều lập luận khác nhau dựa trên sáu mươi hai cơ sở; tất cả họ đều trải nghiệm thông qua Xúc lặp đi lặp lại ở sáu trường tiếp xúc (xúc xứ / phassāyatana). Đối với họ, do Điều Kiện Cảm Giác nên sinh ra sự khát khao; do Điều Kiện của sự khát khao nên có nắm giữ (thủ / upādāna); do Điều Kiện của nắm giữ nên có cõi tồn tại (hữu / bhava); do Điều Kiện của cõi tồn tại nên có sinh (sinh / jāti); do Điều Kiện của sinh nên già chết (lão tử / jarāmaraṇa), sầu muộn, than khóc, đau khổ (khổ / dukkha), ưu phiền (ưu / domanassa) và tuyệt vọng được sự hình thành (sinh / sambhavanti).

71. Này các Tỷ-kheo, ở đây có những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn với bốn luận chấp; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Ngụy biện luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Vô nhân luận; những Sa-môn, Bà-la-môn, luận bàn về quá khứ tối sơ, những Samôn, Bà-la-môn chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng sau khi chết; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ðoạn diệt luận; những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hiện tại Niết Bàn luận; những Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ; những Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ vào quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác với sáu mươi hai luận chấp. Tất cả những vị này có những cảm thọ (những chủ trương trên) do sự xúc chạm qua sáu xúc xứ. Do duyên với những cảm thọ mà tham ái phát khởi; do duyên tham ái, thủ phát khởi; do duyên thủ, hữu phát khởi; do duyên hữu, sanh phát khởi, do duyên sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não phát khởi.

5. Lời giảng về Sự thoát ly khỏi vòng luân hồi (Vivaṭṭakathādi)

Này các Tỳ-kheo, khi một Tỳ-kheo thấy rõ (tuệ tri / pajānāti) bản chất thực sự về sự hình thành (sinh / samudaya), sự tan biến (diệt / atthaṅgama), sự hấp dẫn (vị ngọt / assāda), sự nguy hiểm (sự nguy hiểm / ādīnava), và sự thoát khỏi (xuất ly / nissaraṇa) của sáu trường tiếp xúc, vị ấy thấy rõ điều vượt trội hơn tất cả những [quan điểm] này.

Này các Tỳ-kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ, hay người suy đoán về tương lai, hay người suy đoán về quá khứngười suy đoán về tương lai, có quan điểm về cả quá khứ và tương lai, dựa vào cả quá khứ và tương lai để tuyên bố nhiều lập luận khác nhau; tất cả họ đều bị mắc kẹt trong tấm lưới (võng lậu / antojālīkatā) của sáu mươi hai cơ sở này. Dù họ có trồi lên hụp xuống, họ vẫn ở trong đó; dù họ có trồi lên hụp xuống, họ vẫn bị bao hàm và mắc kẹt trong tấm lưới này.

Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu chỗ xuất xứ, vị ấy sẽ có một sự hiểu biết vượt ra ngoài những điều trên.

72. Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn nào luận bàn về quá khứ tối sơ, hay luận bàn về tương lai, hay luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ vào quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác tất cả những vị này đều bị bao trùm bởi lưới của sáu mươi hai luận chấp này, dầu chúng nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây.

Này các Tỳ-kheo, giống như một người đánh cá khéo léo hay người học việc của người đánh cá quăng một tấm lưới mắt nhỏ bao trùm một vũng nước nhỏ. Người ấy nghĩ rằng: ‘Bất kỳ sinh vật lớn nào trong vũng nước này, tất cả chúng đều bị mắc kẹt trong tấm lưới. Dù chúng có trồi lên hụp xuống, chúng vẫn ở trong đó; dù chúng có trồi lên hụp xuống, chúng vẫn bị bao hàm và mắc kẹt trong tấm lưới này’. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, bất kỳ sa-môn hay bà-la-môn nào là người suy đoán về quá khứ, hay người suy đoán về tương lai, hay người suy đoán về quá khứngười suy đoán về tương lai… tất cả họ đều bị mắc kẹt trong tấm lưới của sáu mươi hai cơ sở này. Dù họ có trồi lên hụp xuống, họ vẫn ở trong đó; dù họ có trồi lên hụp xuống, họ vẫn bị bao hàm và mắc kẹt trong tấm lưới này.

Này các Tỳ-kheo, cơ thể của Người Đến Như Vậy vẫn tồn tại nhưng sợi dây trói buộc vào cõi tồn tại (hữu ái / bhavanettika) đã bị cắt đứt. Chừng nào cơ thể Ngài còn tồn tại, chư thiên và loài người còn nhìn thấy Ngài. Khi cơ thể tan vỡ, sau khi mạng sống kết thúc, chư thiên và loài người sẽ không còn nhìn thấy Ngài nữa.

Này các Tỳ-kheo, giống như khi cuống của một chùm xoài bị cắt đứt, bất kỳ quả xoài nào dính liền với cuống đó đều sẽ đi theo nó; cũng vậy, này các Tỳ-kheo, cơ thể của Người Đến Như Vậy vẫn tồn tại nhưng sợi dây trói buộc vào cõi tồn tại đã bị cắt đứt. Chừng nào cơ thể Ngài còn tồn tại, chư thiên và loài người còn nhìn thấy Ngài. Khi cơ thể tan vỡ, sau khi mạng sống kết thúc, chư thiên và loài người sẽ không còn nhìn thấy Ngài nữa.

Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Thật phi thường, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, bài giảng về Điều dạy (pháp / dhamma) này tên là gì?”

“Do đó, này Ānanda, hãy ghi nhớ bài giảng về Điều dạy này là Tấm lưới Lợi ích (atthajāla), hãy ghi nhớ nó là Tấm lưới Điều dạy (dhammajāla), hãy ghi nhớ nó là Tấm lưới Phạm thiên (brahmajāla), hãy ghi nhớ nó là Tấm lưới Quan điểm (diṭṭhijāla), hãy ghi nhớ nó là Chiến thắng Tối thượng trong Trận chiến (anuttaro saṅgāmavijayo).”

Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo hoan hỷ và vui mừng đón nhận (hoan hỷ / abhinandunti) lời dạy của Thế Tôn. Và khi bài giảng này được thuyết lên, mười ngàn thế giới đã rung chuyển.

Này các Tỷ-kheo, cũng ví như người đánh cá lành nghề hay người học đánh cá vung lưới trên mặt hồ nước nhỏ có mắt sít sao. Người ấy nghĩ: “Những con cá lớn ở trong hồ nước nhỏ này, tất cả chúng đều bị bao phủ trong tấm lưới này, dầu chúng có nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây”. Cũng như vậy này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào, luận bàn về quá khứ tối sơ, hay luận bàn về tương lai, hay luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp kiến về quá khứ tối sơ và tương lai, đề xướng nhiều sở kiến sai khác, tất cả những vị này đều bị bao phủ trong lưới của sáu mươi hai luận chấp này; dầu có nhảy vọt lên, những vị này vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây.

73. Này các Tỷ-kheo, thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến đời sống khác đã bị chấm dứt. Khi thân của vị này còn tồn tại thời chư Thiên và loài Người còn có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thời chư Thiên và loài Người không thể thấy được.

Này các Tỷ-kheo, như nhánh có một chùm, xoài bị chặt đứt, tất cả trái xoài dính với nhánh ấy đều bị chung một số phận với nhánh kia. Cũng như vậy này các Tỷ-kheo, thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của vị này còn tồn tại thời chư Thiên và loài Người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung thời chư Thiên và loài Người không thể thấy được.

74. Khi nghe nói vậy, đại đức Ananda bạch đức Thế Tôn:

− Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Pháp môn này gọi là gì, bạch Thế Tôn?

− Này Ananda, pháp môn này gọi là “Lợi Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Pháp Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Phạm Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Kiếm Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Vô thượng Chiến thắng”, hãy như vậy mà phụng trì.

Thế Tôn thuyết như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi kinh này được truyền thuyết, một ngàn thế giới đều rung động.

-ooOoo-